1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nợ phải thu tại trung tâm kinh doanh VNPT hà nội chi nhánh tổng công ty dịch vụ viễn thông

81 57 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nợ phải thu chiếm một vị trí quan trọng trong quản trị tài chính của Doanh nghiệp, việc quản lý tốt số tiền nợ, hạn nợ và việc thu hồi nợ tốt sẽ đem lại cho Doanh nghiệp không ph

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THỊ THU HẰNG

QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU TẠI TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT HÀ NỘI- CHI NHÁNH TỔNG CÔNG TY DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THỊ THU HẰNG

QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU TẠI TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT HÀ NỘI- CHI NHÁNH TỔNG CÔNG TY DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Quản lý nợ phải thu tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội – Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông” được

hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp, do tôi tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS Đặng Đình Thanh

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị

Hà nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1 Nợ phải thu của doanh nghiệp 6

1.1.1 Khái niệm nợ phải thu của Doanh nghiệp 6

1.1.2 Phân loại nợ phải thu của Doanh nghiệp 7

1.1.3 Nguyên nhân dẫn tới nợ phải thu của doanh nghiệp 12

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nợ phải thu của doanh nghiệp 15

1.1.5 Tác động của nợ phải thu đối với hoạt động của doanh nghiệp 16

1.2 Quản lý nợ phải thu ở doanh nghiệp: 16

1.2.1 Mục tiêu quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp 16

1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp 17

1.2.3 Nội dung quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp 17

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG TẠI TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT-HÀ NỘI 28

2.1 Giới thiệu về Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội 28

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội 28

2.1.2 Mô hình tổ chức của Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội 30

2.1.3 Đặc điểm quản lý kinh doanh tại Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội 34

2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà nội trong những năm gần đây: 36

Trang 5

2.2 Thực trạng công tác quản lý nợ phải thu tại Trung tâm Kinh doanh

VNPT-Hà Nội 45

2.2.1 Nợ phải thu và tác động của các khoản nợ phải thu đối với hoạt động của Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội 45

2.2.2 Những tồn tại và hạn chế: 51

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU TẠI TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT HÀ NỘI 57

3.1 Mục tiêu phát triển trong năm tiếp theo của Trung tâm Kinh doanh Hà nội 57

3.2 Các giải pháp thực hiện: 58

3.2.1 Giải pháp đẩy mạnh thu cước không dùng nhân công: 58

3.2.2 Giải pháp đẩy triển khai ghép mã thanh toán: 60

3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thu nợ bằng hình thức nhân công tại địa chỉ khách hàng: 61

3.2.4 Giải pháp dùng cơ chế khuyến khích, khen thưởng: 63

3.2.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nhân viên bán hàng cùng với thu cước và sử dụng cộng tác viên thu cước sang bán hàng: 63

3.2.6 Giải pháp xây dựng các công cụ công nghệ thông tin: 64

3.2.7 Giải pháp xây dựng cơ chế giám sát thực hiện: 66

3.3 Một số kiến nghị: 66

3.2.1 Đối với Nhà nước: 66

3.2.2 Đối với Bộ Tài chính: 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TĐ: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông

VNPT-NET: Tổng Công ty Hạ tầng Mạng (VNPT-NET) TCT: Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT-Vinaphone) VTT/TP: Viễn thông Tỉnh/Thành phố

TTKD: Trung tâm Kinh doanh

TTKD HNi: Trung tâm Kinh doanh VNPT- Hà Nội

PTTB: Phát triển thuê bao

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU

Danh mục hình vẽ

Hình 3.1: Tổng danh thu VT-CNTT từ năm 2016 – 2018 38

Hình 3.2: Tổng doanh thu nạp tiền tài khoản chính 39

Hình 3.3: Tổng doanh thu tiêu dùng tài khoản chính 39

Hình 3.4: Doanh thu tiêu dùng Data VNP tăng trưởng 2018 40

Hình 3.5: Doanh thu tiêu dùng GTGT VNP tăng trưởng 2018 40

Hình 3.6: Doanh thu cước dịch vụ di động trả sau 41

Hình 3.7: Thị phần dịch vụ VNP 42

Hình 3.8: Doanh thu dịch vụ băng rộng 43

Hình 3.9: Tỷ trọng PTTB Fiber VNN theo gói dịch vụ 43

Hình 2.1: Biến động khoản thu so với tổng tài sản 45

Danh mục biểu Biểu 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà nội từ năm 2016-2018: 37

Biểu 2.3: Kết cấu khoản phải thu ngắn hạn trong những năm 2016-2018 của Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà nội từ năm 2016-2018: 46

Biểu 2.4: Số liệu thực hiện trích lập dự phòng tại thời điểm 31/12/2018 49

Biểu 2.5: Số liệu xử lý nợ phải thu khó đòi thực hiện trong năm 2018 50

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn:

Thực tế, mỗi doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh luôn phát sinh khoản nợ phải thu Thực chất, đây là phần tài sản của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng Doanh nghiệp có phát sinh khoản nợ phải thu càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn càng nhiều, điều này gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Quản lý nợ phải thu chiếm một vị trí quan trọng trong quản trị tài chính của Doanh nghiệp, việc quản lý tốt số tiền nợ, hạn nợ và việc thu hồi nợ tốt sẽ đem lại cho Doanh nghiệp không phải tăng dự trữ tiền mặt, không bị gây áp lực lên dòng tiền và không ảnh hưởng tiêu cực đến kế hoạch kinh doanh của Doanh nghiệp Một doanh nghiệp kiểm soát tốt các khoản phải thu sẽ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế và uy tín của doanh nghiệp đối với đối tác của mình và các đối thủ trong môi trường cạnh tranh

Đối với một doanh nghiệp viễn thông, sản phẩm của doanh nghiệp mang tính đặc thù, chủ yếu là cung cấp các sản phẩm dịch vụ Viễn thông công nghệ thông tin cho khách hàng sử dụng trước và thu tiền sau Trung tâm kinh doanh VNPT Hà nội là đơn vị trực Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông, thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam, là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông CNTT trên toàn địa bàn Thành phố Hà nội với số lượng khách hàng lớn, nợ phải thu chủ yếu là về cước viễn thông do khách hàng đã sử dụng dịch vụ nhưng không có khả năng thanh toán hoặc trốn nợ

Do vậy, công tác quản lý nợ phải thu khách hàng luôn là nhiệm vụ trọng tâm

và được doanh nghiệp chú trọng giải quyết

Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, đồng thời với việc phải thực hiện

đề án cổ phần hóa doanh nghiệp viễn thông của Chính phủ trong năm tiếp

Trang 9

theo, đối với các Tổng Công ty trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam phải đảm bảo việc minh bạch về tài chính Theo đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là vấn đề quản lý công nợ phải thu và xử lý nợ khó đòi đã

và đang trở nên vô cùng cần thiết đối với doanh nghiệp, và đó cũng là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như tạo uy tín và thương hiệu cho doanh nghiệp phát triển mở rộng thị phần

Để đảm bảo sự lành mạnh về tài chính của Doanh nghiệp, tránh các rủi

ro trong hoạt động kinh doanh thì việc thực hiện quản lý tốt công nợ phải thu

là điều rất cần thiết và cần được triển khai áp dụng tại Doanh nghiệp

Với các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản lý nợ phải thu tại

Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội- Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông” cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn:

Khoản phải thu từ khách hàng thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn lưu động của các doanh nghiệp Việc tăng khoản phải thu từ khách hàng kéo theo việc gia tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, chi phí lãi tiền vay để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu do vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng

Tăng khoản phải thu làm tăng rủi ro đối với doanh nghiệp, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc không thu được do khách hàng vỡ nợ, gây mất vốn của doanh nghiệp Do vậy, quản lý các khoản nợ phải thu từ khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng và phức tạp trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp

Có thể kể đến một số tài liệu, bài viết, đề tài nghiên cứu về vấn đề này như sau:

Trang 10

Lê Thị Ngọc Vân (2012), Hoàn thiện quản trị khoản nợ phải thu tại công ty TNHH một thành viên cấp nước Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Quản trị

kinh doanh, Đại học Đà Nẵng

Nguyễn Hồng Yến (2015), Quản trị nợ phải thu tại Công ty cổ phần may Sông Hồng, Luận văn Thạc sĩ Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế-Đại

học Quốc gia Hà nội

Ths Nguyễn Thị Thu Huyền (2017), Nâng cao hiệu quả thu hồi nợ của khách hàng tại các công ty xi măng, Tạp chí Tài chính

Nhìn chung các bài viết và các công trình khoa học kể trên đang nghiên cứu những vấn đề chung và cơ bản về quản trị các khoản phải thu của các Công ty cổ phần, các công ty TNHH một thành viên, từ đó đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị các khoản nợ phải thu và thu hồi nợ, chưa có

đề xuất các giải pháp quản lý nợ phải thu và nợ phải thu khó đòi đối với Nhà nước và cơ quan Bộ tài chính Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về đề tài quản lý các khoản phải thu của các doanh nghiệp viễn thông có kinh doanh các sản phẩm dịch vụ mang tính đặc thù, cụ thể như công tác quản lý các khoản phải thu tại doanh nghiệp viễn thông như Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội- Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông như tác giả sẽ trình bày trong luận văn này

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm hệ thống hóa những vấn đề lý luận

về quản lý nợ phải thu và giải pháp quản lý nợ phải thu khách hàng như; khái niệm, vai trò, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến nợ phải thu …

- Thông qua cơ sở lý luận, vận dụng vào thực tế để tiến hành đánh giá tình hình quản lý nợ phải thu tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội nhằm đánh giá, phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình đôn đốc quản lý nợ

Trang 11

phải thu khách hàng, những hạn chế của chính sách Nhà nước trong việc quy định quản lý nợ phải thu …

- Đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học, cơ sở thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ phải thu khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là tình hình quản lý các khoản phải thu của Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Thông qua việc sử dụng số liệu từ các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị của Trung tâm kinh doanh VNPT Hà nội

để phân tích, đánh giá tình hình quản lý các khoản phải thu khách hàng của đơn vị trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:

Việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chung là phương pháp duy vật biện chứng Đồng thời, đề tài cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác, cụ thể là:

- Phương pháp so sánh: được sử dụng để đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu nợ phải thu Qua đó, cho ta thấy được thực trạng quản lý nợ phải thu của doanh nghiệp để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới

- Phương pháp sử dụng biểu đồ: được sử dụng để mô tả một cách trực quan sự biến động của một số chỉ tiêu thu nợ điển hình trong giai đoạn đánh giá

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Đề tài tập trung hệ thống các nội dung lý thuyết làm rõ hơn những vấn đề

lý luận cơ bản về khoản phải thu, quản lý khoản phải thu và đánh giá hiệu quả quản lý nợ phải thu của doanh nghiệp Từ đó vận dụng phân tích thực trạng, phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình đôn đốc quản lý nợ phải thu khách hàng tại Trung tâm kinh doanh VNPT Hà nội Qua đó, đề xuất một số

Trang 12

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ phải thu khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý khoản phải thu

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ phải thu khách hàng tại Trung

tâm Kinh doanh VNPT Hà nội – Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông

Chương 3: Các giải pháp quản lý nợ phải thu khách hàng sử dụng dịch vụ

Viễn thông công nghệ thông tin tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội – Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông

Trang 13

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Nợ phải thu của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm nợ phải thu của Doanh nghiệp

Nợ là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ nợ, khách nợ thông qua một hoặc nhiều đối tượng nợ Chủ nợ và khách nợ có thể là những tổ chức kinh tế hay những cá nhân có mối quan hệ làm ăn mua bán, trao đổi với nhau Nợ bao gồm nợ phải thu và nợ phải trả Các khoản phải thu là khoản nợ của khách hàng với một doanh nghiệp đối với các dịch vụ đã mua hoặc sản phẩm có trên cơ sở tín dụng Các khoản phải thu là một loại tài sản của doanh nghiệp tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các khách nợ chưa thanh toán cho doanh nghiệp Các khoản phải thu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cũng như một số trường hợp khác liên quan đến bộ phận vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng tạm thời như cho mượn ngắn hạn, chi hộ cho đơn vị bạn hoặc cấp trên, giá trị tài sản thuế

mà chưa xử lý Các khoản phải thu được kế toán doanh nghiệp ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ doanh nghiệp chưa đòi được khách hàng, kể cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán Các khoản phải thu được ghi nhận như là tài sản của doanh nghiệp vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai Các khoản phải thu dài hạn (chỉ đáo hạn sau một khoản thời gian tương đối dài) sẽ được ghi nhận là tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán Hầu hết các khoản phải thu ngắn hạn được coi như là một phần của tài sản vãng lai của doanh nghiệp

Trang 14

Nợ phải thu là số tiền mà các cá nhân hay công ty khác nợ doanh nghiệp vì họ đã mua hàng hóa, dịch vụ, nguyên liệu của doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán vì được bán dưới hình thức tín dụng thương mại Hay nói cách khác, nợ phải thu của doanh nghiệp là số tài sản của doanh nghiệp nhưng đang bị các tổ chức hay tập thể, cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp

có trách nhiệm thu hồi Những tài sản đó là những khoản phát sinh trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với các đối tác

1.1.2 Phân loại nợ phải thu của Doanh nghiệp

Vì nợ phải thu là mối quan hệ giữa chủ nợ - khách nợ thông qua đối tượng nợ Đối tượng nợ ở đây chính là những khoản tiền, giá trị mà khách nợ đang chiếm dụng của công ty và chưa thanh toán Để tiện theo dõi các khoản phải thu ta có thể phân loại nợ phải thu theo khách nợ Nợ phải thu bao gồm: phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác Trong đó phải thu khách hàng chiếm

tỷ trọng lớn nhất trong nợ phải thu thường xuyên phát sinh trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá và cũng là khoản phải thu gặp nhiều rủi ro về khả năng thu hồi vốn Chính vì thế nghiệp vụ quản lý nợ tập trung chủ yếu về quản lý các khoản phải thu khách hàng và các khoản trả trước cho nhà cung cấp Do đó trong đề án này tác giả sẽ đi sâu phân tích về các khoản phải thu khách hàng và quản lý các khoản phải thu khách hàng

Nợ phải thu bao gồm:

1.1.2.1 Phải thu khách hàng

Phải thu khách hàng là khoản tiền mà khách hàng đã mua đang nợ doanh nghiệp khi khách hàng này đã được doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ nhưng chưa thanh toán tiền cho doanh nghiệp Tuỳ theo khả năng thu hồi, thời gian thu hồi, hình thức bảo lãnh, khách nợ thì các khoản phải thu khách hàng lại được phân ra như sau:

Trang 15

a Theo khả năng thu hồi, phải thu khách hàng bao gồm:

- Nợ có khả năng thu hồi: Đây là những khoản phải thu vẫn còn hạn thanh toán và khách hàng vẫn đang hoạt động kinh doanh tốt Những khoản phải thu như thế này có thể đem lại cho doanh nghiệp những mối quan hệ tốt với khách hàng là động lực thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm

- Nợ không có khả năng thu hồi (nợ khó đòi): đây là những khoản nợ đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vẫn không trả được hoặc những khoản nợ

mà doanh nghiệp sau khi thẩm định thấy khách hàng không thể trả được ngay

cả khi thời hạn thanh toán vẫn còn do khách hàng gặp phải một số những khó khăn không thể tiếp tục kinh doanh để trả nợ Việc xếp loại nợ phải thu khách hàng vào nợ khó đòi rất quan trọng vì nó liên quan tới việc xử lý khoản nợ đó khi khách hàng không thể trả nợ được, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra khoản chi phí cho việc thu hồi và phải trích lập dự phòng đề phòng rủi ro không thu hồi được nợ và có những biện pháp xử lý kịp thời tránh tổn thất cho doanh nghiệp Ta có thể đi sâu tìm hiểu nợ khó đòi như sau:

- Khái niệm: Nợ khó đòi là các khoản nợ đã quá thời hạn thanh toán, doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp xử lý như đối chiếu, xác nhận, đôn đốc thanh toán nhưng vẫn chưa thu hồi được

- Các khoản phải thu được coi là các khoản nợ khó đòi khi nó đảm bảo các điều kiện sau:

+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác

+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng các tổ chức kinh tế (các công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng…) đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết

Trang 16

+ Những khoản nợ quá hạn từ 3 năm trở lên coi như không có khả năng thu hồi và được xử lý theo qui định

- Phân loại nợ quá hạn:

Ta có thể dựa vào “tuổi” của các khoản nợ cùng với tình hình hoạt động của doanh nghiệp để phân loại nợ khó đòi Theo cách đó ta có 2 loại nợ khó đòi sau:

Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán: đây là những khoản nợ của khách

hàng đã qua hạn phải trả nhưng do một lý do nào đó mà khách hàng đó không thể trả được Đối với khoản nợ khó đòi này, ta có thể phân ra làm các loại sau:

- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 tháng đến dưới 1 năm

- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 1 năm đến dưới 2 năm

- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 2 năm đến dưới 3 năm

- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 năm trở lên

Nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán: nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào

tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án…

Các khoản nợ đã quá hạn thanh toán trên 3 năm hoặc chưa quá hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế vay nợ không có khả năng trả nợ được nữa thì được coi như khoản nợ không có khả năng thu hồi

b Theo thời gian thu hồi, nợ phải thu bao gồm:

- Nợ trong hạn: những khoản tiền hàng mà khách hàng chưa thanh toán cho doanh nghiệp nhưng vẫn còn trong thời hạn qui định trong hợp đồng mua bán thì được coi là những khoản phải thu trong hạn Thời hạn qui định trong hợp đồng được doanh nghiệp và khách hàng thoả thuận khi bắt đầu ký hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá Thời hạn này được qui định tuỳ theo từng đối tượng khách hàng

Trang 17

- Nợ quá hạn: là những khoản nợ phải thu đã vượt quá thời hạn qui định trả nợ trong hợp đồng trao đổi hàng hoá mà khách nợ vẫn chưa thanh toán tiền cho doanh nghiệp Đối với những khoản nợ này thì rủi ro không thu hồi được nợ là rất cao do khi gần đến hạn thanh toán thường doanh nghiệp sẽ có những biện pháp thúc giục khách nợ thanh toán tiền hàng nhưng khách hàng vẫn chưa thanh toán được khi thời hạn thanh toán đã hết chứng tỏ những khoản nợ này có vấn đề và cần phải theo dõi để xử lý kịp thời

c Theo hình thức bảo lãnh, nợ phải thu bao gồm:

Theo hình thức này, doanh nghiệp khi trao đổi hàng hoá việc thu tiền

về ngay hay còn cho đối tác nợ lại dựa trên uy tín của đối tác đối với doanh nghiệp Có hai hình thức nợ như sau:

- Nợ có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng mới xuất hiện trên thị trường mà doanh nghiệp chưa nắm được tình hình hoạt động kinh doanh của nó; với những khách hàng mà đã từng có những dấu hiệu làm ăn thua lỗ hay có những bằng chứng chứng minh khách hàng này thường hay thiếu nợ với những đối tác khác trong kinh doanh Với những khách hàng này doanh nghiệp cần phải theo dõi sát sao quá trình hoạt động để kịp thời nắm bắt tình hình và xử lý khi những khách hàng này có biểu hiện không bình thường trong kinh doanh

- Nợ không có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng lâu năm của doanh nghiệp; những khách hàng có uy tín trong hoạt động kinh doanh, trong mối quan hê với đối tác Đây là những khách hàng lớn không chỉ

có uy tín với doanh nghiệp mà còn có uy tín với các doanh nghiệp khác trên thị trường hoạt động của nó Đối với những khách hàng như thế này, trong quan hệ mua bán doanh nghiệp không cần đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo hay những khoản cầm cố, bảo lãnh Làm việc dựa trên uy tín như thế này sẽ giữ được mối quan hệ hợp tác lâu dài, từ đó cũng sẽ làm tăng uy tín của doanh

Trang 18

nghiệp do doanh nghiệp có những đối tác rất uy tín trên thị trường hoạt động kinh doanh

d Theo tính chất của khách nợ

Đối với quản lý công nợ phải thu việc phân loại khách hàng theo mối quan hệ làm ăn lâu dài là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới các quyết định trong chính sách tín dụng cũng như thời hạn tín dụng, hạn mức tín dụng mà doanh nghiệp quyết định đưa ra cho khách hàng trong các trao đổi

- Phải thu của khách hàng mới

- Phải thu của khách hàng lâu năm

1.1.2.2 Trả trước cho người bán

Trả trước cho người bán là khoản tiền mà doanh nghiệp đặt trước cho người bán để nhận hàng nhằm mục đích nhận chiết khấu từ phía khách hàng

là nhà cung cấp Doanh nghiệp trả tiền hàng trước cho người bán còn nhằm mục đích đảm bảo nhận được hàng khi thị trường đang khan hiếm hàng hoá

đó, khi nhà cung cấp có quá nhiều đối tượng muốn mua hàng Tuy nhiên trong quá trình hoạt động ít doanh nghiệp đặt tiền hàng trước mà thường có

xu hướng chiếm dụng vốn của đối tác hơn

1.1.2.3 Thuế GTGT được khấu trừ (đối với các doanh nghiệp trả thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ)

Là phần thuế GTGT đầu vào được hoàn lại nhưng NSNN chưa hoàn trả Thôngthường các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá thường mua nguyên vật liệu bao gồm cả thuế GTGT đầu vào Doanh nghiệp sử dụng những nguyên vật liệu đó

để sản xuất ra hàng hoá bán ra thị trường với giá thanh toán baogồm cả thuế GTGT đầu ra Nếu thuế GTGT đầu ra > thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp sẽ nộp lại cho NSNN khoản dôi ra đó Ngược lại, thuế GTGT đầu ra < thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế GTGT Nhưng trong kỳ hoạt

Trang 19

động doanh nghiệp chưa được NSNN hoàn trả thì khoản thuế GTGT được khấu trừ đó sẽ được ghi vào công nợ phải thu NSNN

1.1.2.4 Phải thu nội bộ

Thường phát sinh trong các doanh nghiệp có sự phân cấp kinh doanh, quản lý và công tác kế toán Nó bao gồm các khoản vốn , kinh phí đã cấp cho cấp dưới, các khoản thu hộ, chi hộ giữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc và các khoản khác

1.1.2.5 Các khoản phải thu khác

Là các khoản phải thu không thuộc các khoản phải thu trên Cụ thể các khoản phải thu khác bao gồm khoản thu do bắt bồi thường, khoản thu về khoản nợ

tiền hoặc vật tư có tính chất tạm thời, trị giá tài sản thuế chưa xử lý…

1.1.3 Nguyên nhân dẫn tới nợ phải thu của doanh nghiệp

Đối với mỗi doanh nghiệp, để quản lý nợ một cách có hiệu quả không những phải thực hiện những biện pháp kiểm soát chính mình mà còn phải hiểu rõ những nguyên nhân phát sinh nợ từ những nợ thông thường đến những khoản nợ phải thu khó đòi

1.1.3.1 Nguyên nhân hình thành nợ trong hạn

Trong quá trình hoạt đông kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều phát sinh các khoản phải thu nhưng ở các mức độ nhiều ít khác nhau Nguyên nhân chủ yếu hình thành nên các khoản phải thu chính là từ chính sách hoạt động của doanh nghiệp Trong đó chính sách bán chịu hoặc bán hàng trước trả tiền sau ảnh hưởng mạnh nhất đến các khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính trong doanh nghiệp Nếu không bán chịu hàng hoá thì sẽ mất đi cợ hội bán hàng, do đó mất đi lợi nhuận Nếu bán chịu hàng hoá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng và nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, vì vậy, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng Từ đó vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu hàng hoá thích hợp

Trang 20

Chính vì thế trong một kỳ kinh doanh bao giờ doanh nghiệp cũng có các khoản phải thu khách hàng Ngoài ra còn có một số yếu tố làm phát sinh các khoản phải thu như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm dịch vụ, chất lượng sản phẩm dịch vụ….Tuy nhiên khi các yếu tố này xảy ra thì nó tác động đến toàn bộ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp chứ không riêng gì các khoản phải thu và phải có những biện pháp điều chỉnh trong toàn doanh nghiệp

1.1.3.2 Nguyên nhân dẫn tới nợ khó đòi ở doanh nghiệp

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi mà ta có thể thống kê được như sau:

Các nguyên nhân chủ quan (từ phía doanh nghiệp):

Do chính sách của doanh nghiệp như chính sách bán chịu, chính sách chiết khấu hay thời hạn thu hồi nợ… Như đã nêu ở trên khi doanh nghiệp muốn đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận nên đã nới lỏng các tiêu chuẩn tài chính, hạ thấp các tiêu chuẩn này xuống tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có tiêu chuẩn tài chính thấp cũng

có thể mua chịu hàng hoá Điều này mở rộng mạng lưới khách hàng cho doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng làm tăng rủi ro trong việc thu hồi nợ

Do năng lực yếu kém của nhân viên quản lý công nợ Các nhân viên có năng lực yếu kém có thể đưa ra những nhận định sai về năng lực tài chính của khách hàng dẫn tới sai sót trong chính sách cho vay hay bán chịu của doanh nghiệp, điều này ảnh hưởng tới giá trị các khoản phải thu của doanh nghiệp

nó sẽ làm tăng các khoản phải thu nếu như khách hàng của doanh nghiệp có khả năng tài chính kém nhưng lại được ưu đãi trong chính sách tín dụng của doanh nghiệp Hoặc cũng có những nhân viên thiếu trách nhiệm trong công việc Làm việc không đúng với trách nhiệm cũng như sự tín nhiệm của doanh nghiệp dẫn tới những thiếu sót trong chính sách tín dụng cũng ảnh hưởng tới

Trang 21

giá trị các khoản phải thu Đây là nguyên nhân xuất phát tự đạo đức trong công việc hay còn gọi là đạo đức nghề nghiệp

Nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất: Trong nhiều trường hợp, phía người mua trả chậm có những

sai sót chủ quan, thậm chí cố ý không hoàn trả món nợ; các khoản này thuộc nhóm rủi ro đạo đức Một số công ty trong ngành xây dựng trúng thầu công trình với giá trúng thầu quá thấp, thua lỗ và không thể trả nợ đúng hạn thậm chí có nguy cơ phá sản Nhiều doanh nghiệp không dự đoán đúng thị trường, mức bán hàng và doanh số, quyết định mua một khối lượng hàng hoá quá lớn, thanh toán trả chậm nhưng không thể bán được hàng hoặc các nguyên nhân khác làm ứ đọng hàng hóa dẫn tới việc không thể thanh toán các khoảnt nợ phải trả Nhiều doanh nghiệp chưa có khả năng kiểm soát nguồn tiền của doanh nghiệp, mất cân đối về luồng tiền, dẫn đến mất khả năng thanh toán

Do đối tác của doanh nghiệp là khách hàng vay nợ lâm vào tình trạng không thể hoàn trả nợ làm cho khách hang của doanh nghiệp khó có khoản tiền để trả cho doanh nghiệp

Thứ hai: Sự biến động của thị trường và các rủi ro trong kinh doanh:

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt làm cho doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp thời, kinh doanh khó khăn dẫn đến tình trạng mấu khả năng thanh toán Trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, cần đặc biệt chú ý đến những biến động trong ngoại thương, chẳng hạn như sự biến động của tỷ giá, biến động giá xăng dầu, vật liệu xây dựng, nguyên liệu…

Thứ ba: Sự thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất

lớn tới tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó có thể là nguồn động lực thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhưng cũng có thể là rào cản trong sự phát triển của các doanh nghiệp Tuy nhiên khi đề cập đến phát sinh nợ tồn đọng ta chỉ đề cập các bất lợi mà chính sách kinh tế vĩ mô mang

Trang 22

tới cho khách hàng Các thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng nhất đó là thay đổi về thuế quan Ví dụ như Việt Nam tăng thuế nhập khẩu sẽ làm tăng giá sản phẩm nhập khẩu vào=>giảm tiêu dùng=>doanh thu của các doanh nghiệp bán các mặt hàng nhập khẩu giảm xuống Nhưng khi chính phủ giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng nước ngoài thì các mặt hàng này lại bán chạy trong nước làm cho các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường trong nước Khi đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy mạnh hơn các chính sách nhằm tăng tiêu thụ sản phẩm và chính sách tín dụng trong

đó có chính sách bán chịu cũng không nằm ngoài sự thay đổi đó Điều này làm cho khoản phải thu của các doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên

Môi trường pháp lý cũng có thể làm phát sinh nợ khó đòi nếu sự thay đổi về pháp lý ảnh hưởng tới hoạt động của người vay, làm cho người vay gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh và dẫn tới những khó khăn trong việc thanh toán nợ Như vậy bất cứ nguyên nhân nào cũng có khả năng dẫn tới khoản nợ phải thu tuy nhiên tình hình hoạt đông kinh doanh của khách hàng

là nguyên nhân trực tiếp và quan trọng nhất trong việc nảy sinh các khoản nợ khó đòi ở doanh nghiệp Do đó việc thường xuyên theo dõi, đánh giá năng lực của bạn hàng là điều vô cùng cần thiết trong công tác quản lý các khoản nợ phải thu khó đòi

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nợ phải thu của doanh nghiệp

Quy mô nợ phải thu của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào chính sách của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ đạt được mục đích là tăng doanh thu bán hàng đồng thời lại tạo được mối quan hệ tốt với khách hàng, giữ chân khách hàng cũ, thu hút được thêm khách hàng mới

Ngoài ra quy mô công nợ còn chịu ảnh hưởng vào giá cả sản phẩm, địa bàn hoạt động, đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp đang nhắm tới, thị truờng tiềm năng, cơ hội kinh doanh, đối thủ cạnh tranh…

Trang 23

1.1.5 Tác động của nợ phải thu đối với hoạt động của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô nợ phải thu đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang cấp cho khách hàng một khoản tín dụng, việc cấp tín dụng này nếu trong thời gian dài có thể ảnh hưởng đến nguồn vốn lưu động, đến khả năng thanh toán, đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp

Việc cấp tín dụng thông qua các chính sách bán chịu nếu không có kế hoạch cụ thể phân loại, đánh giá khách hàng, lập các biện pháp thu hồi nợ và

trích lập dự phòng cụ thể có khă năng dẫn tới mất vốn

1.2 Quản lý nợ phải thu ở doanh nghiệp:

1.2.1 Mục tiêu quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp

Nợ phải thu là một bộ phận quan trọng trong tài sản của doanh nghiệp, liên quan đến các đối tượng bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp, trong đó

có các cơ quan chức năng của Nhà nước (chủ yếu là cơ quan thuế) đồng thời nội dung các khoản phải thu cũng có tính chất đa dạng gắn liền với sự đa dạng trong các giao dịch phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp Đặc biệt nợ phải thu của các đối tượng bên ngoài xảy ra trong các giao dịch kinh doanh có thể xảy ra những rủi ro làm chậm hoặc thậm chí không thể thu hồi nợ, ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp

Do tính chất đa dạng về nội dung, đối tượng phải thu cũng như những rủi ro có thể xảy ra nên cần phải quản lý và kiểm soát chặt chẽ tình hình nợ phải thu này từ lúc phát sinh ra các giao dịch Chính vì thế mà nhà quản lý tài chính phải thường xuyên theo dõi các khoản phải thu để xác định đúng thực trạng của chúng và đánh giá tính hữu hiệu của các chính sách bán hàng, thu hồi công nợ của doanh nghiệp Qua đó nhận diện những khoản tín dụng có vấn đề và thu thập những tín hiệu để quản lý những khoản hao hụt Từ đó ta thấy mục tiêu chủ yếu khi thực hiện quản lý nợ phải thu là:

Trang 24

- Đưa ra những chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy quá trình cung cấp, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ Tại mỗi doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ việc quản lý nợ phải thu sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tình hình tiêu thụ sản phẩm kéo theo sự biến đổi trong doanh thu, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh tức là đã ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp đó

Như vậy quản lý nợ phải thu trước tiên là đảm bảo cho khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ ổn định đem lại doanh thu tốt nhất cho doanh nghiệp

- Hạn chế nợ phải thu ở mức thấp nhất có thể để lành mạnh hoá tài chính của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp khi đi vào hoạt động luôn nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở nâng cao chất lượng doanh nghiệp

Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp cần có hoạt động tài chính tốt Bởi khi hoạt động tài chính càng tốt thì doanh nghiệp sản xuất sẽ có ít nợ dẫn đến khả năng thanh toán dồi dào, ít đi chiếm dụng vốn và cũng ít bị chiếm dụng, từ đó

sẽ làm giảm các khoản công nợ phải thu và phải trả, hạn chế được rất nhiều chi phí phát sinh khi phải xử lý các khoản nợ trên

1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp

- Khoản phải thu thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản lưu động của các doanh nghiệp Do đó quản trị khoản phải thu tốt, thì vòng quay vốn của doanh nghiệp sẽ tốt Từ đó kích thích hoạt động kinh doanh phát triển

- Tổ chức hệ thống kiểm soát nợ phải thu chuyên nghiệp, đầy đủ thông tin, kịp thời, nhanh chóng sẽ giúp cho các doanh nghiệp hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro không thu hồi được nợ, chi phí thu hồi nợ sẽ thấp

1.2.3 Nội dung quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp

Trong bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp bao giờ cũng có các khoản phải thu thậm chí có những doanh nghiệp các khoản phải thu này có

Trang 25

giá trị khá cao song trong quá trình thu tiền theo hoá đơn đã bán chịu trước thì doanh nghiệp vẫn tiếp tục bán hàng hoá và sẽ xuất hiện những hoá đơn bán chịu mới Do đó, trong kinh doanh một doanh nghiệp mua chịu và bán chịu là công việc thường ngày và hoá đơn cũ được thanh toán thì hoá mới cũng được tạo ra Tuy nhiên độ lớn cuả các khoản phải thu của một doanh nghiệp thay đổi theo thời gian, tuỳ thuộc vào tốc độ thu hồi nợ cũ và tạo ra nợ mới, cũng như sự tác động của những điều kiện kinh tế chung nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp Nhưng cũng có một số biến số có thể kiểm soát được có thể tác động đến độ lớn cũng như “chất lượng” của các khoản phải thu một cách mạnh mẽ Để quản lý các khoản phải thu doanh nghiệp sẽ có những chính sách liên quan đến những biến số có thể kiểm soát được và được gọi là chính sách tín dụng Khi đã có những chính sách phù hợp doanh nghiệp sẽ phải tiến hành theo dõi các khoản phải thu đó

1.2.4.1 Quản lý phải thu trong hạn

a Xây dựng chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng là một yếu tố quyết định quan trọng khác liên quan đến mức độ, chất lượng và rủi ro của doanh thu bán hàng Chính sách tín dụng của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc kiểm soát 4 biến số sau :

- Tiêu chuẩn tín dụng: là nguyên tắc chỉ đạo định rõ sức mạnh tài chính tối thiểu và có thể chấp nhận được của những khách hàng mua chịu Theo nguyên tắc này những khách hàng nào có sức mạnh tài chính hay vị thế tín dụng thấp hơn những tiêu chuẩn tài chính có thể chấp nhận được thì sẽ bị từ chối cấp tín dụng theo thể thức tín dụng thương mại

Nếu thay đổi chính sách tín dụng ở một doanh nghiệp có thể tác động đến doanh số bán của nó Khi các tiêu chuẩn tăng lên ở mức cao hơn, doanh

số bán sẽ giảm và ngược lại, khi các tiêu chuẩn giảm thì doanh số bán sẽ tăng

Trang 26

Thông thường, khi các tiêu chuẩn tín dụng được hạ thấp sẽ thu hút được nhiều khách hàng có tiềm lực tài chính yếu hơn

- Thời hạn bán chịu: là độ dài thời gian từ ngày giao hàng đến ngày nhận được tiền bán hàng Giả sử điều kiện bán hàng là “2/10 net 40”, thì thời hạn bán chịu là 40 ngày Nhà quản trị tài chính có thể tác động đến doanh số bằng cách thay đổi thời hạn tín dụng Khi thời hạn bán chịu tăng đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư lớn hơn vào các khoản phải thu, nợ khó đòi sẽ cao hơn và chi phí thu tiền bán hàng cũng sẽ tăng lên Nhưng doanh nghiệp sẽ thu hút thêm được nhiều khách hàng mới và doanh thu tiêu thụ sẽ tăng lên

- Chính sách chiết khấu: Chiết khấu là sự khấu trừ làm giảm tổng giá trị mệnh giá của hoá đơn bán hàng được áp dụng đối với khách hàng nhằm khuyến khích họ thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn

- Chính sách thu tiền: là các biện pháp áp dụng để thu hồi những những khoản nợ mua hàng quá hạn những biện pháp đó bao gồm gửi thư, gọi điện thoại, cử người đến gặp trực tiếp, uỷ quyền cho người đại diện, tiến hành các thủ tục pháp lý … Rõ ràng là khi doanh nghiệp cố gắng đòi nợ bằng cách áp dụng những biện pháp cứng rắn hơn thì cơ hội thu hồi nợ càng lớn hơn, nhưng các biện pháp càng cứng rắn thì chi phí thu hồi càng cao Thêm vào đó, một số khách hàng có thể khó chịu khi bị đòi tiền gắt gao và cứng rắn, do đó doanh số tương lai có thể sẽ bị giảm xuống

b Theo dõi khoản phải thu: Để theo dõi các khoản phải thu chúng ta có thể

xem xét một số các công cụ sau:

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý nợ phải thu:

- Kỳ thu tiền bình quân: Đây là một công cụ đo lường để hỗ trợ nhà quản lý theo dõi các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân là tổng giá trị hàng hoá đã bán cho khách hàng theo phương thức tín dụng thương mại (tổng giá

Trang 27

trị các khoản phải thu) tại một thời điêm nào đó, chia cho doanh số bán chịu bình quân mỗi ngày

Kỳ thu tiền bình quân = Tổng giá trị các khoản phải thu/ doanh số bán chịu bình quân

Kỳ thu tiền bình quân cho biết một đồng tiền bán hàng trước đó phải mất bao nhiêu ngày mới thu lại được Đây là phương pháp đo lường đơn giản, chịu sự chi phối của hai yếu tố chính là:

Sự đo lường áp dụng đối với doanh số bán hàng trung bình mỗi ngày và không có sự khác biệt về sự phân bố của doanh số bán

Thời kỳ mà doanh số bán mỗi ngày được sử dụng làm cơ sở để tính toán Kỳ thu tiền bình quân có độ nhạy rất cao với yếu tố này

- Tỷ lệ các khoản phải thu so với phải trả: Đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ giữa các khoản phải thu so với các khoản phải trả của doanh nghiệp Nó bằng tổng

số nợ phải thu chia cho phải trả

Tỷ lệ khoản phải thu so với phải trả = Tổng số nợ phải thu/ tổng số nợ phải trả

Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ đơn vị bị các tổ chức khác chiếm dụng vốn càng nhiều và ngược lại tỷ lệ này càng nhỏ thì chứng tỏ đơn vị đã sử dụng vốn của đơn vị khác nhiều - Số vòng luân chuyển các khoản phải thu

Chỉ tiêu này cho biết tốc độ luân chuyển của các khoản phải thu Số vòng luân chuyển các khoản phải thu được tính bằng tổng số doanh thu bán chịu thực chia cho bình quân các khoản phải thu

Số vòng luân chuyển các khoản phải thu = Tổng doanh số bán chịu được/ bình quân các khoản phải thu

Qua chỉ tiêu này chúng ta thấy được mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc thu hồi nợ Nếu phải thu nhanh thì số vòng luân chuyển các khoản phải thu sẽ cao và công ty ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên

Trang 28

nếu chỉ tiêu này quá cao thì cũng không tốt vì nó sẽ ảnh hưởng tới khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ sẽ thu hẹp mạng lưới khách hàng, sẽ có ít khách hàng đáp ứng được mức yêu cầu tín dụng mà doanh nghiệp đưa ra

Như vậy nhà tài chính sẽ phải phân tích chặt chẽ hơn, kết hợp giữa chính sách bán chịu và quản lý các khoản phải thu để tính toán được số vòng luân chuyển các khoản phải thu một cách hợp lý

- Phân tích tuổi của các khoản phải thu: Phương pháp phân tích này dựa trên thời gian biểu về tuổi của các khoản phải thu, cung cấp cho nhà quản trị

sự phân bố về tuổi của các khoản bán chịu Sự phân tích theo phương pháp này có tác dụng rất hữu hiệu, nhất là khi các khoản phải thu được xem xét dưới giác độ sự biến động về mặt thời gian Bởi vậy nó có thể tạo ra một phương thức theo dõi hiệu quả đối với các khoản phải thu

Tuy nhiên phương pháp này chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của doanh số bán theo mùa - vụ Hay nói cách khác nếu doanh số bán thay đổi thất thường thì biểu thời gian sẽ cho thấy sự thay đổi rất lớn dù rằng mô hình thanh toán không thay đổi

c Tổ chức công tác quản lý thu nợ

Tổ chức công tác quản lý thu nợ theo chính sách thu nợ đã đề ra ở trong chính sách tín dụng của doanh nghiệp Việc thu hồi nợ này nên được giao cho những người chuyên trách để công việc có hiệu quả hơn

Như vậy công tác quản lý các khoản phải thu rất khó khăn phức tạp bởi nó liên quan tới rất nhiều yếu tố, nhiều biến số kinh tế Tuy nhiên việc quản lý tốt các khoản phải thu sẽ tránh cho các doanh nghiệp tình trạng phải giải quyết các khoản phải thu khó đòi Khi xuất hiện các khoản phải thu khó đòi các doanh nghiệp phải nhanh chóng xử lý và việc xử lý các khoản phải thu này

1.2.4.2 Quản lý phải thu quá hạn của doanh nghiệp ( Nợ khó đòi)

Trang 29

Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các quan hệ tín dụng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Sư phát sinh nợ là một yếu tố tất nhiên trong hoạt động kinh doanh, trong đó bao gồm cả tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại Tình trạng nợ nần và việc kiểm soát nợ cần được nhìn nhận từ cả hai góc độ: bên cung cấp tín dụng và bên đi vay

Nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với rủi ro tín dụng rất cao, trong

đó rủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ Trong nhiều trường hợp tổn thất nợ tồn đọng trong doanh nghiệp gia tăng làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thậm chí có khi dẫn tới nguy

cơ phá sản Chính vì thế mà mục tiêu xử lý nợ tồn đọng trong các doanh nghiệp chủ yếu là xoá các khoản nợ khó đòi tránh gây tổn thất nợ khó đòi ảnh hưởng tới tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

Làm trong sạch hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp; Giảm bớt chi phí quản lý do phải trích lập dự phòng phải thu khó đòi để có thêm một khoản tiền đầu tư vào sản xuất kinh doanh Việc xử lý nợ khó đòi cần phải được tiến hành theo qui trình sau:

* Kiểm tra nguyên nhân xuất hiện nợ khó đòi

Doanh nghiệp có khoản phải thu khó đòi phải tiến hành rà soát lại các khoản khó đòi và lên phương án xử lý khoản nợ khó đòi đó Đòi hỏi đơn vị phải xem xét kỹ khoản nợ và các yếu tố xung quanh khoản nợ đó Khoản nợ

đó vì sao khó đòi? Nguyên nhân từ đâu? Từ phía doanh nghiệp hay từ phía đối tác hay do điều kiện chính sách pháp luật thay đổi? Nếu nguyên nhân từ phía doanh nghiệp thì cần phải tiến hành xem xét lại các tiêu chuẩn tín dụng của doanh nghiệp, các chính sách bán hàng, thái độ làm việc của nhân viên….Từ đó đưa ra nhưng kiến nghị để chấn chỉnh sao cho phù hợp và có thể thu hồi được những khoản nợ khó đòi

Trang 30

Nếu nguyên nhân từ phía khách hàng (thường nguyên nhân từ phía khách hàng nhiều hơn) thì doanh nghiệp càng cần phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân khách hàng không trả tiền là do đâu? Có phải là do khách hàng không muốn trả hay do điều kiện kinh doanh không như mong muốn mà khách hàng không thể trả được khoản nợ cho doanh nghiệp? Nếu do khách hàng không muốn trả thì vì sao họ không muốn trả? Vì họ muốn giữ mối quan hệ đối tác với công ty, vì họ muốn giữ khoản vốn có giá rẻ này để đầu tư vào hàng hoá dịch vụ khác hay vì vấn đề đạo đức nghề nghiệp mà họ không muốn trả nợ… Người làm tài chính của công ty cần phải xem xét kỹ nguyên nhân để có những biện pháp thu hồi hợp lý Muốn đưa ra những biện pháp thu hồi nợ thì người quản lý công nợ phải thu phải tiếp xúc với khách hàng, phải đốc thúc khách hàng trả nợ cho công ty, hoặc tuỳ từng hoàn cảnh của khách hàng để đưa ra những chính sách thu hồi nợ cần thiết Còn nếu do khách hàng không thể trả được thì vì sao? Khách hàng đã không trả được thì thường do công ty khách hàng làm ăn thua lỗ, họ không bán được hàng của công ty mình nên chưa thu hồi được tiền để trả nợ Khi đó người làm tài chính cần phân tích khả năng của khách hàng khi kinh doanh để ra quyết định nên tiếp tục bán chịu cho họ để họ tiếp tục kinh doanh thu hồi lại vốn trả nợ cho công ty trong trường hợp khách hàng có những chính sách mới, thay đổi phương pháp kinh doanh phù hợp với điều kiện môi trường kinh doanh trong tương lai hay bằng mọi cách thu hồi nợ về nếu xét thấy khách hàng không còn khả năng thanh toán Người làm tài chính sẽ phải tính đến khả năng khách hàng trả nợ xem khách hàng trả được bao nhiêu và cả chi phí để thu hồi nợ Nếu chi phí quá lớn mà khoản thu về lại nhỏ không đáng kể thì công ty phải có biện pháp khác, có thể xoá nợ cho khách hàng đồng thời hạch toán vào chi phí kinh doanh hoặc sử dụng một số những biện pháp khác theo đúng chế độ xử lý nợ khó đòi mà Nhà nước đã ban hành

Trang 31

* Xây dựng quy trình quản lý: Sau khi xem xét và đốc thúc khách hàng trả nợ nhưng không được thì khoản nợ đó đã trở thành khoản nợ khó đòi và đến cuối niên độ kế toán, kế toán viên phải tiến hành trích lập dự phòng cho những khoản nợ của những khách hàng có khả năng không trả được nợ nhằm xác định đúng giá trị thuần của các khoản phải thu trong Báo cáo tài chính và khoản dự phòng đó được tính vào chi phí kinh doanh Để đi sâu tìm hiểu về qui trình xử lý nợ khó đòi chúng ta cần hiểu thế nào là dự phòng nợ phải thu khó đòi? Cách trích lập như thế nào? Xử lý các khoản dự phòng ra sao?

Các khoản nợ phải thu sau khi đã có quyết định xử lý, doanh nghiệp phải theo dõi riêng trên sổ kế toán và ngoại bảng cân đối đế toán trong thời hạn tối thiểu là 5 năm và tiếp tục có biện pháp để thu hồi nợ Nếu thu hồi được nợ thì số tiền thu hồi sau khi trừ các chi phí có liên quan đến việc thu hồi nợ, doanh nghiệp hạch toán vào thu nhập khác

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý nợ phải thu của Doanh nghiệp

Quản lý nợ hiệu quả sẽ giảm thiểu các khoản nợ khó đòi, khi xuất hiện các khoản nợ khó đòi thì việc xử lý nợ khó đòi tốt sẽ lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên môi trường hoạt đông kinh doanh không phải lúc nào cũng thuận lợi cho doanh nghiệp Có những nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý công nợ phải thu trong doanh nghiệp đặc biệt là công tác xử lý nợ phải thu khó đòi Khi đi vào hoạt động doanh nghiệp nào cũng mong muốn doanh nghiệp mình không có các khoản nợ phải thu khó đòi Tuy nhiên khi đã xuất hiện nợ phải thu khó đòi thì đương nhiên doanh nghiệp đó sẽ phải có những biện pháp xử lý

Nhưng việc xử lý nợ khó đòi không phải là chuyện một sớm một chiều

và không phải là việc đơn giản Nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có những biện

Trang 32

pháp xử lý thật hiệu quả mà không ảnh hưởng tới quan hệ với khách hàng Việc xử lý nợ phải thu khó đòi thường phụ thuộc vào các nhân tố sau:

- Sự phức tạp của nợ khó đòi: Nó là các khoản nợ lòng vòng giữa các tổ chức kinh tế với nhau, phát sinh từ lâu và đã quá hạn thanh toán nhiều năm, thiếu hồ sơ tài liệu pháp lý…Các khoản nợ khó đòi đã phải đem ra xử lý thường là các khoản nợ thuộc diện khó đòi (quá hạn từ 2-3 năm trở lên), phát sinh từ nhiều loại quan hệ khác nhau như quan hệ tín dụng hay quan hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ…và chủ yếu là không có tài sản đảm bảo nên việc đánh giá khả năng thu hồi gặp khó khăn do phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ hợp tác của khách hàng trong việc cung cấp thông tin về năng lực tài chính và khả năng trả nợ Khó khăn ở đây là phần lớn khách nợ không có thái độ hợp tác tích cực hoặc không cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác cho người thẩm định ở doanh nghiệp nên người xử lý nợ thường thiếu thông tin để đánh giá Điều đó làm tăng độ rủi ro của nợ khó đòi

- Từ phía khách nợ: việc xử lý nợ tồn đọng phụ thuộc rất nhiều vào thái

độ hợp tác của khách nợ Những khách nợ đã để cho các khoản phải trả của mình quá hạn thanh toán để doanh nghiệp là chủ nợ phải tiến hành xử lý nợ khó đòi tức là khách nợ đó đã không có khả năng trả nợ hoặc khách nợ đó không có ý muốn trả nợ nữa để chiếm dụng vốn Chính vì thế mà hy vọng vào

sự hợp tác của khách nợ là vô cùng nhỏ kể cả khách nợ là những doanh nghiệp Nhà nước Do tình hình tài chính khó khăn nên những khách nợ này luôn cố tình tránh gặp các chủ nợ hay các tổ chức xử lý nợ để bàn về việc mua bán, thanh toán nợ Một nguyên nhân nữa khiến các khách nợ này không chịu hợp tác là do tâm lý chây ỳ không chịu trả nợ để chờ nhà nước xoá nợ

- Từ phía chủ nợ là doanh nghiệp: Xử lý các khoản nợ khó đòi thường làm giảm doanh thu của doanh nghiệp hoặc nếu giao bán nợ thì rất khó để bán được với giá cao vì các khoản nợ này từ lâu đời và rất khó đòi Chính và thế

Trang 33

giao bán nợ với giá thấp sẽ làm doanh nghiệp tổn thất nhiều, số tiền giao bán

nợ đó doanh nghiệp hạch toán vào chi phí kinh doanh làm giảm lợi nhuận thu được Vì thế mà các doanh nghiệp thường rất ngại xử lý nợ khó đòi, đặc biệt

là các doanh nghiệp Nhà nước

- Từ cơ chế của Nhà nước: Nhà nước cần phải đưa ra được cơ chế hợp

lý để xử lý nợ khó đòi Nhưng thực tế hiện nay thấy cơ chế của Nhà nước ban hành về việc xử lý nợ vẫn còn nhiều bất cập

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý khoản phải thu: Khái niệm nợ phải thu của doanh nghiệp, phân loại các khoản nợ phải thu, nguyên nhân dẫn tới nợ phải thu của doanh nghiệp, quản lý nợ phải thu và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý nợ phải thu

Trang 35

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG TẠI TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT-HÀ NỘI

2.1 Giới thiệu về Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm Kinh doanh

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông là một doanh nghiệp Nhà Nước trực thuộc tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam được thành lập theo quyết định số 88/QĐ-VNPT- HĐTV TCCB ngày 8 tháng 5 năm 2015 của Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, theo giấy Chứng nhận Đăng kí Doanh nghiệp số 016869738 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp lần đầu ngày 11 tháng 6 năm 2015 và theo Giấy Chứng nhận Đăng kí Doanh nghiệp điều chỉnh lần thứ nhất vào ngày 14 tháng 1 năm 2016 Vốn điều lệ ban đầu của Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông là 5.200 tỷ đồng, do Tập đoàn VNPT sở hữu 100% vốn và hoat động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Với vai trò là nhà mạng cung cấp đầy đủ và toàn diện dịch vụ viễn thông

- công nghệ thông tin tại Việt Nam và tập trung phát triển và kinh doanh các dịch vụ của Tập đoàn VNPT, VNPT Vinaphone giữ một vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chuyển dịch vụ từ cung cấp các dịch vụ viễn thông thuần túy sang cung cấp các dịch vụ tích hợp giữa viễn thông, CNTT,

Trang 36

truyền thông, đem lại nhiều tiện ích mới, nhiều giá trị mới, phục vụ mọi đối tượng khách hàng từ cá nhân, đến các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội là chi nhánh trực thuộc Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông được thành lập theo Quyết định 18/QĐ-VNPT VNP-HĐTV TCCB ngày 3 tháng 7 năm 2015 của Chủ tịch Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông và theo Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 0106869738-002 ngày 16 tháng 7 năm 2015 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp

Tên giao dịch tiếng Việt: Trung tâm Kinh doanh VNPT - Hà Nội Chi

nhánh Tổng công ty Dịch vụ Viễn thông

Tên viết tắt tiếng Việt: TTKD VNPT - Hà Nội

Mã số thuế: 0106869738-002

Địa chỉ: Số 75 phố Đinh Tiên Hoàng, P.Tràng Tiền, Q.Hoàn Kiếm, TP Hà

Nội, Việt Nam

Trước tái cơ cấu, Trung tâm Kinh doanh Hà nội là đơn vị trực thuộc Viễn thông Hà nội và có tên là Trung tâm Dịch vụ Khách hàng, nhiệm vụ chính là phụ trách thu cước VT-CNTT và thu tiền lắp đặt điện thoại

Kể từ thời điểm 01/07/2015, khi thực hiện tái cơ cấu, đơn vị được bàn giao nguyên trạng về Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông Hoạt động theo ủy quyền của TCTy được đăng ký theo Giấy Chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh

- thông tin bao gồm:

-dịch vụ Viễn thông - Công nghệ Thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội

-

Trang 37

- Dịch vụ điện thoại di động (trả trước, trả sau)

- Dịch vụ băng rộng cố định (Maga VNN, Fiber VNN, Internet trực tiếp)

Hiện nay, Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội – Chi nhánh Tổng Công

ty Dịch vụ Viễn thông là nhà cung cấp các dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin của VNPT trên địa bàn Thành phố Hà nội

2.1.2 Mô hình tổ chức của Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà Nội

2.1.2.1 Mô hình tổ chức:

Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà nội gồm có:

- Ban Giám đốc: Gồm Giám đốc Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà nội, các Phó Giám đốc phụ trách các mảng kinh doanh, tài chính, nghiệp vụ kỹ thuật

Trang 38

- Khối tham mưu gồm 7 phòng: Phòng Tổng hợp, phòng Nhân sự, phòng

Kế hoạch – Kế toán (KHKT), phòng Điều hành và phòng Kỹ thuật Nghiệp vụ (KTNV), Phòng Phát triển thị trường (PTTT), phòng Nghiệp vụ cước; Các phòng thuộc khối tham mưu do Giám đốc TTKD quyết định thành lập (theo

mô hình phê duyệt) và bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó trưởng phòng Phòng có các chuyên viên theo lĩnh vực chuyên môn và các chức danh khác theo quy định của Tổng công ty VNPT-Vinaphone;

- Khối sản xuất gồm: Phòng Khách hàng Tổ chức – Doanh nghiệp (KH TC-DN), Khối Hỗ trợ Khách hàng (HTKH) qua điện thoại và các phòng Bán hàng khu vực (BHKV) Các phòng thuộc khối sản xuất do Giám đốc TTKD quyết định thành lập (theo mô hình phê duyệt) và bổ nhiệm Giám đốc phòng, Phó giám đốc phòng;

Phòng Khách hàng Tổ chức – Doanh nghiệp được chia thành các tổ để thuận tiện trong việc phân loại và quản lý khách hàng Gồm: tổ Khách hàng Doanh nghiệp, tổ Khách hàng nước ngoài, …

Khối hỗ trợ khách hàng qua điện thoại bao gồm hai đơn vị là Đài Hỗ trợ Khách hàng và Đài chăm sóc khách hàng

Các phòng Bán hàng khu vực (Phòng BHKV) được bố trí theo khu vực địa bàn các Quận trực thuộc Thành Phố Hà nội

Các Phòng BHKV quản lý các kênh bán hàng gồm hệ thống: cửa hàng, điểm bán lẻ, cộng tác viên/ bán hàng trực tiếp, đại lý, kênh liên kết,

bán hàng từ xa…

Trang 39

Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức của Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội

Trang 40

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:

- Ban Giám đốc: Chịu trách nhiệm điều hành bộ máy tổ chức, kinh doanh của Trung tâm Kinh doanh Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh diễn ra tại Trung tâm Kinh doanh VNPT-Hà nội, tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh và phương án kinh doanh Bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lý của Trung Tâm Kinh doanh (trừ các chức danh do Tổng Công ty bổ nhiễm, miễn nhiệm)

- Phòng Tổng hợp: Là đơn vị chức năng giúp việc cho Ban Giám đốc, chịu trách nhiệm về các công tác tổng hợp, văn thư, thư ký, đối ngoại, lễ tân, khánh tiết; Công tác pháp chế, mua sắm, thi đua, các vấn đề lao động …

- Phòng Kế hoạch Kế toán: Là đơn vị chức năng giúp việc cho Ban Giám đốc, chịu trách nhiệm về các công tác kế hoạch, kế toán, tài chính-thống

- Phòng Điều hành: Là đơn vị chức năng giúp việc cho Ban Giám đốc, chịu trách nhiệm về các công tác quản lý, xây dựng, triển khai, điều hành và đánh giá; Công tác điều hành, giám sát kênh bán hàng; Công tác mua sắm, cung ứng sim thẻ, vật tư, hàng hóa, vật phẩm, quà tặng…

- Phòng Kỹ thuật Nghiệp vụ: Là đơn vị chức năng giúp việc cho Ban Giám đốc, chịu trách nhiệm về các công tác quản lý nghiệp vụ; Công tác giải quyết khiếu nại cho khách hàng; Quản trị các hệ thống công nghệ thông tin, cung cấp số liệu trên các hệ thống điều hành

- Phòng Phát triển thị trường: Là đơn vị chức năng giúp việc cho Ban Giám đốc, chịu trách nhiệm về các công tác phát triển thị trường và hỗ trợ bán hàng

Ngày đăng: 31/10/2020, 15:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w