1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

105 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI THỊ NHUNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC LUẬN VĂN T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI THỊ NHUNG

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ

ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI THỊ NHUNG

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ

ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ THU VÂN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Bùi Thị Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian hai năm học tập, nghiên cứu tại Học Viện Hành Chính Quốc Gia, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo đến nay tôi đã hoàn thành khóa học thạc sĩ Với lòng biết ơn của mình, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thu Vân - người đã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đến lúc hoàn thành luận văn này

Đồng thời tôi xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo khoa sau đại học, Học Viện Hành Chính Quốc Gia đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại trường và luôn tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học cùng bài luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong công tác thu thập số liệu cần thiết để hoàn thành luận văn của mình

Xin chân thành cảm ơn và xin kính chúc các thầy cô luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Hà Nội, tháng năm 2018

Người thực hiện

Bùi Thị Nhung

Trang 6

MỤC L ỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM 8 PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC 8

1.1 Khái quát về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 8

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả 8

1.1.2 Khái niệm về tác phẩm âm nhạc 10

1.1.3 Khái niệm về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 12

1.1.4 Đặc điểm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 14

1.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 16

1.2.1 Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 16

1.2.2 Phân loại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 20

1.2.3 Vai trò của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 20

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 24

1.3 Hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ở một số quốc gia trên thế giới 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC 30

Trang 7

2.2 Khái quát về sự hình thành và phát triển của phát luật về bảo hộ quyền tác

giả đối tác phẩm âm nhạc trước năm 2005 và Điều ước quốc tế 38

2.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật bảo hộ quyền tác giả đối tác phẩm âm nhạc 38

2.2.2 Một số điều ước quốc tế điều chỉnh về quyền tác giả 40

2.3 Thực trạng hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả các tác phẩm âm nhạc từ 2005 đến nay 46

2.3.1 Hệ thống VBQPPL đã được ban hành 46

2.3.2 Những nội dung điều chỉnh chính của hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả các tác phẩm âm nhạc 49

2.3.3 Đánh giá chung về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ở Việt Nam 57

2.4 Đánh giá chung về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc 64

2.4.1 Những kết quả đạt được 64

2.4.2 Những hạn chế 66

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 68

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC 72

3.1 Phương hướng xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 72

3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 72

3.1.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 73 3.1.3 Tăng cường các điều kiện bảo đảm xây dựng pháp luật; đổi mới cơ chế

Trang 8

phân bổ kinh phí cho xây dựng pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác

phẩm âm nhạc 73

3.1.4 Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức 74

3.1.5 Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật 75

3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 76

3.2.1 Hoàn thiện quy định về sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN 76

3.2.2 Hoàn thiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN 78

3.2.3 Hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN 81

3.2.4 Hoàn thiện quy định về nâng cao năng lực cho công chức quản lý trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN 83

3.2.5 Tăng cường việc hội nhập của hệ thống VBQPPL Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN với điều ước quốc tế 84

3.2.6 Hoàn thiện hình thức VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN 85

3.2.7 Tăng cường công tác rà soát, hệ thống hóa VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN 85

3.2.8 Một số giải pháp khác hoàn thiện hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối tác phẩm âm nhạc 86

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ

Bảng 2 1 Số vụ vi phạm bản quyền âm nhạc giai đoạn 1986-2017 32Bảng 2 2 Tỷ trọng hình thức vi phạm quyền tác giả tác phẩm âm nhạc 1986-2017 34

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng đã và đang trở thành những điều kiện bắt buộc trong hội nhập kinh tế quốc tế Càng ở những quốc gia phát triển, vấn đề bản quyền càng được coi trọng như động lực phát triển kinh tế tri thức, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của mỗi quốc gia Đây là động lực thúc đẩy con người sáng tạo ra các tác phẩm có giá trị

Âm nhạc có vai trò quan trọng trong việc làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi người Âm nhạc len lỏi trong mọi ngóc ngách, thời gian, không gian Để có nhiều tác phẩm hay, đến được nhiều với công chúng

là cả một sự đầu tư ý tưởng, công sức, giá trị của người sáng tác, người thể hiện Chính vì vậy, việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc có vai trò nhất định trong việc thu hút và ổn định tinh thần của các văn nghệ sĩ, đồng thời khích lệ khả năng sáng tạo trong quần chúng nhân dân

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ kỹ thuật số với những ứng dụng to lớn của nó trong mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng khẳng định tri thức luôn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển Các loại hình tác phẩm đều có thể tồn tại trên môi trường kỹ thuật

số, Internet, mạng xã hội và các công nghệ khác của "thời đại số" giúp việc sao chép và phổ biến tác phẩm tới công chúng dễ dàng hơn bao giờ hết Nhưng cũng chính vì thế, việc vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang diễn ra hết sức phổ biến và phức tạp, ảnh hường lớn đến quyền, lợi ích đồng thời cản trở sự sáng tạo của các tác giả

Việc các website âm nhạc, các trang nhạc số, trang nghe nhạc trực tuyến ngày một xuất hiện nhiều với sự đa dạng về thể loại và phong phú về

Trang 11

nội dung là điều tất yếu diễn ra của thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay Nghe nhạc online, tải nhạc online hay cài đặt ứng dụng nghe nhạc trực tuyến không còn là các khái niệm xa lạ đối với giới trẻ nói riêng và người nghe nhạc nói chung Sự du nhập của âm nhạc nước ngoài, của văn hóa quốc

tế vào Việt Nam ngày một tăng Cũng từ đó, nhiều vấn đề kéo theo như việc đạo nhạc, sử dụng các bản ghi phái sinh khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu hay việc tự ý tải các tác phẩm âm nhạc có bản quyền trên các trang nhạc trực tuyến về mà không có trả phí bản quyền Thói quen xài chùa, dùng miễn phí nhiều năm qua đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực thi hệ thống pháp luật về quyền tác giả, cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển của công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam Các chương trình ca nhạc, biểu diễn có sử dụng các tác phẩm

âm nhạc nhưng chưa xin phép và không trả tiền phí sử dụng bản quyền cho các tác giả Thậm chí có nhiều nhà cung cấp trong lĩnh vực nội dung số và bản quyền còn cố ý không chấp hành các quy định của pháp luật về nghĩa vụ đối với quyền tác giả để thu lợi bất hợp pháp Đây là các vấn đề nóng hổi hiện nay trong việc bảo vệ quyền tác giả của chủ sở hữu các bản sáng tác, bản ghi

âm ghi hình khiến cho các nhà quản lý gặp rất nhiều khó khăn Do đó, bảo hộ bản quyền đã khó, bảo hộ bản quyền trên môi trường công nghệ số phát triển ngày càng khó hơn

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới những vi phạm trong vấn đề bản quyền, trong đó có việc tác giả chưa chủ động đăng ký sở hữu, dẫn đến việc tranh chấp xảy ra khi đưa tác phẩm ra công chúng, khiến việc xử lý khó khăn khi thiếu các căn cứ chứng thực Việc xử lý vi phạm về bản quyền còn chưa nghiêm minh triệt để Bên cạnh đó, nhiều vấn đề về quyền liên quan như biểu diễn, phát tán các nội dung văn hóa chưa được cấp phép gây bức xúc trong dư luận và ảnh hưởng đến hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung

Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan bảo đảm tương thích với

Trang 12

các điều ước quốc tế đáp ứng thực hiện cam kết bảo hộ cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan của Việt Nam và các nước thành viên của các điều ước quốc tế

Tuy nhiên các mối quan hệ trong Luật sở hữu trí tuệ cũng như những quy định về quyền tác giả âm nhạc có những chuyển biến nhất định, nhanh chóng đòi hỏi những thay đổi của quy định pháp luật Bên cạnh đó, hành lang pháp lý quản lý tình trạng nói trên còn khá lỏng lẻo, chưa theo kịp thực tế khiến cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như phía cơ quan chức năng còn lúng túng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tác giả tác phẩm nói chung và tác giả tác phẩm âm nhạc nói riêng Việc quản lý và thực thi bản quyền âm nhạc tại Việt Nam còn xuất hiện sự chồng chéo trách nhiệm và quyền hạn giữa các cơ quan quản lý Pháp luật chưa đầy đủ, hình phạt và mức hình phạt thiếu tính giáo dục, răn đe, thiếu quan tâm tới đấu tranh phòng chống tội phạm quyền sở hữu trí tuệ

Chính vì vậy, để thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật đòi hỏi các

cơ quan quản lý và thực thi quyền tác giả, quyền liên quan phải phối hợp chặt chẽ với nhau trong các hoạt động Đồng thời phải thực hiện một “cuộc cách mạng truyền thông” trên phạm vi quốc gia nhằm từng bước xây dựng ý thức thực hiện quyền tác giả và quyền liên quan, để mọi người dân có trách nhiệm khi thụ hưởng những sản phẩm của sự sáng tạo Việc thực thi tốt quyền tác giả, quyền liên quan sẽ thúc đẩy sự sáng tạo cá nhân và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo, mang lại giá trị kinh tế cho đất nước

Với mục đích làm rõ hơn các quy định của pháp luật liên quan, đưa ra các đề xuất mới để điều chỉnh, xây dựng thêm các quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc trong giai đoạn hiện nay, tôi đã chọn đề tài

"Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả

đối với tác phẩm âm nhạc" để làm đề tài luận văn của mình

Trang 13

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đã có một số công trình nghiên cứu, các đề tài, bài viết nói về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan các tác phẩm âm nhạc nói riêng và quyền tác giả nói chung Gần đây có nhiều bài viết về nội dung này như:

- Nguyễn Phan Khôi (2013), Tập bài giảng Luật Sở hữu trí tuệ, Trường

Đại Học Cần Thơ Trong cuốn sách này tác giả đã đưa ra luật về sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm âm nhạc và những thực trạng đối với quyền tác giả về tác phẩm âm nhạc ở Việt Nam

- Tác giả: Bùi Ngọc Toàn, Bài nghiên cứu “Việt Nam với việc gia nhập Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật”, Tạp chí

NCQT năm 1999 Số 29 bàn về Công ước Berne - một công ước quan trọng nhất về bảo hộ quyền tác giả trên thế giới và Những lợi ích và đòi hỏi khi gia nhập Công ước Berne đối với Việt Nam

- Tác giả: Vũ Mạnh Chu (2011), đã có bài viết “Hài hòa lợi ích bản quyền, pháp luật và thực thi, Nxb Thế giới Tác giả đã đưa ra các luận điểm về sự hài hòa

lợi ích của bản quyền tác giả, tác phẩm nói chung và tác phẩm âm nhạc nói riêng Những điều cần thiết trong việc thực thi luật về bản quyền tác giả

- Tác giả Thanh Hương, Báo Lao Động (2014), Bài viết“Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan: Pháp luật chưa đủ sức răn đe" Bài viết tổng kết

những vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan trong giai đoạn đó, đưa ra những kẽ hở, thực trạng và đề xuất một số giải pháp trong quản lý nhằm nâng cao được nhận thức, ý thức tự giác thực hiện các quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đối với cộng đồng, bên cạnh nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi và hoàn thiện hệ thống pháp lý

- Tác giả Gia Linh (2016), Bài viết trên Cổng thông tin điện tử, Bộ Văn

Hóa Thể thao và Du lịch: “Khẳng định vai trò của Quyền tác giả đối với sự phát triển văn hóa và kinh tế" Bài viết tổng hợp các nội dung trong cuộc hội thảo " Khẳng định vai trò của Quyền tác giả đối với sự phát triển văn hóa và

Trang 14

kinh tế " với việc thực thi quyền tác giả, quyền liên quan ở nước ta trong thời

- Lê Văn Chất (2013), Luận văn thạc sĩ luật học - Đại học Cần Thơ

“Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, thực trạng và giải pháp”

Luận văn đã phân tích thực trạng việc thực thi quyền tác giả trong giai đoạn 2010-2013, đưa ra những giải pháp về hoàn thiện chính sách bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc trong giai đoạn đó

- Nguyễn Anh Đức (2010), Luận văn thạc sĩ Luật học - Đại học quốc

gia Hà Nội “Bảo hộ quyền tác giả trước những xâm phạm từ Internet trên thế giới và Việt Nam: Phân tích dưới góc độ quyền con người" Luận văn nghiên

cứu về vấn đề bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trên internet với tư cách

là một trong các quyền con người về kinh tế và văn hóa đã được ghi nhận trong pháp luật nhân quyền quốc tế Từ đó làm rõ vai trò của chủ thể có nghĩa

vụ chính trong việc bảo đảm các quyền con người là nhà nước trong vấn đề bảo hộ quyền tác giả trước những xâm phạm từ internet

Các đề tài, bài viết ở trên đã tập trung nghiên cứu thực trạng thực thi quyền tác giả, trong đó có vấn đề bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện và xử lý vi phạm Điều đó có thể khẳng định rằng đây là một hướng nghiên cứu mới, mang tính cấp thiết và cần thiết đối với quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thực

Trang 15

trong thời gian qua để đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm âm nhạc

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống các vấn đề lý luận về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

- Phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của các thực trạng đó

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận

của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

Trang 16

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết có sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu tổng hợp từ các tạp chí, sách báo cũng như những tài liệu nghiên cứu từ các thông tin pháp lý trên Internet Bên cạnh đó, người viết còn tham khảo thêm các vụ việc xảy ra trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và bản quyền âm nhạc nói riêng trên các phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ cho việc nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về phương diện lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm âm nhạc

- Về phương diện thực tiễn: Đây là một trong những nghiên cứu mang tính cấp thiết hiện nay trong việc đưa ra những giải pháp thiết thực bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong giai đoạn công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, có nhiều xâm phạm, tranh chấp xảy ra Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra các đề xuất giải pháp trong việc quản lý có hiệu quả về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về

bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Chương 2: Thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ

quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản

quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Trang 17

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI

TÁC PHẨM ÂM NHẠC

1.1 Khái quát về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả

Những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là những sản phẩm sáng tạo của trí tuệ có thể mang nhiều điểm khác nhau về địa lý, lịch sử, dân tộc, ngôn ngữ nhưng đều mang đặc điểm chung đó là tính phi vật thể và khả năng

dễ phổ biến, khai thác ở nhiều quốc gia Do đó, cần thiết lập một hệ thống bảo

hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm của sáng tạo trí tuệ Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, quyền tác giả có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Đó chính là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Như vậy, quyền tác giả được trao cho hai loại chủ thể, Tác giả và chủ sở hữu Từ cách xem xét quyền tác giả như trên, dẫn đến việc chủ thể của quyền tác giả có thể là một trong hai loại, hoặc chủ thể bao gồm hai tư cách, Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Cụ thể hơn, nếu chủ thể là cá nhân thì có thể đóng vai trò là chủ sở hữu hoặc tác giả, hoặc cả hai Còn chủ thể là tổ chức thì có quyền tác giả với tư cách là chủ sở hữu [35, tr.18-19]

Quyền tác giả hay tác quyền là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa không bị vi phạm bản quyền, như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương

Trang 18

trình truyền thanh Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm, quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất [35] Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép, trình diễn bất hợp pháp Ví dụ: Tác giả một tác phẩm âm nhạc được làm chủ thành quả lao động trí tuệ của mình, được độc quyền công bố, hoặc cho người khác công bố tác phẩm âm nhạc của mình Việc sao chép, phổ biến nội dung tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả là xâm phạm quyền tác giả

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm

1886 (Công ước Berne) quy định rằng quyền tác giả được bảo hộ bao gồm quyền kinh tế và quyền tinh thần Quyền kinh tế mà Công ước Berne dành cho tác giả bao gồm [11, tr.11-14]:

- Quyền sao chép và những quyền thuộc quyền này;

- Quyền trình diễn và truyền phát tới công chúng một cuộc trình diễn tác phẩm kịch và âm nhạc;

- Quyền phát sóng hoặc truyền phát tới công chúng bằng bất cứ phương tiện vô tuyến khác;

- Quyền đọc trước công chúng, truyền phát bản đọc tác phẩm văn học tới công chúng;

- Quyền phóng tác, cải biên, chuyển thể;

- Quyền đối với tác phẩm điện ảnh; quyền hưởng lợi ích vật chất trong việc bán lại tác phẩm;

Quyền tác giả nói chung được hiểu là quyền mà pháp luật trao cho các tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm, bao gồm quyền bộc lộ tác phẩm, quyền sao chép tác phẩm và phân phối hoặc phổ biến tác phẩm đến công chúng bằng

Trang 19

dụng tác phẩm theo những cách thức cụ thể Hầu hết luật quyền tác giả của các nước đều phân biệt rõ giữa quyền tài sản và quyền nhân thân Các ngoại

lệ nhất định cũng được đặt ra đối với các loại hình tác phẩm đủ tiêu chuẩn bảo

hộ, và đối với việc thực thi các quyền đó Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành của Việt Nam cũng trao cho tác giả các quyền nhân thân

và quyền tài sản đối với tác phẩm do chính tác giả trực tiếp sáng tạo ra

Từ khái niệm quyền tác giả, có thể suy ra được quyền tác giả là một quyền dân sự Trong quan hệ pháp luật dân sự này, chủ thể là tác giả và chủ

sở hữu quyền tác giả Khách thể hay đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự

về quyền tác giả là các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật Nội dung là các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Tóm lại, Quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được pháp luật quy định đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu

1.1.2 Khái niệm về tác phẩm âm nhạc

Từ điển Luật học có đưa ra khái niệm “tác phẩm” là “sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới hình thức và bằng phương tiện nào đó, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào” Đại từ điển Tiếng Việt có ghi lại khái niệm

“Tác phẩm” là “công trình do nghệ sĩ, các nhà văn hóa, khoa học tạo nên” [37, tr.44-80]

Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 có định nghĩa: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”

Từ đây ta có thể rút ra rằng trước hết “tác phẩm âm nhạc” là “Sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật” [37, tr 16-18]

Trang 20

Từ điển thuật ngữ quyền tác giả, quyền liên quan có đề cập: “Tác phẩm

âm nhạc được hiểu chung là một loại hình tác phẩm nghệ thuật, được bảo hộ quyền tác giả Tác phẩm âm nhạc bao gồm tất cả các kết hợp âm thanh (tổ hợp) có hoặc không có lời (lời thơ hoặc lời nhạc kịch), được trình diễn bằng các nhạc cụ có hoặc không có giọng hát”

Theo giải nghĩa về tác phẩm âm nhạc – “musical work” trong từ điển

tiếng anh thì có thể hiểu tác phẩm được coi là tác phẩm âm nhạc nếu chứa đựng nốt nhạc và lời hát (nếu có) trong một tác phẩm âm nhạc Tác phẩm âm nhạc có thể thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có thể là một phần hoặc toàn

bộ bản nhạc hay được ghi lại trong đĩa nhạc

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO đã định nghĩa về “tác phẩm âm nhạc” như sau: “Bất kỳ tác phẩm nào bao gồm âm thanh hoặc chỉ chứa các ký

tự âm nhạc ngay cả khi không bao gồm lời hay bất kỳ hành động nào nhằm mục đích được hát, nói hay biểu diễn với âm nhạc thì được coi là tác phẩm âm nhạc Tác phẩm âm nhạc” đã được mô tả như là “một tác phẩm âm thanh được sáng tạo một cách trừu tượng để có thể biểu diễn qua âm thanh ngay cả khi không có lời”

Tác phẩm âm nhạc là một trong những đối tượng bảo hộ của Công ước Berne, tại Điều 2 Công ước Berne đã quy định thuật ngữ: “Các tác phẩm văn học nghệ thuật bao gồm (…) các bản nhạc có lời hay không lời, (…)

Tại Điều 12 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan có định nghĩa tác phẩm

âm nhạc là “tác phẩm được thể hiện dưới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký

tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn” Tuy nhiên, tác phẩm âm nhạc thường phải thông qua giọng hát, hay nhạc cụ thì mới có thể truyền trước công chúng, vẫn được xem

Trang 21

1.1.3 Khái niệm về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

1.1.3.1 Tác giả âm nhạc

Tác giả âm nhạc là người trực tiếp tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm âm nhạc, được thể hiện dưới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn Hay có thể nói rằng nếu tác phẩm âm nhạc là kết quả sáng tạo trực tiếp của cá nhân nào đó thì cá nhân đó được coi là tác giả của tác phẩm âm nhạc đó Những người đề xuất ý kiến, làm công việc hỗ trợ, đóng góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra một tác phẩm âm nhạc thì không được công nhận là tác giả của tác phẩm âm nhạc Tác phẩm

âm nhạc được sáng tác phải là kết quả sáng tạo trực tiếp của tác giả tạo ra tác phẩm âm nhạc đó

Tại từ điển Luật học Việt Nam có định nghĩa “tác giả” là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Bên cạnh đó, Điều 8 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ vê quyền tác giả và quyền liên quan có quy định:

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm:

a) Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;

b) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;

c) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam;

d) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên [37, tr 26-28]

Trang 22

1.1.3.2 Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Xét về mặt lý luận pháp lý cũng như trên thực tế, quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là những quyền mà một người được hưởng đối với một tác phẩm mà mình đã sáng tạo ra Người đó có thể là người sáng tạo ra tác phẩm hay chỉ đơn thuần là người sở hữu tác phẩm Các quyền này hướng tới mục đích nhằm đem lại cho người sáng tác những lợi ích vật chất và tinh thần tương xứng với công sức lao động trí tuệ mà họ đã bỏ ra thông qua việc cho phép họ được độc quyền kiểm soát việc khai thác và sử dụng tác phẩm của mình Tuy nhiên, độc quyền trao cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm sẽ không bao gồm việc ngăn cản người khác sử dụng hợp lý tác phẩm đó

Như vậy, Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (hay còn gọi là tác quyền âm nhạc) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm âm nhạc do mình sáng tác hoặc được sở hữu hợp pháp Quyền này còn được hiểu là quyền cho phép và quyền nhận thù lao Quyền cho phép có nghĩa là quyền tự quyết định cho phép người khác khai thác, sử dụng tác phẩm của mình và quyền nhận thù lao là quyền yêu cầu người khác trả thù lao cho việc khai thác, sử dụng tác phẩm Theo quy định của pháp luật, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền nhân thân bảo vệ sự toàn vẹn về sáng tạo

và danh tiếng của tác giả sáng tạo được thể hiện thông qua tác phẩm Quyền tài sản bảo vệ các lợi ích kinh tế của tác giả và cho phép tác giả thu lợi bằng cách khai thác trực tiếp hoặc gián tiếp tác phẩm

Quyền nhân thân: Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản Quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền gắn liền với giá trị nhân thân của tác giả như danh

dự, uy tín, tiếng tăm của tác giả và không thể chuyển giao, bao gồm quyền đặt tên tác phẩm, quyền đứng tên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn nội dung tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới

Trang 23

định đoạt tác phẩm đã được chuyển giao và được bảo hộ vô thời hạn Quyền nhân thân gắn với tài sản là các quyền cho hay không cho người khác sử dụng tác phẩm, quyền này có thể chuyển giao và gắn liền với các chế định về quyền tài sản trong quyền tác giả

Quyền tài sản: hiện nay các hoạt động âm nhạc diễn ra khá sôi động, nhiều cuộc thi tìm kiếm tài năng âm nhạc được tổ chức như Việt Nam Idol, Sao Mai điểm hẹn, The Voice… nhiều dịch vụ âm nhạc phát triển mạnh (mạng 3G, nhạc chuông, nhạc chờ điện thoại…) Có thể nói đời sống âm nhạc phát triển là điều kiện tất yếu để bản quyền tác giả phát triển và tiền sử dụng tác phẩm, cũng như quyền tài sản của các tác giả được nâng cao hơn Quá trình hình thành ý tưởng đến khi một tác phẩm âm nhạc đến tai người nghe, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã tốn không ít công sức và tiền bạc, bởi thế nên quyền tài sản là một phần đền đáp công sức và nhằm khuyến khích sự sáng tạo của tác giả

Ngày nay trên khắp thế giới, các quyền của những người sáng tạo như nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ đã được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc

tế bảo hộ Đề điều chỉnh mối quan hệ toàn cầu, các nội dung cơ bản về quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đã được luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế quy định thống nhất Các quyền của tác giả được pháp luật thừa nhận, mỗi cá nhân tác giả phải tự quản lý lấy các quyền của mình, khai thác nó để đạt được lợi ích kinh tế, bù đắp các tiêu hao trong quá trình sáng tạo, đồng thời tiếp tục đầu tư cho hoạt động sáng tạo ra các giá trị văn học, nghệ thuật, khoa học mới phục vụ được nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội

1.1.4 Đặc điểm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Một là, tác phẩm âm nhạc được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là

không sao chép, bắt chước tác phẩm khác Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm phải mới, mà là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra Tác phẩm đó phải do chính sức lao động trí óc của tác giả tạo

Trang 24

ra Tính nguyên gốc không có nghĩa là không có kế thừa [16, tr.50] Bài thơ

“Bài học đầu cho con” của tác giả Đỗ Trung Quân sau đó được nhạc sĩ Giáp

Văn Thạch phổ nhạc thành bài hát thì cả hai tác giả đều là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm của mình

Hai là, pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc chỉ bảo hộ

hình thức thể hiện của ý tưởng sáng tạo trong tác phẩm âm nhạc, mà không bảo hộ những ý tưởng sáng tạo chứa đựng trong tác phẩm, được thể hiện ra từ tác phẩm âm nhạc Hình thức thể hiện sự sáng tạo của tác giả trong một tác phẩm âm nhạc là việc sắp xếp lời trong tác phẩm âm nhạc có lời, cấu trúc của tác phẩm âm nhạc và các nốt nhạc trong tác phẩm không lời Ý tưởng của tác phẩm được truyền tải bằng sự sắp xếp, cấu trúc của lời tác phẩm hay những nốt nhạc của bản nhạc

Ba là, quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được bảo hộ mà không

phụ thuộc vào nôi dung hay giá trị nghệ thuật của tác phẩm âm nhạc Các công ước quốc tế về quyền tác giả và Luật Sở hữu trí tuệ đều có quy định thống nhất rằng sự sáng tạo trí tuệ trong việc tạo ra các tác phẩm âm nhạc mang tính nguyên gốc và được vật chất hóa, được công nhận là tác phẩm và được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả Theo đó, không đặt ra bất kỳ điều kiện về nội dung và giá trị nghệ thuật đối với một tác phẩm âm nhạc để tác phẩm âm nhạc đó được bảo hộ

Các tác phẩm âm nhạc khi được người này sử dụng thì mức hữu ích của tác phẩm đối với người khác không suy giảm Đây cũng là một điểm khác biệt giữa sản phẩm trí tuệ và sản phẩm hiện vật Do vậy, pháp luật quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc nhằm đảm bảo hai mục đích là bảo vệ quyền lợi của tác giả, khuyến khích sự tự do sáng tạo nghệ thuật đồng thời đảm bảo tối đa hóa lợi ích công cộng trong việc sử dụng tác phẩm đó

Trang 25

Bốn là, quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được bảo hộ tự động

Kết quả của hoạt động sáng tạo ra tác phẩm âm nhạc mang tính nguyên gốc

và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định sẽ được công nhận là tác phẩm âm nhạc và được pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc thừa nhận và bảo vệ Như vậy, thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc không phải là yêu cầu bắt buộc Tuy nhiên thủ tục này giúp giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho tác giả của tác phẩm âm nhạc, chủ sở hữu quyền tác giả âm nhạc khi có tranh chấp hay xâm phạm quyền tác giả xảy ra

1.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

1.2.1 Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

1.2.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Trong hoạt động quản lý, việc hình thành văn bản là yêu cầu khách quan để ghi lại và truyền đạt quyết định và thông tin quản lý Các quyết định

và thông tin quản lý được văn bản hóa dưới nhiều hình thức tên gọi khác nhau, có tính chất nội dung khác nhau và được ban hành bởi các chủ thể quản

lý khác nhau: cơ quan nhà nước, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Trong các loại văn bản của cơ quan, tổ chức, xuất phát từ việc thực hiện những chức năng đặc thù của cơ quan nhà nước mà văn

bản quản lý nhà nước có những đặc thù riêng

Trong thực tế, văn bản vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt

động giao tiếp bằng ngôn ngữ Tồn tại ở dạng viết, văn bản thường là tập hợp của các câu được liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên một chỉnh thể hình thức, diễn đạt một nội dung trọn vẹn nhằm đáp ứng mục đích giao tiếp nhất định

Trong lĩnh vực hành chính, khái niệm văn bản được dùng để chỉ toàn

bộ tài liệu, giấy tờ hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm phục vụ trở lại cho chính quá trình hoạt động của các cơ quan tổ chức này

Trang 26

Theo Nghị định số 110/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08 tháng 4 năm 2004 về công tác văn thư, văn bản quản lý nhà nước gồm:

- Văn bản quy phạm pháp luật

- Văn bản hành chính (bao gồm văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thường)

- Văn bản chuyên ngành (hay còn gọi là văn bản chuyên môn - kỹ thuật) Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật là một trong số các loại văn bản quản lý nhà nước Đây là nhóm văn bản có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước

Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam được đề cập trong các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đưa ra khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật như sau: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.”[36, tr 1-2]

Văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của các cơ quan hành chính nhà nước (văn bản lập quy) được hình thành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước là phương tiện quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý, là hình thức để cụ thể hóa pháp luật, phương tiện điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước Chính vì vậy, quan tâm đúng mức tới việc nâng cao chất lượng và hiệu quả tác động của văn bản sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường hiệu lực của quản lý nhà nước Cũng bởi vậy, việc đổi mới và nâng cao chất lượng xây

Trang 27

dựng và ban hành văn bản là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay

1.2.1.2 Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trên thực tế, mỗi văn bản phát sinh đều có mục đích và lý do của nó, không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ với văn bản khác Các văn bản hình thành trong hoạt động quản lý nói chung và hoạt động quản lý nhà nước nói riêng luôn luôn có mối liên hệ với nhau và tạo thành một hệ thống Các phương pháp phân tích từng dữ kiện đơn lẻ không giúp giải quyết vấn đề Cần một cách tiếp cận xem xét mối quan hệ giữa các dữ kiện đơn lẻ để giải quyết vấn đề hiệu quả bởi vì trên thực tế tất cả các yếu tố trong sự phát triển đều phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau Như vậy, một cách nào đó, chúng ta đã xem xét văn bản dưới lăng kính hệ thống và cần phải tiếp cận dưới góc độ hệ thống để giúp nhìn nhận, đánh giá văn bản và tổ chức sử dụng văn bản một cách khoa học

Về bản chất, thế giới sự vật, tự nhiên đều mang tính hệ thống Tuy nhiên các hoạt động xã hội do con người tạo ra nhiều khi mang tính chủ quan, chưa có hệ thống Việc nghiên cứu hệ thống giúp khắc phục những yếu tố phi

hệ thống Tiếp cận hệ thống là cách tiếp cận khoa học

Trong triết học cổ, khái niệm hệ thống được hiểu là tính trật tự và thống nhất của các khách thể tự nhiên Hệ thống thống nhất lớn hơn tổng của tất cả các yếu tố cộng lại

Hệ thống - sự thống nhất khách quan, theo quy luật của các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau, cũng như các hiểu biết về tự nhiên và xã hội

Hệ thống được hiểu là một tập hợp các phần tử có liên hệ với nhau để tạo thành một thể thống nhất, có thể thực hiện một số chức năng hay một số mục tiêu nhất định

Thuật ngữ hệ thống còn bao hàm cả ý nghĩa là phương pháp xếp đặt một cách trật tự

Trang 28

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là một tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật có liên hệ mật thiết với nhau về mọi phương diện, được sắp xếp theo trật tự pháp lý khách quan, lô gích và khoa học Đó là hệ thống chặt chẽ các cấu trúc nội dung bên trong và hình thức biểu hiện bên ngoài, phản ánh được và phù hợp yêu cầu của công tác quản lý nhà nước Trong hệ thống này những tiểu hệ thống với tính chất và mức độ hiệu lực pháp lý cao thấp, rộng hẹp khác nhau

Từ những quan niệm chung nói trên về lý thuyết hệ thống, khi nghiên cứu các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chúng ta có thể dựa vào những yếu tố sau đây:

- Thành phần các văn bản tạo nên hệ thống

- Tính chất liên hệ giữa các văn bản hoặc nhóm văn bản trong hệ thống

- Chức năng của hệ thống văn bản

- Giới hạn phạm vi văn bản liên quan đến hoạt động của cơ quan ban hành

- Cấu trúc nội dung bên trong và hình thức biểu hiện bên ngoài của hệ thống

- Sự phù hợp của hệ thống yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, với môi trường bên ngoài (pháp lý, chính trị, văn hoá, xã hội )

- Tính thứ bậc của hệ thống

- Quan hệ giữa hệ thống văn bản này với hệ thống văn bản khác

Để có được hệ thống văn bản cần phải thường xuyên tiến hành công tác

rà soát và hệ thống hoá các văn bản Kết quả của công tác này là tạo ra hệ thống văn bản cân đối, hoàn chỉnh, thống nhất, khắc phục tình trạng lỗi thời, mâu thuẫn và những lỗ hổng của hệ thống văn bản, làm cho nội dung của văn bản phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của đời sống, có hình thức rõ ràng, dễ hiểu, tiện lợi cho việc sử dụng.[52, tr 32-35]

1.2.1.3 Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Trang 29

Chưa có khái niệm tổng quan về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, nhưng dựa trên khái niệm

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có thể hiểu: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là tập hợp hợp các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự chung được nhà nước về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc bảo đảm thực hiện và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống.[35, tr 18-22]

1.2.2 Phân loại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

+ Theo tiêu chí thẩm quyền và hình thức văn bản: có luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội, Nghị Định của Chính Phủ, Quyết Định của Thủ Tướng, Thông tư của Bộ trưởng

+ Theo tiêu chí nội dung điều chỉnh: VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả gồm: Văn Bản về hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong

Bộ luật Dân sự; về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật

Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

1.2.3 Vai trò của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

1.2.3.1 Văn bản quản lý nhà nước đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý nhà nước

Hoạt động quản lý nhà nước phần lớn được đảm bảo thông tin bởi hệ thống văn bản quản lý Đó là các thông tin về:

- Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước liên quan đến mục tiêu

và phương hướng hoạt động lâu dài của cơ quan, đơn vị

- Nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động cụ thể của từng cơ quan, đơn vị

Trang 30

- Phương thức hoạt động, quan hệ công tác giữa các cơ quan, các đơn

vị với nhau

- Tình hình đối tượng bị quản lý; sự biến động của cơ quan, đơn vị; chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, đơn vị

- Các kết quả đạt được trong quá trình quản lý, v.v

1.2.3.2 Văn bản là phương tiện truyền đạt các quyết định quản lý

Thông thường, các quyết định hành chính được truyền đạt sau khi đã được thể chế hoá thành các văn bản mang tính quyền lực nhà nước Các quyết định quản lý cần phải được truyền đạt nhanh chóng và đúng đối tượng, được đối tượng bị quản lý thông suốt, hiểu được nhiệm vụ và nắm được ý đồ của lãnh đạo, để nhiệt tình, yên tâm và phấn khởi thực hiện Hơn thế nữa các đối tượng bị quản lý cũng phải nhận thấy được khả năng có thể để phát huy sáng tạo khi thực hiện các quyết định quản lý Việc truyền đạt quyết định kéo dài, nửa vời, thiếu cụ thể, không chính xác sẽ làm cho quyết định quản lý khó có điều kiện được biến thành hiện thực hoặc được thực hiện với hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả Việc truyền đạt các quyết định quản lý là vai trò cơ bản của hệ thống văn bản quản lý nhà nước, bởi lẽ hệ thống đó có khả năng truyền đạt các quyết định quản lý một cách nhanh chóng, chính xác và có độ tin cậy cao khi được tổ chức xây dựng, ban hành và chu chuyển một cách khoa học

Việc truyền đạt quyết định quản lý và sử dụng văn bản vào nhiệm vụ này là một mặt của việc tổ chức khoa học lao động quản lý Tổ chức tốt thì năng suất lao động cao, tổ chức không tốt, thiếu khoa học thì năng suất làm việc của người quản lý, của cơ quan sẽ bị hạn chế Văn bản có thể giúp cho các nhà quản lý tạo ra các mối quan hệ về mặt tổ chức trong các cơ quan, đơn

vị trực thuộc theo yêu cầu của mình, và hướng hoạt động của các thành viên vào mục tiêu nào đó trong quản lý Vấn đề còn lại là làm thế nào để hệ thống

Trang 31

văn bản được tổ chức khoa học, không bị lạm dụng hoặc không phát huy hết vai trò, chức năng, nhiệm vụ Đây là vấn đề phương pháp

1.2.3.3 Văn bản là phương tiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý

Kiểm tra có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước Không có kiểm tra, theo dõi thường xuyên, thiết thực và chặt chẽ thì mọi nghị quyết, chỉ thị, quyết định quản lý rất có thể chỉ là lý thuyết suông Quan niệm rằng kiểm soát và kiểm tra việc thực hiện công tác điều hành và quản lý nhà nước là một phương tiện có hiệu lực thúc đẩy các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hoạt động một cách tích cực, có hiệu quả

Kiểm tra còn là một trong những biện pháp để nâng cao trình độ tổ chức trong công tác của các cơ quan thuộc bộ máy quản lý nhà nước hiện nay Công tác này sử dụng một phương tiện quan trọng hàng đầu là hệ thống văn bản quản lý nhà nước Phương tiện này muốn phát huy hết vai trò to lớn đó của mình thì cần phải được tổ chức một cách khoa học Có thể thông qua việc kiểm tra, việc giải quyết văn bản mà theo dõi hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý Nếu được tổ chức tốt, biện pháp kiểm tra công việc qua văn bản

sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực

Để kiểm tra có kết quả cũng cần chú ý đúng mức cả hai phương diện của quá trình hình thành và giải quyết văn bản: một là, tình hình xuất hiện các văn bản trong hoạt động của cơ quan và các đơn vị trực thuộc, hai là, nội dung các văn bản và sự hoàn thiện trên thực tế nội dung đó Ở những mức độ khác nhau, cả hai phương diện đều có thể cho thấy chất lượng thực tế trong hoạt động của cơ quan

Kiểm tra hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý thông qua hệ thống văn bản không thể tách rời với việc phân công trách nhiệm chính xác cho mỗi

bộ phận, mỗi cán bộ trong các đơn vị của hệ thống bị quản lý Nếu sự phân công không rõ ràng, thiếu khoa học thì không thể tiến hành kiểm tra có kết quả

Trang 32

1.2.3.4 Văn bản là công cụ xây dựng hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật hành chính gắn liền với việc đảm bảo quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý của các cơ quan Xây dựng hê thống pháp luật hành chính là nhằm tạo ra cơ sở cho các cơ quan hành chính nhà nước, các công dân có thể hoạt động theo những chuẩn mực pháp lý thống nhất, phù hợp với sự phân chia quyền hành trong quản lý nhà nước

Các hệ thống văn bản quản lý nhà nước, một mặt, phản ánh sự phân chia quyền hành trong quản lý hành chính nhà nước, mặt khác, là sự cụ thể hoá các luật lệ hiện hành, hướng dẫn thực hiện các luật lệ đó Đó là một công

cụ tất yếu của việc xây dựng hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hành chính nói riêng

Khi xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước cần chú ý đảm bảo các yêu cầu về nội dung và hình thức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan do luật định sao cho các văn bản ban hành ra có giá trị điều hành thực tế, chứ không chỉ mang tính hình thức, và về nguyên tắc, chỉ khi đó các văn bản mới có hiệu lực pháp lý và mới đảm bảo được quyền uy của cơ quan nhà nước

Như vậy, văn bản quản lý nhà nước có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc xây dựng và định hình một chế độ pháp lý cần thiết cho việc xem xét các hành vi hành chính trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ quản lý của các cơ quan Đó là một trong những cơ sở quan trọng để giải quyết các tranh chấp và bất đồng giữa các cơ quan, các đơn vị và cá nhân, giải quyết những quan hệ về pháp lý trong lĩnh vực quản lý hành chính Nói cách khác, văn bản quản lý nhà nước là cơ sở cần thiết để xây dựng cơ chế của việc kiểm soát tính hợp pháp của các hành vi hành chính trong thực tế hoạt động của các cơ quan nhà nước, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước

Trang 33

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Việc đánh giá hệ thống văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan nhằm các mục đích:

- Lựa chọn phương án tối ưu để thể hiện nội dung và hình thức cho văn bản trước khi ban hành

- Phát hiện các sai sót, mâu thuẫn, chồng chéo, bất hợp lý của văn bản trước khi ban hành cũng như sau khi ban hành để kịp thời chỉnh sửa, nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng văn bản

- Xem xét khả năng và yêu cầu sử dụng văn bản vào công việc thực tế

để có một chủ trương đúng đắn đối với cách xử lý văn bản

- Phục vụ công tác lưu trữ hiện hành tại cơ quan cũng như lưu trữ lịch sử Khi đánh giá hệ thống văn bản QPPL cần dựa trên các tiêu chí:

- Tính thống nhất về nội dung giữa các văn bản trong hệ thống

Các văn bản trong cùng hệ thống cần thống nhất với nhau, phù hợp với Hiến pháp, luật và VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; không mẫu thuẫn, trùng chéo

Quy trình này phải đảm bảo cho mọi đối tượng trong xã hội, đặc biệt là các đối tượng chịu sự tác động của văn bản tiếp cận được với chính sách, quy định sắp được áp dụng đối với mình và có thể có ý kiến đối với các dự thảo văn bản đó, đồng thời, quy trình ban hành VBQPPL cũng nhằm làm cho mỗi quy phạm pháp luật khi được ban hành đảm bảo có được sự xem xét, giám sát, thẩm định, thẩm tra (giám sát trước) của các cơ quan có thẩm quyền Vì thế, việc ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định là một trong những đặc trưng của VBQPPL

Để đảm bảo tính hệ thống của VBQPPL, việc quy định VB QPPL phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch là vô cùng quan trọng Theo đó, VBQPPL phải bảo đảm tính thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo với

Trang 34

văn bản của Cơ quan Nhà nước cấp trên, bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối chung của Đảng; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật; tính khả thi của văn bản Nhằm đáp ứng các yêu cầu này, văn bản được ban hành theo thẩm quyền phải phù hợp với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Ngoài ra, VBQPPL còn phải bảo đảm tính công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…

- Tính thống nhất về hình thức giữa các văn bản trong hệ thống

Các văn bản trong cùng hệ thống với những tính chất nội dung như nhau và chủ thể tương tự nhau thì phải có hình thức tên loại như nhau

Từ việc xác định chính xác tính chất nội dung của văn bản sẽ ban hành,

cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản sẽ xác định được văn bản đó phải được ban hành theo trình tự, thủ tục nào Về nội dung, cần làm rõ thế nào

là tính bắt buộc chung, cơ chế áp dụng các quy tắc xử sự chung này Điều này

có thể tính đến tần suất áp dụng, đối tượng áp dụng văn bản

Chẳng hạn, tần suất áp dụng quy tắc xử sự chung phải là nhiều lần, có tính chất lặp đi lặp lại, nếu văn bản chỉ ban hành để áp dụng một lần thì không phải là VBQPPL; đồng thời, áp dụng đối với tất cả các đối tượng (trong phạm

vi được xác định đối với từng loại văn bản), trường hợp này đối tượng áp dụng là giả định, trừu tượng, không chỉ đích danh ai hay cơ quan, tổ chức nào, tức là bất kỳ ai, cơ quan, tổ chức nào khi tham gia vào quan hệ xã hội này

Trang 35

- Khả năng phản ánh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi quản

lý của cơ quan, đơn vị đã tạo nên hệ thống văn bản

Văn bản trong cùng hệ thống phải có vị trí xác định hướng tới thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan

Đối với các văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ ban hành thì cần có quy định chi tiết về tổ chức triển khai, hay hướng dẫn thi hành văn bản QPPL của

cơ quan Nhà nước cấp trên, bảo đảm cho các văn bản này (luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ) được thực hiện trên thực tiễn Ngoài ra, còn quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định, văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp văn bản

có quy định khác hoặc điều ước quốc tế mà Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác Đồng thời, các VBQPPL về quản lý nhà nước thuộc ngành và lĩnh vực do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ ban hành có hiệu lực thi hành trong phạm vi cả nước

- Khả năng hỗ trợ thông tin giữa các văn bản cùng hệ thống và giữa các hệ thống văn bản

Văn bản trong cùng hệ thống phải có tính chất tương hỗ lẫn nhau về thông tin nhằm đạt được mục tiêu ban hành văn bản và mục tiêu quản lý

VBQPPL phải do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành, tương ứng với từng cơ quan, từng vị trí chức danh trong bộ máy nhà nước mà cơ quan, người có thẩm quyền đó được ban hành loại văn bản gì để phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước của mình Các VBQPPL này hỗ trợ

và có khả năng cung cấp thông tin cho nhau và giữa các hệ thống văn bản,

Trang 36

đảm bảo tính thống nhất khoa học từ trung ương đến địa phương không bị chồng lắp

Về thẩm quyền hình thức, theo quy định của pháp luật, cơ quan, người

có thẩm quyền được ban hành VBQPPL đó dưới các hình thức nào trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, ví dụ như: Luật, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư… Theo quy định hiện hành, về mặt hình thức, Quốc hội có thẩm quyền ban hành Luật, Chính phủ ban hành Nghị định,

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành Thông tư và Thông tư liên tịch với Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao… Về thẩm quyền nội dung, cơ quan, người có thẩm quyền chỉ được ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình được pháp luật cho phép hoặc đã được phân công, phân cấp

1.3 Hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc ở một số quốc gia trên thế giới

Tại Hàn quốc, quyền tác giả âm nhạc được bảo hộ bởi Luật quyền tác giả Hàn quốc, lần đầu tiên được ban hành năm 1957, đã trải qua 14 lần bổ sung, và hai lần trong số đó được sửa đổi, bổ sung toàn diện, lần thứ nhất năm

1986 và lần thứ hai năm 2006, có hiệu lực năm 2007 Luật này bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quyền tác giả, quyền liên quan nhằm thúc đẩy việc sử dụng công bằng các sản phẩm sở hữu trí tuệ và đóng góp vào việc cải thiện và phát triển nền văn hóa

Tại Hoa kỳ, việc ghi nhận quyền tác giả và các biện pháp bảo hộ quyền tác giả đã được trang trọng ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ tại Điều 1 Mục

8 Khoản 8 “Quốc Hội có quyền… nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học và nghệ thuật bằng các đảm bảo quyền tối cao của tác giả và nhà phát minh trong một khoảng thời gian nhất định đối với những tác phẩm và phát minh của họ” Luật Quyền tác giả đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được thông qua và

Trang 37

đưa ra dự thảo Luật Quyền tác giả mới trình Thượng nghị viện Hoa Kỳ thay thế cho Luật Quyền tác giả cũ Với 100% số phiếu thông qua (97 phiếu thuận/

0 phiếu chống), Thượng nghị viện thông qua Luật Quyền tác giả vào ngày 19/02/1976 Ngày 22/09/1976, cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện đều chập thuận thông quan Luật Quyền tác giả Ngày 19/10/1976, Tổng thống Ford ký lệnh ban hành Luật Quyền tác giả, có hiệu lực từ ngày 01/01/1978 Sau đó, Luật quyền tác giả năm 1976 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 [58, tr 13-15]

Tháng 6 năm 1926, Liên đoàn quốc tế các nhà soạn nhạc và soạn lời (CISAC) được thành lập bao gồm đại biểu từ 18 hiệp hội quyền tác giả trên toàn thế giới và ngày nay thành viên của CISAC ngày một tăng lên và mở rộng hơn Mục tiêu cơ bản của các hiệp hội thành viên CISAC – cơ sở và lý

do tồn tại cơ bản của họ - là đảm bảo một cách hiệu quả, thúc đẩy quyền lợi tinh thần của tác giả và bảo vệ các quyền lợi vật chất của họ; đồng thời là một

bộ máy hiệu quả dể thu và phân phối tiền bản quyền các tác phẩm âm nhạc và đảm đương toàn bộ trách nhiệm về các hoạt động gắn liền với việc quản trị các quyền đã được giao phó cho tổ chức [55]

Quyền tác giả phát sinh theo pháp luật của quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó Để bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được phát sinh trên cơ sở nước này được tiếp tục bảo hộ ở nước khác thì cần có sự ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế giữa các nước hữu quan

Nhằm bảo hộ các quyền lợi chính đáng của tác giả, nhiều quốc gia đã tham gia vào việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền tác giả như Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật (được sửa đổi, bổ sung nhiều lần); Công ước toàn cầu về bản quyền năm 1952; Hiệp định TRIPS 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại thế giới WTO; Hiệp định TPP

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày một cách tổng quan về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc bao gồm: khái niệm, đặc điểm và vai trò của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc; nội dung của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc, sự cần thiết phải hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc; các tiêu chí trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc Chương 1 cũng trình bày hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của một số quốc gia về quyền tác giả tác phẩm âm nhạc Đặc biệt trong phần này đã trình bày những vấn đề lý luận về sự cần thiết của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc:

- Nội dung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc

- Phân loại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc

- Vai trò của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc

- Nội dung thay đổi trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo

hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc

Nội dung đã trình bày trong Chương 1 làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc ở Chương 2

Trang 39

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI

TÁC PHẨM ÂM NHẠC

2.1 Tình hình vi phạm bản quyền tác giả âm nhạc

Giai đoạn trước năm 1946, Ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta chưa xác định rõ vai trò của tài sản trí tuệ và bảo hộ quyền tác giả là một trong những yếu tố quan trọng trong xây dựng nền kinh tế thị trường Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên vào năm 1946, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận những quyền

cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả, thể hiện tư tưởng tiến bộ, nhân văn về con người Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân; là việc Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức; tôn trọng quyền

tư hữu tư nhân về tài sản Tư tưởng lập pháp đó đã tiếp tục được thể hiện tại Hiến pháp 1959, 1980 và Hiến pháp 2013 đang có hiệu lực thi hành Năm

1986 với Nghị định số 142/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1986, lần đầu tiên ở Việt Nam, một văn bản riêng biệt về quyền tác giả đã được ban hành với một

số quy định cơ bản, ban đầu về quyền tác giả với sự giúp đỡ của hãng VAB (hãng bảo hộ quyền tác giả thuộc Liên Xô trước đây) Trước yêu cầu của phát triển, ngày 02 tháng 12 năm 1994, Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa IX đã thông qua Pháp lệnh về quyền tác giả Tại kỳ họp thứ 8 Khóa IX, ngày 28 tháng 10 năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ Luật Dân sự, trong đó có các quy định về quyền tác giả Với 36 Điều quy định riêng về quyền tác giả tại Chương I, Phần thứ 6 Bộ Luật Dân

sự, đã điều chỉnh các quan hệ dân sự về quyền tác giả trong điều kiện đất nước chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước

Trang 40

Việc ra đời của Bộ Luật Dân sự, với các quy định về quyền tác giả là một bước tiến dài về hoạt động lập pháp ở Việt Nam trong lĩnh vực này, có sự giúp đỡ của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) Nó đã tiếp thu những giá trị tiến bộ từ những văn bản pháp luật đã qua kiểm nghiệm trong cuộc sống, về cơ bản phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới Đồng thời nó đã phản ánh được xu thế phát triển quyền tác giả ở Việt Nam Nhìn chung, ta có thể so sánh được sự bảo bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới Trong khi đó các nước trên thế giới pháp luật về sở hữu trí tuệ đã được hình thành và phát triển khá sớm, như là Đạo luật của Nữ hoàng Anne 1709 về quyền tác giả, hệ thống luật Anh - Mỹ về quyền tác giả được gọi là luật sao chép (copyright, hay bản quyền), hay hệ thống luật Lục địa về quyền tác giả và các giá trị nhân thân của tác giả

Khi mà năm 1886 các nước đã ký các Công ước quốc tế, thì ở Việt Nam mãi đến năm 1986 chỉ có Nghị định số 142/HĐBT đã đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển lĩnh vực quyền tác giả, trong đó có hệ thống quản

lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả Tuy ở mức độ sơ khai, đơn giản nhưng hoạt động quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả được đề cập trong nghị định này và các văn bản hướng dẫn thi hành nghị định sau đó Năm 1994, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả và năm 1995 Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự trong đó có chương I phần thứ 6 điều chỉnh về quyền tác giả Về tổng thể, các nguyên tắc và quy định cơ bản về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự đã thiết lập hoặc làm cơ sở để thiết lập một hệ thống phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, dựa trên công ước Berne về bảo

hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, người ghi âm và tổ chức phát sóng

Ngày đăng: 31/10/2020, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w