Lý do chọn đề tài luận văn Trải qua các chặng đường cách mạng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một trong những nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, nhằm tạo ra một đội ngũ cán
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
- -
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
BÙI KIM DUNG
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NGẮN HẠN VÀ TRUNG HẠN THEO ĐỀ ÁN 165
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
- -
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
BÙI KIM DUNG
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NGẮN HẠN VÀ TRUNG HẠN THEO ĐỀ ÁN 165
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS PHẠM ĐỨC CHÍNH
HÀ NỘI – NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tác giả Nội dung nghiên cứu, kết quả trình bày, nguồn trích dẫn trong Luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu trong Luận văn là do tác giả tự khảo sát, tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác./
Tác giả luận văn
Bùi Kim Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được Luận văn này, ngoài nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ quý giá của Quý Thầy, Cô giáo, các đồng nghiệp và các vụ,cục, đơn vị thuộc Ban Tổ chức Trung ương, em xin chân thành gửi lời cảm
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Đức Chính, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này
Mặc dù, em đã cố gắng và cẩn thận trong việc lựa chọn nội dung cũng như phương pháp trình bày Luận văn Tuy nhiên, do năng lực nghiên cứu còn
có những hạn chế và thời gian tìm hiểu ngắn nên Luận văn không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, em mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Quý Thầy, Cô để bản thân em và Luận văn được hoàn thiện hơn trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và làm việc sau này
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Kim Dung
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THEO ĐỀ ÁN 165 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1.Một số khái niệm……… 8
1.1.1 Bồi dưỡng và bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn……… 8
1.1.2 Cán bộ và cán bộ lãnh đạo, quản lý……… 14
1.1.3.Bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn cán bộ lãnh đạo, quản lý……… 19
1.2.Cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia chương trình bồi dưỡng theo Đề án165 21
1.2.1 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia chương trình 21 1.2.2 Sự cần thiết tham gia chương trình bồi dưỡng ngắn hạn và trung hạn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý……… 21
1.2.3 Những nhân tố tác động đến công tác bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý……… 25
1.3 Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Đề án 165……… 29
1.3.1 Mục tiêu đề án……… 29
1.3.2 Chương trình, nội dung đề án……… 30
1.3.3 Phương pháp & hình thức bồi dưỡng……… 30
1.4 Một số kinh nghiệm quốc tế về bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý…… 31
Tiểu kết Chương 1……… 37
Chương 2 THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THEO ĐỀ ÁN 165 38 2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia khóa bồi dưỡng ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165……… 38
2.1.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia khóa bồi dưỡng ngắn hạn……… 39
2.1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia khóa bồi dưỡng trung hạn……… 39
2.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165……… 40
2.2.1 Công tác xác định nhu cầu bồi dưỡng 40
2.2.2 Công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hàng năm 40
2.2.3 Công tác tổ chức, quản lý hoạt động bồi dưỡng 42
2.3 Đánh giá chung……… 49
Trang 62.3.1 Những kết quả đạt được……… 49
2.3.2 Những hạn chế, khuyết điểm……… 52
2.3.3 Nguyên nhân của thành tựu……… 53
2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm……… 54
Tiểu kết Chương 2……… 55
Chương3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THEO ĐỀ ÁN 165 56
3.1 Quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý……… 56
3.1.1 Quan điểm chung 56
3.1.2 Định hướng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý 57
3.2 Mục tiêu và phương hướng bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Đề án 165 58
3.2.1 Mục tiêu 58
3.2.2 Nội dung bồi dưỡng phải gắn liền với đường lối phát triển đất nước 60
3.2.3 Phương hướng đến năm 2025 61
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165 62
3.3.1 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy định và quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý 62
3.3.2 Khảo sát để xác định nhu cầu bồi dưỡng 64
3.3.3 Xây dựng mối quan hệ hợp tác với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài 68
3.3.4 Phân loại khu vực đào tạo, bồi dưỡng 70
3.3.5 Lựa chọn những đối tác đào tạo, bồi dưỡng với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại 73
3.3.6 Rà soát để lựa chọn những cơ sở đào tạo với hệ thống chương trình, tài liệu bồi dưỡng phong phú, có chất lượng 73
3.3.7 Xây dựng đội ngũ cán bộ điều phối, tổ chức khóa bồi dưỡng chuyên nghiệp 75
3.3.8 Thay đổi cách thức tổ chức để các đoàn phân cấp cho ban, bộ, ngành đạt hiệu quả cao hơn 76
3.3.9 Hoàn thiện Phiếu đánh giá khóa bồi dưỡng, viết báo cáo khóa học 78
Tiểu kết Chương 3……… 83
KẾT LUẬN……… 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 89
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1 2.1 Tổng hợp số liệu các loại hình bồi dưỡng cán
4 2.4 Kết quả bồi dưỡng ngắn hạn do Đề án 165
phân cấp cho các bộ, ban, ngành 51
5 3.1 Phiếu đăng ký nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng 68
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Trải qua các chặng đường cách mạng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ là một trong những nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, nhằm tạo ra một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia giỏi, có đủ năng lực và phẩm chất, đủ đức và tài để đảm đương tốt các nhiệm vụ, luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta
Ngay từ ngày đầu mới thành lập, đồng thời với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở trong nước, Đảng ta cũng đã cử những cán bộ ưu tú đi học tập ở nước ngoài Nhờ đó, trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, tuy số lượng đảng viên không nhiều, nhiều cán bộ chủ chốt bị địch bắt, tù đầy và hy sinh, nhưng Đảng vẫn không bị hẫng hụt về cán bộ lãnh đạo Sau Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, việc cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài vẫn tiếp tục được thực hiện Từ đầu những năm năm mươi, khi cuộc kháng chiến chống Pháp còn chưa kết thúc, Đảng đã chọn nhiều cán bộ gửi đi đào tạo ở nước ngoài, với nhiều chuyên ngành khác nhau
để chuẩn bị đội ngũ cán bộ phục vụ công cuộc xây dựng đất nước sau này Sau kháng chiến chống Pháp, trong những thập kỷ sáu mươi, bẩy mươi, tiếp tục thực hiện chiến lược trên, số cán bộ được gửi đi đào tạo ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng Sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý - ở nước ngoài được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm
Xuất phát từ vị trí, vai trò và đòi hỏi của thực tiễn đối với đội ngũ cán
bộ và công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý, Đảng và Nhà nước
ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và
Trang 9cần thiết phải đưa cán bộ ra nước ngoài học tập, nghiên cứu nhằm tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, khoa học quản lý tiên tiến trên thế giới
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống Chính trị, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 20 tháng 6 năm 2008, Ban Tổ chức Trung ương đã
trình Bộ Chính trị Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước”; ngày 27 tháng 6 năm 2008, Bộ
Chính trị đã có thông báo số 165-TB/TW thông báo kết luận của Bộ Chính trị đồng ý triển khai thực hiện Đề án như đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương (Gọi tắt là Đề án 165)
Những năm qua, Đảng, Chính phủ và các cấp ủy, chính quyền địa phương rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản
lý Các cấp, các ngành đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Nhờ chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng mà chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên khá toàn diện Thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, nhất là đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài theo Đề án 165 đã giúp cho đội ngũ cán bộ tiếp cận được những tri thức mới, tiên tiến của các nước trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường
Trước đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, việc nghiên cứu đánh giá đối với các công tác đã triển khai thực hiện để từ đó rút kinh nghiệm và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác bồi dưỡng của Đề án 165 là thực sự cần thiết Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ thuộc Đề án 165
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Bồi dưỡng cán bộ lãnh
đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165” để nghiên cứu làm luận
văn cao học của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được các cơ quan và nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Nhiều công trình khoa học và bài viết của các tác giả quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được đăng như:
- Ngô Thành Can (2014), Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công, Nhà xuất bản Lao động Hà Nội; tác giả đã cung cấp những kiến thức rất cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng trong khu vực công; bên cạnh đó, tác giả đã đi sâu vào việc phân tích quy trình đào tạo, bồi dưỡng bao gồm: xác định nhu cầu đào tạo; xây dựng kế hoạch đào tạo; thực hiện kế hoạch đào tạo và đánh giá đào tạo
- Giáo trình (2008), “Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công”, Nhà Xuất bản Kinh tế quốc dân, do PGS.TS Trần Thị Thu và PGS.TS Vũ Hoàng Ngân đồng chủ biên đã nghiên cứu và đề cập đến các nội dung về quản lý đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong tổ chức công, bao gồm các nội dung như: xác định nhu cầu đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực hiện chương trình và đánh giá hiệu quả đào tạo
- Lại Đức Vượng (2010), Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu quản lý công mới và hội nhập kinh tế quốc tế Trong Đề tài nghiên cứu khoa học của mình, tác giả đã dựa trên việc nghiên cứu cơ sở lý luận và từ thực tiễn của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính nhà nước để đưa ra các giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức hành chính đáp ứng yêu cầu quản lý công mới và hội nhập kinh tế quốc tế;
- Lê Như Thanh (2001), luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính nhà nước thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tác giả đã có nghiên cứu rất cụ thể về
Trang 11cơ sở lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức qua các thời
kỳ và phân tích thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính để đưa ra các giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính nhà nước thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
- Lê Như Thọ (2013), luận văn thạc sĩ hành chính công Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế từ thực tiễn Cục Quản trị tài vụ Bộ Ngoại giao, Học viện Hành chính Quốc gia; tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và từ thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng công chức Cục Quản trị - Tài vụ, Bội ngoại giao
để đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức của Cục Quản trị Tài vụ;
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, nhiều bài báo, tạp chí đã đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay như:
- Nguyễn Thị La (2015), Đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính, website Tạp chí cộng sản http://tapchicongsan.org.vn;
- Ngô Thành Can, Cải cách quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ, website Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ;
- Ngô Thành Can (2013), Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, website Tạp chí Tổ chức nhà nước http://tcnn.vn;
- Đinh Thị Hà (2016), Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, website Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam http://dangcongsan.vn
Các công trình, bài viết khoa học trên đều đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở những phạm vi, mức độ khác nhau và nhìn chung đặt ra
Trang 12và tập trung giải quyết chủ yếu ở công tác đào tạo cán bộ; công tác bồi dưỡng chỉ đề cập ở những khía cạnh nhất định Đây là tài liệu tham khảo quý giá, nhưng chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài, đặc biệt nghiên cứu riêng về công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo hình thức ngắn hạn
và trung hạn của Đề án 165 giai đoạn hiện nay.Vì vậy, việc tác giả nghiên cứu
về công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạntheo Đề
án 165 hiện nay là cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ này trong giai đoạn hiện nay
- Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn phải giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng
- Phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lýngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165, chỉ ra những điểm đạt được, những điểm tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng cán
bộ lãnh đạo, quản lýngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165 trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165
- Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
Đề án 165 tổ chức thực hiện nhiều loại hình bồi dưỡng khác nhau, song trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn
- Phạm vi thời gian: từ năm 2009 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tổng hợp, phân tích; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp thống kê Phân tích định lượng và phân tích định tính để từ đó có những kiến giải phù hợp với thực tiễn công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo
Đề án 165 hiện nay
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc xây dựng quan niệm khoa học về nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165 giai đoạn hiện nay
- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn và thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo
Đề án 165 giai đoạn hiện nay
Trang 14- Luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ngắn hạn và trung hạn theo Đề án 165 đến năm 2025
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Đề án 165 - Cơ sở
Trang 15CHƯƠNG 1
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THEO ĐỀ ÁN 165 –
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Bồi dưỡng và bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn
+ Quan niệm về bồi dưỡng
Bồi dưỡng là việc làm tăng thêm các tố chất của con người như kiến thức các mặt kinh nghiệm trong lao động, trong công tác chuyên môn nghiệp
vụ hoặc trong lãnh đạo, quản lý
Bồi dưỡng ngắn hạn là hoạt động nhằm làm cho người học có được những kiến thức, kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ nhất định trong khoảng thời gian từ hai tuần đến hai tháng
Bồi dưỡng trung hạn là hoạt động nhằm làm cho người học có được những kiến thức, kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ nhất định trong khoảng thời giantừ ba tháng đến một năm
Quan niệm bồi dưỡng trên đây có nghĩa chung nhất là hoạt động nhằm
bổ sung cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn mới cho cán bộ khi mà những kiến thức, kỹ năng được đào tạo trước đây đã lạc hậu không đủ thực hiện có hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, hoạt động chuyên môn nghiệp
vụ trong tổ chức đó Sự thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội diễn ra thường xuyên dưới tác động của tiến bộ khoa học, công nghệ và phát triển của khoa học quản lý làm cho những kiến thức kỹ năng chuyên môn của cán bộ trong mỗi cơ quan luôn bị lạc hậu đòi hỏi phải được bồi dưỡng thường xuyên Đó cũng là một trong những lý do cơ bản là học tập liên tục, suốt đời trong cuộc sống hiện đại của tất cả các tổ chức nhà nước cũng như ngoài nhà nước Bồi
Trang 16dưỡng thường có thời gian ngắn, một hoặc hai tuần, dài là một, hai tháng Bồi
dưỡng được xác nhận bởi các chứng chỉ
Trong lịch sử đấu tranh của xã hội loài người, mọi giai cấp thống trị đều
sử dụng giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng làm công cụ sắc bén để truyền bá
những tư tưởng chính trị của mình trong quần chúng nhân dân, để tạo ra được
những người có khả năng chuyển hoá ý thức giai cấp trong thực tiễn, phục vụ
cho lợi ích của giai cấp thống trị Điều đó càng cần thiết trong việc xây dựng
một lực lượng tiên phong, có trình độ lãnh đạo, quản lý tốt nắm giữ những
cương vị trọng trách trong hệ thống bộ máy thống trị và lãnh đạo
C Mác, Ăngghen không chỉ là nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa
học, hai ông còn là những người đem lý luận khoa học đó kết hợp với phong
trào công nhân, thành lập nên tổ chức cộng sản đầu tiên trên thế giới C.Mác,
Ph.Ăngghen rất coi trọng việc xây dựng, đào tạo đội ngũ những người làm
nhiệm vụ truyền bá lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào phong trào công
nhân, nhằm giác ngộ, tổ chức phong trào đi đến thành lập chính đảng của giai
cấp vô sản Đó là đội ngũ cán bộ đầu tiên của giai cấp vô sản, chính họ là một
trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của cách
mạng
Từ khi xuất hiện trên vũ đài lịch sử và phong trào cách mạng của giai
cấp công nhân, C Mác và Ph.Ăngghen cho rằng cần phải có một đội ngũ cán
bộ vừa có lòng trung thành với lý tưởng của giai cấp, vừa có tri thức lý luận
và năng lực tổ chức thực tiễn mới có thể đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đó
Muốn có được đội ngũ như vậy, thì phải quan tâm đến việc phát hiện lựa
chọn, đào tạo, rèn luyện nhà cách mạng (được hiểu là người cán bộ lãnh đạo)
thông qua phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đội ngũ cán bộ có một vị trí rất quan
trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử lúc
Trang 17ấy, chưa có một Đảng Cộng sản nào giành được quyền lãnh đạo, nên hai ông viết chưa nhiều về cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Nhưng cuộc đời hoạt động của C.Mác, Ph.Ăngghen đã để lại cho giai cấp vô sản, phong trào cộng sản quốc tế những tư tưởng quý báu, đặt tiền đề giúp chúng ta nghiên cứu, suy nghĩ về vấn đề cán bộ trong đó có công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ
V.I Lê nin đã chỉ ra: “ Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[V.I Lênin toàn tập Tập 4, tr 43, Nxb Tiến bộ Matxcơva,
H 1974]
V.I Lênin luận giải rằng: “Chính trị là một khoa học và nghệ thuật không phải từ trên trời rơi xuống, mà đòi hỏi một sự cố gắng, rằng giai cấp vô sản muốn chiến thắng giai cấp tư sản thì phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp” thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản” [V.I Lênin toàn tập T 41, Nxb Tiến bộ Matxcơva, H 1974, tr 80, 81]
Qua thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, V.I.Lênin chỉ rõ vai trò, vị trò của công tác cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, vì vậy V.I.Lênin quyết định mở các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và Người trực tiếp giảng dạy ở các trường đó Chính đội ngũ cán bộ được đào tạo, ồi dưỡng đã góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Từ thập niên đầu của thế kỷ XX, trước cảnh nước mất nhà tan, đồng bào lầm than, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước Đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc vàmuốn làm cách mạng thành công trong đó phải quan tâm đến cán bộ và công tác đào tạo,
Trang 18huấn luyện cán bộ, Người coi đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành, bại của sự nghiệp giải phóng dân tộc
Nhận thức được vị trí, vai trò của công tác bồi dưỡng cán bộ trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán Từ những năm 1925, để chuẩn bị cán bộ cho phong trào cách mạng trong nước đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn, tập hợp những thanh niên ưu tú đưa ra nước ngoài để đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng về lý luận chủ nghĩa cộng sản Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho phong trào cách mạng Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 2, tháng 3/1931 đã nhấn mạnh: “Việc đào tạo nhân tài để làm việc Đảng là một vấn đề rất cần kíp là điều kiện cốt yếu cho sự phát triển của Đảng” Hội nghị quyết nghị rằng: “Ban Trung ương và các xứ phải đặc biệt mở các lớp huấn luyện đồng chí, đào tạo các cán bộ am hiểu con đường chính trị và những chính sách tổ chức mới, biết đối phó với các biến cố xảy ra bởi những thời cục thay đổi ở trong xứ và trên trường quốc tế và đủ năng lực lãnh đạo dân chúng trong cuộc đấu tranh đòi tự do, hoà bình, cơm áo”
Năn 1927, chuẩn bị những tiền đề cần thiết để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đích thân, trực tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ cho Đảng và tích cực chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945
Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền thuộc về tay nhân dân, tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến hành hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhất là khi miền Bắc hoà bình, bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Hồ Chí Minh rất quan tâm và luôn chỉ đạo chặt chẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Bằng kinh nghiệm thực tiễn và những năm tháng hoạt động
Trang 19cách mạng ở nước ngoài, thấy được tầm quan trọng của công tác cán bộ, cũng như vị trí, vai trò của người cán bộ, Người chỉ rõ: “… Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H 1975, tr 269 “Huấn luyện cán bộ là một việc rất cần Tục ngữ có câu: “không thầy đố mày làm nên”, và câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” Những việc rất dễ dàng còn phải học Huống chi công việc cách mạng, công việc kháng chiến, không có huấn luyện thì làm sao xuôi?”
Hồ Chí Minh coi công tác đào tạo, bồi dưỡng nói chung, trong đó có đào tạo nhân tài là trọng yếu và rất cần thiết, “Đảng phải nuôi dậy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu Phải coi trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 19]
Mặt khác, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo phải tổ chức tốt từ việc bố trí giáo viên đảm nhận việc giảng dậy, đồng thời coi huấn luyện và học tập không phải là một việc đơn giản: Huấn là dậy dỗ, luyện là rèn dũa, do đó muốn làm tốt công tác huấn luyện thì phải hiểu rõ người học để nâng cao khả năng và tẩy rửa khuyết điểm cho họ Huấn luyện phải chú trọng việc cải tạo tư tưởng, đồng thời phải làm cho người học hiểu được tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin tưởng
Mục đích đào tạo, bồi dưỡng là “Để làm việc, làm người, làm cán bộ”
“Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”[Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 19]
Nội dung huấn luyện phải thiết thực, chu đáo, học lý luận phải liên hệ với thực tiễn Đó là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin “Do đó
Trang 20phải lựa chọn cách dạy bao quát mà vẫn làm cho mgười học hiểu thấu được, tức là từ những nguyên lý, lý luận, sự vận động, phát triển một cách có hệ thống và cụ thể theo từng cấp học từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cho từng loại chức danh cán bộ cụ thể của từng cấp, hạn chế tối đa sự trùng lặp không cần thiết trong nội dung, chương trình học của các lớp mà một người cán bộ cần phải trải qua Khắc phục tình trạng “hữu danh, vô thực” chỉ cốt nhiều mà không thiết thực, chu đáo”, “mở lớp quá đông” hay “mở lung tung” và học cốt sao có được cái “nhãn” bằng cấp theo yêu cầu chuẩn hoá Học ở trường Đảng không phải học như ở các trường lối cũ mà phải biết tự động học tập, phải nâng cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì phải mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ… phải đặt câu hỏi “vì sao? ”, phải suy nghĩ kỹ xem nó có hợp với thực tế không, có thật đúng lý không”[Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 500]
Quán triệt các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, chọn lọc tinh hoa của nhân loại và lịch sử dân tộc trong việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cán bộ là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng Trong mỗi thời kỳ cách mạng đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi khác nhau đối với cán bộ cả về năng lực và phẩm chất, đạo đức cách mạng Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân,
Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, trình độ và năng lực là yếu tố quyết định chất lượng hoạt động của bộ
Trang 21máy nhà nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trọng
cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ công chức Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, về đường lối chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nước”
1.1.2 Cán bộ và cán bộ lãnh đạo, quản lý
+ Khái niệm cán bộ
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [Luật số 22/2008/QH12 của Quốc hội : LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC]
Cán bộ là một danh từ quen thuộc được dùng trong tiếng Việt ở những năm gần đây gắn liền với quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh Nó được dùng để chỉ những người đi hoạt động cách mạng, những người đến với lý tưởng cách mạng, ghét áp bức, ghét nô lệ, căm thù bọn giặc cướp nước và bè lũ tay sai, sẵn sàng
hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Nhiều nhà khoa học đã cho rằng từ “cán bộ” thường dùng có nguồn gốc ban đầu từ tiếng Pháp, tiếng Anh sau đó vào Nhật Bản đến Trung Quốc và được sử dụng ở Việt Nam
Tiếng Anh từ này là “cadre” có rất nhiều nghĩa “nhóm cố định, những công nhân lành nghề, những binh lính đã được huấn luyện…; lực lượng nòng cốt, cái khung…”[Từ điển Anh-Việt, Viện ngôn ngữ học, TTKHXHVNVQG,
Trang 22NXB TP HCM, H 1993, tr 215] Ở Trung Quốc từ “cán bộ” là từ chỉ chung những nhân viên, công chức để phân biệt với nhân viên tạp vụ văn phòng, công nhân, binh lính và chỉ những người có trách nhiệm lãnh đạo nào đó như trưởng thôn, đội trưởng thiếu niên tiền phong, trưởng công đoạn Như vậy, điểm qua tiếng Anh và Trung Quốc đã thấy có những biến đổi theo cách nhìn nhận của mỗi nền văn hóa Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy rằng ở Trung Quốc từ này được mở rộng hơn
Ở Việt Nam, từ cán bộ được nhập vào từ Trung Quốc, ban đầu từ này được dùng trong quân đội để chỉ những cán bộ (từ tiểu đội phó- A phó trở lên) nhằm phân biệt với chiến sĩ Dần dần, từ cán bộ được mở rộng, biến đổi, phát triển được hiểu gồm tất cả những người đi hoạt động cách mạng (thoát ly) để phân biệt với nhân dân Trong từ điển tiếng Việt, từ “cán bộ” có nghĩa là: những người làm công tác nghiệp vụ trong các cơ quan đảng, nhà nước và đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ
Trong thực tế, từ cán bộ được sử dụng ở nước ta có rất nhiều nghĩa và không có khái niệm cán bộ riêng mà gộp chung, có giai đoạn gọi là cán bộ, công nhân, viên chức; hiện nay gọi là cán bộ, công chức gồm những người do bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm để đảm đương các chức vụ thường xuyên trong các cơ quan đảng, nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách, bao gồm:
- Là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị- xã hội
Trang 23- Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kiểm soát viên Viện Kiểm sát nhân dân
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp ( Điều 1, Pháp lệnh cán bộ công chức, năm 2002)
Tóm lại, từ xuất xứ và quá trình hình thành, biến đổi, phát triển của từ
“cán bộ” cho phù hợp với cách gọi của mỗi nền văn hóa, mỗi giai đoạn lịch
sử, cách nhìn nhận – quan điểm của từng người với từ cán bộ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Ở Việt Nam có thể khái quát lại những điểm căn bản như sau:
- Cán bộ là những người đóng vai trò là bộ khung của hệ thống chính trị - xã hội Đó là những người được bầu vào các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy ở
tổ chức đảng và đoàn thể; những người là công chức, viên chức hoạt động trong các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước
- Những người này có nhiệm vụ chỉ huy, lãnh đạo và điều khiển hoạt động của tổ chức đơn vị mình và thực thi những nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước tới toàn thể xã hội
Từ đây, có thể định nghĩa cán bộ như sau: “cán bộ là những người làm
bộ khung của hệ thống chính trị- xã hội, có vai trò là lãnh đạo chỉ huy, điều khiển và thực hiện những nhiệm vụ của hệ thống chính trị- xã hội”
+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý
Cán bộ lãnh đạo
Thuật ngữ “cán bộ lãnh đạo” thường được dùng để chỉ người đứng đầu, phụ trách một tổ chức, đơn vị, phong trào nào đó do bầu cử hoặc chỉ định
Trang 24Cán bộ lãnh đạo có trách nhiệm đề ra những phương hướng, chủ trương, quyết định, trước hết là những quyết định có tính chiến lược của đơn vị mình Cán bộ lãnh đạo là người có quyền lực, ra những quyết định có tính chất quan trọng nhất Ngoài ra, cán bộ lãnh đạo còn là người dẫn dắt, tổ chức phong trào theo một hướng cụ thể; là người điều hành “chỉ đạo bằng quyền hành qua các mệnh lệnh” Cán bộ lãnh đạo còn là người điều chỉnh những quyết định cho phù hợp sự thay đổi của điều kiện, hoàn cảnh khách quan Cán bộ lãnh đạo được phân làm nhiều cấp: cấp vĩ mô toàn quốc, cấp ngành, cấp địa phương và
cấp cơ sở (Báo Nhân dân, ngày 01/6/2001)
Một số ít cán bộ lãnh đạo được gọi là “chính khách”, “lãnh tụ” Đó là những cán bộ lãnh đạo xuất sắc, có mức độ ảnh hưởng lớn, có uy tín rất cao trong cộng đồng, Lênin nói: thường thường trong phần nhiều các trường hợp, hay ít ra trong các nước văn minh hiện nay thì các giai cấp đều do các chính đảng lãnh đạo, thông thường thì các chính đảng đều nằm dưới quyền lãnh đạo của nhóm ít nhiều có tính chất ổn định, gồm những người có uy tín nhất, có ảnh hưởng nhất, có kinh nghiệm nhất, được bầu ra giữ trách nhiệm trọng yếu nhất và người ta gọi đó là lãnh tụ Cán bộ lãnh đạo là người chịu trách nhiệm
về một đối tượng cụ thể hay một bộ phận cụ thể trong hệ thống tổ chức quản
lý, là người đại diện và là đại biểu lợi ích cho Đảng, Nhà nước, tập thể, tổ chức nào đó Dựa vào bộ máy quản lý, vào hệ thống tổ chức, người cán bộ lãnh đạo hướng hoạt động của tổ chức, tập thể vào những nhiệm vụ được giao phó Người lãnh đạo chịu trách nhiệm trước cá nhân về giải quyết kịp thời những vấn đề cơ bản, phối hợp hoạt động với các hệ thống quản lý, tổ chức các công tác nhằm thực hiện các quyết định quản lý
Cán bộ quản lý
Cán bộ quản lý là người mà hoạt động nghề nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện chức năng về quản lý; là người điều hành,
Trang 25hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quyết định của cán bộ lãnh đạo Họ được trao quyền đánh giá một cách độc lập, chỉ đạo hoạt động, công việc của người khác, hay của một đơn vị tổ chức, một khâu trong một quá trình nào đó Cán
bộ quản lý vừa là người điều hành, vừa là người quản lý đòi hỏi phải giỏi chuyên môn, phải có năng lực, phẩm chất điều khiển, phải có khả năng tổ
chức công việc và đoàn kết cộng đồng (Báo Nhân dân, ngày 01/6/2001)
Do tính chất tiếp xúc trực tiếp với đối tượng quản lý, trực tiếp tổ chức thực hiện các quyết định của lãnh đạo nên cán bộ quản lý là người phải thường xuyên thu nhận thông tin (có tính phản hồi đối với những quyết định
đã ra); họ là người có khả năng đoán biết sự đúng sai của các quyết định, chủ trương, chính sách đề ra Do vậy, họ cũng là người tham mưu cho cán bộ lãnh đạo để chấn chỉnh, điều chỉnh, hoàn thiện quyết định cũ hoặc ra quyết định mới Cán bộ quản lý được phân loại theo nghề nghiệp, theo năng lực, theo
Trong hệ thống cán bộ của Đảng và Nhà nước ta có bộ phận chuyên đóng vai trò là “cốt cán”, có chức vụ trong hệ thống chính trị- xã hội được pháp luật và xã hội thừa nhận, họ là những người lãnh đạo, chỉ huy, điều khiển trong tổ chức thường được gọi là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
Thực ra trong hệ thống chính trị ở bất cứ cấp nào từ Trung ương đến địa phương, nhìn trong tổng thể Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, các tổ chức chính trị- xã hội thực hiện vai trò tham gia giám sát việc quản lý của chính quyền, giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội phù hợp
Trang 26với những nhiệm vụ được đề ra theo quy định của pháp luật Nhà nước, Điều
lệ của Đảng, các tổ chức chính trị- xã hội Do đó, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp Tỉnh, quận, huyện và tương đương vừa có chức năng lãnh đạo, hơn nữa, nếu phân cấp theo chức năng nhiệm vụ cụ thể thì ở mỗi bộ phận Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị- xã hội đều có cả chức năng lãnh đạo và quản lý Chằng hạn, cấp ủy không chỉ đề ra những mục tiêu, chủ trương, nhiệm vụ để thực hiện những đường lối, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước phù hợp với điều kiện của địa phương mà còn quản lý tổ chức đảng của mình, quản lý đội ngũ đảng viên ở địa phương mình; chính quyền không chỉ quản lý bằng cách đề ra phương pháp cách thức để thực thi, cụ thể hóa các chủ trương, nhiệm vụ của đảng bộ mà còn lãnh đạo bằng cách đề ra chủ trương, nhiệm vụ cho riêng mình để thực hiện chức năng quản lý
Như vậy, cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp quận, huyện vừa là người định hướng đặt ra mục tiêu vừa là người tổ chức thực hiện, có nghĩa là họ vừa là người lãnh đạo, vừa là người quản lý Cho nên sự phân biệt giữa cán bộ lãnh đạo và quản lý chỉ là tương đối
1.1.3 Bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn cán bộ lãnh đạo, quản lý
Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung được thực hiện thông qua các chương trình gắn với các chức danh cụ thể trong hệ thống tổ chức cán
bộ Thực hiện bồi dưỡng thường xuyên để đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Hình thức thể hiện văn bằng trong bồi dưỡng cán bộ chủ yếu là chứng chỉ Chứng chỉ này do các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cấp Chứng chỉ là cơ sở chứng nhận cán bộ đã được bồi dưỡng những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng phục vụ cho việc thực thi nhiệm
vụ
Trang 27Bồi dưỡng theo Đề án 165 là loại hình bồi dưỡng cho cán bộ đang giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng của cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, có đặc điểm sau:
- Đây là loại hình bồi dưỡng có tính chất bổ sung kiến thức về lãnh đạo, quản lý trên nhiều lĩnh vực gắn với từng chức danh cụ thể Một thời kỳ chúng
ta đã có quan niệm cán bộ được đào tạo đủ các tiêu chuẩn yêu cầu về trình độ thì có thể bố trí và làm tốt ở tất cả các cương vị trong hệ thống chính trị Khi chuyển sang đảm nhận nhiệm vụ mới hầu như không được đào tạo, bồi dưỡng
gì về nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý của vị trí chức danh đó
Thực tế trên đây đã bộc lộ rõ công tác bồi dưỡng cán bộ nói chung, bồi dưỡng cán bộtheo Đề án 165 trong thời gian qua thiếu quy trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đảm nhận các vị trí chức danh
- Nội dung bồi dưỡng gắn với từng vị trí chức danh, bao gồm: cập nhật,
bổ sung nâng cao những kiến thức cần thiết để cán bộ hoàn thành tốt vai trò lãnh đạo, quản lý, đảm nhận tốt vị trí chức danh được giao và nội dung chủ yếu là nghiệp vụ, kỹ năng cụ thể đối với từng vị trí chức danh
Giám đốc sở, Vụ trưởng là hai chức danh ở vị trí tương đương nhau, có yêu cầu về bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng lãnh đạo quản lý chung, nhưng ở mỗi chức danh như giám đốc sở hoặc vụ trưởng đòi hỏi những kiến thức và
kỹ năng rất cụ thể và khác nhau
- Phương thức bồi dưỡng cán bộ theo vị trí chức danh là phương thức bồi dưỡng cho những người có trình độ đã được đào tạo cơ bản, có bề dày thực tiễn và có nhiều kinh nghiệm trong công tác và cuộc sống, là những người lãnh đạo, quản lý giữ chức vụ chủ chốt ở trung ương, tỉnh, huyện và tương đương Vì vậy, cần phải phát huy tối da tính tích cực chủ động của người học trong quá trình bồi dưỡng thông qua tọa đàm, trao đổi làm bài tập
Trang 28tình huống, đóng vai, họ vừa là những học viên đồng thời vừa là những người thầy của nhau
- Thời gian bồi dưỡng ở nước ngoài theo vị trí chức danh không kéo dài, tùy từng đối tượng cụ thể, một khóa, nửa khóa, hằng năm có thể tổ chức nhiều khóa mỗi khóa từ 15 ngày đối với các khóa ngắn hạn, và trong vòng 90 ngày đối với các khóa trung hạn
1.2 Cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia chương trình bồi dưỡng
án 165 không phải là trang bị ban đầu những kiến thức cơ bản, cơ sở, hay chuyên ngành mà chỉ là cập nhật, bổ sung, những kiến thức chuyên môn mới
và những kinh nghiệm, kỹ năng, khả năng vận dụng tri thức mới vào giải quyết các tình huống diễn ra trong quá trình lãnh đạo, quản lý Đó là quá trình tiếp thu kiến thức một cách sáng tạo, có phân tích phê phán và có thể tổng kết kinh nghiệm rút ra những bài học từ thực tiễn công tác
1.2.2 Sự cần thiết tham gia chương trình bồi dưỡng ngắn hạn và trung hạn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn với chức năng chủ yếu là trang bị kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng hành động; đồng thời giúp hình thành nên những phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức để tạo nên những phẩm chất tư duy
và hành động thích ứng với từng loại vai trò trong từng loại tổ chức trong xã hội trong từng thời kỳ Thông qua bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn mà mỗi
Trang 29người tiếp nhận được những tinh hoa của nhân loại, tiếp thu những tri thức, kinh nghiệm của loài người Thông qua học tập mỗi cá nhân nhận thức được quy luật của tự nhiên và xã hội, biết vận dụng chúng trong thực tiễn, biết nhận
rõ chân lý, đúng sai, xác định được ưu và nhược điểm cả bản thân mình để có chiến lược thay đổi
Bồi dưỡng ngắn hạn, trung hạn cán bộ là khâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ và chất lượng của cán bộ Chất lượng của đội ngũ cán bộ được biểu hiện ở kiến thức, năng lực, phẩm chất và hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của người cán bộ Chất lượng của đội ngũ cán bộ được hình thành do nhiều nhân tố tác động, trong đó phần lớn được hình thành qua con đường giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và thông qua học tập rèn luyện trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng Chính vì vậy, muốn xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trước hết phải bắt đầu từ việc chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng rèn luyện và giáo dục cán bộ
Từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản
lý ngày càng trở nên cấp bách Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII) đã đề ra mục tiêu cải cách nền hành chính nhà nước, trong đó vấn đề đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Đặc biệt, Chiến lược cán bộ, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước mà Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) đề ra, đã chỉ rõ: học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, mọi cán bộ, công chức phải có kế hoạch thường xuyên học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn và năng lực thực tiễn, bồi dưỡng đạo đức cách mạng
Thực tiễn cách mạng cũng đã chứng minh rằng ở đâu, lúc nào Đảng, Nhà nước chăm lo đầy đủ công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện cán bộ thì ở đó đội ngũ cán bộ có chất lượng cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ;
Trang 30đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước được thực hiện đầy đủ, phong trào quần chúng mạnh mẽ, dân tin Đảng và gắn bó với Đảng, ngược lại nếu nơi nào cấp uỷ đảng, chính quyền không chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thì nơi đó hoạt động lãnh đạo kém phong trào quần chúng yếu, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước chấp hành không triệt để
Nhận thức rõ quan điểm: “cán bộ không phải từ trên trời rơi xuống mà phải được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện mà thành” , các cấp ủy đảng, chính quyền các tỉnh, thành phố ở đồng bang sông Hồng đều thấy được tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định của công tác bồi dưỡng cán bộ các cấp nói chung
và cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh, thành uỷ quản lý nói riêng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với mục tiêu là “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân” [Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, NXBCTQG H 20001, tr141] Quan tâm đến nhân tố con người để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới thì điều tất yếu là không thể không bắt đầu và liên tục đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Chính công tác đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng con người của Đảng mới có thể làm nên những người cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
Qua các chỉ thị, nghị quyết của Đảng có thể thấy rằng Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đi đôi với việc kiện toàn tổ chức, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở hệ thống các học viện, nhà trường, trung tâm bồi dưỡng…Đổi mới nội dung, phương pháp và các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng đã coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là cơ sở căn bản để hình thành thế giới quan Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt; xây dựng phẩm chất đạo
Trang 31đức, tư cách người đảng viên cách mạng; là cơ sở quan trọng nhất để truyền tải những chủ trương, chính sách của Đảng trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ chính trị; và đồng thời việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành những năng lực cần thiết đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng Bên cạnh
đó công tác đào tạo, bồi dưỡng lại cũng góp phần quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ lý luận và công tác thực tiễn phù hợp với sự phát triển của thời đại tránh tình trạng lạc hậu thông tin, kiến thức
Sự nghiệp đổi mới đất nước trải qua nhiều chặng đường, đã và đang gặt hái được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xuất phát từ yêu cầu của cách mạng và tầm quan trọng của hệ thống chính trị các cấp, Đảng ta đã có những quan điểm rõ ràng về vị trí vai trò của đội ngũ cán bộ cốt cán và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Dành kinh phí thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ cán bộ cơ sở; chú ý kiện toàn và tăng cường đội ngũ cốt cán” [Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr 148]
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy độ chính xác của đường lối, chính sách tuỳ thuộc vào chất lượng công tác cán bộ Vì vậy Đảng ta khẳng định, công tác cán bộ là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân Muốn vậy phải “Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ”[Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr 295] Các khâu nói trên được triển khai đồng bộ, đổi mới mạnh mẽ, cần “kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các trường chính trị tỉnh, các trung
Trang 32tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các trường dân tộc nội trú để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ sở ”
Tiếp thu kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực thành công trên con đường phát triển đất nước, có thể thấy rằng một trong những nguyên nhân của việc thành công của họ chính là coi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt có một vai trò quan trọng đặc biệt Ở Nhật Bản công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có thể coi là cực kỳ bài bản và nghiêm túc Để vào được bộ máy công quyền những ứng viên phải trải qua một kỳ thi tuyển chung cho toàn quốc gia, sau đó số cán bộ trẻ này sẽ được các đơn vị tiếp nhận và tiếp tục chịu sự đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức và được trực tiếp tham gia vào hoạt động thực tiễn Sự trưởng thành và trở thành cán bộ chủ chốt ở các cấp của bộ phận cán bộ này tùy thuộc vào sự nỗ lực rèn luyện về phẩm chất đạo đức, phong cách và năng lực, và đồng thời chịu một sự cạnh tranh rất lớn đối với các ứng viên khác có thể nói là vô cùng khó khăn Những người được đưa vào những vị trí chủ chốt phải thực sự chứng minh rằng mình là người xuất sắc nhất Ở Xanh-ga-po, Đảng cầm quyền ATP và Chính phủ
“…coi trọng việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế, phương thức làm
việc và đào tạo tuyển chọn công chức, coi đó là quốc sách để xây dựng và phát triển đất nước” Ở Trung Quốc - quốc gia có thể nói là một hiện tượng
cho sự phát triển vượt bậc trong khoảng hai thập niên trở lại đây: “Về công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Trung Quốc chủ trương phải được tiến hành trên cơ sở quy hoạch và quy trình nghiêm ngặt” Điểm qua một vài quốc gia
như vậy để thấy rằng việc coi trọng công tác dào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của đất nước
1.2.3 Những nhân tố tác động đến công tác bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Hiện nay, công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được
Trang 33đánh giá là nặng về lý thuyết, thiếu tính ứng dụng, chưa chú trọng những đặc thù riêng biệt của từng chức danh lãnh đạo Để nâng cao hiệu quả trong công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đòi hỏi các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách phải thiết kế được chương trình bồi dưỡng phù hợp với từng chức danh lãnh đạo Muốn vậy, trước hết phải xác định rõ các nhân
tố tác động đến bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Chính sách đào tạo và bồi dưỡng
Đây là yếu tố quan trọng, tạo nền móng và định hướng cho công tác xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Thứ nhất, chính sách là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý
Thứ hai, dựa vào văn bản quy phạm pháp luật quy định chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý
Thứ ba, dựa vào các văn bản quy định chính sách để xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu
Thứ tư, dựa vào văn bản quy định để kiểm tra, kiểm soát công tác đào tạo và bồi dưỡng, chất lượng và nội dung chương trình cũng như kết quả đạt được của công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý
Khung năng lực của vị trí việc làm
Khung năng lực là một công cụ mô tả trong đó xác định các yêu cầu về
Trang 34kiến thức, kỹ năng, khả năng, thái độ, hành vi và các đặc điểm cá nhân khác
để thực hiện các nhiệm vụ trong một vị trí, một công việc hay một ngành nghề Điều 7 của Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội
vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức ghi rõ: "Khung năng lực của từng vị trí việc làm được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải
có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm"
Theo Pastor và Bresard, “khung năng lực phản ánh toàn bộ năng lực mà một cá nhân cần có để đảm nhiệm một vị trí việc làm hay một công cụ nào đó” Như vậy, khung năng lực là công cụ hiệu quả trong quản lý và phát triển nguồn nhân lực Đặc biệt, nó được sử dụng nhiều trong việc tuyển dụng, bố trí, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực để cố định hướng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cho phù hợp với vị trí việc làm trong
cơ quan và xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chính xác, đảm bảo đào tạo, bồi dưỡng đúng đối tượng, đúng nội dung chương trình, đáp ứng yêu cầu công việc, yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và cải cách công vụ
Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý là nơi tổ chức thực hiện các khóa đào tạo, bồi dưỡng trang bị, cập nhật, bổ sung kiến thức,
kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu của một trường/viện/ trung tâm đào tạo công chức hiện đại, như: khuôn viên rộng rãi, có hội trường, các phòng học, ký túc xá, khu vui chơi giải trí thể thao; trang thiết bị giảng dạy hiện đại; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, phần mềm đào tạo hiện đại và chất lượng; đội ngũ giảng viên đảm bảo về số
Trang 35lượng và đủ năng lực giảng dạy; đội ngũ quản lý đào tạo chuyên nghiệp
Trình độ, kỹ năng của đội ngũ giảng viên
Đây là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng,
vì vậy yêu cầu đội ngũ giảng viên phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm đạt chuẩn và kinh qua thực tế công tác Bởi vì trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên là người hướng dẫn học viên học tập, rèn luyện kỹ năng làm việc Một nguyên tắc của việc bồi dưỡng là cung cấp kiến thức ở mức cần thiết, rèn luyện kỹ năng đến mức có thể Cho nên, giảng viên phải là người có kiến thức, có kỹ năng và kinh nghiệm thực tế đối với lĩnh vực chuyên môn đảm nhận, chỉ có như vậy công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý mới thu được kết quả như mong muốn
Ngân sách đào tạo và bồi dưỡng
Sử dụng và quản lý ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng Nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng sẽ đem lại kết quả cho tổ chức cũng như đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Ngược lại, nếu nguồn ngân sách được sử dụng sai mục đích, lãng phí không những vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản
lý mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng
Hội nhập và toàn cầu hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu, rộng và kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, vấn đề dự báo nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với toàn xã hội nói chung và đối với khu vực hành chính công nói riêng Vì vậy, yêu cầu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có kiến thức về hội nhập quốc tế, trang bị đầy đủ kiến thức
Trang 36tin học, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của tổ chức và yêu cầu của từng vị trí lãnh đạo mà đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đảm nhận Tiếp cận chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của các nước tiên tiến, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính công là rất cần thiết Qua đó đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lýnâng cao trình độ, nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới, nâng cao chất lượng công tác hoạch định, xây dựng chính sách phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.3 Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Đề án 165
1.3.1 Mục tiêu đề án
Đề án 165 được xây dựng nhằm nâng cao năng lực và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ, đáp ứng yêu cầu của từng vị trí công tác cụ thể Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài là sự tiếp tục của quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở trong nước và gắn bó chặt chẽ với quy hoạch cán bộ trước mắt cũng như lâu dài
Đào tạo sau đại học về chuyên môn, bổ túc ngoại ngữ cho cán bộ trong nguồn quy hoạch, cán bộ trẻ tài năng, bảo đảm cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tương lai là những chuyên gia có kinh nghiệm, có tầm nhìn rộng, có khả năng làm việc đọc lập trong quan hệ giao tiếp quốc tế
Bảo đảm các cán bộ lãnh đạo, quản lý đương chức được tham gia các khóa học, tham dự hội nghị, hội thảo khoa học theo yêu cầu của chuyên môn
và mở rộng hợp tác quốc tế
Về số lượng: Giai đoạn 2008-2010 hằng năm gửi đi nước ngoài: Nghiên cứu sinh 10 người, cao học 150 người, thực tập sinh 200 người, bồi dưỡng ngắn hạn 400 người; mời 20 chuyên gia đến giảng tại Việt Nam Giai đoạn 2010-2015, sẽ tăng cường gửi đi đào tạo, bồi dưỡng một số lượng lớn hơn đối với các đối tượng đào tạo sau đại học, thực tập sinh và ngoại ngữ
Trang 37Đồng thời tăng cường mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước bằng hình thức mời giảng viên nước ngoài đến Việt Nam giảng theo các chuyên môn mà cán bộ Việt Nam cần và còn thiếu Hằng năm gửi đi trên 1000 người đi học ngắn hạn và dài hạn; mời từ 20 đến 30 giảng viên, chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy tại Việt Nam
1.3.2 Chương trình, nội dung đề án
Đào tạo, bồi dưỡng theo các môn học thuộc khoa học quản lý như: quản lý hành chính, quản lý nhà nước, luật pháp quốc tế, tin học và những chuyên ngành mà khả năng đào tạo trong nước còn hạn chế
Đào tạo, bồi dưỡng theo chuyên môn hẹp để có những cán bộ đầu ngành cấp trung ương, địa phương đáp ứng yêu cầu lĩnh vực công tác được phân công
Bồi dưỡng các nội dung liên quan đến kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của các đảng cầm quyền, các nước tiên tiến
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, trong đó chủ yếu là tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, ngoài ra là các thứ tiếng mà Việt Nam có quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế, văn hóa cho các đối tượng là cán
bộ ngoại giao, cán bộ thương mại
1.3.3 Phương pháp& hình thức bồi dưỡng
Đào tạo dài hạn tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài từ 1- 4 năm: Hằng
năm tuyển chọn những sinh viên mới tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc của các trường đại học, các cán bộ trẻ trong quy hoạch, cán bộ đang làm việc tại các
cơ quan Đảng, Nhà nước đi đào tạo dài hạn ở các bậc cao học, nghiên cứu sinh, thực tập sinh, học đại học chuyên ngành quản lý hành chính, quản lý kinh tế, luật pháp quốc tế, tin học Riêng đối với học ngoại ngữ sẽ chọn cán
bộ trẻ hơn và thời gian học có thể dài hơn
Trang 38Bồi dưỡng nâng cao trình độ tại nước ngoài từ 3 tháng - 1 năm: Áp
dụng đối với cán bộ đương chức và trong diện quy hoạch có độ tuổi từ 35-55, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và khoa học quản lý của cán bộ; nâng cao trình độ ngoại ngữ đối với các cán bộ đã có ngoại ngữ trình độ B, C
Bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài từ 2 tuần đến 2 tháng: Áp dụng đối
với cán bộ đương chức với mọi độ tuổi, là cán bộ lãnh đạo, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu về lý luận chính trị đi trao đổi kinh nghiệm, hội thảo khoa học, tham gia hội nghị, khảo sát thực tế… theo yêu cầu chuyên môn và hợp tác quốc tế
Đào tạo tại các cơ sở trong nước: Áp dụng cho các cán bộ có yêu cầu
nâng cao trình độ chuyên môn, quản lý, ngoại ngữ theo yêu cầu công tác đặt
ra, đối tượng mở rộng hơn so với các đối tượng gửi ra nước ngoài
Đào tạo theo hình thức phối hợp: Đối với các hệ dài hạn, trung hạn và
ngắn hạn đều có thể tổ chức học tập theo hình thức phối hợp giữa đào tạo trong nước và nước ngoài; học viên sẽ học tập trong nước, cuối khóa học sẽ ra nước ngoài để nghiên cứu, trao đổi chuyên đề với các cơ sở liên kết Hình thức đào tạo này cũng có thể áp dụng với các học viên học ngoại ngữ
1.4 Một số kinh nghiệm quốc tế về bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai nhiều chương trình đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, dưới nhiều hình thức Trong số các nước, chủ yếu học tập, nghiên cứu ở Trung Quốc, có nhiều điểm gần gũi, tương đồng với ta, ngoài ra còn đến học tập ở nhiều nước châu Âu, châu Á và châu Đại Dương, ở Mỹ… Nhiều bộ, ngành và địa phương tổ chức các đoàn đi nghiên cứu, học tập kinh nghiệm ở các nước về nhiều lĩnh vực, từ kỹ năng lãnh đạo, quản lý, các vấn đề về chính sách công, quản lý công, hành chính công đến các lĩnh vực quản lý ngành, mà nổi bật là về nông nghiệp, nông
Trang 39thôn, về giao thông đô thị, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, khắc phục thảm họa thiên nhiên, về văn hóa, con người Trong các chương trình học tập có mảng nội dung quan trọng
là về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, được các nước coi là vấn đề chiến lược quan trọng
Nhìn chung, các nước rất coi trọng nội dung, hình thức, cách thức tổ chức đào tạo để đảm bảo chất lượng, hiệu quả Vấn đề quản lý tổ chức một cách khoa học, nâng cao hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực của tổ chức đều đòi hỏi phải biết phân tích công việc trong một tổ chức một cách cụ thể, khoa học Trong cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” xuất bản năm 1911 tại Hoa Kỳ được coi như cột mốc cho sự ra đời của môn khoa học quản lý Các lý luận quản lý nguồn nhân lực hiện đại đều thừa nhận việc phân tích công việc là một nhiệm vụ không thể bỏ qua của nhà quản lý và là cơ sở của quản lý khoa học Từ phân tích công việc đi đến mô tả công việc và tiêu chuẩn hóa công việc, đặt tên chức danh đảm trách công việc đó trong một bộ máy tổ chức Phân tích công việc là cơ sở cho việc tuyển chọn, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, là con đường tất yếu để tổ chức tổ chức nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực Đào tạo theo yêu cầu của công việc
và nhu cầu của tổ chức, còn được gọi là đào tạo theo chức danh hay đào tạo theo vị trí việc làm trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay, là quan điểm cơ bản của quản lý, phát triển nguồn nhân lực một cách khoa học và hiệu quả
Cơ sở khoa học của công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nói chung, phải căn cứ vào sự phân tích công việc và quy hoạch cán bộ thì mới tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ một cách khoa học và hiệu quả Mặt khác, công tác phát triển nguồn nhân lực nói chung, công tác cán bộ trong khu vực công nói riêng cần thực hiện một cách hệ thống, khoa học; đào tạo phải
Trang 40căn cứ vào yêu cầu của công việc – chức danh cụ thể và sự chuẩn bị trước sự thay đổi, thách thức của thời cuộc
Chính phủ một số nước đã cố gắng không ngừng nâng cao chất lượng
và hiệu quả hoạt động nguồn nhân lực khu vực công bằng cách áp dụng lý luận, công nghệ mới từ khu vực tư vào khu vực công, thu hút nhân tài và nguồn vốn kiến thức, kinh nghiệm từ khu vực tư phát triển khu vực công Việc áp dụng nguyên tắc cạnh tranh trong công tác cán bộ đã làm giảm thiểu được tác hại của những sai sót khó tranh khỏi trong quy hoạch, đào tạo, bố trí,
sử dụng các chức vụ lãnh đạo và tham mưu cấp cao Cạnh tranh, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình nếu được coi là những nguyên tắc cơ bản của quản trị nhân sự và công tác cán bộ thì sẽ làm cho chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cán bộ ở cả khu vực công và khu vực tư cao hơn
Ở Singapore, Chính phủ đóng vai trò người đặt hàng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cán bộ lãnh đạo, quản lý, luôn áp dụng ý chí chính trị vào việc chọn đối tác và xây dựng, quản lý các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo nguyên tắc sạch và hiệu quả Nội dung quan trọng nhất của ý chí
chính trị trong giáo dục, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý là tinh thần công
bộc của dân và phương thức thực thi quan trọng nhất là quản trị sạch: trong
sạch, trung thực, không tham nhũng Đây là những nguyên tắc, giá trị cơ bản được áp dụng thống nhất trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý Nó được áp dụng từ trên xuống dưới, đòi hỏi những người làm dịch
vụ công phải được đào tạo, phát triển đầy đủ, thường xuyên về đạo đức công
vụ, về danh danh dự và nhân cách của người công chức, viên chức, cán bộ lãnh đạo quản lý Công cụ, nguồn lực để Chính phủ thực hiện chủ động, hiệu quả chính sách và mục tiêu đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý là các trường chất lượng cao hàng đầu như Đại học Tổng hợp Quốc gia Singapore (NUS)