Lý do chọn đề tài luận văn Bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân HĐND các cấp ở nước ta luôn là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn
Trang 1HÀ NỘI – 2019
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG XUÂN PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên giúp đỡ của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Trước tiên tôi xin phép gửi lời cảm ơn Tiến sĩ Đặng Xuân Phương- người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện để hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Học viện Hành chính quốc gia cùng toàn thể các thầy cô, các nhà khoa học đã tham gia giảng dạy
đã trang bị những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại học viện
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc tiếp thu, trao đổi những kiến thức đóng góp của quý thầy, cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp đã tham khảo thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, song khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự thông tin, góp ý của quý thầy, cô và bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀTỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT10 BẦU CỬ Ở NƯỚC TA 10
1.1.Khái niệm “ bầu cử” và “ pháp luật bầu cử” 10
1.1.1 Khái niệm “bầu cử” 10
1.1.2 Khái niệm “pháp luật bầu cử” 12
1.2.Khái niệm, chủ thể, đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta 13
1.2.1 Khái niệm “tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử” 13
1.2.2 Các chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta 15
1.2.3 Đặc điểm về tổ chức pháp luật bầu cử ở nước ta 16
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật bầu cử ở nước ta 17
1.3.Các nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử trên địa bàn cấp huyện19 1.3.1 Khái quát các nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta 19 1.3.2 Các nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở cấp huyện, cấp xã 20 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 45 2.1 Khái quát về vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế, xã hội tác động đến việc tổ
Trang 6chức thực hiện pháp luật bầu cử tại huyện Hoài Đức 45
2.2.Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử tại huyện Hoài Đức
trong thời gian vừa qua 47
2.2.1 Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, chia đơn vị bầu cử đại
biểu HĐND cấp huyện và đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp xã; xác định
khu vực bỏ phiếu ở các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hoài Đức 49
2.2.2 Công tác lập và niêm yết danh sách cử tri trên địa bàn huyện Hoài Đức56 2.2.3 Công tác bảo đảm quyền ứng cử và tổ chức hiệp thươnglập danh
sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND huyện, đại biểu
HĐND xã trên địa bàn huyện Hoài Đức 59
2.2.4 Công tác hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bầu cử
trên địa bàn huyện Hoài Đức 67
2.2.5 Công tác tổ chức vận động bầu cử trên địa bàn huyện Hoài Đức 76
2.2.6 Công tác tổ chức “ngày bầu cử” trên địa bàn huyện Hoài Đức 77
2.2.7 Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bầu cử trên địa bàn
huyện Hoài Đức 83
2.2.8 Tổng kết cuộc bầu cử trên địa bàn huyện Hoài Đức 84
2.3.Đánh giá công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử tại huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội 90
2.3.1 Về ưu điểm 91
2.3.2 Về hạn chế và nguyên nhân 92
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC -
Trang 73.1.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử cần chú trọng chất lượng ứng
3.2.1.Đổi mới và nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền huy
3.2.2.Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bầu cử nhất là các quy định về trách nh
3.2.3.Tăng cường đầu tư kinh phí, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tuyên truy 3.2.4.Nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp lu
3.2.5 Tăng cường giám sát đối với công tác tổ chức bầu cử 109
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê khu vực bỏ phiếu trên địa bàn huyện Hoài Đức Cuộc bầu
cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND nhiệm kỳ
2016-2021 51 Bảng 2.2 Công bố danh sách chính thức số đơn vị bầu đại biểu HĐND
huyện, số đại biểu được bầu, số người ứng cử đại biểu HĐND huyện Hoài Đức khóa XIX, nhiệm kỳ 2016- 2021 tại đơn vị bầu cử: 52 Bảng 2.3 Công bố danh sách chính thức số đơn vị bầu cử, số đại biểu được
bầu và số người ứng cử đại biểu HĐND xã, thị trấn tại đơn vị bầu cử trên địa bàn huyện Hoài Đức, nhiệm kỳ 2016-2021 54 Bảng 2.4 Kết quả hiệp thương Cuộc bầu cử năm 2011 và Cuộc bầu cử năm
2016 trên địa bàn huyện Hoài Đức 65 Bảng 2.5 Báo cáo kết quả công tác tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội và
đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn huyện Hoài Đức 72 Bảng 2.6 Kết quả bầu cử đại biểu HĐND huyện năm 2011 và 2016 87
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 2.1 Kết quả hiệp thương Cuộc bầu cử năm 2011 và Cuộc bầu cử năm
2016 trên địa bàn huyện Hoài Đức 63 Biều đồ 2.2 Kết quả bầu cử đại biểu HĐND huyện năm 2011 và 2016 theo
cơ cấu kết hợp 87 Biều đồ 2.3 Kết quả bầu cử đại biểu HĐND huyện năm 2011 và 2016 theo
cơ cấu độ tuổi 88 Biều đồ 2.4 Kết quả bầu cử đại biểu HĐND huyện năm 2011 và 2016 theo
cơ cấu trình độ 88
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp ở nước ta luôn là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; cử tri cả nước tham gia bầu cử với tỉ lệ rất cao; những người được cử tri lựa chọn bầu vào các cơ quan đại diện đã phát huy tốt vai trò của mình, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc Quốc hội khóa XIII thông qua Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015(sau đây gọi tắt là Luật bầu
cử 2015) đã tạo một cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm
kỳ 2016-2021 vừa qua, về cơ bản luật bầu cử 2015 đã tháo gỡ được một số vướng mắc trong các luật bầu cử trước đây, đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác bầu cử Tuy nhiên, khi triển khai Luật trên thực tế một số quy định về lập danh sách cử tri, quyền ứng cử, vận động bầu cử, hiệp thương lựa chọn tiếp xúc cử tri,…vẫn còn nhiều ràng buộc, hạn chế quyền của công dân tham gia bầu cử và ứng cử
Công việc liên quan đến quá trình bầu cử được các cơ quan có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương nghiên cứu, tổ chức thực hiện nghiêm túc, đúng pháp luật và đã thành nề nếp Là một huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội, công tác tổ chức bầu cử tại huyện Hoài Đức cho thấy: việc thi hành pháp luật
về bầu cử được các cơ quan, tổ chức đơn vị và nhân dân thực hiện nghiêm túc, từ việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, tổ chức các hội nghị quán triệt, phổ biến, hội nghị hiệp thương, xây dựng kế hoạch cụ thể cho công tác
Trang 11tuyên truyền, đảm bảo an ninh trật tự, vận động bầu cử, giải quyết khiếu nại,
tố cáo về bầu cử, lập danh sách cử tri, tổ chức ngày bầu cử, tổng kết công tác bầu cử,…
Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực đã được ghi nhận của đảng bộ và các cấp chính quyền huyện Hoài Đức, công tác tổ chức bầu cử của huyện trong một
số nhiệm kỳ vừa qua, đôi khi còn lúng túng, công tác chỉ đạo có lúc chưa kịp thời Về quy trình, thủ tục và phương pháp tổ chức bầu cử đã có những thay đổi tích cực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao quyền làm chủ của người dân, song cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập: công tác tổ chức hiệp thương một số xã còn mang tính hình thức, vẫn còn tình trạng người đủ tiêu chuẩn thì chưa chắc nằm trong cơ cấu và người nằm trong cơ cấu chưa chắc đã đủ tiêu chuẩn, sau hiệp thương nhiều người trong danh sách ứng cử chính thức đại biểu HĐND xã chưa được cử tri tín nhiệm, các hội nghị tiếp xúc cử tri còn chưa thực sự hiệu quả Bởi vậy, sau tổng kết bầu cử, Hoài Đức là huyện có tỷ
lệ cử tri tham gia bỏ phiếu rất cao, trên 99%, nhưng việc phải bầu cử thêm vẫn xảy ra ở một số xã
Qua nghiên cứu thực tiễn công tác tổ chức bầu cử tại huyện Hoài Đức trong một số nhiệm kỳ gần đây, tác giả chỉ ra những thuận lợi và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức bầu cử trước và sau khi có Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015, trên cơ sở đó có đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả công tác tổ chức thực hiện pháp luật bầu cử của huyện Hoài Đức trong nhiệm kỳ tiếp theo
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật về
bầu cử tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” để làm luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của mình
Mặc dù đã rất nỗ lực, song do những giới hạn về thời gian và nguồn tài liệu,
Trang 12luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong muốn nhận được
sự góp ý của các nhà khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 132 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật bầu cử như:
Vũ Văn Nhiêm “Chế độ bầu cử ở nước ta - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, luận án tiến sĩ ngành lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, năm bảo vệ 2009 Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chế độ bầu cử Việt Nam, phân tích rất chi tiết sự phát triển của chế độ bầu cử ở nước ta từ cuộc tổng tuyển cử bầu quốc dân đại hội năm 1946 đến nay, làm rõ những thành tựu và những vấn đề còn tồn tại, luận án đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta
Trần Diệu Hương “ Hoàn thiện pháp luật về bầu cử - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, luận văn thạc sĩ ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội,bảo vệ năm 2013 Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bầu cử, cơ chế đại diện, phương thức thực hiện quyền bầu cử, ứng cử; phương thức tiến hành bầu cử.Phạm vi nghiên cứu của luận văngiới hạn thực tiễn hoạt động bầu cử ở nước ta trong thời gian từ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội từ khóa XI,XII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khóa 2004-2009, những vấn đề pháp lý đặt ra đối với cuộc bầu cử chung đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011- 2016, luận văn đã đưa ra những nhận xét, khuyến nghị về việc sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh cơ sở lý luận và quy trình bầu cử nhằm hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu ở nước ta
Nguyễn Thế Quyết “ Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, khoa Luật - Đại học quốc gia
Hà Nội, bảo vệ năm 2014 Luận văn đã làm rõ hơn những vấn đề lý luận và đánh giá thực tiễn tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở Việt
Trang 14Nam, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở nước ta
Các bài viết về bầu cử rất phong phú và đa dạng:
PGS.TS Vũ Văn Phúc “Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở nước ta hiện nay” đăng trên Tạp chí cộng sản (điện tử) ngày 13/5/2016, bài viết đã phân tích rất cụ thể các nguyên tắc cơ bản của bầu cử nước ta quy định trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu “Quá trình hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí cộng sản (điện tử) ngày 15/5/2016, bài viết đã khái quát về quá trình phát triển pháp luật về bầu cử của Việt Nam,trong đó phân tích những điểm mới trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015
ThS Bùi Hải Thiêm “ So sánh một số hệ thống bầu cử trên Thế giới”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 8 (tháng 4/2011), bài viết đã phân tích các hệ thống bầu cử phổ biến trên thế giới, có sự sánh những điểm lợi và các khiếm khuyết, tác giả đưa ra một số kinh nghiệm đã được các chuyên gia quốc tế đúc rút từ việc thiết kế các hệ thống bầu cử trên thế giới để áp dụng cho hệ thống bầu cử tại Việt Nam
Các tác giả thông qua các công trình, bài viết nói trên đã đề cập trực tiếp về chế độ bầu cử hay một khía cạnh của chế độ bầu cử, về cơ quan quản lý bầu
cử hay các gợi ý thiết kế hệ thống bầu cử cho Việt Nam…
Tuy nhiên, cho đến nay, tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở cấp huyện, cấp xã, cụ thể là huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là đề tài mà tác giả chưa thấy có công trình nghiên cứu Vì vậy, đề tài luận văn này không trùng lặp với công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tiễn tổ chức thực hiện các quy
định pháp luật về bầu cử ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong một số nhiệm kỳ gần đây (cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021), luận văn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử trên địa bàn huyện Hoài Đức nói riêng và cấp huyện, cấp xã nói chung cho các nhiệm kỳ tiếp theo
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
Một là, luận văn làm rõ cơ sở lý luận của nước ta về công tác tổ chức thực
hiện pháp luật bầu cử ở cấp huyện và cấp xã
Hai là, luận văn nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn việc tổ chức bầu cử tại
huyện Hoài Đức - thành phố Hà Nội trong hai cuộc bầu cử gần đây nhất, chỉ
ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân,trên cơ sở đó đề ra phương hướng
và giải pháp cho các cuộc bầu cử tiếp theo trên địa bàn huyện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác Tổ chức thực hiện pháp luật về
bầu cử từthực tiễn huyện Hoài Đức -thành phố Hà Nội liên quan đến trách nhiệm của các chủ thể như các cấp ủy Đảng, chính quyền cấp huyện, chính quyền cấp xã, ủy ban bầu cử (UBBC) cấp huyện, UBBC cấp xã, ban bầu cử đại biểu HĐND cấp huyện, ban bầu cử đại biểu HĐND cấp xã, các tổ bầu cử, mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã,…
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: tác giả nghiên cứu trên phạm vi địa bàn huyện Hoài Đức,
Trang 165 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; pháp luật của nhà nước; đường lối, chính sách của đảng về đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ, pháp quyền xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành bằng cách sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như:
- Phân tích các tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước
- Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu, kết quả trong phạm vi thời gian nghiên cứu
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn xem xét từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữalý luận, các quy định của pháp luật bầu cử với thực tiễn
tổ chức thực hiện
Trang 17- Phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh được sử dụng trong luận văn nhằm đối chiếu các vấn đề tương ứng trong tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử giữa nhiệm kỳ sau với nhiệm kỳ trước, giữa Việt Nam với tổ chức bầu
cử ở địa phương của một số nước trên thế giới để nhìn nhận những yếu tố hợp
lý, nhất là dưới góc độ tổ chức, quản lý
Trang 186 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: luận văn hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luậnvề tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cửtại cấp huyện và cấp xã
- Về mặt thực tiễn: luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và ứng dụng trong công tác tổ chức bầu cử tại huyện Hoài Đức - thành phố Hà Nội trong các cuộc bầu cử tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta Chương 2 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử tại huyện Hoài
Đức - thành phố Hà Nội
Chương 3 Phương hướng và giải pháp bảo đảm hiệu quả tổ chức thực hiện
pháp luật về bầu cử tại huyện Hoài Đức - thành phố Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀTỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
BẦU CỬ Ở NƯỚC TA
1.1 Khái niệm “ bầu cử” và “ pháp luật bầu cử”
1.1.1 Khái niệm “bầu cử”
Bầu cử là một chế định trọng tâm của các chính thể dân chủ đại diện Chủ quyền nhân dân (quyền lực nhà nước) là bản chất và là đặc trưng các nhà nước và xã hội dân chủ Tuy nhiên, việc thực thi chủ quyền nhân dân thì vấn
đề lại không đơn giản trong các nhà nước và xã hội Có hai hình thức cơ bản
để thực hiện quyền lực nhân dân là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Dân chủ trực tiếp là việc người dân trực tiếp quyết định các vấn đề của họ, mà không cần qua các đại diện hoặc cơ quan trung gian Về phương diện lý luận, dân chủ trực tiếp mới thực sự là dân chủ, vì nhân dân trực tiếp quyết định nhưng về phương diện tổ chức thực hiện, dân chủ trực tiếp gặp một khó khăn rất lớn, vì thường xuyên triệu tập hội nghị toàn dân là vấn đề không hề đơn giản, đặc biệt đối với những quốc gia đông dân và rộng lớn Bên cạnh đó, rất nhiềucác học giả, chính khách cho rằng chính trị là những công việc phức tạp, không phải và không nên dành cho tất cả dân chúng Vào thế kỷ XVIII, trong đời sống chính trị thế giới đã xuất hiện lý thuyết đại diện gắn liền với tên tuổi của Locke, Rousseau và Montesquieu Theo lý thuyết đại diện, quyền lực về nguyên tắc thuộc về nhân dân, nhưng do những nguyên nhân khác nhau, nhân dân không thể trực tiếp thực hiện toàn bộ quyền lực của mình, mà phải ủy thác cho những người đại diện để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân Rousseau, mặc dù cho rằng dân chủ trực tiếp mới là dân chủ thực
sự, nhưng cũng phải thừa nhận rằng đó là một hình thức lý tưởng; nhân dân phải ủy quyền cho người đại diện, mà không thể trực tiếp thực hiện quyền lực
Trang 20của mình
Trước hết, bầu cử là sự lựa chọn của nhân dân Bất cứ ở xã hội nào, quốc gia
nào khi nói đến bầu cử là nói đến việc lựa chọn Tuy nhiên, đối tượng được lựa chọn có thể không giống nhau, điều này do nhiều yếu tố quyết định và tác động Phổ biến hiện nay trong chế độ bầu cử ở các nước là lựa chọn người người đại biểu trong cơ quan lập pháp Cũng có những nước không bầu ứng
cử viên độc lập mà họ phải thuộc một đảng phái chính trị hoặc cử tri bầu cho các đảng phái chính trị Các nước tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy bầu cử không những là phương thức thành lập cơ quan lập pháp mà còn có thể được áp dụng để bầu các chức danh trong các nhánh quyền lực khác như Tổng thống, các thị trưởng và có thể các chức danh trong các cơ quan tư pháp Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bầu cử là phương thức thành lập ra các cơ quan quyền lực nhà nước Khác với nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa không tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực
mà quyền lực nhà nước là thống nhất, do đó, đối tượng được bầu cử ở các nước xã hội chủ nghĩa thường chỉ là các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước bao gồm quốc hội (ở trung ương) và hội đồng nhân dân các cấp (ở địa phương) Ở nước ta hiện nay, bầu cử là phương thức nhân dân trực tiếp bầu ra Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Thứ hai, bầu cử là việc trao quyền (ủy thác quyền lực) của nhân dân cho
người được lựa chọn Điều đó có nghĩa là, thông qua hành vi bỏ phiếu, người dân lựa chọn, đồng thời trao quyền lực của mình cho người mà mình chọn Ai được cử tri lựa chọn thì người đó nhận được quyền lực từ nhân dân, người đó
sẽ có quyền lực của người đại biểu nhân dân dân, còn nhận được bao nhiêu quyền (phạm vi thẩm quyền) - vấn đề này do hiến pháp quy định
Tóm lại, bầu cử trước hết là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của
Trang 21con người, nó phát triển cùng với quá trình phát triển của con người và bầu cử ngày càng mang tính chính trị-pháp lý sâu sắc Trong quốc gia dân chủ, bầu
cử là một hoạt động khó có thể thiếu trong cơ chế quyền lực nhân dân.[3,tr15]
Từ góc độ khái quát, có thể hiểu: “bầu cử là một quy trình chính trị - pháp lý
trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn ra những người vào làm việc trong bộ máy nhà nước để thay mặt mình quản lý xã hội”.[4,Tr341]
Bầu cử hiện là cách thức được hầu hết quốc gia trên thế giới sử dụng để thiết lập cơ quan lập pháp (quốc hội, nghị viện) và cơ quan đại diện của chính quyền địa phương (nghị viện/hội đồng địa phương) Ở một số nước, bầu cử còn được sử dụng để bầu thẩm phán của các tòa án hoặc các quan chức đứng đầu cơ quan hành pháp, ví dụ như bầu cử tổng thống Hoa Kỳ hoặc bầu thị trưởng ở một số quốc gia…
1.1.2 Khái niệm “pháp luật bầu cử”
1.1.2.1 Khái niệm “pháp luật”
Pháp luật là một hiện tượng xã hội khách quan, đặc biệt quan trọng nhưng cũng vô cùng phức tạp chính vì vậy mà từ xưa đến nay đã có không ít những cách quan niệm, nhận thức khác nhau về pháp luật Trên bình diện phổ quát, căn bản nhất và vận dụng vào điều kiện xã hội đương đại, có thể nêu
định nghĩa pháp luật như sau:
“Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội”
1.1.2.2 Khái niệm “chế độ bầu cử”
Chế độ bầu cử là một trong những chế định quan trọng nhất, được nghiên cứu
Trang 22nhiều nhất của Luật Hiến pháp, bởi nó quyết định trực tiếp đến vấn đề tổ chức
và kiểm soát quyền lực nhà nước - nội dung bản chất, cốt lõi trong Hiến pháp của mọi quốc gia Ở đây, bầu cử không chỉ là cách thức thành lập, kiểm soát, giám sát bộ máy nhà nước, mà còn là một trong những biện pháp để bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Cũng có nhiều định nghĩa về chế độ bầu cử, tuy nhiên, từ góc độ khái quát,
có thể hiểu: “chế độ bầu cử là tổng thể các nguyên tắc, quy định pháp luật
nhằm xử lý các mối quan hệ hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành cuộc bầu cử, từ khi chuẩn bị cho đến khi công bố kết quả bầu cử”[4,Tr341]
Từ khái niệm “pháp luật”, khái niệm “bầu cử”và khái niệm“chế độ
bầu cử”, có thể đưa ra khái niệm về “pháp luật bầu cử” như sau:
“Pháp luật bầu cử là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành cuộc bầu cử, từ khi chuẩn bị cho đến khi công bố kết quả bầu cử”
Pháp luật về bầu cử của các quốc gia là sự thể chế hóa các quy định về chế độ bầu cử của mỗi nước Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử
Pháp luật bầu cử của mỗi nước khác nhau, phản ánh những đặc thù về truyền thống, về chế độ xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa của mỗi quốc gia Việc ban hành các chế định pháp luật nhằm hoàn thiện chế độ bầu cử và bảo đảm thực hiện quyền bầu cử của công dân là một trong những chính sách
hàng đầu của bất kỳ nhà nước dân chủ nào
1.2 Khái niệm, chủ thể, đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta
1.2.1 Khái niệm “tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử”
Trang 23Để quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật có vị trí thượng tôn, việc
tổ chức thực hiện pháp luật là một yếu tố rất quan trọng Một mặt, nhà nước
có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả, hiệu lực nhất, mặt khác bản thân nhà nước cũng phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật Hai yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ với nhau Việc nhà nước tuyệt đối tuân thủ các quy định pháp luật là cơ sở để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả, hiệu lực Ngược lại, việc tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả đặt ra yêu cầu tất yếu là nhà nước phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của pháp luật.[25,Tr1]
Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là các yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật; đồng thời thể hiện sống động sự phân công quyền lực nhà nước theo các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của nhà nước pháp quyền Các yếu tố này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau Công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là
chức năng của cơ quan hành pháp Đó chính là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị
các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất thực hiện từng văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan.[25,Tr1]
Tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử mang tính chất đặc thù, được thực hiện theo nhiệm kỳ, bởi vậy tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử không mang tính thường xuyên liên tục
Hướng dẫn là khâu đầu tiên của quá trình đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống Ở nước ta, hội đồng bầu cử quốc gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp
Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành
Trang 24phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo nhiệm kỳ Đối với chính quyền địa phương, công tác hướng dẫn chủ yếu triển khai các văn bản quy phạm pháp luật qua các cuộc tập huấn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử cho các tổ chức phụ trách bầu cử
Chuẩn bị các nguồn lực từ con người, tổ chức bộ máy cho đến cơ sở vật chất, thực hiện và tổng kết, đánh giá được thực hiện từ cấp trung ương cho đến cấp cơ sở, trong đó, quá trình thực hiện có sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị gồm các cơ quan Đảng, cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội,…
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu:
“Tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử là quá trình hướng dẫn, chuẩn
bị các nguồn lực, thực hiện và tổng kết, đánh giá của các chủ thể tổ chức bầu
cử (được quy định trong luật bầu cử và các luật khác có liên quan) làm cho pháp luật về bầu cử được triển khai trong thực tiễn”
1.2.2 Các chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta
Cuộc bầu cử ở nước ta là một sự kiện chính trị - pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng để thành lập các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương Trong suốt tiến trình bầu cử đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, các cơ quan nhà nước ở trung ương, các cấp chính quyền ở địa phương triển khai thực hiện cùng sự tham gia phối hợp của các tổ chức đoàn thể quần chúng nhân dân Vai trò của mỗi chủ thể đều được ghi nhận trong các văn bản pháp luật
về bầu cử và một số luật chuyên ngành khác có liên quan Các chủ thể chính trong tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta có thể liệt kê như sau:
Trang 25Một là, các cơ quan nhà nước ở trung ương: Quốc hội, Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Chính phủ, một số bộ có trách nhiệm tham mưu chính về tổ chức bầu cử như Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, một số bộ ngành có trách nhiệm phối hợp thực hiện như Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ,…
Hai là, các cơ quan nhà nước ở địa phương: Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân các cấp, các Ban của Hội đồng nhân dân, các cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân, các công chức chuyên môn giúp việc…
Ba là, các tổ chức phụ trách bầu cử theo quy định của luật bầu cử: Hội
đồng bầu cử quốc gia; UBBC ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; UBBC
ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; UBBC ở xã, phường, thị trấn; ban bầu cử đại biểu Quốc hội, ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, ban bầu cử đại biểu HĐND cấp huyện, ban bầu cử đại biểu HĐND cấp xã; tổ bầu cử
Bốn là, các tổ chức chính trị xã hội có trách nhiệm phối hợp tổ chức bầu cử theo quy định của luật: ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam,
UBMTTQ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các tổ chức thành viên của mặt trận gồm: hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Công đoàn và một số cơ quan, tổ chức hữu quan
1.2.3 Đặc điểm về tổ chức pháp luật bầu cử ở nước ta
Mục tiêu của Đảng và nhà nước ta là xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân, với định hướng đó, công tác tổ chức thực hiện pháp luật bầu cử
ở nước ta có những đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật bầu cử ở nước ta luôn đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nguyên tắc Đảng lãnh đạo là
Trang 26nguyên tắc hiến định đã được ghi nhận trong tất cả các bản hiến pháp của nước ta từ khi thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đến nay, bởi vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử cũng không phải là ngoại lệ Tuy nhiên, khác với một số nước
đa đảng trên thế giới, mục đích lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với công tác tổ chức thực hiện pháp luật bầu cử là để thực hiện quyền của công dânViệt Nam, để bầu ra cơ quan đại diện cho nhân dân từ trung ương đến địa phương, chứ không phải để phân chia quyền lực giữa các đảng phái như các nước khác
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta là hoạt động nhằm đảm bảo hai quyền cơ bản của công dân đã được hiến định là quyền bầu cử và quyền ứng cử
Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta huy động toàn
bộ hệ thống chính trị vào cuộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của các
cơ quan nhà nước còn có sự tham gia của các đoàn thể chính trị xã hội và các
tổ chức có liên quan trong toàn bộ quá trình đưa pháp luật bầu cử vào cuộc sống từ khi tổ chức quán triệt, học tập đến khi triển khai luật trên thực tế
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật bầu cử ở nước ta
Mức độ hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật còn phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động lập pháp (ban hành luật) và giám sát thực hiện luật của Quốc hội, của hoạt động tư pháp trong bảo vệ pháp luậtvà sử dụng cưỡng chế nhà nước Ngoài ra, còn bị ảnh hưởng bởi các chủ thể khác như tổ chức kinh tế, xã hội, công dân khi các chủ thể này tổ chức thực hiện phản biện
và giám sát xã hội, thực hiện quyền kiến nghị, phát hiện, tố cáo, khiếu nại,… cũng như mức độ tuân thủ và chấp hành pháp luật khi thực hiện các quyền và
Trang 27nghĩa vụ của chủ thể trong đời sống Một số yếu tố khác như trình độ dân trí,
ý thức và truyền thống pháp luật, xu thế vận động xã hội, xu thế toàn cầu hóa
và hội nhập… cũng có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến quá trình tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống [25,Tr1] Tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố chính sau:
Yếu tố chính trị, tính ổn định, vững chắc của hệ thống chính trị cho
phép lãnh đạo, định hướng có hiệu quả công tác tổ chức thực hiện pháp luật
về bầu cử Ở nước ta, Đảng là nhân tố quyết định trong việc định hướng các thiết chế của quyền lực nhà nước cũng như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức chính trị - xã hội tham gia tác động, bảo đảm sự vận hành của chế độ bầu cử phù hợp với lợi ích đông đảo của nhân dân và của toàn thể dân tộc
Yếu tố pháp lý, bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, ghi
nhận và trình tự hóa việc tổ chức bầu cử Yếu tố pháp lý là yếu tố trực tiếp tác động đến hiệu quả công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử,sự hoàn thiện hay chưa hoàn thiện của pháp luật về bầu cử ảnh hưởng đến tất cả các khâu trong quá trình tổ chức đưa pháp luật bầu cử vào thực tiễn
Yếu tố kinh tế - kỹ thuật, bao gồm các điều kiện về kinh phí, cơ sở vật
chất (hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, không gian,…).Mức độ đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất quyết định rất lớn đến hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử Ở nước ta hiện nay, điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và công nghệ còn khá lạc hậu so với các nước trong khu vực, thực trạng nàylàm hạn chế rất lớn đến hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử nước ta
Yếu tố trình độ văn hóa - xã hội, bao gồm trình độ ý thức pháp luật
chung của công dân trong xã hội, xu hướng dư luận trong xã hội nói chung ở mỗi thời kỳ và các đặc thù về văn hóa - xã hội của đất nước, trình độ phát
Trang 28triển giữa các vùng miền, địa phương, cơ cấu thành phần dân tộc, tôn giáo,…cần được tính đến trong xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử
1.3 Các nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử trên địa bàn cấp huyện
1.3.1 Khái quát các nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta
Các chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử như đã nêu ở phần trên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã được quy định rõ trong luật bầu cử và các văn bản pháp luật ngành, lĩnh vực có liên quan, trong đó công
tác tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta bao gồm những nội dung:
1 Quyết định và công bố ngày bầu cử;
2 Dự kiến cơ cấu thành phần và phân bổ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND;
3 Ấn định đơn vị bầu cử và xác định khu vực bỏ phiếu;
4 Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử;
5 Lập và niêm yết danh sách cử tri;
6 Tổ chức đảm bảo quyền ứng cử;
7 Tổ chức hiệp thương và lập danh sách chính thức những người ứng
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp;
8 Hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bầu cử;
9 Tổ chức vận động bầu cử;
10 Tổ chức “ngày bầu cử”;
11 Giải quyết các tình huống phát sinh trong bầu cử (gồm: giải quyết khiếu nại, tố cáo; Tổ chức bầu cử thêm; Tổ chức bầu cử lại; Xử lý các
Trang 29Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, tác giả trọng tâm đề cập đến các nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở cấp huyện và cấp xã sau đây:
1.3.2 Các nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở cấp huyện, cấp
Luật bầu cử ở nước ta từ trước tới nay không quy định thành lập cơ quan bầu
cử chuyên trách, thay vào đó là quy định thành lập các tổ chức phụ trách bầu
Trang 30cử có tính chất lâm thời, các tổ chức phụ trách bầu cử được lập ra chỉ để phục
vụ cho mỗi cuộc bầu cử và sẽ giải thể sau khi kết thúc mỗi cuộc bầu cử Theo Điều 21, Luật bầu cử 2015, các tổ chức phụ trách bầu cử ở cấp huyện, cấp xã bao gồm:
1 Ủy ban bầu cử ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Ủy ban bầu cử ở xã, phường, thị trấn;
2 Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp huyện, ban bầu cử đại biểu HĐND cấp xã
3 Tổ bầu cử
Việc thành lập các tổ chức bầu cử ở cấp huyện, cấp xã được quy định tại Điều
22, Điều 24, Điều 25 Luật bầu cử 2015 như sau:
“Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành, lập ủy ban bầu cử ở huyện, quận, thị xã, thành, phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành, phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
ủy ban bầu cử ở huyện), ủy ban bầu cử ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là ủy ban bầu cử ở xã) để tổ chức bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã tương ứng
Ủy ban bầu cử ở huyện có từ mười một đến mười lăm thành viên; ủy ban bầu cử ở xã có từ chín đến mười một thành viên Thành viên ủy ban bầu
cử ở huyện, ở xã gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên là đại diện Thường trực GHội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan
Danh sách ủy ban bầu cử ở huyện, ủy ban bầu cử ở xã phải được gửi đến thường trực hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.”
Trang 31“Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã sau khi thống nhất với thường trực Hội đồng nhân dân và ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình một ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội Thành phần ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có thêm đại diện cử tri ở địa phương
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ mười một đến mười ba thành viên Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện có từ chín đến mười một thành viên Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
có từ bảy đến chín thành viên Ban bầu cử gồm Trưởng ban, các Phó trưởng ban và các Ủy viên.”
“Chậm nhất là 50 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với thường trực Hội đồng nhân dân và ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực
bỏ phiếu một tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu ội đồng nhân dân các cấp Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm tổ trưởng, thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương
Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được thành lập một tổ bầu cử có từ năm đến chín thành viên gồm tổ trưởng, thư ký và các ủy viên là đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó
Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với thường trực hội đồng nhân dân, ban thường trực ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập tổ bầu cử
Trang 32có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm tổ trưởng, thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội,
tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương, đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó.”
Chia đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp huyện và đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp xã
Đơn vị bầu cử là khái niệm chỉ một phạm vi địa lý hành chính với số dân cư nhất định, được bầu số lượng đại biểu nhất định[4,Tr388] Ở nước ta, luật bầu cử từ trước tới nay chỉ quy định số lượng đại biểu được bầu trong mỗi đơn vị bầu cử, dựa trên đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định danh sách đơn vị bầu cử trong mỗi kỳ bầu cử Tại khoản 3, khoản 4 Điều
10 Luật bầu cử 2015 quy định:
“Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện Xã, phường, thị trấn được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã
Số đơn vị bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử do
ủy ban bầu cử ở cấp đó ấn định theo đề nghị của ủy ban nhân dân cùng cấp và được công bố chậm nhất là 80 ngày trước ngày bầu cử
Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội được bầu không quá ba đại biểu Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân được bầu không quá năm đại biểu.”
Xác định khu vực bỏ phiếu ở cấp xã
Khu vực bỏ phiếu là khái niệm chỉ phạm vi địa lý hành chính có số dân nhất định, nơi cử tri trực tiếp tiến hành bỏ phiếu bầu đại biểu trong các cuộc bầu cử [4,Tr389] Tại Điều 11 Luật bầu cử 2015, việc xác định khu vực bỏ phiếu ở cấp xã được quy định như sau:
Trang 33“Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, đơn vị bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân chia thành các khu vực bỏ phiếu Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri Ở miền núi, vùng cao, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có đủ ba trăm cử tri cũng được thành lập một khu vực bỏ phiếu
Các trường hợp có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng:
a) Đơn vị vũ trang nhân dân;
b) Bệnh viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc người cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên;
c) Cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, trại tạm giam Việc xác định khu vực bỏ phiếu do ủy ban nhân dân cấp xã quyết định
và được ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn Đối với huyện không có đơn
vị hành chính xã, thị trấn thì việc xác định khu vực bỏ phiếu do ủy ban nhân dân huyện quyết định”
1.3.2.2 Công tác lập và niêm yết danh sách cử tri
Lập danh sách cử tri là hoạt động quan trọng của mỗi cuộc bầu cử để xác định đối tượng tham gia bầu cử Việc lập danh sách cử tri có ý nghĩa xác nhận về mặt pháp lý quyền bầu cử của công dân
Cơ quan thực hiện việc lập danh sách cử tri có trách nhiệm xem xét, xác minhcác điều kiện cơ bản về độ tuổi, quốc tịch, nơi cư trú, về việc không vi phạm pháp luật hình sự, không mắc bệnh tâm thần của cử tri trên địa bàn mình quản lý để dưa vào danh sách cử tri
Danh sách cử tri là cơ sở pháp lý để cơ quan lập danh sách cử tri phát thẻ cử tri cho công dân trên địa bàn thực hiện quyền bầu cử của mình Việc lập danh sách cử tri không những nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân
Trang 34mà còn để ngăn chặn hiện tượng gian lận trong bầu cử Vì vậy, vấn đề này được pháp luật quy định rất chặt chẽ
Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp lập danh sách cử tri đó là tự nguyện và bắt buộc Nếu áp dụng phương pháp lập danh sách cử tri là bắt buộc, danh sách cử tri sẽ do cơ quan nhà nước tiến hành lập (là tổ chức phụ trách bầu cử ở khu vực bỏ phiếu hoặc là cơ quan hành chính địa phương) Nhật Bản, Anh, Đức, Canađa, Liên Bang Nga, Thụy Điển là những nước đang
áp dụng phương pháp này Danh sách cử tri này có thể được tiến hành lập trước mỗi lần bầu cử, hoặc có thể dựa theo danh sách cử tri cố định của các cơ quan hành chính địa phương Ở Anh và Canađa, trước mỗi cuộc bầu cử, các
cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành lập danh sách cử tri và danh sách này không còn giá trị khi kết thúc bầu cử Phương pháp lập danh sách cử tri tự nguyện được áp dụng ở một số nước, trong đó có Hoa Kỳ và Pháp Theo đó,
cử tri mang theo giấy tờ tùy thân đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký tham gia bỏ phiếu Pháp luật bầu cử của Pháp không bắt buộc công dân phải tham gia bầu cử Hạ nghị viện mà chỉ bắt buộc đối với bầu cử Thượng nghị viện Công dân đăng ký tham gia bỏ phiếu tại đơn vị hành chính cấp xã Danh sách
cử tri do UBBC cấp xã thực hiện Nếu một cử tri bị loại ra khỏi danh sách cử tri thì phải có thông báo của UBBC Trong trường hợp này, cử tri có quyền kháng cáo quyết định đó lên Tòa án [1,Tr3]
Ở nước ta áp dụng phương pháp lập danh sách cử tri bắt buộc, lâm thời Tuy lập danh sách theo phương pháp bắt buộc nhưng việc bỏ phiếu (đi bầu) ở nước ta lại mang tính tự nguyện Công dân được động viên đi bầu cử nhưng nếu không đi thì cũng không phải chịu bất cứ một chế tài nào Khẩu hiệu “bầu
cử là quyền và nghĩa vụ của công dân” chỉ mang tính vận động, tuyên truyền cho vế thứ hai [4]
Về thẩm quyền lập danh sách cử tri do UBND cấp xã lập theo từng khu vực
Trang 35bỏ phiếu Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì UBND huyện có trách nhiệm lập danh sách cử tri theo từng khu vực bỏ phiếu
Danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng quân Quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương gần khu vực đóng quân có thể được chỉ huy đơn vị cấp giấy chứng nhận để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi thường trú
Về niêm yết danh sách cử tri, chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử,
cơ quan lập danh sách cử tri niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở UBND cấp xã
và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để nhân dân kiểm tra
Đối với trường hợp cử tri đi bỏ phiếu ở nơi khác, UBND cấp xã có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận cho cử tri đi bỏ phiếu ở nơi khác để cử tri được
bổ sung tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội
và đại biểu HĐND cấp tỉnh ở nơi mà cử tri đó có thể tham gia bỏ phiếu và ghi ngay vào danh sách cử tri tại khu vực bỏ phiếu thuộc địa phương mình cụm từ
“bỏ phiếu ở nơi khác”
1.3.2.3 Công tácbảo đảm quyền ứng cử và tổ chức hiệp thương lập danh sách chính thức người ứng cử đại biểu HĐND huyện, đại biểu HĐND xã
Công tác bảo đảm quyền ứng cử
Ứng cử và giới thiệu ứng cử viên (hay đưa người ra ứng cử) là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình bầu cử, vì cử tri chỉ được lựa chọn bầu trong số những ứng cử viên là đại diện cho mình Kết thúc giai đoạn này đã cho phép
dự đoán kết quả bầu cử đến một mức độ nhất định
Hiện nay trên thế giới, bên cạnh việc tự ứng cử, các phương pháp phổ biến để đưa người ra ứng cử bao gồm: ứng cử viên được đề cử bởi nhóm cử tri, ứng
Trang 36cử viên được đề cử bởi đảng chính trị hay tổ chức chính trị xã hội Thực tế cho thấy khả năng thắng cử của các ứng cử viên tự do (tự ứng cử) là không nhiều Chỉ có các nhân sĩ nổi tiếng mới hy vọng thắng cử Các ứng cử viên tự
do muốn ghi tên vào danh sách ứng cử viên chính thức đòi hỏi phải được một
số lượng cử tri nhất định ủng hộ và đề cử, đồng thời phải nộp một số tiền đảm bào Đa số các nước đều quy định số tiền phải nộp trước cho nhà nước, ở Anh
là 500 bảng; ở Nhật Bản là 2 triệu yên nếu ứng cử vào Hạ nghị viện Nếu công dân ứng cử vào Thượng nghị viện còn phải nộp số tiền lớn hơn, ví dụ ở Nhật Bản là 4 triệu yên Khoản tiền này chỉ được hoàn lại cho ứng cử viên nếu người này dành được một lượng phần trăm nhất định số phiếu ủng hộ tùy theo quy định của từng nước, ở Anh là 5%, ở Pháp là 5%, ở Italia là 1,5% tổng số phiếu của cử tri Ngược lại nếu ứng cử viên không dành được số phiếu đạt tỷ lệ quy định trên thì số tiền đặt trước phải sung vào ngân sách nhà nước Quy định này nhằm hạn chế sự tùy tiện trong việc tự ứng cử, loại trừ việc ứng cử của những người mà cử tri không hề biết tới [1]
Ở nước ta, xét theo nghĩa rộng, đang áp dụng tất cả các phương pháp này, công dân có thể tự ứng cử hoặc được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan nhà nước
ở trung ương hoặc địa phương giới thiệu để được xem xét đưa vào danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp
Theo Điều 35 Luật bầu cử 2015, công dân ứng cử (kể cả người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) đại biểu HĐND huyện, đại biểu HĐND xã phải nộp hồ sơ ứng cử chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, hồ sơ ứng cử gồm: đơn ứng cử; sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị
có thẩm quyền; tiểu sử tóm tắt; 03 ảnh chân dung mầu cỡ 4cm x 6cm; bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng;
Trang 37Các cơ quan phụ trách bầu cử cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm bố trí đơn vị
và cán bộ tiếp nhận hồ sơ ứng cử Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người tự ứng cử và hồ sơ của người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệuứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định thì UBBC chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của những người ứng cử đến ban thường trực UBMTTQ cùng cấp để đưa vào danh sách hiệp thương
Liên quan đến tính hợp lệ, trong khi xem xét các hồ sơ người ứng cử, nếu đơn
vị, cán bộ tiếp nhận hồ sơ người ứng cử phát hiện người ứng cửđại biểu HĐNDhuyện, ứng cử đại biểu HĐND xã đã là thành viên của ban bầu cử hoặc tổ bầu cử ở đơn vị bầu cử mà người đó ứng cử thì phảiđề nghị người ứng
cử đó rút khỏi danh sách thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử đó chậm nhất vào ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử Trường hợp người ứng cử không có đơn xin rút thì cơ quan đã quyết định thành lập ban bầu cử, tổ bầu cử đó ra quyết định xóa tên người ứng cử khỏi danh sách thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử và bổ sung thành viên khác thay thế Tại Điều 37 Luật Bầu cử 2015 cũng quy định rõ những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND: Người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị khởi tố bị can; người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của tòa án; Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng chưa được xóa án tích; người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Tổ chức hiệp thương lập danh sách chính thức người ứng cử đại biểu HĐND huyện, đại biểu HĐND xã
Trang 38Đối với cấp huyện và cấp xã, hiệp thương là việc thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng, danh sách người của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND cấp huyện, đại biểu HĐND cấp xã thông qua các hội nghị do MTTQ Việt Nam cấp huyện, cấp xã tổ chức với sự tham gia của đại diện các tổ chức thành viên của Mặt trận và các cơ quan nhà nước hữu quan Xen giữa các hội nghị hiệp thương là việc giới thiệu người ứng cử
Kế thừa từ các luật bầu cử trước đây, Luật bầu cử 2015 quy định về quy trình hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu HĐNDcấp huyện, cấp xã được tiến hành theo năm bước như sau:
Bước một: tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người ứng cử
Hội nghị ở cấp huyện nhằm thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người được giới thiệu ứng cửđại biểu HĐND của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước cùng cấp và của đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính cấp
xã trên địa bàn Hội nghị ở cấp xã nhằm thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước cùng cấp và của đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, thôn, tổ dân phố trên địa bàn Các hội nghị do Ban thường trực UBMTTQ Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại diện UBBC, thường trực HĐND, UBND cùng cấp
Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, thường trực HĐND cấp huyện điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng
Trang 39cử đại biểu HĐND cấp mình Thường trực HĐND cấp xã điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân phố ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND cấp mình
Bước hai: giới thiệu những người ứng cử
Việc giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã do các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị và cả các thôn, tổ dân phố (đối với cấp xã) tiến hành Trong trường hợp do các thôn, tổ dân phố tiến hành thì ban công tác Mặt trận ở thôn dự kiến người của thôn, tổ dân phố để giới thiệu ứng
cử đại biểu HĐND cấp xã và phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố
tổ chức hội nghị cử tri để thảo luận, giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND cấp xã
Bước ba: tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai để thỏa thuận lập danh sách sơ bộ những người ứng cử và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú
Xét về thủ tục, hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức giống như hội nghị hiệp thương lần thứ nhất Tuy nhiên, hội nghị hiệp thương lần thứ hai nhằm vào hai nội dung: một là, báo cáo tình hình giới thiệu những người ứng
cử của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi công tác đối với người được giới thiệu ứng cử để hội nghị thỏa thuận về việc lập danh sách sơ bộ những người ứng cử; hai là, bàn kế hoạch tổ chức lấy
ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người trong danh sách sơ bộ những người ứng cử
Đối với cấp huyện, cấp xã, hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở mỗi cấp do ban thường trựcUBMTTQ cùng cấp tổ chức chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu
cử Ngoài ra, hội nghị hiệp thương lần thứ hai còn có trách nhiệm xem xét về người tự ứng cử để thỏa thuận lập danh sách sơ bộ những người ứng cử
Trang 40Bước bốn: tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác hoặc nơi làm việc (nếu có) về những người ứng cử
Việc lấy ý kiến của hội nghị cử tri nơi cư trú đối với những người ứng đại biểu HĐND huyện, xã được tổ chức ở nơi người ứng cử cư trú thường xuyên tại thôn, tổ dân phố, do ban thường trực UBMTTQ Việt Nam cấp xã phối hợp với UBND cùng cấp triệu tập và chủ trì Tại hội nghị, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND để nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với những người ứng cử Vụ việc mà cử tri nêu đối với những người ứng
cử phải được xác minh và trả lời theo quy định (Điều 46, Điều 55 Luật bầu
1.3.2.4 Công tác hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bầu cử
Chính quyền cấp huyện, chính quyền cấp xã dựa trên sự chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên và Đảng ủy cấp huyện, Đảng ủy cấp xã tổ chức các hội nghị triển khai công tác bầu cử tại cấp mình