Cụ thể, theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính có định nghĩa: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ
“MỘT CỬA” TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ
“MỘT CỬA” TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH THỊ CẨM LÊ
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, cho phép em được gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, các thầy, cô giáo khoa sau đại học, cùng lãnh đạo các khoa, phòng tại Học viện Hành chính, cô chủ nhiệm lớp đã tận tình giảng dạy
và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại học viện
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đến TS Đinh Thị Cẩm Lê - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể cán bộ, chuyên viên Văn phòng UBND Thành phố Việt Trì đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin và tài liệu liên quan để xây dựng luận văn
Do nhiều điều kiện chủ quan, khách quan và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý của quý thầy,
cô trong Hội đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công - Học viện Hành chính Quốc gia
Xin trân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” 9
1.1 Cơ sở lý luận về thủ tục hành chính 9
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính 9
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính 11
1.1.3 Vai trò của thủ tục hành chính 14
1.1.4 Phân loại các thủ tục hành chính 16
1.1.5 Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính 19
1.2 Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 22
1.2.1 Khái niệm cơ chế “một cửa” và cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 22
1.2.2 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 24
1.2.3 Nguyên tắc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 26
1.2.4 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ 34
VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 34
2.1 Khái quát về UBND Thành phố Việt Trì và Bộ phận “một cửa” 34
2.1.1 Khái quát về UBND Thành phố Việt Trì 34
2.1.2 Khái quát về Bộ phận “một cửa” 37
2.2 Thực trạng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 46
Trang 72.2.1 Quá trình triển khai thực hiện cải cách Thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 46
2.2.2 Thực trạng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” trên một số lĩnh vực cụ thể 50
2.2.3 Đánh giá chung về kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TẠI ỦY BAN 85
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 85
3.1 Chương trình cải cách nền Hành chính nhà nước đến 2020 và định hướng cơ bản cho cải cách thủ tục hành chính tại UBND Thành phố Việt Trì 85
3.1.1 Những yêu cầu thực tế đối với giải quyết thủ tục hành chính tại UBND Thành phố Việt Trì 85
3.1.2 Định hướng trong công tác cải cách thủ tục hành chính tại UBND Thành phố Việt Trì 86
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì 86
3.2.1 Các giải pháp về xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm 86
3.2.2 Các giải pháp về công tác lãnh đạo, điều hành và công tác phối hợp 89
3.2.3 Các giải pháp về giải quyết và thực hiện thủ tục hành chính 93
3.2.4 Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức 99
3.2.5 Giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện thủ tục hành chính 103
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8DANYH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 1.1: Sơ đồ quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
31
Biểu 2.2: Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì 45 Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong 3 năm từ 2014-2016 của Bộ phận “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì 63
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển đất nước và hội nhập sâu rộng với thế giới như hiện nay, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều cơ hội xong cũng đặt ra những thách thức không nhỏ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống Kinh tế - Chính trị
- Văn hóa - Xã hội - Quốc phòng - An ninh Để hội nhập có ý nghĩa thiết thực với mỗi quốc gia thì vai trò của Nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế, xã hội là cực kỳ quan trọng Do đó, yêu cầu cấp bách đặt ra, song song với những cải cách về kinh tế, chúng ta cần thực hiện một số đổi mới quan trọng trong hệ thống chính trị Trong đó, cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính luôn được Đảng, Nhà nước xác định là khâu quan trọng để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế
Mặc dù công cuộc cải cách hành chính đã được khởi đầu từ rất sớm, triển khai trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nền hành chính: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân sự làm việc trong các cơ quan nhà nước,… Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với chi phí và nguồn lực cho công cuộc này Chính vì vậy, việc nhấn mạnh ưu tiên cải cách thủ tục hành chính là hoàn toàn cần thiết
và phù hợp trong bối cảnh hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền hành chính
Cải cách thủ tục hành chính được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính nhà nước Để cải cách hành chính đạt hiệu quả thì thủ tục hành chính phải được đơn giản hóa một cách tối đa, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong giải quyết các công việc hành chính, loại bỏ những thủ tục rườm rà gây khó khăn cho nhân dân Nhận thức được tầm quan trọng của cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP về Chương trình tổng thể CCHC nhà nước
Trang 10giai đoạn 2011-2020 kèm theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/3/2015 về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế
“một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan HCNN ở địa phương Đây được coi là giải pháp đổi mới về phương thức làm việc của cơ quan HCNN ở địa phương các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan HCNN với các tổ chức và công dân
Hòa chung vào công cuộc cải cách thủ tục hành chính trong cả nước, Tỉnh ủy và UBND Tỉnh Phú Thọ đặc biệt quan tâm và xem đây là nhiệm vụ trọng tâm để hoàn thành tốt mục tiêu thực hiện CCHC Đồng thời cải cách TTHC là công cụ hỗ trợ đắc lực nhằm đơn giản hóa, cũng như nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh Để triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về việc thực hiện cơ chế
“một cửa”, UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số UBND ngày 22/12/2015 về việc thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” tại các cơ quan HCNN tỉnh Phú Thọ
19/2015/QĐ-Mô hình “một cửa” đã được đưa vào áp dụng thí điểm tại các đơn vị hành chính trong toàn tỉnh UBND Thành phố Việt Trì là một trong những đơn vị điển hình, tiên phong triển khai thực hiện mô hình “một cửa hiện đại”, đến nay đã mang lại những kết quả nhất định như: Nâng cao chất lượng giải quyết hồ sơ, hạn chế hồ sơ trễ hẹn và tồn đọng, tránh tình trạng cán bộ đùn đẩy trách nhiệm, kéo dài thời gian giải quyết vụ việc… Bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng mô hình “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì vẫn còn gặp không ít khó khăn trong việc vận dụng các quy định pháp lý mới, cũng như chất lượng giao dịch trên một số lĩnh vực còn hạn chế, cần tiếp tục được hoàn thiện hơn nữa
Nhận thức rõ được những vấn đề nêu trên và hiểu được tầm quan trọng của việc cải cách thủ tục hành chính trong tiến trình cải cách hành chính tại các cơ quan Nhà nước nói chung và tại UBND Thành phố Việt Trì nói riêng,
Trang 11tôi lựa chọn đề tài: “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại
Ủy ban nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” làm luận văn Thạc sĩ,
chuyên ngành Quản lý công Với mong muốn đem lại cái nhìn tổng quan về công cuộc CCHC trong các cơ quan HCNN nói chung và tình hình cải cách TTHC tại UBND Thành phố Việt Trì nói riêng, đồng thời đánh giá lại quá trình áp dụng cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ,
để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác cải cách TTHC, góp phần thúc đẩy hoạt động của UBND Thành phố một cách có hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nội dung quan trọng trong công tác CCHC Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước và đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Chủ đề này được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Trước hết, cần phải
kể đến các công trình khoa học có tính giáo khoa như: Giáo trình Thủ tục hành chính - Học viện hành chính quốc gia; giáo trình Hành chính công - Học viện hành chính quốc gia; giáo trình Luật hành chính - Đại học Luật Hà Nội; trong đó đã đề cập tới khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn, các nguyên tắc của TTHC Bên cạnh đó còn có công trình nghiên cứu chuyên sâu của tác giả Nguyễn Văn Thâm với cuốn sách “Thủ tục hành chính - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002” Cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về TTHC đi
từ khái niệm, phân loại, đặc điểm, ý nghĩa của việc cải cách TTHC ở Việt Nam và có những phân tích cải cách TTHC ở một số lĩnh vực cụ thể Ngoài ra còn có các bài báo khoa học về CCHC, cải cách TTHC được đăng trên các tạp
chí khoa học khác nhau
Trong thời gian qua cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” như:
Trang 12Trong bài nhiên cứu “Từ mô hình “một cửa” một số giải pháp để cải cách dịch vụ hành chính công”, tác giả Lê Chi Mai đã cho thấy mô hình “một cửa” là
một trong những giải pháp để cải cách dịch vụ hành chính công Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào việc áp dụng mô hình này tại cơ quan hành chính nhà nước
mà tiếp cận với đối tượng chính là cải cách dịch vụ hành chính công
Với đề tài “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại một số
Ủy ban nhân dân huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh”, tác giả Nguyễn Thị Thanh đã
hệ thống được những kiến thức tổng quan nhất về HCNN và các bộ phận cấu thành nền HCNN, trong đó đi sâu nghiên cứu về TTHC và cải cách TTHC theo
cơ chế “một cửa” tại UBND huyện Vân Đồn và UBND thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Thông qua việc nghiên cứu thực trạng cải cách TTHC trên một số lĩnh vực tại cả 2 địa bàn khảo sát, tác giả đưa ra phương hướng giải pháp nhằm hoàn thiện cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” trong giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả Lê Thị Hồng Giang trong đề tài “Cải cách hành chính trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020” cũng đã hệ
thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về CCHC và những kinh nghiệm thực tế thực hiện CCHC thời gian qua tại địa bàn huyện Sóc Sơn, để từ đó nêu lên một số kiến nghị, giải pháp tập trung vào hai nội dung chính là cải cách TTHC và nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC nhằm thực hiện CCHC trên địa bàn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2011 - 2020
Với đề tài “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện chương trình cải cách hành chính ở cấp huyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, tác giả Phùng
Việt Hưng đã đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác đánh giá cải cách hành chính cấp huyện theo các tiêu chí cụ thể, đồng thời đưa ra giải pháp để xây dựng và triển khai thực hiện bộ tiêu chí đánh giá cải cách hành chính cấp huyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Hiện đại hóa hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính và là điều kiện để cải cách TTHC có hiệu quả Trong đề
Trang 13tài luận văn “Hiện đại hóa hành chính tại Ủy ban nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”, năm 2017, tác giả Tạ Thị Diệu Hằng ngoài việc đưa ra hệ
thống cơ sở lý luận về nền hành chính, cải cách hành chính nói chung, đã nêu lên thực trạng công tác hiện đại hóa hành chính tại UBND Thành phố Việt Trì Trên
cơ sở đó đề xuất phương hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác hiện đại hóa hành chính tại địa phương, trong đó có một số nội dung liên quan đến việc hoàn thiện cơ chế “một cửa”
Bài viết “Cải cách nền hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2015”
của tác giả Hà Quang Trường đã mô tả rõ mục đích, nhiệm vụ và các mục tiêu
cụ thể của quá trình cải cách nền hành chính Nhà nước phù hợp với những vấn đề của thời kỳ phát triển kinh tế xã hội hiện nay
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đây đã tập trung vào việc phân tích lý luận và thực tiễn về cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng thông qua một số lĩnh vực cụ thể Qua đó thấy được vai trò của cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tác động tích cực đến quyền lợi của công dân, tổ chức và hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Thực tế, cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” đã được tổ chức và đi vào hoạt động ở hầu hết các địa phương trên cả nước Song, ở mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm công cuộc cải cách TTHC lại có những biến chuyển nhất định, cần được tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thiện chương trình cải cách sao cho hiệu quả nhất và phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, công tác cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” mới chỉ dừng lại ở những đề án, báo cáo tổng kết của địa phương mà chưa có nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên sâu về thực tiễn hoạt động Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu những thành tựu, khó khăn và hạn chế trên cơ sở lý luận chung về cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt
Trang 14Trì là vô cùng cần thiết Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND Thành phố Việt Trì Kết quả của quá trình nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với các cơ quan hành chính trên địa bàn Thành phố mà còn
có tác động mạnh mẽ đến tiến trình cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” tại các địa phương khác trong toàn tỉnh
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nâng cao hiệu quả cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu cơ sở lý luận về TTHC, cơ chế “một cửa” và cải cách
TTHC theo cơ chế “một cửa”
Khảo sát thực trạng cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Từ đó, thấy được những ưu điểm và hạn chế trong công tác triển khai thực hiện mô hình
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” tại UBND Thành phố Vệt Trì, tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ CCHC trong tình hình mới hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 15cửa” được áp dụng rộng rãi trên rất nhiều lĩnh vực tại UBND Thành phố Việt Trì, song, 4 lĩnh vực nêu trên được Thành phố triển khai thực hiện phổ biến nhất và cũng mang lại những kết quả nhất định Do đó, phạm vi của luận văn
sẽ đi sâu vào nghiên cứu 4 lĩnh vực được xem là trọng tâm của UBND Thành phố Việt Trì
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và kế thừa, tiếp thu có chọn lọc một số ý tưởng mới có liên quan trong các công trình nghiên cứu đã công bố
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập - xử lý thông tin: Phương pháp này được thực
hiện nhằm thu thập thông tin, hệ thống các khái niệm và luận điểm, xây dựng
cơ sở lý thuyết liên quan đến TTHC và cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa”
từ các công trình nghiên cứu, các tài liệu của các tác giả đã được công bố trước đây
Phương pháp phân tích và so sánh: Luận văn tiến hành nghiên cứu tài
liệu là các văn bản pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định; Nghị quyết; Quyết định; Thông tư; Chương trình; Đề án… của các cơ quan Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương để làm căn cứ pháp lý cho việc phân tích các khái niệm liên quan đến đề tài Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh các số liệu thu thập được, cụ thể ở đây là các báo cáo kết quả thực hiện công tác CCHC công vụ qua các năm 2014 - 2016 tại UBND Thành phố Việt Trì để thấy rõ hơn hiệu quả cải cách TTHC qua từng năm, nhìn nhận những kết quả đạt được cũng như những tồn tại hạn chế khi triển khai mô hình “một cửa”
Phương pháp thống kê: Các số liệu thu thập được từ thực tế khảo sát và
Trang 16qua các văn bản báo cáo của UBND Thành phố sẽ được xử lý bằng các phần mềm máy tính đơn giản để cho ra một bảng số liệu đầy đủ, ngắn gọn và mang
tính khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về cơ chế “một cửa” trong cải cách TTHC
Kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào công tác CCHC tại UBND Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và công cuộc cải cách nền HCNN hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu giúp các nhà quản lý tham khảo cho việc hoạch định chính sách liên quan đến thể chế HCNN nói chung và TTHC nói riêng trong hoạt động của chính quyền địa phương
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào kho tàng tài liệu phục
vụ cho công tác nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy cho các cơ sở có liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo; Nội dung chính của luận văn gồm có 3 phần:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành
chính theo cơ chế “một cửa”
Chương 2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một
cửa” tại Ủy ban nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành
chính theo cơ chế “một cửa” tại Ủy ban nhân dân Thành phố Việt Trì
Trang 17Theo nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt các nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn Thủ
tục theo nghĩa tiếng việt là “cách thức tiến hành công việc theo một trình tự hay một luật lệ đã quen” [8, tr.1893] Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy
tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi tiến hành công việc
Trong hoạt động quản lý Nhà nước, thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước mới được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật thực hiện thủ tục trên thực tế Cụ thể theo quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý Nhà nước ở nước ta hiện nay, hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống
cơ quan HCNN cần phải tuân thủ pháp luật, trong đó có những quy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công
Trang 18việc theo chức năng nhiệm vụ được giao Những trình tự, cách thức giải quyết công việc đó được gọi là thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính theo cuốn đại từ điển Tiếng việt là “cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước” [39, tr.1024]
Trong khoa học Luật hành chính Việt Nam có nhiều quan niệm khác
nhau về thủ tục hành chính, có quan niệm cho rằng: “Thủ tục hành chính là trình tự và cách thức thực hiện hoạt động hành chính nói chung, hoặc là trình
tự và cách thức thực hiện những hoạt động cụ thể trong các ngành và lĩnh vực hoạt động hành chính và do luật hành chính quy định” [38, tr.144]
Có thể thấy, thủ tục hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt động quản lí nhà nước không chỉ được quan tâm dưới góc độ nghiên cứu khoa học, mà còn được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật Cụ thể, theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm
soát thủ tục hành chính có định nghĩa: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất “Thủ tục hành chính là trình
tự, cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của cơ quan hành chính và giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và cá nhân công dân” [12, tr.11]
TTHC được quy định để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước, bao gồm: trình tự thành lập các công sở; trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều động cán bộ, công chức; trình tự lập quy, áp dụng quy
Trang 19phạm pháp luật để đảm bảo các quyền chủ thể, trình tự điều hành, tổ chức các tác nghiệp hành chính,
TTHC có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân Thông qua TTHC, các cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình đồng thời các cơ quan HCNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính
Tính chất đa diện và nội dung phong phú của hoạt động quản lý hành chính đã quy định đặc điểm của thủ tục hành chính như sau:
Thứ nhất, thủ tục hành chính được điều chỉnh bằng quy phạm thủ tục -
là cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình
TTHC là một bộ phận cấu thành của hệ thống quy phạm thủ tục Hệ thống quy phạm thủ tục là toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết công việc công việc nhà nước và thực hiện nghĩa vụ hành chính đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân Đó cũng chính là các hệ thống các nguyên tắc quản lý và điều hành bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các công chức phải tuân theo trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình
Hoạt động quản lý chủ yếu là hoạt động áp dụng pháp luật mà ở đó, hành vi áp dụng pháp luật liên quan chủ yếu đến việc xác định tình trạng thực
tế của vụ việc, lựa chọn quy phạm pháp luật tương ứng và ra quyết định về vụ việc đó Các hành vi áp dụng pháp luật này được tiến hành theo những thủ tục hành chính nhất định Như vậy nếu thiếu các thủ tục cần thiết thì quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia trong hoạt động quản lý sẽ không được đảm bảo thực hiện TTHC là một nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức năng quản lý của cơ quan nhà nước, vì nó là chuẩn mực hành vi cho công dân và công chức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình
Trang 20đối với nhà nước Dựa vào các TTHC các công việc hành chính sẽ được xử lý
và đạt được những hiệu quả pháp luật đúng như dự định
Thứ hai, thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Xét trong quá trình giải quyết công việc của các cơ quan HCNN thì TTHC là cách thức, trình tự mà các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng để giải quyết các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Trình tự này có thể từ dưới lên, từ cấp trên xuống mà cũng có những trình tự thực hiện song hành
Nói như vậy có nghĩa là TTHC được phân biệt với thủ tục lập pháp và thủ tục tố tụng tư pháp
Thủ tục lập pháp là trình tự, cách thức xây dựng Hiến pháp và ban hành luật thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp; thủ tục tố tụng tư pháp thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp liên quan đến những hoạt động điều tra, truy
ta hiện nay đang chuyển từ hành chính cai trị sang hành chính phục vụ, làm dịch
vụ cho xã hội; từ quản lý tập trung sang cơ chế thị trường làm cho hoạt động quản lý hành chính đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức, biện pháp; đồng thời với xu hướng hợp tác quốc tế, đối tượng quản lý không chỉ trong phạm
vi nội bộ công dân trong nước mà còn liên quan đến các yếu tố nước ngoài Do vậy TTHC hiện nay rất đa dạng và phong phú, được biểu hiện cụ thể như sau:
Một là, TTHC là tổng thể các hành động diễn ra theo trình tự, được
thực hiện bởi nhiều cơ quan và công chức Nhà nước Ngoài cơ quan hành
Trang 21chính và công chức HCNN là những chủ thể chủ yếu tiến hành TTHC, theo quy định của pháp luật hiện hành, các cơ quan lập pháp, tư pháp cũng có loại hoạt động thực hiện một số TTHC nhất định Tuy nhiên, mỗi loại thủ tục đều có tính đặc thù riêng mà việc xây dựng và thực hiện chúng lệ thuộc một phần khá lớn vào nhận thức của các đối tượng có liên quan
Hai là, TTHC là thủ tục giải quyết công việc của Nhà nước và công
việc liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân Do vậy, đối tượng công việc cần thực hiện các TTHC để giải quyết thường không giống nhau mà rất phức tạp Có những thủ tục yêu cầu phải đơn giản, nhưng
có những thủ tục cần phải tỷ mỉ Việc xác định tính chất của một loại thủ tục
để thực hiện một công việc nào đó phải dựa vào chính thực tế yêu cầu của công việc đặt ra
Ba là, quản lý HCNN chủ yếu là hoạt động định hướng, cho phép,
nhiều trường hợp phải ra mệnh lệnh có tính chất đơn phương và đòi hỏi thi hành kịp thời nhằm giải quyết nhanh chóng có hiệu quả mọi công việc diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội Chính điều đó dẫn đến việc quy định TTHC phải kết hợp bởi những khuôn mẫu ổn định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc và từng loại đối tượng để đảm bảo công việc được giải quyết kịp thời theo từng trường hợp cụ thể
Bốn là, các TTHC do Nhà nước thực hiện chủ yếu tại văn phòng của
công sở Nhà nước và phương tiện truyền đạt quyết định cũng như các thông tin quản lý phần lớn là văn bản (công văn, giấy tờ) Vì thế, nó gắn chặt với công tác văn thư, với việc tổ chức, ban hành, sử dụng và quản lý văn bản trong các cơ quan Nhà nước TTHC được xác định qua nhiều loại giấy tờ khác nhau và được kiểm tra qua hoạt động của các văn phòng, các tổ chức, các cá nhân có quyền thực thi công vụ Chính vì vậy, phương tiện để phục vụ cho việc thực hiện TTHC trên thực tế rất đa dạng, linh hoạt
Trang 22Năm là, trong bối cảnh của quá trình hội nhập và mở cửa như hiện nay,
TTHC của các quốc gia trên thế giới cũng như của nước ta đều có sự ảnh hưởng và tác động lẫn nhau, đặc biệt là trong các lĩnh vực như xuất nhập khẩu, mậu dịch quốc tế, đầu tư nước ngoài,… Điều này đòi hỏi khi xem xét
và vận dụng các TTHC trong thực tế đối với những hoạt động có yếu tố nước ngoài tham gia chúng ta không thể không quan tâm đến các thông lệ quốc tế
Thứ tư, thủ tục hành chính có tính năng động hơn so với các quy phạm nội dung của luật hành chính, đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn để thích ứng
và phù hợp với nhu cầu thực tế của đời sống xã hội
Thủ tục hành chính do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra để giải quyêt công việc Trên một chừng mực rất đáng kể, nó lệ thuộc vào nhận thức chủ quan của chính những người xây dựng nên Nếu nhận thức đó phù hợp với thực tế khách quan thì thủ tục hành chính sẽ mang tính tiến bộ, thiết thực phục vụ cho cuộc sống Ngược lại, nếu nhận thức không phù hợp với yêu cầu khách quan thì sẽ xuất hiện những thủ tục hành chính lạc hậu Khi áp dụng vào quá trình điều hành của bộ máy nhà nước, chúng sẽ gây khó khăn cho sự phát triển của xã hội Do vậy, đây chính là yếu tố cần nhận thức đúng đắn giúp cho các nhà ban hành các quy định TTHC ban hành các quy định phù hợp với thực tế khách quan và tiến t nh phát triển kinh tế xă hội
1.1.3 Vai trò của thủ tục hành chính
TTHC với tư cách là bộ phận của thể chế hành chính ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý HCNN Đặc biệt trong tiến trình cải cách HCNN giai đoạn hiện nay, mục tiêu của nền hành chính là hướng tới việc quản lý Nhà nước một cách có hiệu lực, hiệu quả Do đó, TTHC đảm bảo tính pháp chế và đem lại hiệu quả hoạt động cho bộ máy Nhà nước nói chung
và các cơ quan HCNN nói riêng Hoạt động quản lý của các cơ quan HCNN
là tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm
vụ đã đặt ra TTHC đóng vai trò là cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể tiến
Trang 23hành thực hiện các hoạt động giải quyết công việc thuộc chức năng của mình, đồng thời là chuẩn mực để đánh giá và đảm bảo tính hợp pháp của quá trình thực hiện các nhiệm vụ công vụ Cũng nhờ đó mà hoạt động quản lý Nhà nước được đảm bảo tính công khai, minh bạch và tuân thủ nguyên tắc pháp chế
TTHC được quy định nhằm tạo ra trật tự trong hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước khi tiến hành các hoạt động quản lý của mình Có thể nói TTHC là các quy phạm thủ tục của luật hành chính quy định cách thức tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nên chúng tạo ra cơ sở và điều kiện cần thiết để các cơ quan quản lý nhà nước giải quyết các công việc của người dân theo luật định, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân Các tổ chức, công dân bên cạnh việc được tham gia đóng góp ý kiến trong hoạt động quản lý Nhà nước, còn tự bảo vệ quyền lợi hay lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan nhà nước bằng chính các quy định pháp luật về TTHC thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo Như vậy, việc tuân thủ TTHC là yếu tố bảo đảm hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, bảo đảm thực hiện các quyền tự do của cá nhân, tổ chức, tính công khai, minh bạch trong hoạt động chấp hành, điều hành và qua đó tạo điều kiện
để giám sát, kiểm soát hoạt động của các chủ thể tiến hành TTHC
Với tính chất là công cụ để các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính của mình, TTHC là nền tảng để hướng dẫn việc thực hiện pháp luật, là phương tiện đưa pháp luật vào đời sống xã hội Nếu không có TTHC thì mọi chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước ban hành sẽ khó được thực thi Những quy định của pháp luật muốn đi vào đời sống xã hội rất cần đến các thủ tục hành chính Các loại thủ tục hành chính quy định các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội giúp cho các hoạt động của thực tiễn xã hội được thực hiện thuận lợi, nhanh chóng và đồng bộ Có như vậy các quy định của pháp luật mới đi vào thực tiễn cuộc sống một cách nhanh chóng,
Trang 24đúng đắn, phù hợp với những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Nhìn một cách tổng quát, TTHC có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan trọng giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức, công dân Thủ tục hành chính phù hợp với thực tế, đơn giản, nhanh chóng, đem lại hiệu quả cao trong đời sống xã hội sẽ góp phần tạo niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước và cơ quan chính quyền Thủ tục hành chính như vậy sẽ thiết lập mối quan hệ thân thiện giữa Nhà nước và nhân dân; ngược lại sự bất cập trong các thủ tục hành chính là nguyên nhân khiến mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân ngày càng tách rời nhau
TTHC trên một phương diện nhất định là sự biểu hiện trình độ văn hóa của tổ chức Đây là văn hóa giao tiếp trong bộ máy nhà nước, văn hóa điều hành, nó thể hiện mức độ văn minh của một nền hành chính phát triển Chính
vì lẽ đó, cải cách TTHC sẽ không chỉ đơn thuần liên quan đến pháp luật, pháp chế mà còn liên quan đến sự phát triển chung của đất nước về các mặt chính trị, văn hóa, giáo dục và sự mở rộng giao lưu giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới
1.1.4 Phân loại các thủ tục hành chính
Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước cho thấy muốn xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phân loại chúng một cách khoa học theo một số tiêu chí nhất định Lợi ích của cách phân loại này là giúp cho người quản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mình phụ trách, từ đó
đề ra những yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này những thủ tục cần thiết thích hợp, nhằm quản lý tốt những nhiệm vụ, mục tiêu của quản lý nhà nước
Dưới đây là một số tiêu chí có thể giúp cho việc phân loại các TTHC khi nghiên cứu chúng trong thực tế:
Thứ nhất, phân loại theo đối tượng quản lý của Nhà nước
Trang 25Các TTHC được xây dựng cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân loại theo cơ cấu, chức năng của bộ máy quản lý nhà nước hiện hành Ví dụ: Thủ tục cấp giấy phép xây dựng, thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục hộ tịch, hộ khẩu
Thứ hai, phân loại theo công việc của cơ quan Nhà nước
Cách phân loại này đơn giản có khả năng áp dụng rộng rãi Theo cách phân loại này, TTHC bao gồm:
Thủ tục thông qua và ban hành văn bản (thủ tục thông qua và ban hành quyết định hành chính, thủ tục thông qua và ban hành văn bản hành chính);
Thủ tục tuyển dụng cán bộ, công chức (thủ tục tuyển dụng cán bộ quản
lý, tuyển dụng cán bộ kỹ thuật, tuyển dụng nhân viên );
Thủ tục khen thưởng cán bộ, công chức
Đặc điểm của các thủ tục trên là chúng gắn liền với hoạt động cụ thể của các cơ quan, phản ánh tính đặc thù trong quá trình vận dụng các thủ tục đó vào thực tiễn Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp cho các chủ thể TTHC định hướng dễ dàng và chính xác hơn trong giải quyết các công việc
có liên quan
Thứ ba, phân loại theo chức năng chuyên môn
Cách phân loại này thường được áp dụng trong các cơ quan có chức năng quản lý chuyên môn Các cơ quan chuyên môn thực hiện các hoạt động của mình phải đảm bảo những thủ tục cần thiết theo yêu cầu chung của Nhà nước
Theo cách phân loại này, có các loại TTHC như sau: Thủ tục cung cấp các dịch vụ thông tin, thủ tục kiểm tra mức độ an toàn trong lao động, thủ tục hải quan …
Thứ tư, phân loại theo quan hệ công tác
Cách phân loại này còn thường được gọi là phân loại theo tính chất quan hệ TTHC Theo cách phân loại này, có ba nhóm thủ tục sau đây:
Trang 26TTHC nội bộ: Là thủ tục thực hiện các công việc nội bộ trong cơ quan
nhà nước, trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung Chúng bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới; quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan cùng cấp, ngang cấp, ngang quyền; quan hệ công tác giữa chính quyền cấp tỉnh với các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan chuyên môn của UBND cấp trên TTHC nội bộ thường là thủ tục ban hành những quyết định chủ đạo, thủ tục ban hành quyết định quy phạm, thủ tục ban hành các quyết đinh cá biệt nội bộ, thủ tục khen thưởng kỷ luật, thủ tục lập các tổ chức
và thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ nhà nước,
TTHC thực hiện thẩm quyền: Là thủ tục tiến hành giải quyết các công
việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính; trưng thu, trưng mua các động sản và bất động sản của tổ chức và công dân khi nhà nước có yêu cầu giải quyết nhiệm vụ nhất định vì lợi ích cộng đồng Thủ tục này nói lên mối quan
hệ pháp lý giữa quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan nhà nước và của công dân Khi thực hiện các thủ tục này, cơ quan HCNN và các công chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết các công việc, tình huống cụ thể, làm xuất hiện các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân và tổ chức công dân TTHC thực hiện thẩm quyền gồm: thủ tục cho phép, thủ tục ngăn cấm hay cưỡng chế thi hành, thủ tục trưng thu, trưng mua, trưng dụng
TTHC văn thư: Đây là những thủ tục liên quan đến toàn bộ các hoạt
động lưu trữ, xử lý, cung cấp công văn giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới hình thức văn bản để phục vụ cho việc giải quyết một công việc nhất định Loại thủ tục này có liên quan chặt chẽ với hoạt động văn thư và thường xuyên xảy ra trong hoạt động của các cơ quan HCNN
Trang 27Tóm lại, việc phân loại các TTHC như vừa trình bày ở trên chỉ có ý nghĩa tương đối, rất nhiều trường hợp một loại TTHC này có thể xếp vào một loại khác do giữa chúng có những mặt tương đồng và xen kẽ nhau
cá nhân Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi:
Một là, các cơ quan nhà nước phải có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin, và các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ cung cấp một cách chính xác, đầy đủ các thông tin khi được yêu cầu Ngoài ra các cơ quan nhà nước phải có một chế độ công vụ rõ ràng và khoa học, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, rành mạch
Hai là, các cơ quan cần có đủ cán bộ có trình độ nghiệp vụ để thực thi công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn và có trách nhiệm cao với công việc được giao và đảm bảo được trang bị những phương tiện vật
Trang 28chất phù hợp, cần thiết phục vụ cho việc bảo quản, xử lý, lưu trữ và tìm kiếm thông tin như hệ thống sổ sách, các thiết bị CNTT…
Chính vì vậy, các cơ quan phải có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, giáo dục đạo đức chính trị tư tưởng, có chế độ đãi ngộ hợp lý và trang bị những phương tiện vật chất đầy đủ
Thứ ba, thủ tục hành chính phải rõ ràng và được thực hiện công khai
Thủ tục hành chính phải rõ ràng Đây là một nguyên tắc quan trọng vì
sự thiếu rõ ràng của hệ thống thủ tục hành chính trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân, tổ chức khi đến cơ quan quản lý nhà nước để xin giải quyết một vấn đề nào đó Sự không rõ ràng của thủ tục hành chính cũng nảy sinh tiêu cực trong thực hiện thủ tục hành chính Bởi vì người dân không biết mình phải thực hiện những quy định gì, các quy định đó được giải quyết ở đâu Thủ tục hành chính rõ ràng đòi hỏi thủ tục hành chính phải được xây dựng một cách khoa học, hợp
lý, dễ hiểu và dễ thực hiện
Thủ tục hành chính phải công khai Công khai hoá quy trình, thủ tục hành chính, đặc biệt trong việc giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân, các tổ chức là đều kiện góp phần tăng hiệu quả của quá trình giải quyết các yêu cầu Công dân, các tổ chức biết rõ được họ cần phải làm gì, cần chuẩn bị những vấn đề gì, loại giấy tờ gì trước khi đến cơ quan yêu cầu giải quyết công việc Mặt khác người thừa hành công vụ sẽ không có điều kiện để lợi dụng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân Công khai còn là cơ sở để kiểm tra quá trình thực hiện thủ tục, do đó nó là căn cứ để đánh giá trách nhiệm của nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ với dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức thực hiện thủ tục hành chính
Như vậy, công khai các thủ tục hành chính cũng là sự biểu hiện cao nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho hệ thống pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh
Trang 29Thứ tư, các bên tham gia thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật
Giữa chủ thể tham gia và chủ thể thực hiện thủ tục hành chính bình đẳng với nhau trước pháp luật Cụ thể là:
Đối với chủ thể tham gia, là cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định, phải đảm bảo có đủ giấy tờ cần thiết có giá trị pháp lý mà pháp luật quy định
Đối với chủ thể thực hiện thủ tục hành chính, phải giải quyết yêu cầu, đòi hỏi của công dân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện luật định Cần tránh tình trạng yêu cầu của dân gởi đến cơ quan nhà nước không được giải quyết kịp thời, mặc dù thủ tục hoàn toàn đầy đủ, chính xác
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi những quy định về thủ tục hành chính phải rõ ràng, cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, nội dung, thời hạn giải quyết công việc của cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền
Thứ năm, thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản tiết kiệm
Thực tế cho thấy, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp qua nhiều cửa khác nhau, vì vậy, nguyên tắc thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản, tiết kiệm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giảm phiền hà, tốn kém cho người dân và doanh nghiệp
Thủ tục hành chính đơn giản, tiết kiệm sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế Điều này đòi hỏi phải giảm bớt các cấp, các cửa các giai đoạn Giảm tới mức tối thiểu và trong nhiều thủ tục bỏ hẳn các loại phí, lệ phí đối với công dân, tổ chức Do đó, nhà nước phải rà soát lại các văn bản pháp luật
về thủ tục hành chính, bãi bỏ các cửa, các cấp các khâu và các loại giấy tờ không cần thiết; Cần có sự phân công rành mạch rõ ràng trách nhiệm giữa các
cơ quan, bộ phận trong cùng một cơ quan và từng cán bộ có thẩm quyền, tránh sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ,sự đùn đẩy trách nhiệm; Cần phải nhanh nhạy sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin vào việc thực hiện thủ
Trang 30tục hành chính; Nâng cao trình độ nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm, kỹ năng giao tiếp của cán bộ, công chức thực hiện thủ tục hành chính
1.2 Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
1.2.1 Khái niệm cơ chế “một cửa” và cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã chỉ rõ sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Yêu cầu chung của cải cách thủ tục hành chính là đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt các thủ tục rườm rà và phức tạp, tiết kiệm thời gian và chi phí cho tổ chức, công dân
Nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2015 thay thế Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Theo đó, “cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước” [14] Đây được coi như là một
giải pháp mang tính đột phá trong cải cách TTHC, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, công dân
Trước đây, khi chưa áp dụng cơ chế “một cửa”, tổ chức, công dân phải
đi lại nhiều lần, đến một hoặc nhiều cơ quan để liên hệ giải quyết công việc của mình Nay với cơ chế “một cửa”, tổ chức công dân chỉ phải đến liên hệ tại một nơi, việc phối hợp giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc trách
Trang 31nhiệm của cơ quan HCNN Bản chất của cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” là nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà và không cần thiết, tập trung việc giải quyết các dịch vụ hành chính vào một đầu mối thống nhất để tiện lợi cho người dân và các tổ chức khi có yêu cầu giải quyết công việc mà Nhà nước cần quản lý
Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nước ta đã từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” có ý nghĩa vô cùng quan trọng, trước hết về mặt quản lý hành chính, đó là bước cải thiện cơ chế phối hợp Về mặt cung ứng dịch vụ công, đó là bước đệm trong giai đoạn hiện nay để hướng đến quá trình hình thành cơ quan, tổ chức hoạt động dịch vụ công (tách biệt với cơ quan chức năng quản lý hành chính) Bên cạnh đó, hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chính, trong đó có thủ tục hành chính cũng là một nhu cầu cấp bách để nâng cao hơn nữa chất lượng cung ứng dịch vụ công cho người dân, tiến tới xây dựng thành công Chính phủ điện tử Với nhiệm vụ đó, nhiều tỉnh thành phố trong cả nước đã chỉ đạo và đưa công nghệ thông tin với các phần mềm hiện đại vào việc giải quyết công việc theo cơ chế “một cửa” Từ đó, mô hình “một cửa hiện đại” đã
ra đời ở nhiều địa phương Có thể nói, mô hình “một cửa hiện đại” là việc ứng dụng công nghệ thông tin và thiết bị chuyên dụng vào quy trình tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính của tổ chức, công dân; đồng thời, qua đó bảo đảm bộ máy hoạt động và chỉ đạo, điều hành liên tục, thông suốt, chuyên nghiệp, có hiệu quả Việc triển khai mô hình này đã góp phần làm đơn giản hóa và minh bạch hóa các thủ tục hành chính đối với tổ chức và công dân
Phú Thọ cũng như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước đã tiến hành triển khai thí điểm mô hình “một cửa hiện đại” tại Thành phố Việt Trì để làm
Trang 32cơ sở nhân rộng ra các địa phương khác trong toàn tỉnh Cụ thể, đầu năm
2014 mô hình “một cửa hiện đại” của Thành phố Việt Trì chính thức đi vào hoạt động Mặc dù, mô hình “một cửa hiện đại” ở thành phố Việt Trì ra đời muộn hơn so với các tỉnh, thành trong cả nước; song mô hình này bước đầu
đã góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương và có những đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế -
1.2.2 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
Cải cách hành chính ở Việt Nam giai đoạn hiện nay được triển khai trên nhiều nội dung, trong đó, cải cách TTHC được xem như là khâu đột phá của tiến trình cải cách HCNN, là một trong sáu nội dung quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ Có thể nói, cải cách TTHC nói riêng và cải cách hành chính nói chung là một nhu cầu tất yếu khách quan của quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, cụ thể:
Xuất phát từ nền kinh tế của Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế trị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trước đây, trong thời kỳ chiến tranh, bao cấp, chúng ta chưa tiến hành CCHC được Trước sự phát triển của nhu cầu và sự gia tăng của khối lượng công vụ, nền hành chính bắt buộc phải được cải cách
Mặt khác, trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều cơ hội và thử thách; cùng với sự phát triển của đất nước, có rất nhiều lĩnh vực mới ra đời, nhu cầu giải quyết các yêu cầu của người dân ngày càng tăng, các loại TTHC cũng như quy trình giải quyết có từ lâu vốn đã quá rườm rà, phức tạp, nay lại càng không phù hợp Muốn thu hút đầu tư, muốn phát triển đất nước thì TTHC càng phải đơn giản, thuận tiện nhưng cũng vẫn phải đảm bảo tính pháp lý, chặt chẽ và đầy đủ
Trang 33Xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng, nhu cầu của người dân ngày càng đa dạng, với vai trò là đầu mối cung cấp các dịch vụ công và quản lý xã hội đi vào nề nếp, trật tự thì đòi hỏi hệ thống quản lý hành chính của mỗi quốc gia cần phải thay đổi, cải tiến để thích ứng, đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển của xã hội, mà trước hết là những nhu cầu thiết yếu đảm bảo cho đời sống của nhân dân được ổn định và phát triển kinh tế xã hội
Hoạt động quản lý HCNN được thể hiện trên hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, cho đến an ninh - quốc phòng, đối ngoại, Chức năng quản lý nhà nước không chỉ nhằm bảo vệ pháp luật, chế độ chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các quyền hợp pháp của mọi công dân và tổ chức, mà còn tạo điều kiện, môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi cho các tổ chức và công dân làm ăn, sinh sống Việc tạo điều kiện, môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức công dân sinh sống, phát triển kinh tế thường được xác định như là một chính sách; còn trên thực tế, sự thuận lợi hay khó khăn trong làm ăn, sinh sống của người dân cũng như niềm tin của họ với nhà nước như thế nào lại được thẩm định thông qua các quy định thủ tục hành chính và cách thức giải quyết các thủ tục ấy
lý Nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ chế kinh tế
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng trong giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức, loại
bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo, bất hợp lý, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân Cơ chế “một cửa” là giải pháp đổi mới về phương thức làm việc của cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương
Trang 34các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan HCNN với các tổ chức và công dân Việc thực hiện cơ chế “một cửa” được coi là một trong những biện pháp mang tính đột phá trong việc cải cách thủ tục hành chính ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.2.3 Nguyên tắc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa”
Việc áp dụng thực hiện cơ chế “một cửa” cần đảm bảo các nguyên tắc:
Thứ nhất, TTHC đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật
Thực tế cho thấy, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp qua nhiều cửa khác nhau vì vậy, nguyên tắc thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản, tiết kiệm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giảm phiền hà, tốn kém cho người dân và doanh nghiệp
Thủ tục hành chính đơn giản, tiết kiệm sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế Điều này đòi hỏi phải giảm bớt các cấp, các cửa, các giai đoạn
Do đó, nhà nước phải rà soát lại các văn bản pháp luật về thủ tục hành chính, bãi bỏ các loại giấy tờ không cần thiết; cần có sự phân công rành mạch rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan, bộ phận trong cùng một cơ quan và từng cán bộ có thẩm quyền, tránh sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, sự đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau
Thủ tục hành chính phải rõ ràng Đây là một nguyên tắc quan trọng vì
sự thiếu rõ ràng của hệ thống thủ tục hành chính trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân, tổ chức khi đến cơ quan quản lý nhà nước để xin giải quyết một vấn đề nào đó Sự không rõ ràng của thủ tục hành chính cũng nảy sinh tiêu cực trong thực hiện thủ tục hành chính
Giữa chủ thể tham gia và chủ thể thực hiện thủ tục hành chính bình đẳng với nhau trước pháp luật Cụ thể, đối với chủ thể tham gia, là cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ
Trang 35các thủ tục do pháp luật quy định, phải đảm bảo có đủ giấy tờ cần thiết có giá trị pháp lý mà pháp luật quy định Ngược lại, đối với chủ thể thực hiện thủ tục hành chính, phải giải quyết yêu cầu, đòi hỏi của công dân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện luật định Cần tránh tình trạng yêu cầu của dân gởi đến
cơ quan nhà nước không được giải quyết kịp thời, mặc dù thủ tục hoàn toàn đầy đủ, chính xác Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi những quy định về thủ tục hành chính phải rõ ràng, cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, nội dung, thời hạn giải quyết công việc của cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền
Thứ hai, công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ,
hồ sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân
Thủ tục hành chính phải công khai Công khai hoá quy trình, thủ tục hành chính, đặc biệt trong việc giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân, các tổ chức là đều kiện góp phần tăng hiệu quả của quá trình giải quyết các yêu cầu Công dân, các tổ chức biết rõ được họ cần phải làm gì, cần chuẩn bị những vấn đề gì, loại giấy tờ gì trước khi đến cơ quan yêu cầu giải quyết công việc Mặt khác người thừa hành công vụ sẽ không có điều kiện để lợi dụng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân Công khai còn là cơ sở để kiểm tra quá trình thực hiện thủ tục, do đó nó là căn cứ để đánh giá trách nhiệm của nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ với dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức thực hiện thủ tục hành chính
Thứ ba, nhận yêu cầu và trả lại kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là đầu mối tập trung hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ của các nhân, tổ chức để chuyển đến các cơ quan chuyên môn hoặc cấp có thẩm quyền giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại là bộ phận được trang bị các thiết bị hiện đại và ứng dụng phần mềm điện tử trong các giao dịch hành chính giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan hành chính nhà nước và giữa các cơ
Trang 36quan hành chính nhà nước với nhau trong việc công khai, hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ để chuyển đến các cơ quan chuyên môn giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức theo cơ chế “một cửa” trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước
Thứ tư, bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, đúng thời gian cho tổ chức, công dân
Trong thực hiện công tác CCHC, việc đề xuất những giải pháp để đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, đúng thời gian cho tổ chức, công dân là vô cùng cần thiết Muốn thực hiện được điều đó thì bảng công khai
thủ tục hành chính phải rõ ràng, đầy đủ, đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu Phân rõ từng
loại thủ tục hành chính, tránh nhập nhằng, khó hiểu Đặc biệt là nội dung công khai phải ngắn gọn, không dài dòng, phức tạp, đảm bảo cho người dân dễ tiếp cận và thực hiện Và một điều không thể thiếu là khi có thay đổi nội dung thủ tục hành chính theo quy định của cấp trên thì phải cập nhật ngay những nội dung thay đổi vào bảng công khai để người dân biết và thực hiện đúng Không để các nội dung công khai đã cũ, hết hiệu lực trên bảng công khai để tránh nhầm lẫn
Thứ năm, đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận,
cơ quan hành chính nhà nước để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân
Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc của tổ chức và công dân là trách nhiệm của các bộ phận chuyên môn thuộc UBND các cấp và các ban, ngành có liên quan Thường xuyên theo dõi, cập nhật những thay đổi quy định về thủ tục, trình tự, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, công dân do cấp có thẩm quyền ban hành để đưa
vào áp dụng
1.2.4 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
Bước 1 Tiếp nhận hồ sơ
Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy định nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến;
Trang 37Công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ: Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết; trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cụ thể;
Công chức tiếp nhận hồ sơ nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử (nếu có); lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả Trường hợp công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được phân công giải quyết hồ sơ thì nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử;
Đối với hồ sơ quy định giải quyết và trả kết quả ngay, không phải lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức;
Đối với hồ sơ quy định có thời hạn giải quyết: Công chức lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định
và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức
Bước 2 Chuyển hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ theo quy định, công chức lập phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ theo mẫu; chuyển hồ sơ và phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ cho cơ quan, tổ chức liên quan giải quyết Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ được chuyển theo hồ sơ và lưu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Bước 3 Giải quyết hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, phân công CB, CC giải quyết như sau:
Trường hợp không quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết
hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
Trường hợp có quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức báo cáo người có thẩm quyền phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực hiện
Trang 38Quá trình thẩm tra, xác minh phải được lập thành hồ sơ và lưu tại cơ quan giải quyết;
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh chưa đủ điều kiện giải quyết: Công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà cơ quan, tổ chức
đã giải quyết lần đầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ;
Các hồ sơ sau khi thẩm định không đủ điều kiện giải quyết, công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ và thông báo bằng văn bản nêu rõ lý
do không giải quyết hồ sơ Thông báo được nhập vào mục trả kết quả trong
Sổ theo dõi hồ sơ Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định;
Các hồ sơ quá hạn giải quyết: Cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và văn bản xin lỗi cá nhân, tổ chức, trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả
Bước 4 Trả kết quả giải quyết hồ sơ
Công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhập vào Sổ theo dõi hồ
sơ và phần mềm điện tử (nếu có) và thực hiện như sau:
Các hồ sơ đã giải quyết xong: Trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức và thu phí, lệ phí (nếu có); trường hợp cá nhân, tổ chức đã đăng ký nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính thì việc trả kết quả, thu phí, lệ phí (nếu có) và cước phí được thực hiện qua dịch vụ bưu chính; nếu thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 thì việc trả kết quả và thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định;
Đối với hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức
để yêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ
Trang 39và văn bản xin lỗi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (nếu là lỗi của công chức khi tiếp nhận hồ sơ);
Đối với hồ sơ không giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để trả lại
hồ sơ kèm theo thông báo không giải quyết hồ sơ;
Đối với hồ sơ quá hạn giải quyết: Thông báo thời hạn trả kết quả lần sau và chuyển văn bản xin lỗi của cơ quan, tổ chức làm quá hạn giải quyết cho cá nhân,
tổ chức;
Đối với hồ sơ giải quyết xong trước thời hạn trả kết quả: Liên hệ để cá nhân, tổ chức nhận kết quả;
Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa đến nhận hồ sơ theo giấy tiếp nhận
hồ sơ và hẹn trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Biểu 1.1: Sơ đồ quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa”
Nguồn: thuvienphapluat.vn
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong quá trình cải cách nền hành chính Nhà nước, việc tìm hiểu, nắm vững các vấn đề về lý luận và thực tiễn của thủ tục hành chính đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu không chỉ với CB, CC trong cơ quan nhà nước,
mà còn cần thiết cho nhiều đối tượng khác để phục vụ cho hoạt động của các
Có thể nói, cải cách TTHC được xem như là một nhu cầu tất yếu khách quan của quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay Yêu cầu chung của cải cách TTHC là đơn giản hóa TTHC, giảm bớt các thủ rườm rà và phức tạp, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các tổ chức, công dân
Cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” đã được cụ thể hóa trong văn bản quy phạm pháp luật Do đó, việc thực hiện cơ chế “một cửa” phải tuân thủ theo những nguyên tắc và quy trình nhất định Việc áp dụng những