Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản đã được đề cập, nghiên cứu ở nhiều mức độ, khía cạnh kh
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG VŨ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG VŨ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐÀM BÍCH HIÊN
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Trong Luận văn có sử dụng một số kết quả điều tra khảo sát về đấu tranh phòng chống tội phạm của Phòng cảnh sát hình sự - Công an Thành phố Hà Nội và các cơ quan tiến hành tố tụng của Thành phố Hà Nội./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Vũ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu tại học viện Hành chính Quốc gia
từ năm 2016 đến 2018; tôi đã được các thầy giáo, cô giáo truyền đạt, hướng dẫn, cung cấp những kiến thức trong lĩnh vực Quản lý công Đây là nền tảng quan trọng giúp tôi thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ được giao
Quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, nhờ sự giúp đỡ của các đơn vị,
cá nhân, tôi đã hoàn thành được luận văn với đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp
luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia, Công an thành phố Hà Nội, Phòng cảnh sát hình sự - Công an thành phố
Hà Nội, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn TS Đàm Bích Hiên - Học viện Hành chính quốc gia đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Vũ
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự CAH Công an Huyện
CBCC Cán bộ công chức CGTS Cướp giật tài sản CSHS Cảnh sát hình sự ĐTKP Điều tra khám phá
TATS Tiền án tiền sự
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu luận văn 7
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.2 Đặc điểm của tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản 19
1.3 Vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản 20
1.4 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản 22
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản 22
1.6 Các điều kiện đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Trang 7Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CƯỚP
GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34
2.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế xã hội Hà Nội có ảnh hưởng đến tình hình phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản 34 2.2 Tình hình tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản từ năm 2010 đến năm 2017 37
2.3 Đánh giá về tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 - 2017 52
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 72
3.1 Phương hướng đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội 72
3.2 Giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 98
Trang 8DANH MỤC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tình hình tội phạm cướp giật tài sản từ năm 2010 đến 2017 42 Biểu đồ 2.2 Số vụ và số bị cáo cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2017 45 Bảng 2.1: Bảng thống kê số lượng thụ lý và giải quyết vụ án tội phạm cướp giật tài sản tại thành phố Hà Nội từ năm 2010 - 2017 46 Bảng 2.2: Bảng thống kê số lượng thụ lý và giải quyết vụ án tội phạm hình sự tại thành phố Hà Nội từ năm 2010 - 2017 46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm cướp giật tài sản nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm thực hiện Hiến pháp, pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, chỉ đạo điều hành thống nhất của Nhà nước, song song với công cuộc đổi mới
và xây dựng đất nước, công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm
là một nội dung quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Thành phố Hà Nội là trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước Với vị trí giao thông thuận lợi cả đường thủy, đường hàng không và đường bộ, có nhiều khu công nghiệp với nhiều nhà máy có số lượng công nhân, dân cư rất đông đúc Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc
tế hiện nay Hà Nội đã thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước và cũng đã đạt được những thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân thủ đô Tuy nhiên đi kèm với đó cũng làm phát sinh nhiều mặt tiêu cực, nổi bật là vấn đề tội phạm, điển hình là tội phạm cướp giật tài sản Tình hình tội phạm cướp giật tài sản có những diễn biến phức tạp và
xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ về số vụ mà cả về tính chất, hậu quả thiệt hại về tài sản, về tính mạng sức khỏe và tinh thần con người ngày càng trầm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Thành phố Hà Nội với tư cách là Thủ đô của cả nước Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống, đẩy lùi tội phạm cướp giật tài sản Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác tổ thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm
Trang 10cướp giật tài sản nhằm giúp các nhà quản lý chủ động có các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đưa pháp luật về bảo vệ quyền
sở hữu vào cuộc sống, nâng cao chất lượng hoạt động thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Trong những năm qua, pháp luật về phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã được quan tâm triển khai thực hiện nên đã đạt được những kết quả tích cực Bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại hạn chế nhất định Vì vậy, luận văn nghiên cứu về lý luận, thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội, nhằm phòng ngừa, hạn chế tội phạm cướp giật tài sản đem lại sự tin tưởng vào pháp luật cho mọi người dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội, đồng thời tôn vinh hình ảnh Thủ đô trên trường quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản đã được đề cập, nghiên cứu ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau như: Trong các giáo trình luật hình sự; trong các tập bình luận khoa học về luật hình sự, trong các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ, trong các bài báo và tạp chí cụ thể như sau:
- Các công trình nghiên cứu về tội phạm cướp giật tài sản gồm:
+ Luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Ngọc Chí năm 2000 về “Trách
nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu”;
+ Giáo trình “Luật hình sự Việt Nam” (Phần các tội phạm), Khoa Luật
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2001, tái bản năm
2003 và 2007 do GS.TSKH Lê Cảm (chủ biên));
+ Giáo trình “Luật Hình sự Việt Nam” (Phần các tội phạm), Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội (2001) do GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên);
Trang 11+ Sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999” - Phần các tội
phạm, Tập II: Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 của Ths Đinh Văn Quế;
+ Sách “Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam - Bình luận và chú giải” Nxb Lao động, Hà Nội, 2002 của TS Trần Minh
Hưởng;
+ Giáo trình “Luật hình sự Việt Nam” (Phần các tội phạm), Nxb Công
an nhân dân (2010) do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), trong Chương
XX - Các tội xâm phạm sở hữu đã đề cập đến tội phạm cướp giật tài sản;
+ Sách “Bình luận Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung năm 2009” của ThS Đinh Thế Hưng và
ThS Trần Văn Biên,, Nxb Lao động, 2010 - Chương XIV: Các tội xâm phạm
sở hữu
+ Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Toàn năm 2015 về “Tội cướp
giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên”;
+ Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Hương năm 2016 về “Tội
cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam”;
Các công trình trên chủ yếu đi sâu nghiên cứu về các yếu tố cấu thành của tội phạm cướp giật tài sản và hình phạt đối với loại tội phạm này
- Các công trình nghiên cứu về đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản gồm:
+ Luận án tiến sĩ Luật học của Đỗ Kim Tuyến“Đấu tranh phòng, chống
tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001;
+ Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thu Hà năm 2004 về “Tội cướp giật tài
sản theo pháp luật hình sự Việt Nam một số khía cạnh và pháp lý hình sự và tội phạm học”;
+ Luận văn thạc sĩ của Lê Tấn Hùng năm 2012 về “Tội cướp giật tài
sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”;
Trang 12+ Luận văn thạc sĩ luật học của Phan Thị Thu Lê năm 2015 về “Tội
cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”;
Các công trình nghiên cứu này đã phân tích nguyên nhân, điều kiện của tội phạm cướp giật tài sản và các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Như vậy, trong các công trình khoa học nêu trên đã có sự nghiên cứu, phân tích về tội cướp giật tài sản và phòng chống tội phạm cướp giật tài sản ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản một cách đầy đủ, có hệ thống trên địa bàn thành phố Hà Nội Vì vậy, luận văn này là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản ở Hà Nội và không có sự trùng lặp về phạm vi, đối tượng nghiên cứu với các công trình khoa học đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 13- Đề xuất các giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu việc tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trong phạm vi Thành phố Hà Nội
- Về mặt thời gian: Luận văn nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về pháp luật, thực hiện pháp luật, về tội phạm và đấu tranh phòng chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu những tài liệu lý luận, văn bản, sách báo, các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài để nhằm mục đích tổng quan nghiên cứu vấn đề và xây dựng cơ sở lý luận về thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 14- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu: điều tra, quan sát, tổng kết kinh nghiệm để khảo sát đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Ngoài ra các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn còn bao gồm: Phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu và tính toán các đặc trưng của tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trong phạm vi Thành phố Hà Nội
Phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh dùng để đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Phương pháp khảo sát tại các các cơ quan tiến hành tố tụng để nắm bắt
về tình hình tội phạm cũng như công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2017 Trên cơ sở phân tích các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội Luận văn đã đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản ở Thành phố Hà Nội
Trang 15- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trong cả nước nói chung và trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được chia thành 03 Chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật trong
phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu
tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện
pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
TRONG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG
TỘI PHẠM CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật
Pháp luật được hiểu là “Hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội,
là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” [14, tr.30] Để pháp luật phát huy được vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội, các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành phải được thực hiện trong thực tế Vì vậy thực hiện pháp luật luôn là một nội dung quan trọng trong lý luận nhà nước và pháp luật Theo
đó, các giáo trình, các công trình nghiên cứu như: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc cuốn sách
Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của TS Nguyễn Thị Hồi chủ biên… đều khẳng định thực hiện pháp luật là giai đoạn thứ hai, sau khi đã tiến hành giai đoạn xây dựng pháp luật và là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu vì pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò, giá trị trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều
kiện cho xã hội phát triển khi được tôn trọng, thực hiện đầy đủ, nghiêm minh
Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà
Nội thì “thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa
các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [7, tr.185] Tương tự
như vậy, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật -
Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Thực hiện pháp luật là một quá trình
Trang 17hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”
[20, tr.494] Định nghĩa nêu trên nhận được sự đồng thuận của nhiều tác giả
khi nghiên cứu về thực hiện pháp luật, ví dụ như: TS Nguyễn Minh Đoan trong cuốn Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam [8, tr.15] hay TS Ngọ Văn Nhân trong cuốn Xã hội học pháp luật [23, tr.278] Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Thị Hồi thì các khái niệm nêu trên vẫn chưa thể hiện được đầy đủ nhất nội hàm của khái niệm về thực hiện pháp luật [14, tr.12-16], lý do là: Không phải hành vi thực hiện pháp luật nào cũng phải là một quá trình hoạt động, vì có những trường hợp thực hiện pháp luật chỉ là những hành vi đơn lẻ (ví dụ: Hành vi dừng lại trước đèn đỏ khi đi đường); Không phải trong tất cả các trường hợp, chủ thể thực hiện pháp luật đều nhằm mục đích đưa pháp luật vào cuộc sống, mà đa số các chủ thể đều nhằm thực hiện những mục đích riêng của mình, vì những hành vi hợp pháp được thực hiện trong trường hợp chủ thể chưa hoặc không nhận thức được tại sao phải làm như vậy hoặc
do kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị
áp dụng các biện pháp đó thì không thể coi là có mục đích đưa các quy định
của pháp luật đi vào cuộc sống Do vậy, TS Nguyễn Thị Hồi cho rằng: “Thực
hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) hợp pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật” Trong cuốn Lý luận Nhà nước và
pháp luật, khi định nghĩa về thực hiện pháp luật, GS.TS Phạm Hồng Thái và
PGS.TS Đinh Văn Mậu cũng không đề cập đến yếu tố “có mục đích” của các
chủ thể pháp luật [31, tr.400] Mặc dù có những điểm khác nhau nhất định khi đưa ra định nghĩa, song các tác giả, các công trình nghiên cứu nêu trên đều
nhận thấy thực hiện pháp luật có các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản như: (i) Thực
hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là hành vi đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật; (ii) Thực hiện pháp luật phải là hành vi xác định hay xử sự thực tế của
Trang 18con người và (iii) Thực hiện pháp luật là xử sự của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật Ngoài ra, trên cơ sở yêu cầu của Nhà nước
đối với các chủ thể được thể hiện trong các quy định của pháp luật khá đa dạng nên cách thức thực hiện các quy định đó cũng khác nhau, có thể bằng
hành động tích cực, song cũng có thể bằng không hành động của chủ thể
“Thực hiện pháp luật là quá trình các thành viên trong xã hội thực hiện các hành vi xử sự theo yêu cầu của pháp luật dưới những hình thức và tính chất thực hiện khác nhau nhưng cùng nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, tăng cường pháp chế trong đời sống nhà nước và xã hội” [7,
tr.227-229]
Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật làm cho chúng đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Từ những phân tích trên về thực hiện pháp luật, có thể đưa ra khái niệm
về tổ chức thực hiện pháp luật như sau: Tổ chức thực hiện pháp luật là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện đảm bảo như con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống
1.1.2 Khái niệm pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Các quan điểm trong khoa học pháp lý hiện nay đều thống nhất cho rằng: phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hay không
để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm soát được tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cũng như có các biện pháp cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho cộng đồng
Trang 19Phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành tội phạm, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội
Đấu tranh chống tội phạm được tiến hành theo phương châm nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội, hình thành thói quen phản ứng tích cực và hưởng ứng của Nhà nước và xã hội đối với tội phạm
Tội cướp giật tài sản, được hiểu là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sự phản kháng của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Hình phạt và tội danh Tội cướp giật tài sản được quy định tại điều Điều 171 - Bộ luật hình sự năm 2015
Dấu hiệu pháp lý tội cướp giật tài sản:
Khách thể: Khách thể của Tội cướp giật tài sản cũng tương tự như tội
cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân), nhưng chủ yếu là quan hệ tài sản Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay nhiều vụ cướp giật tài sản đã gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại như các vụ cướp giật của người đang điều khiển xe đạp, xe máy làm cho những người này ngã xe gây tai nạn Mặc dù những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ không phải là đối tượng mà người phạm tội nhằm vào, nhưng trước khi thực hiện hành vi cướp giật, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn thực hiện, muốn ra sao thì ra Cũng chính vì vậy Bộ luật hình sự năm 2015 khi quy định tội cướp giật tài sản đã đưa vào trong cấu thành dấu hiệu về thiệt
Trang 20hại đến tính mạng, sức khoẻ và coi đây là những tình tiết định khung hình phạt Khẳng định khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân không chỉ đúng với lý luận mà còn phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay
Chủ thể: Chủ thể của tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 12,
Điều 9, Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 Theo đó thì chủ thể của tội cướp giật tài sản là cá nhân (người) từ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình
sự không có chủ thể là pháp nhân
Mặt khách quan:
Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được Đó là: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội Tổng hợp những biểu hiện trên đây tạo thành mặt khách quan của tội phạm Như vậy, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Đối với tội cướp giật tài sản, dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm được qui định tại Điều 171 BLHS 2015 chính là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng
Hành vi khách quan trong tội cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác Hành vi chiếm đoạt là hành vi dịch chuyển tài sản đang
do người khác quản lý thành tài sản của mình một cách bất hợp pháp Hành vi chiếm đoạt bao gồm sự thống nhất giữa biểu hiện khách quan (là sự chuyển dịch tài sản) với ý thức chủ quan (mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp)
Trong tội cướp giật tài sản, hành vi chiếm đoạt thực hiện bằng hình thức công khai và nhanh chóng Đây là những dấu hiệu đặc trưng, là cơ sở để phân biệt tội cướp giật tài sản với những tội phạm khác
Trang 21Dấu hiệu công khai chiếm đoạt
Trước hết, dấu hiệu công khai được hiểu là người phạm tội không có ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình và khi thực hiện việc chiếm đoạt cho phép chủ tài sản biết ngay có hành vi chiếm đoạt xảy ra Dấu hiệu này vừa chỉ tính khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa thể hiện ý thức chủ quan của người phạm tội Về khách quan, người phạm tội không che giấu hành vi chiếm đoạt, công khai và ngang nhiên thực hiện hành vi đó Ngay sau khi thực hiện hành vi, người xung quanh có thể nhận thấy ngay hành vi của người phạm tội Về mặt chủ quan, người phạm tội không có ý định che giấu hành vi phạm tội của mình mà cố ý thực hiện hành vi là chiếm đoạt bằng được tài sản
Đặc trưng của tội cướp giật tài sản là công khai và không dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ thủ đoạn uy hiếp tinh thần nào đối với người khác để chiếm đoạt tài sản Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt với các tội phạm khác
Tội cướp giật tài sản với dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người phạm tội còn có thủ đoạn lừa dối để
“đánh lừa” chủ tài sản hoặc người khác để dễ dàng chiếm đoạt được tài sản
Nhưng đấy chỉ là thủ đoạn để tiếp cận tài sản, để có thể dễ dàng thực hiện hành vi chiếm đoạn
Trang 22Dấu hiệu công khai là dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản, không thể thiếu trong cấu thành tội phạm Nhưng chỉ công khai thôi thì chưa
đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự một người về tội cướp giật tài sản Bởi trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu có nhiều tội mà hành vi chiếm đoạt tài sản cũng có dấu hiệu công khai
Dấu hiệu nhanh chóng chiếm đoạt
“Nhanh chóng” là khái niệm nói đến sự gấp gáp, khẩn trương trong
việc thực hiện hành vi phạm tội Để thực hiện hành vi chiếm đoạt vừa nhanh chóng vừa công khai, người phạm tội đã có thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ tài sản hoặc người phạm tội chủ động tạo ra sơ hở này rồi nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát Thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt có thể diễn ra dưới các hình thức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm tài sản chiếm đoạt, vị trí, cách thức giữ tài sản cũng như hoàn cảnh khác nhau Thông thường hình thức nhanh chóng có thể là giật lấy tài sản, giằng lấy tài sản, chộp lấy tài sản và nhanh chóng tẩu thoát
Dấu hiệu nhanh chóng tẩu thoát ở đây dùng để chỉ sự lẩn tránh khỏi sự tìm kiếm của chủ tài sản Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh mà sự lẩn tránh này
có thể được thực hiện ở một trong những cách sau: chạy đi nhanh chóng hoặc đứng im một chỗ có lợi Thực tiễn xét xử, gặp nhiều trường hợp, người cướp giật tài sản nhanh chóng tẩu thoát bằng cách chạy trốn, do đó có quan điểm cho rằng chạy trốn là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội này Trong tội cướp giật tài sản, người phạm tội không sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ thủ đoạn nào khác nhằm làm tê liệt ý chí của chủ tài sản mà chỉ lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng Và sau khi người phạm tội thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì chủ tài sản và người xung quanh đều biết; do đó, chủ tài sản vẫn có đủ các điều kiện để thực hiện các biện pháp chống lại hành vi chiếm đoạt để bảo vệ tài sản của mình Người phạm tội nhận thức được điều đó nên để đảm bảo an toàn, để không bị
Trang 23bắt giữ thì người phạm tội phải lẩn tránh hoặc tẩu thoát Vì vậy, tẩu thoát chỉ
là thủ đoạn thường gặp của hành vi cướp giật tài sản mà không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này Thực tiễn, có nhiều trường hợp, người phạm tội sau khi chiếm đoạt được tài sản họ không chạy trốn cũng như không có hành vi nào đe dọa vũ lực hay uy hiếp tinh thần của người chủ tài sản
Hành vi chiếm đoạt là một trong những hình thức thể hiện của hành vi khách quan trong các tội xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, ở từng tội phạm cụ thể, hành vi này thể hiện một cách khác nhau Trong tội cướp giật tài sản, hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng hình thức: công khai và nhanh chóng Đây cũng là những dấu hiệu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định tội, xác định trách nhiệm hình sự một cách đúng đắn
Tính nguy hiểm khách quan của tội phạm là ở chỗ, tội phạm đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Sự gây thiệt hại này là một trong những nội dung biểu hiện của yếu tố mặt khách quan của tội phạm Đó là hậu quả nguy hiểm cho xã hội - hậu quả của hành vi khách quan
Như vậy, hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi khách quan phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Trong tội cướp giật tài sản, hậu quả nguy hiểm cho xã hội trực tiếp là những thiệt hại về vật chất nhưng dấu hiệu này không là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm song nó có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm
đã thực hiện
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt
khách quan và chủ quan Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là hoạt động tâm lí bên trong của người phạm tội Với
ý nghĩa là một mặt của hiện tượng thống nhất, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại độc lập mà luôn luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm
Trang 24tội, bao gồm các nội dung: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Đối với tội cướp giật tài sản, mặt chủ quan của tội phạm gồm dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội
Lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là lỗi cố ý trực tiếp Khi
thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội biết mình có hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác, thấy trước hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình gây ra nhưng lại mong muốn hậu quả đó xảy
ra, mong muốn thực hiện trọn vẹn quá trình phạm tội Xét về yếu tố lỗi tội cướp giật tài sản chủ thể tội phạm đều phải có dấu hiệu lỗi cố ý Đây chính là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình và đối với hậu quả xảy ra Người có hành vi cướp giật tài sản phải có mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước khi hành động Họ mong muốn hậu quả xảy ra là chiếm đoạt được tài sản của người khác (cố ý với hậu quả) và hành động tự nguyện để thực hiện mong muốn của mình (cố ý với hành vi) Nếu người thực hiện hành
vi giật tài sản nhưng lại không mong muốn chiếm đoạt tài sản, tức là họ đó không có lỗi cố ý đối với hậu quả như trêu đùa giật ví của bạn…thì người đó không thể là chủ thể của tội cướp giật tài sản
Trong mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản, ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc còn có động cơ và mục đích phạm tội
Động cơ của tội cướp giật tài sản được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách cố ý
Mục đích của tội cướp giật tài sản là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội
Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội:
Mức hình phạt đối với tội này được chia thành bốn khung, cụ thể như sau:
- Khung một (khoản 1)
Trang 25Có mức phạt tù từ một năm đến năm năm Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nếu ở mặt khách quan
- Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ ba năm đến mười năm Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
+ Có tổ chức
+ Có tính chất chuyên nghiệp
+ Dùng thủ đoạn nguy hiểm Được hiểu là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi cướp giật tài sản rất táo bạo, có thể gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng của chủ sở hữu tài sản, hoặc người quản lý tài sản như cướp giật tài sản của người đang đi xe gắn máy trên đường phố rồi đạp người bị hại ngã để tẩu thoát
+ Hành hung để tẩu thoát Được hiểu là hành vi của người phạm tội dùng vũ lực (như đấm, đá, dùng gậy đánh, ném bột ớt…) chống trả lại việc đuổi bắt nhằm mục đích tẩu thoát khỏi sự truy đuổi của người bị hại hoặc những người khác
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%
+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng
+ Gây hậu quả nghiêm trọng
Trang 26+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng
+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng
+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên
+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
- Hình phạt bổ sung (khoản 5)
Ngoài việc chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng
Từ những phân tích trên có thể khẳng định phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành tội phạm, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm cướp giật tài sản ra khỏi đời sống xã hội
Như vậy, Pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm
cướp giật tài sản là hệ thống các qui phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành tội phạm, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi
và tiến tới loại bỏ tội phạm cướp giật tài sản ra khỏi đời sống xã hội
Trang 27Trên cơ sở khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật và pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản, có thể rút ra
khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng
chống tội phạm cướp giật tài sản là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện đảm bảo các qui phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong áp dụng tổng hợp và đồng
bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành tội phạm, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm cướp giật tài sản ra khỏi đời sống xã hội, được thực hiện trên thực tế
1.2 Đặc điểm của tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Trên cơ sở tính chất của hoạt động thực hiện các quy phạm pháp luật, khoa học pháp lý xác định thực hiện pháp luật được tiến hành thông qua 04 hình thức cụ thể là: Tuân thủ pháp luật; thi hành (chấp hành) pháp luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Giữa các hình thức thực hiện pháp luật
có sự đan xen, không biệt lập nhau Các chủ thể thông thường phải cùng đồng thời thực hiện các quy định pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, trong
đó riêng hình thức áp dụng pháp luật được xác định là hoạt động thực hiện pháp luật của chủ thể có thẩm quyền, vừa là hình thức thực hiện pháp luật, vừa là giai đoạn mà chủ thể có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện quy định pháp luật
Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản có những đặc điểm sau:
- Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là hoạt động đưa kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành vào
Trang 28cuộc sống nghĩa là các quy phạm pháp luật sẽ được các chủ thể khác nhau thực hiện một cách hợp pháp trong thực tế cuộc sống Trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản được thực hiện bởi tất cả các chủ thể trong xã hội, không phải của riêng tổ chức hay cá nhân nào
- Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản Các hành vi của các chủ thể này không trái pháp luật, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước Hành vi xử sự của các chủ thể theo yêu cầu của pháp luật Hành vi
đó được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động
- Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản tiến hành bởi nhiều chủ thể với nhiều cách thức khác nhau như các cơ quan của Đảng, các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội…nhưng chủ yếu thuộc về trách nhiệm và chức năng của hệ thống cơ quan hành pháp Chủ thể quan trọng nhất trong chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân các cấp Từ đặc điểm này đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong đó nòng cốt là các cơ quan bảo vệ pháp luật trong tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
1.3 Vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống, đẩy lùi tội phạm cướp giật tài sản Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác tổ thực hiện
Trang 29pháp luật phòng ngừa tội phạm nhằm giúp các nhà quản lý nhận thức rõ sự cần thiết, ý nghĩa của công tác tổ chức thực hiện pháp luật, từ đó chủ động có các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện pháp luật về đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đưa pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu vào cuộc sống, nâng cao chất lượng hoạt động thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, góp phần đẩy mạnh quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thông qua việc tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản nâng cao năng lực của đội ngũ công chức, cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần vào việc chấp hành nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về phòng chống, đấu tranh với tội phạm cướp giật tài sản Bên cạnh đó, tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản còn góp phần nâng cao chất lượng của hệ thống phòng chống tội phạm, đảm bảo tính thống nhất, khả thi đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm Qua đó đảm bảo phù hợp với hệ thống chính trị ở nước ta, mặt khác phải đảm bảo được yếu tố chuyên nghiệp của đội ngũ công chức, đạt mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế cũng như đáp ứng được công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản nói riêng và phòng chống tội phạm hình sự nói chung
Thông qua việc tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản nâng cao ý thức cảnh giác tội phạm cho nhân dân Đây là biện pháp bảo vệ tốt nhất tài sản của công dân cũng như nâng cao hiệu quả bảo vệ chế độ, ngăn ngừa tội phạm xâm phạm quyền sở hữu của nhà nước
Trang 301.4 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản gồm những nội dung cơ bản sau:
- Ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn, triển khai thực hiện các qui định của pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
- Hoàn thiện các thiết chế thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
- Đảm bảo thực hiện các qui định của pháp luật về phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh các hành vi cướp giật tài sản
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tội phạm cướp giật tài sản cho nhân dân
- Đảm bảo các nguồn lực về con người, về cơ sở vật chất đối với hoạt động phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
- Chính sách pháp luật trong tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Với vị trí là công cụ chủ yếu để quản lý xã hội, vai trò to lớn của pháp luật chỉ có thể được phát huy trong cuộc sống khi có một quá trình “tổ chức
để thực thi”, để từng văn bản pháp luật sau khi ban hành được các cơ quan, tổ chức và các chủ thể chủ động tiếp cần, sử dụng, tuân thủ, thi hành một cách tự giác tạo thành các sự kiện, hành vi pháp lý khi tham gia các quan hệ xã hội
Do đó, các giải pháp đưa pháp luật vào cuộc sống phải xuất phát từ cuộc sống, gắn với cuộc sống để xác định rõ đối tượng hành vi và trách nhiệm, trở
Trang 31thành yêu cầu bắt buộc dần dần tạo nên thói quen tự giác, chủ động chấp hành pháp luật của công chức, viên chức và mọi người dân Quan điểm gắn mọi hoạt động của xã hội vào pháp luật nếu được quán triệt sẽ làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, duy trì ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển
Chính vì vậy, cần phải đồng bộ hóa từ chuẩn bị nguồn lực, xây dựng và triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể của từng khâu trong cả ba khâu: Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật nhằm góp phần xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan nhà nước, các tổ chức và công dân Bởi vì nếu công tác lập pháp, tư pháp không có các giải pháp phù hợp, hoạt động không có chất lượng, hiệu quả thì
sẽ không có tiền đề cho việc tổ chức thực thi pháp luật trong cuộc sống Chỉ khi pháp luật được xây dựng, hoàn thiện, thực sự là đại lượng thể hiện ý chí chung, dung hòa các lợi ích của mọi lực lượng xã hội thì mới được toàn dân thực sự đón nhận và tự giác thực hiện, cũng như chỉ khi các cơ quan bảo vệ pháp luật vào cuộc tăng cường vận dụng pháp luật, xử lý nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm và tránh oan sai mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa để mọi công dân, công chức đều phải tuân thủ pháp luật chỉ khi đó pháp luật mới là công cụ thực
sự của nhà nước để quản lý xã hội
Phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, chỉ đạo Điều hành thống nhất của Nhà nước Song song với công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước, công tác
Trang 32phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm là một nội dung quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước
đã ban hành nhiều các văn bản chỉ đạo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, trong đó có tội phạm tội cướp giật tài sản tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
- Năng lực thực thi công vụ của các chủ thể thực hiện pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Năng lực thực thi công vụ là thuật ngữ chỉ khả năng thể chất và trí tuệ của CBCC trong việc sử dụng tổng hợp các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi để thực hiện công việc được giao Năng lực thực thi công vụ còn bao hàm khả năng kết hợp hài hòa các yếu tố trên trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được hiệu quả công việc cao nhất
Năng lực thực thi công vụ của CBCC được tiếp cận trên nhiều khía cạnh: Thứ nhất, về kiến thức: là tổng hợp những tri thức mà CBCC thu nhận
được biểu hiện qua bằng cấp, trình độ đào tạo, kiến thức và kinh nghiệm xã hội mà họ tích lũy và học hỏi được trong cuộc sống Kiến thức có được qua đào tạo của CBCC bao gồm: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ văn hóa, trình độ tin học, ngoại ngữ, lý luận chính trị và các kiến thức nền tảng về văn hóa, kinh tế - xã hội
Thứ hai, về kỹ năng: là tổng hợp các cách thức, phương thức, biện pháp
tổ chức và thực hiện công việc, thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế giải quyết các công việc cụ thể Để đạt được những
kỹ năng xử lý công việc thành thạo, mỗi CBCC cần có những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, kỹ năng ra quyết định…
Thứ ba, về thái độ: là sự phản ánh tâm lý về những công việc cụ thể mà
CBCC đang thực hiện với bản thân và với người khác liên quan đến sự thỏa
Trang 33mãn hay không thỏa mãn nhu cầu cá nhân Đó là tinh thần, ý thức trách nhiệm,
sự nhiệt tình, mức độ nỗ lực cố gắng của CBCC với công việc mà họ đang thực hiện Thái độ là yếu tố có ảnh hưởng lớn tới quá trình thực hiện và kết quả công việc Khi người CBCC có thái độ làm việc đúng đắn, chuẩn mực, có tinh thần trách nhiệm cao sẽ ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả công việc
Lao động của CBCC có vai trò quan trọng trong đảm bảo trật tự, kỷ cương phép nước, bảo vệ pháp luật và công lý, bảo vệ quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, chống lại các hành vi
vi phạm pháp luật Họ cũng là những người đóng vai trò tiên phong trong cuộc đấu tranh liên tục, không khoan nhượng với các hiện tượng quan liêu, hành vi tham nhũng, cửa quyền, tiêu cực khác, làm cho bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Vì vậy, hiệu quả của tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC
- Yếu tố ý thức pháp luật của nhân dân
Những năm gần đây, đất nước ta đã có những thành tựu không nhỏ về phát triển kinh tế người dân có nhiều tài sản có giá trị hơn, một điều không thể phủ nhận đời sống của các tầng lớp nhân dân đang được nâng cao, đi cùng với nó là sự nâng lên của trình độ tri thức, nhận thức nói chung và nhận thức pháp luật nói riêng Nhận thức pháp luật về bảo vệ quyền của mình, đặc biệt
là quyền bảo vệ tài sản Nhân dân ngày càng quan tâm hơn đến pháp luật, ý thức chấp hành, thực hiện pháp luật có những tiến bộ rõ rệt Họ đã tiếp thu khá nhiệt tình, tích cực sự tuyên truyền pháp luật từ phía các cơ quan, ban ngành cũng như hưởng ứng nhiệt tình các cuộc vận động pháp luật Vì vậy, nhân dân đã nhận thức sâu sắc hơn hành vi của mình để có thể thực hiện tốt hơn những quy định của pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Trang 34- Yếu tố cơ sở vật chất và công cụ hỗ trợ phục vụ công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Tài chính và điều kiện vật chất kỹ thuật cũng là yếu tố ảnh hưởng đến
tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản Cần xác định rõ các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật để dự liệu về phương tiện làm việc, nguồn kinh phí sát với yêu cầu của nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản Tăng cường nguồn kinh phí cho học tập luật, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trang bị công nghệ tin học, tài liệu phục vụ cho hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, kinh phí
hỗ trợ các đoàn thể trong việc tuyên truyền phòng ngừa, đấu tranh tội phạm cướp giật tài sản, song song với đó là cơ chế hướng dẫn kiểm tra đảm bảo sử dụng nguôn kinh phí và các nguồn cơ sở vật chất có hiệu quả Ghi nhận sự đóng góp của xã hội về cơ sở vật chất trong phòng ngừa, đấu tranh phòng
chống tội phạm cướp giật tài sản
- Các thiết chế tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản.
Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là trách nhiệm của rất nhiều cơ quan, tổ chức Vì vậy việc thiết lập các cơ quan, tổ chức phù hợp, chức năng nhiệm vụ rõ ràng, không chồng chéo cũng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
1.6 Các điều kiện đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Để quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật có vị trí thượng tôn, việc
tổ chức thực hiện pháp luật là một yếu tố rất quan trọng Một mặt, Nhà nước
có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả, hiệu lực nhất, mặt khác, bản thân Nhà nước cũng phải tuyệt đối tuân thủ các quy định
Trang 35của pháp luật Hai yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ với nhau Việc Nhà nước tuyệt đối tuân thủ các quy định pháp luật là cơ sở để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả, hiệu lực Ngược lại, việc tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả đặt ra yêu cầu tất yếu là Nhà nước phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của pháp luật
Để việc thực hiện pháp luật được hiệu quả cần có các điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện pháp luật đặc biệt là trong đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản cần có các điều kiện cụ thể như sau:
1.6.1 Đảm bảo điều kiện về pháp luật
Các văn bản quy phạm pháp luật phải rõ ràng, đảm bảo tính hệ thống
Để đảm bảo tính khả thi của một văn bản quy phạm pháp luật, quy trình và kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm những yêu cầu nhất định Trước hết, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật phải được tiến hành trên cơ sở xác định rõ các vấn đề của cuộc sống và các mục tiêu chính sách rõ ràng cần phải đạt đến Xác định các mục tiêu của chính sách cũng chính là thiết lập các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật về sau Pháp luật quy định không rõ ràng, hoặc chồng chéo có thể là nguyên nhân của việc làm thế nào cũng được hoặc không biết phải làm thế nào Như vậy, có nhiều hành vi làm phát sinh các vấn đề xã hội do chính các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành gây ra Đối với tội phạm cướp giật tài sản các quy định của pháp luật trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã rất
rõ ràng, so với bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và bỏ đi được một
số tình tiết tăng nặng không còn phù hợp, gây bối rối và thiếu nhất quán cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt Điều này, đã giúp cho việc tổ chức thực hiện pháp luật được hiệu quả giúp cơ quan tiến hành tố tụng định tội danh và hình phạt được thống nhất,
Trang 36đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn chưa định nghĩa pháp lý cụ thể trong điều luật về tội cướp giật tài sản
1.6.2 Các điều kiện về năng lực của các cơ quan thực hiện pháp luật
Vai trò của cơ quan tổ chức thực hiện pháp luật, hay chính xác hơn là
cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm thực hiện văn bản, là rất quan trọng, đặc biệt là trong hoàn cảnh ý thức tuân thủ pháp luật của các đối tượng có trách nhiệm thực hiện pháp luật chưa cao Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để phát huy được vai trò của các cơ quan chịu trách nhiệm đảm bảo thực thi pháp luật trong việc tổ chức thực hiện pháp luật Vấn đề cơ bản nhất cần lưu ý chính là yếu tố hành vi của các công chức, viên chức trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ trong những cơ quan này Cán bộ không có năng lực thì công việc không thể được giải quyết Nếu năng lực của cán bộ thực thi pháp luật kém, không đáp ứng được những biến động của tội phạm cũng như quan hệ xã hội thì việc tổ chức thực hiện pháp luật không hiệu quả
Các quy định pháp luật thường chỉ đề cập đến cơ quan chịu trách nhiệm
tổ chức thực hiện pháp luật với tư cách là một tập thể hay nói cách khác, các
cơ quan đó được đề cập đến như một chủ thể có lý trí riêng lẻ Ví dụ như quy định: “Bộ Tài chính quy định việc thực hiện ” đề cập đến Bộ Tài chính như một chủ thể riêng biệt Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho thấy việc xem các tổ chức là những chủ thể có ý thức riêng lẻ là không phù hợp
Về cơ bản, vận hành của các tổ chức đó vẫn là do các thành viên đơn lẻ có ý thức và tư duy độc lập thực hiện Hành vi chung của tổ chức chỉ có thể được định hướng trong khuôn khổ các quy định chung về hành vi được đặt ra đối với các thành viên đơn lẻ của tổ chức
Đảm bảo công khai, minh bạch và dân chủ để cơ chế THPL được vận hành hiệu quả Công khai, minh bạch vừa là yêu cầu vừa là điều kiện để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả Đây cũng chính là yếu tố rất được coi trọng trong Nhà nước pháp quyền
Trang 37Đảm bảo công khai, minh bạch trong việc tổ chức thực hiện pháp luật trước hết được thể hiện ở việc công khai các quy định về mặt nội dung, quy trình tổ chức thực hiện làm cơ sở để tăng cường sự hiểu biết của người dân đối với việc tổ chức thực hiện pháp luật Sự hiểu biết pháp luật của những chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật là điều kiện cơ bản nhất để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả Ngược lại, việc tuyên truyền, thông tin đầy đủ về nội dung của các quy định pháp luật cũng như cách thức thực hiện pháp luật là yếu tố tạo nên thành công trong việc tổ chức thực hiện một số văn bản luật Đảm bảo công khai, minh bạch trong việc tổ chức thực hiện pháp luật còn bao hàm nghĩa tạo cơ hội cho các chủ thể trong xã hội được tham gia phản biện về nội dung của các quy định pháp luật cũng như cách thức tổ chức thực hiện các quy định pháp luật đó Tạo cơ hội để thu nhận các phản biện sẽ giúp cho những cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật phát hiện được những điểm bất cập trong quá trình thực hiện công việc Đó là những cơ sở quan trọng đề điều chỉnh, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật
Việc xác định một quy trình làm việc không rõ ràng đương nhiên sẽ dẫn đến tình trạng việc tổ chức thực hiện công việc kém hiệu quả Các công chức, viên chức trong chuỗi quy trình ra quyết định của tổ chức nếu không rõ mình phải làm gì, trong giai đoạn nào, các đầu vào, đầu ra đối với công việc của mình
ra sao thì rõ ràng hiệu quả công việc sẽ không đảm bảo hoặc thậm chí, quy trình công việc không thể vận hành Thực tế đã cho thấy có nhiều trường hợp do thiếu các quy định hướng dẫn về quy trình, thủ tục tiến hành công việc mà một số cơ quan nhà nước đã từ chối tiếp nhận việc thực hiện các quy định của pháp luật
1.6.3 Cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật một cách chặt chẽ
Giám sát và đánh giá có rất nhiều ý nghĩa đối với việc nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật Đó là công cụ để kiểm soát việc thực hiện pháp luật và đặc biệt là để hạn chế sự lạm quyền của các công chức,
Trang 38viên chức trong quá trình tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật Giám sát và đánh giá cũng tạo ra áp lực để các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật phải thực hiện theo đúng bổn phận của mình, tránh trường hợp trễ nải trong việc thực hiện nhiệm vụ Và giám sát, đánh giá cũng là công cụ để thu thập phản hồi nhằm điều chỉnh bản thân các quy định của văn bản quy phạm pháp luật
Ở góc độ vĩ mô, cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật gắn liền với việc cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh của quyền lực nhà nước
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền được hiểu là một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểm soát phạm vi hoạt động của cơ quan nhà nước; kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm soát những người thực thi quyền lực
và có thể kiểm soát từ bên ngoài và bên trong nhà nước Kiểm soát từ bên ngoài nhà nước là kiểm soát từ nhân dân và xã hội, kiểm soát từ bên trong là kiểm soát do chính Nhà nước thực hiện Trong hệ thống đó, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật ở tầm vĩ mô của các cơ quan nhà nước sẽ được xác định rõ ràng Và đây cũng chính là động lực chính trị cơ bản nhất để vận hành
có hiệu quả hệ thống cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật
1.6.4 Đảm bảo sự độc lập của cơ quan tư pháp
Một trong những đòi hỏi của tư pháp trong Nhà nước pháp quyền là phải độc lập trước các nhánh quyền lực khác của Nhà nước Tính độc lập của
tư pháp cho phép Tòa án đưa ra những phán quyết đúng đắn, chống lại sự tùy tiện của các nhánh quyền lực khác Để có được tầm ảnh hưởng trên thực tế, nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền được đảm bảo bằng sự hiện diện của các cơ quan tố tụng độc lập, có thẩm quyền tài phán đối với các tranh chấp giữa các chủ thể pháp lý khác nhau bằng cách áp dụng đồng thời nguyên tắc
Trang 39hợp pháp (vốn có được từ sự tồn tại của một trật tự các quy phạm) và nguyên tắc bình đẳng (vốn đối lập với sự xét xử phân biệt giữa các chủ thể pháp lý)
Sự độc lập của cơ quan tư pháp là điều kiện cần thiết để các chủ thể trong xã hội có thể tiếp cận được với công lý, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật Các hành vi lạm quyền hoặc vi phạm các quyền tự do cơ bản của công dân có thể bị khởi kiện và được xem xét theo những thủ tục độc lập, rõ ràng và công minh sẽ là cơ sở cho việc làm tăng niềm tin của người dân vào hệ thống pháp luật nói chung và việc thực hiện pháp luật nói riêng Đây có thể nói là một trong những yếu tố cơ bản nhất làm tăng ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong xã hội, là cơ sở cho việc thực hiện pháp luật có hiệu quả
Ở góc độ vi mô, Toà án cũng có vai trò rất lớn đối với việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật cụ thể Ở những nước Toà án có thẩm quyền tài phán lớn và có tính độc lập cao trong hoạt động, Tòa án có quyền từ chối không áp dụng những văn bản dưới luật mâu thuẫn với văn bản luật (theo quan điểm của Tòa án) Đây chính là cơ sở quan trọng cho Tòa án đảm bảo tính tối cao của pháp luật trong đời sống xã hội Bất kỳ hành vi nào của các cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật trái với các đạo luật đều có thể bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu
Bên cạnh đó, khi được tổ chức một cách độc lập và có thẩm quyền tài phán đầy đủ, Toà án cũng có vai trò nhất định trong việc thúc đẩy việc tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước Chẳng hạn, một đạo luật
do Quốc hội ban hành đã ghi nhận cho các công dân quyền được đầu tư vào những lĩnh vực nhất định thì các cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện không thể viện dẫn lý do chưa có đầy đủ các văn bản hướng dẫn thực hiện của
cơ quan hành pháp để từ chối việc thực hiện các quyền đó của công dân Khi
đó, rõ ràng quyền lợi của các công dân đã bị ảnh hưởng vì sự chậm trễ của các
cơ quan nhà nước Và nếu quyền khởi kiện của công dân lên Toà án để bảo đảm quyền, lợi ích của mình được ghi nhận thì đó sẽ là những áp lực rất lớn
Trang 40đối với các cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, tránh sự tuỳ tiện và đảm bảo việc tổ chức thực hiện pháp luật phải được thực hiện theo đúng quy định pháp luật
1.6.5 Đảm bảo các điều kiện về kinh tế trong tổ chức thực hiện pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản
Điều kiện về kinh tế để trang trải các khoản chi cho công tác tổ chức thực hiện pháp luật như kinh phí cho công tác tổ chức, thù lao, lương cho hệ thống cơ quan thực thi pháp luật, chi phí cho việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm phù hợp luôn là một trong những yếu tố tiên quyết đến hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và trong công tác phòng chống tội phạm cướp giật tài sản nói riêng Đặc biệt, yếu tố về con người phải được chú trọng, có các chính sách, chế độ đãi ngộ phù hợp; tạo môi trường làm việc tốt, trang bị công cụ phụ trợ đầy đủ cho cán bộ tốt tạo điều kiện cho đội ngũ thực thi pháp luật phát huy hết khả năng để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Kinh phí hàng năm để hỗ trợ thực hiện công tác phòng, chống tội phạm phải phù hợp với tình hình diễn biến tội phạm cướp giật tài sản hiện nay
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trên cơ sở phân tích tài liệu lý luận đề tài xác định và sử dụng các vấn
đề lý luận cơ bản trong luận văn:
- Tổ chức thực hiện pháp luật là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện đảm bảo như con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất
để nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống
- Tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện đảm bảo các qui phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ