Từ sự phân tích trên chúng ta có thể định nghĩa pháp luật về BVMT đô thị là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữ
Trang 1MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ 8
1.1 Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị 14
1.2 Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị 31
1.3 Các yếu tố tác động thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị 43
Tiểu kết chương 1 47
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ TẠI QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 49
2.1 Khái quát chung về thực trạng môi trường đô thị tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 49
2.2 Kết quả thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 53
2.3 Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 69
Tiểu kết chương 2 77
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 78
3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị 78
3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị 84
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
ĐMC : Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM : Báo cáo đánh giá tác động môi trường
THPL : Thực hiện pháp luật
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử cho thấy, con người và môi trường có mối quan hệ mật thiết,không thể tách rời Môi trường là không gian tồn tại của con người, là nơi conngười khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nơi cung cấp cơ sở vật chấtcho con người tồn tại và phát triển đồng thời cũng là nơi tiếp nhận tất cảnhững chất thải do con người loại ra Xãhội hiện đại phát triển nhanh chóng,lợi nhuận và giá trị vật chất đã khiến cho mối quan hệ hài hòa giữa con người
và tự nhiên bị thay đổi Ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên, sự cố môitrường… là những cụm từ được nhắc đến nhiều hơn trên các diễn đàn quốc tếvới thái độ quan ngại sâu sắc từ các quốc gia Hơn bao giờ hết, vấn đề bảo vệmôi trường (BVMT) là một yêu cầu cấp thiết và cần được quan tâm đúng mứctrước khi quá muộn
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, từ năm 1986 chúng ta đã thực hiệncông cuộc đổi mới toàn diện, tập trung phát triển kinh tế, đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạtđược, mối nguy hại từ sự hủy hoại môi trường sinh thái, tốc độ đô thị hóanhanh, ô nhiễm môi trường nước và không khí đang đặt ra một bài toán nangiải về phát triển bền vững trong tương quan với việc BVMT, đặc biệt là môitrường đô thị
Thực tế, trong hoạt động quản lý và BVMT ở Việt Nam đã manh nhahình thành từ những năm 1990 khi yêu cầu này xuất hiện và được thể hiệntrong đạo luật đầu tiên về BVMT ở nước ta vào năm 1993 Tiếp đó, tầm quantrọng của vấn đề BVMT đã được xác định trong Luật BVMT năm 2005, trongChiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đặcbiệt là trong Luật BVMT năm 2014 Với các quy định pháp luật hiện hành vềBVMT ở nước ta hiện nay có thể thấy, chúng ta đã xây dựng được một khung
Trang 4pháp luật hoàn thiện trên lĩnh vực này Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc thựchiện các quy định pháp luật về BVMT nói chung, môi trường đô thị nói riêngcòn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng môitrường đô thị, những ảnh hưởng của biến đối khí hậu đã và đang đe dọa chấtlượng cuộc sống của không ít bộ phận dân cư, xâm phạm quyền được sốngtrong môi trường trong lành của con người Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay
là đưa pháp luật BVMT vào cuộc sống, trở thành ý thức, hành động của mọichủ thể trong xã hội
Hải Phòng là đô thị loại một, là thành phố trực thuộc trung ương và làmột trong những trung tâm kinh tế, văn hóa trọng điểm của nước ta, là tamgiác kinh tế quan trọng của cả nước Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, kinh
tế biển đóng vai trò chủ đạo, ngoài ra còn là thành phố du lịch, dịch vụ gópphần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế của cả nước.Bên cạnh việc phát triển kinh tế, tăng trưởng nhanh làm cho bộ mặt đô thị ởHải Phòng có nhiều biến đổi, thành phố cũng đang phải đối diện với nhữngnguy cơ xuất phát từ tốc độ đô thị hóa nhanh Lê Chân là một trong ba quậntrung tâm của thành phố Hải Phòng, là quận tập trung nhiều dự án lớn về pháttriển kinh tế, các khu đô thị, trung tâm thương mại, các khu dân cư Do đó,việc thực hiện pháp luật (THPL) về BVMT đô thị trên địa bàn quận Lê Chân
là một trong những nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu trong các quy hoạchphát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch, chương trình phát triển đô thị củađịa phương
Từ những nhận định trên tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” làm luận văn thạc sỹ luật học, với mong muốn qua nghiên cứu những
vấn đề lý luận và thực tiễn THPL về BVMT đô thị tại quận Lê Chân, thànhphố Hải Phòng sẽ đưa ra được một số giải pháp nhằm đảm bảo THPL về
Trang 5BVMT đô thị ở quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nói riêng và Việt Namnói chung.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Thực hiện pháp luật về BVMT đô thị là vấn đề còn khá mới ở nước ta
Đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề này ở các khía cạnh khácnhau Các công trình nghiên cứu đã công bố chủ yếu là những vấn đề có liênquan đến nội dung của Luận văn trong đó có thể kể đến một số công trình:
- Trần Phong Bình (2007), Pháp luật về BVMT ở Việt Nam – Thực trạng
và giải pháp, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội Trong luận văn trên, tác giả Trần Phong Bình đã nghiên cứu về pháp luật
về BVMT ở Việt Nam Dưới góc độ nghiên cứu về hoạt động BVMT và phápluật về BVMT nói chung luận văn đã đưa ra được khái niệm về BVMT vàpháp luật về BVMT, các thành tố của pháp luật về BVMT ở Việt Nam hiệnnay Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu được tiến hành từ năm 2007trong thời điểm Luật BVMT năm 2005 có hiệu lực pháp luật do đó những nộidung nghiên cứu của đề tài đã trở lên lạc hậu
- Đinh Thị Quỳnh (2011), Pháp luật về BVMT ở Việt Nam – thực trạng
và giải pháp, Luận văn thạc sỹ ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp
luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Trong luận văn này, tác giả ĐinhThị Quỳnh đã nghiên cứu đưa ra được khái niệm, đặc điểm của hoạt độngBVMT và pháp luật về BVMT Đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị hoànthiện pháp luật về BVMT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Đinh Quỳnh Phượng (2011), Pháp luật về BVMT trong lĩnh vực du lịch
ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội.
Tại công trình nghiên cứu này, tác giả Đinh Quỳnh Phượng đã nghiên cứu vềhoạt động BVMT trong một lĩnh vực cụ thể là du lịch ở Việt Nam Đây có thểcoi là một lĩnh vực chuyên môn cụ thể của hoạt động BVMT Tại công trình
Trang 6nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra khái niệm, đặc điểm và nội dung củapháp luật về BVMT trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam hiện nay.
- Nguyễn Trần Điện (2012), THPL về BVMT ở Việt Nam, Viện công
nghệ môi trường, Tạp chí nghiên cứu lập pháp Tại bài viết của mình, tác giảNguyễn Trần Điện nghiên cứu về THPL trong bảo vệ môi trường ở Việt Namhiện nay Đặc biệt tác giả đã đưa ra được khái niệm và đặc điểm của THPL vềBVMT ở Việt Nam hiện nay Đây là nguồn tham khảo để tác giả luận văn nàyđưa ra khái niệm nghiên cứu của luận văn
- Phạm Thị Ngọc Dung (2014), THPL BVMT ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện chính trị Khu vực I Tại công trình
nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Thị Ngọc Dung đã nghiên cứu về hoạtđộng THPL về BVMT tại các các tỉnh miền núi phía bắc Việc THPL vềBVMT tại các tỉnh miền núi phía bắc cần tuân thủ theo quy định của phápluật, để đem lại hiệu quả cao trong công tác BVMT Đề tài cũng đã đưa rađược khái niệm, đặc điểm của THPL về BVMT tại các tỉnh miền núi phía bắc
- Nguyễn Thị Hồng Linh (2016), Quản lý nhà nước bằng pháp luật về BVMT – từ thực tiễn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Luật
Hiến pháp và Luật hành chính, bảo vệ tại Học viện Hành chính Quốc gia
- Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 - chuyên đề: Môi trường đô thị, Hà Nội do Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo và công bố
năm 2016 Trong báo cáo về môi trường đô thị đã đưa ra được các phân tíchkhoa học về hiện trạng môi trường tại các đô thị ở Việt Nam Thực trạng vềmôi trường tại các đô thị hiện nay đang rất đáng báo động do tình trạng ônhiễm khói bụi, nguồn nước ngày càng trầm trọng
- Nguyễn Văn Thùy, Mạc Thị Minh Trà, Nguyễn Thị Hoa (2017), Quản
lý môi trường đô thị ở Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức, tạp chí Môi
trường, số 8
Trang 7Đặc biệt, liên quan đến vấn đề nghiên cứu có công trình của tác giả
Nguyễn Thị Kim Anh Pháp luật về BVMT đô thị - thực tiễn tại địa bàn thành phố Hà Nội, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội 2012 đã nghiên cứu những
quy định của pháp luật về BVMT đô thị và thực tiễn tại thành phố Hà Nội.Công trình đã đóng góp một phần nhất định về công tác BVMT đô thị tại HàNội nói riêng và BVMT đô thị ở Việt Nam nói chung Tuy nhiên, công trìnhđược thực hiện và công bố năm 2012 trước khi ban hành Luật BVMT năm
2014 nên vấn đề này còn rất nhiều phức tạp và có tính thời sự cao
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, các công trình khoa học, đề tàinghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo trong chừng mực nhất định đã gópphần làm sang tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về THPLBVMT đô thị ở nước ta
Các công trình trên đã giải quyết được cơ sở lý luận và vấn đề thực tiễnđặt ra về pháp luật BVMT nói chung và môi trường đô thị nói riêng; nghiêncứu việc THPL về BVMT trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội…Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về THPL về môi trường
đô thị Đặc biệt, đối với thành phố Hải Phòng nói chung và quận Lê Chân nóiriêng chưa có công trình nào nghiên cứu về pháp luật BVMT đô thị cũng nhưTHPL về BVMT đô thị Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của cáccông trình liên quan, Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận vàthực tiễn của việc THPL về BVMT đô thị tại quận Lê Chân, thành phố HảiPhòng; đi sâu nghiên cứu THPL về BVMT đô thị của quận Lê Chân, nêu ranhững ưu điểm, hạn chế còn tồn tại, từ đó đưa ra các giải pháp đảm bảoTHPL về BVMT đô thị nói chung và trên địa bàn quận Lê Chân, thành phốHải Phòng nói riêng
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Đề tài có mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận về
pháp luật BVMT đô thị và THPL về BVMT đô thị ở Việt Nam hiện nay cũngnhư thực trạng THPL về BVMT đô thị tại quận Lê Chân thành phố HảiPhòng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả THPL về BVMT đô thịtrên địa bàn cả nước và quận Lê Chân thành phố Hải Phòng
- Nhiệm vụ: để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp luật BVMT đô thị, THPL về BVMT
đô thị thông qua việc phân tích các khái niệm, đặc điểm, nội dung và hìnhthức của THPL về BVMT đô thị
+ Phân tích thực trạng THPL về BVMT đô thị tại quận Lê Chân, thành phốHải Phòng, đưa ra những đánh giá về kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế,nguyên nhân của những hạn chế trong THPL về BVMT đô thị tại quận LêChân, thành phố Hải Phòng
+ Đề xuất các quan điểm và các giải pháp đảm bảo THPL về BVMT đôthị thành phố Hải Phòng nói chung và ở quận Lê Chân nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc THPL về BVMT đô
thị tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Phạm vi nghiên cứu: Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Về thời gian: Từ năm 2013-2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước về BVMT đô thị Kế thừa và sửdụng kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước
Trang 9- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích
tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp nghiêncứu các vụ việc thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa nhất định trong việc làm rõcác vấn đề lý luận và thực tiễn của việc THPL BVMT đô thị Đánh giá toàndiện tình hình THPL về BVMT đô thị tại quận Lê Chân, thành phố HảiPhòng Từ đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo THPLBVMT đô thị tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, phát huy hiệu quảTHPL đồng thời phát huy hiệu lực công tác quản lý nhà nước về BVMT đôthị tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nói riêng và các đô thị trên cảnước nói chung
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong thực tế THPL BVMT đôthị tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; góp phần nâng cao nhận thức, ýthức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện BVMT,nhất là những người làm công tác thực tiễn về môi trường Luận văn có giá trịlàm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và những ai quan tâm đến vấn
đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo
vệ môi trường đô thị từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
1.1 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
1.1.1 Môi trường đô thị
* Khái niệm môi trường
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “môi trường” là “Tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh, có tác động trực tiếp lên
sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật” [45, tr 1134]
Môi trường là lĩnh vực nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau,
do đó khái niệm về môi trường cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.Hiểu theo nghĩa rộng, môi trường là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cầnthiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,đất, nước, không khí, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội Môi trường tựnhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tạingoài ý muốn của con người, nhưng chịu sự tác động của con người Hiểutheo nghĩa hẹp, môi trường không bao gồm tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ cócác nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống củacon người Dưới góc độ ghi nhận trong pháp luật, môi trường bao gồm cácyếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đếnđời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật
Theo Khoản 1 điều 3 Luật BVMT 2014 “Môi trường là hệ thống các yếu
tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [33].
Như vậy, môi trường là tất cả những gì có xung quanh con người, cungcấp cho con người điều kiện sống và phát triển, được thể hiện qua các chức
Trang 11- Môi trường là không gian sống của con người và thế giới các loài sinhvật Đó là khoảng không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sốngcủa con người như: nhà ở, nơi nghỉ ngơi, nơi sản xuất
- Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cần thiếtcho cuộc sống và hoạt động sản xuất cũng như sự phát triển của con người
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải của quá trình sinh hoạttrong cuộc sống của con người và của quá trình sản xuất Trong quá trình sinhsống và phát triển xã hội, con người một mặt khai thác các nguồn tài nguyên
để sinh hoạt và sản xuất các loại hàng hóa khác nhau nhưng lại thải vào môitrường các chất thải trong quá trình sinh hoạt và sản xuất đó
- Môi trường có khả năng bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tácđộng từ bên ngoài; là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới conngười và sinh vật trên trái đất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Điềunày được lý giải bởi môi trường trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữlịch sử trái đất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện vàphát triển văn hóa của loài người
* Khái niệm, đặc điểm môi trường đô thị
Môi trường đô thị là một trong những hình thái của môi trường xét dướikhía cạnh khu vực tồn tại của môi trường đó Môi trường đô thị cần phải bảo
vệ đặc biệt và có khả năng bị tổn thương lớn do mật độ dân số, mức độ canthiệp vào môi trường của con người lớn do đó nên môi trường đô thị có khảnăng ô nhiễm, tổn hại cao hơn các hình thái môi trường khác
Trước khi xác định được môi trường đô thị là gì ta cần giới hạn đượcphạm vi đô thị là gì Theo quan điểm chung của hầu hết các quốc gia trên thế
giới thì “đô thị được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của
Trang 12một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ”
[14, tr 12]
Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị được định nghĩa là “một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [38, tr 99] Dưới góc độ pháp lý, đô thị
được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạtđộng trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hànhchính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, baogồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thịtrấn
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là laođộng phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp haychuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nướchoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định
Đô thị có ba đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, đô thị có một cấu trúc hoàn chỉnh, đồng bộ và luôn vận động Thứ hai, đô thị luôn luôn phát triển.
Sự hình thành và phát triển của đô thị luôn gắn liền với lịch sử hình thành vàphát triển của loài người, đặc biệt là từ khi xuất hiện nền kinh tế hàng hóa
Thứ ba, sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được.
Từ những khái niệm về môi trường và đô thị nêu trên, chúng ta có thể
hiểu môi trường đô thị là môi trường sống, nơi cư trú và diễn ra các hoạt động của dân cư đô thị.
Môi trường đô thị bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, yếu tố vậtchất và phi vật chất có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới đời sống,sản xuất, sự tồn tại, phát triển của thiên nhiên và con người tại các điểm dân
cư trong đô thị
Trang 13Môi trường đô thị gồm rất nhiều thành phần khác nhau như nhà ở, cáccông trình công cộng, hạ tầng giao thông, công viên, cây xanh, các côngxưởng nhà máy, các tòa nhà thương mại, hạ tầng môi trường đô thị (cấp nước,cấp điện, xử lý nước thải, quản lý rác thải…).
Môi trường đô thị có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, môi trường đô thị là không gian sống của cư dân đô thị Chức
năng này đòi hỏi môi trường đô thị phải có một phạm vi không gian thích hợpvới cuộc sống của cư dân đô thị Do đó, môi trường đô thị phải đạt đủ nhữngtiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, cảnh quan, xãhội… Yêu cầu về không gian sống của người dân đô thị thường cao hơn cáckhu vực khác
Thứ hai, môi trường đô thị là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết (như ánh
sáng, đất, nước, không khí ) cho cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinhdoanh của người dân đô thị
Đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, trình độ phát triển kinh tế - xãhội cao hơn các khu vực khác nên nhu cầu về tài nguyên của đô thị cũng caohơn, cả về số lượng và chất lượng nên môi trường đô thị chịu áp lực về tàinguyên giới hạn
Trong quá trình sinh sống và phát triển, con người luôn đào thải ra cácchất thải vào môi trường, nhất là tại các khu đô thị, với số lượng dân cư đông,
vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy các chất thải, do đóchất lượng môi trường sẽ giảm, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, có khảnăng gây bệnh cho con người
* Bảo vệ môi trường đô thị
Bảo vệ là gìn giữ, chống sự xâm phạm để khỏi bị hư hỏng, mất mát [45,
tr 111]
Trang 14Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; lànhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phầnquan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốcgia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta BVMT vừa là mục tiêu,vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải đượcthể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế -
xã hội của từng ngành và từng địa phương Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọngphát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ BVMT Đầu tư cho BVMT là đầu tưcho phát triển bền vững
Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi giađình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chíquan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên,sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta BVMT phải theo phương châm lấyphòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với
xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiênnhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồnlực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đạivới các phương pháp truyền thống
Bảo vệ môi trường là hoạt động được tiến hành thường xuyên, theonguyên tắc phòng ngừa là chính, kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suythoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; hoạt động BVMT phải tiếnhành có trọng tâm, trọng điểm, với khoa học công nghệ là công cụ hữu hiệutrong BVMT Sự xuất hiện của các chế định pháp lý quốc tế liên quan đếnmôi trường thể hiện rõ tính chất toàn cầu của vấn đề môi trường Phát triểnbền vững là phạm trù được hình thành do nhu cầu của việc BVMT, thực chấtcủa phát triển bền vững là sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với duy trìBVMT
Trang 15Về bản chất BVMT là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,
sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắcphục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường,khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Theo Khoản 3 Điều 3 Luật BVMT 2014 “Hoạt động BVMT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [33].
Trong hoạt động BVMT, thì ở mỗi dạng môi trường nhất định cần cóhoạt động BVMT khác nhau Môi trường đô thị càng cần được bảo vệ bởi hainguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, với đặc tính của mình, môi trường đô thị có khả năng bị phá
hủy, tác động và ô nhiễm rất lớn Bởi lẽ, môi trường đô thị là nơi sinh sốngcủa một lượng dân số rất lớn, trong phạm vi hẹp nên có khả năng phá hủy môitrường tác động xấu tới môi trường lớn hơn các hình thái môi trường khác
Thứ hai, môi trường đô thị cần bảo vệ tốt hơn và được quan tâm hơn.
Bời vì với đặc điểm là nơi sinh sống của lượng dân số lớn, nhiều tổ chức kinh
tế, cơ sở sản xuất, kinh tế xã hội đóng ở đó Do đó, việc BVMT đô thị sẽ gópphần bảo vệ quyền lợi ích của nhiều chủ thể trong xã hội
Từ những phân tích trên ta thấy, BVMT đô thị là những hoạt động giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Bảo vệ môi trường đô thị là các hoạt động do cơ quan nhà nước và các tổchức, cá nhân tiến hành nhằm đạt được các mục đích sau:
Trang 16Một là, giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp Vì môi trường là
không gian sống của con người, nó có một vai trò rất quan trọng và ý nghĩaquyết định đối với sức khỏe và tính mạng của con người, nên ở các đô thị lànơi tập trung số lượng lớn dân cư thì việc giữ gìn sự trong lành của môitrường càng trở nên cần thiết
Hai là, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường đô thị, ứng
phó sự cố môi trường Hiện nay, trong xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽcủa quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đã tạo nên sức ép đốivới môi trường nói chung và môi trường đô thị nói riêng
Ba là, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường đô
thị Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, nhất là từ khi xuất hiện nền sảnxuất hàng hóa loài người đã gây ra nhiều biến đổi cho môi trường, ảnh hưởngxấu đến chất lượng môi trường sống Tình trạng nguồn nước bị nhiễm bẩn,môi trường không khí bị ô nhiễm là những thách thức lớn mà con ngườiphải đối đầu cho sự tồn tại và phát triển của mình
Bốn là, bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị Đây là yếu tố giữ vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo mỹ quan đô thị nhằm thỏa mãn một trongnhững nhu cầu không thể thiếu của con người, đó là nhu cầu thư giãn, nghỉngơi, giải trí
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảmbảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Do đó, trong lĩnh vựcBVMT nói chung, BVMT đô thị nói riêng cũng cần phải có những quy địnhcủa pháp luật có liên quan, điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong đónhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc BVMT đô thị Pháp luật từ trướcđến nay luôn đem tới hiệu quả cao trong công tác BVMT Do đó, pháp luật
Trang 17được coi là công cụ hiệu quả trong hoạt động BVMT trong đó có môi trường
đô thị
Có thể nói, về mặt xây dựng thể chế, thời gian qua, công tác xây dựng,hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT được Đảng và Nhà nước ta rất quantâm Một trong những thành tựu của hệ thống pháp luật về BVMT là việc xâydựng, xác định được hệ thống nguyên tắc cơ bản trong chính sách, pháp luật vềBVMT Những nguyên tắc, chính sách cơ bản xuất phát từ chủ trương phát triểnkinh tế - xã hội theo mô hình bền vững (vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế,BVMT và ổn định, công bằng xã hội)
Pháp luật BVMT ở Việt Nam là một bộ phận của hệ thống pháp luật ViệtNam gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừanhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hộ liên quan trức tiếp đến hoạt độngkhai thác, quản lí và bảo vệ các yếu tố môi trường
Từ sự phân tích trên chúng ta có thể định nghĩa pháp luật về BVMT đô
thị là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị và bảo vệ đa dạng sinh học.
1.1.2.2 Đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
Từ khái niệm về pháp luật BVMT đô thị ta có thể xác định được các đặcđiểm của pháp luật BVMT đô thị như sau:
Thứ nhất, pháp luật về BVMT đô thị điều chỉnh các mối quan hệ phát
sinh trong quá trình các chủ thể tiến hành hoạt động quản lý, BVMT đô thị.Các mối quan hệ phát sinh trong quá trình các chủ thể tiến hành hoạt độngBVMT đô thị gồm:
Trang 18Nhóm thứ nhất gồm các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá
trình họ tiến hành hoạt động gây ô nhiễm hoặc có khả năng gây tác động tiêucực tới môi trường ví dụ nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, nhà hàng, khu dân cư,khu đô thị mới Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của phápluật, các chủ thể này có trách nhiệm phối hợp để cùng nhau giải quyết khi cócác vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động theo quy định của pháp luật
Nhóm thứ hai gồm các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý nhà
nước về BVMT đô thị: đặc trưng của nhóm quan hệ này là một hoặc các bêntrong quan hệ là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhóm quan hệ này cóthể phát sinh trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành cáchoạt động quản lý nhà nước về BVMT đô thị theo quy định của pháp luật nhưthanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật môi trường, xử lý các hành vi viphạm pháp luật môi trường Đồng thời, quan hệ này cũng có thể phát sinhgiữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhau trong việc phối hợp giảiquyết các sự cố phát sinh trong quá trình BVMT
Thứ hai, pháp luật về BVMT đô thị được ban hành nhằm mục đích
phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực cho môitrường, khắc phục và xử lý các hậu quả xảy ra đối với môi trường
Trong hoạt động BVMT đô thị nói riêng, việc phòng ngừa luôn có ýnghĩa đặc biệt quan trọng Phòng ngừa tức là tiến hành các hoạt động kiểmsoát ngay từ khi chưa xảy ra ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường hay sự
cố môi trường Nếu để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoát tàinguyên hay sự cố môi trường thì việc giải quyết hậu quả sẽ vô cùng phức tạp,vừa tốn kém về tiền bạc, tốn kém về thời gian vừa tốn kém về công sức của cảcác cơ quan nhà nước và tất cả các chủ thể có liên quan
Thứ ba, pháp luật về BVMT đô thị quy định về quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể có liên quan Pháp luật xác lập ranh giới giữa những hành vi được
Trang 19làm, không được làm và phải làm của các chủ thể nhằm BVMT đô thị Nộidung các quy định pháp luật về BVMT đô thị bao gồm quyền và nghĩa vụ củacác cơ quan nhà nước, của các tổ chức và cá nhân có liên quan Các cơ quannhà nước chỉ được thực hiện các hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thựchiện hoặc giám sát việc thi hành pháp luật BVMT đô thị trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn luật định của mình Tương tự, đối với các tổ chức và cá nhân,pháp luật cũng xác định khung pháp lý buộc các chủ thể điều chỉnh hành vi
xử sự của mình nhằm BVMT đô thị
Thứ tư, pháp luật BVMT đô thị chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế
về môi trường Đây là một đặc điểm của pháp luật BVMT hiện nay của nước
ta Do tính thống nhất của môi trường, các yếu tố, thành phần môi trường củaViệt nam vừa là đối tượng tác động của pháp luật trong nước vừa là đối tượngtác động của các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt nam đã là thànhviên.Vì vậy pháp luật BVMT ở Việt nam cũng được xây dựng hài hòa với cácđiều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các thành viên đó
1.1.3 Nội dung pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
1.1.3.1 Quy định về trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường đô thị
Chủ thể trong pháp luật về BVMT đô thị là những cơ quan, tổ chức, cánhân tiến hành các hoạt động nhằm giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạchđẹp, bảo vệ sức khỏe của con người Như vậy, chủ thể trong quan hệ phápluật BVMT đô thị gồm hai nhóm cơ bản sau đây:
Trước hết, chúng ta cần phải xác định rằng, trong bất kỳ hoạt động quản
lý nhà nước nào, thì Chính phủ là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn và tráchnhiệm cao nhất trong việc thực hiện hoạt động quản lý đó Việc BVMT nóichung và BVMT đô thị nói riêng trước hết thuộc về trách nhiệm của Chính
Trang 20phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ở trung ương, là đầumối quản lý và giám sát việc thực hiện các hoạt động THPL về BVMT đô thị.Theo quy định của Điều 140 Luật BVMT năm 2014 thì: Chính phủthống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước.
Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, "Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước" (Điều 1) Trong quản lý tài
nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, Chính phủ có nhiệm vụ
và quyền hạn sau đây:
+ Thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và ứng phóvới biến đổi khí hậu; tổ chức quy hoạch, kế hoạch và xây dựng chính sách bảo
vệ, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường; chủ động phòng, chống thiêntai, ứng phó với biến đổi khí hậu
+ Quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường;bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; phát triển năng lượng sạch, sản xuấtsạch, tiêu dùng sạch; phát triển các dịch vụ môi trường và xử lý chất thải.+ Thống nhất quản lý, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, dựbáo khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và đánh giá tác động môi trường đểchủ động triển khai có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và ứngphó với biến đổi khí hậu
+ Quyết định chính sách cụ thể về bảo vệ, cải thiện và giữ gìn môitrường; chỉ đạo tập trung giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở các khuvực trọng điểm; kiểm soát ô nhiễm, ứng cứu và khắc phục sự cố môi trường.+ Thi hành chính sách về bảo vệ, cải tạo, tái sinh và sử dụng hợp lý cácnguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 21Với trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trườngtrong phạm vi cả nước, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định Chínhphủ có trách nhiệm hướng dẫn thi hành các nội dung cụ thể của Luật Bảo vệmôi trường năm 2014, bao gồm các nội dung sau đây: Nội dung cơ bản củaquy hoạch bảo vệ môi trường Đối tượng phải thực hiện đánh giá môi trườngchiến lược, đánh giá tác động môi trường, đối tượng phải lập kế hoạch bảo vệmôi trường Quy định lộ trình, phương thức tham gia hoạt động giảm nhẹ khínhà kính toàn cầu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và cam kết tại điềuước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên Kiểm soát ô nhiễmmôi trường đất, không khí Bảo vệ môi trường làng nghề Quy định cụ thể đốitượng, điều kiện được phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng Yêucầu về quản lý chất thải Xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.Điều kiện hoạt động quan trắc môi trường Ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệmôi trường Xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Như vậy, chúng ta có thể thấy, Chính phủ là cơ quan chủ quản, quản lýcao nhất và thống nhất trong việc BVMT đô thị
Hai là, các chủ thể có thẩm quyền trong công tác BVMT như Bộ Tài
nguyên và Môi trường, các Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên
và Môi trường, UBND các cấp, cơ quan cảnh sát môi trường, thanh tra môitrường và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác Các chủ thể này
có đặc điểm là đại diện cho quyền lực nhà nước trong công tác BVMT đô thị,được sử dụng quyền lực nhà nước khi thực hiện các quy định của pháp luật vềBVMT đô thị
Sự phân cấp quản lý và chức năng của các cơ quan quản lý này trongphát triển và BVMT đô thị được pháp luật quy định như sau:
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có trách nhiệm xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn toàn quốc đến năm 2020 (qui
Trang 22định tại Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006), cơ quan quản lý nhànước trực tiếp là Cục Chế biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối.
- Bộ Công thương chịu trách nhiệm quản lý các cụm, điểm công nghiệp
ở cấp huyện và các doanh nghiệp công nghiệp địa phương (qui định tại Nghị
định 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007), cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp
là Cục Công nghiệp địa phương
- Bộ TNMT chịu trách nhiệm xây dựng và ban hành các chính sách liên quan đến BVMT cả nước Tổng Cục môi trường là cơ quan quản lý, kiểm soát
ô nhiễm môi trường trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, trong đó
áp dụng công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường; các giải pháp sản xuấtsạch hơn, tiết kiệm năng lượng; chủ trì hoặc phối hợp các Sở Y tế, Sở CôngThương, UBND các cấp huyện, thị xã và các tổ chức chính trị - xã hội, cáchiệp hội, đại diện cộng đồng dân cư tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhậnthức về vệ sinh môi trường, kiểm soát ô nhiễm ở đô thị; tổ chức thu phí môitrường đối với nước thải, khí thải và chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở trong
đô thị theo quy định; thẩm định Báo cáo ĐTM, Đề án BVMT chi tiết theothẩm quyền đối với các cơ sở trong đô thị; thực hiện quan trắc MTLN; chủ trì
và phối hợp với UBND cấp quận, UBND cấp phường, xã tổ chức thanh tra,kiểm tra và hướng dẫn cơ sở thực hiện các quy định pháp luật kiểm soát ô
Trang 23nhiễm ở đô thị theo thẩm quyền Giám sát thực hiện công khai thông tin vềmôi trường ở đô thị trên địa bàn; Báo cáo Bộ TNMT về hiện trạng hoạt động,tình hình phát sinh và xử lý chất thải của đô thị.
- Phòng TNMT của UBND quận/huyện: là cơ quan chuyên môn chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp, toàn diện của UBND huyện Phòng TNMT
tham mưu, giúp UBND quận/huyện thực hiện quản lý nhà nước kiểm soát ônhiễm tại các đô thị, đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn,nghiệp vụ của Sở TNMT
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, phường và thị trấn: hiện nay thường là cán bộ địa phương kiêm nhiệm, công việc chính là quản lý đất đai
(số lượng công việc rất nhiều, chiếm gần hết thời gian), việc thực hiện tráchnhiệm về quản lý môi trường, kiểm soát ô nhiễm rất khó khăn
Ba là, nhóm chủ thể không được sử dụng quyền lực nhà nước khi thực
hiện công tác BVMT đô thị, đó là các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cánhân có liên quan Ví dụ: Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân
có trách nhiệm thực hiện các quy định về BVMT đô thị và giữ gìn vệ sinh nơicông cộng; đổ, bỏ rác vào thùng chứa rác công cộng hoặc nơi quy định tậptrung rác thải; tổ chức tự quản về BVMT có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốccác hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh môi trường đôthị…
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đô thị: là một trong những chủ
thể trực tiếp tham gia và có vai trò rất quan trọng trong BVMT đô thị Chủ thểnày có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về đánh giá môi trườngnhư ĐTM, cam kết BVMT hoặc lập đề án BVMT chi tiết, đề xuất BVMT đơngiản theo quy định của pháp luật hiện hành Bên cạnh đó, chủ thể này phảithực hiện tốt các thỏa thuận trong hương ước, quy ước của địa phương Đốivới công tác quản lý chất thải, các cơ sở này phải có trách nhiệm tuân thủ các
Trang 24quy định pháp luật về kiểm soát tiếng ồn, bụi, nhiệt, khí thải, nước thải vàthực hiện các biện pháp xử lý tại chỗ như thu gom, xử lý toàn bộ lương nướcthải phát sinh trong quá trình hoạt động và khí thải; đảm bảo nước thải, khíthải sau khi được xử lý đạt quy chuẩn xả thải theo quy định của pháp luật hiệnhành; phải đảm bảo thực hiện tốt các khâu từ thu gom, phân loại, vận chuyển,tập kết chất thải rắn đúng nơi quy định
Pháp luật còn quy định các cơ sở này phải có trách nhiệm tiếp cận và vậnhành đúng các quy định các hạng mục công trình xử lý chất thải nếu đượcchọn đầu tư; chủ động tìm hiểu, nghiên cứu, cải tiến công nghệ, áp dụng côngnghệ sản xuất thân thiện với môi trường, các giải pháp sản xuất sạch hơn, tiếtkiệm năng lượng hơn trong sản xuất, kinh doanh Bên cạnh đó, các cơ sở nàyphải thực hiện di dời, chuyển đổi ngành nghề sản xuất hoặc chấp hành cácbiện pháp xử lý theo quy định của pháp luật; Trường hợp xảy ra sự cố cháy,
nổ, rò rỉ hóa chất, phát tán ô nhiễm thì phải báo cáo ngay cho UBND cấp xã
để chỉ đạo xử lý và khắc phục kịp thời; đóng góp kinh phí xây dựng, vận hànhduy tu, bảo dưỡng và cải tạo các công trình thuộc kết cấu hạ tầng về BVMT
đô thị; nộp phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đầy đủ và đúnghạn; đối với chất thải nguy hại, cần phân loại, lưu giữ và chuyển cho đơn vị
có giấy phép hành nghề theo quy định; nộp đủ và đúng thời hạn các loại phíBVMT đối với nước thải, khí thải và chất thải rắn cũng như các loại phí, lệphí khác có liên quan theo quy định của pháp luật; báo cáo UBND cấpphường về tình hình phát sinh và xử lý chất thải của cơ sở mỗi năm một lầnhoặc đột xuất theo yêu cầu của các cơ quan quản lý có thẩm quyền,
Cộng đồng dân cư sinh sống ở các đô thị: các chủ thể này đóng vai trò
quan trọng trong các hoạt động đánh giá môi trường, cụ thể là: từ khâu lậpbáo cáo ĐTM, chủ dự án đã phải tổ chức tham vấn ý kiến của đại diện cộngđồng dân cư Tiếp đó đến khâu thẩm định và giám sát sau thẩm định ĐTM,
Trang 25pháp luật quy định cộng đồng dân cư có quyền đưa ra ý kiến đồng ý haykhông đồng ý đối với cách đặt dự án tại khu vực họ đang sinh sống hay đốivới các phương án BVMT của dự án Họ có quyền kiểm tra, giám sát và pháthiện những hành vi vi phạm trong quá trình THPL về đánh giá môi trường vàcác chủ thể khác
Đặc biệt, liên quan đến hoạt động BVMT tại các đô thị, trách nhiệm của
tổ chức tự quản về BVMT cũng được quy định một cách rõ ràng, cụ thể Đây
là tổ chức được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cộngđồng trách nhiệm Trong quá trình BVMT tại các đô thị, Tổ chức tự quản vềBVMT có trách nhiệm: bố trí lực lượng, phương tiện và thiết bị thu gom, vậnchuyển chất thải rắn đến các nơi tập kết theo quy định; Thực hiện việc quản
lý, vận hành, duy tu, cải tạo các công trình thuộc kết cấu hạ tầng về BVMTtheo sự phân công của UBND cấp xã; Niêm yết các quy định và theo dõi,kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện giữ gìn vệ sinh và BVMT của cơ sở trên địabàn theo phân công của UBND cấp xã; xây dựng và tổ chức thực hiện hươngước, quy ước có nội dung về BVMT đô thị; tuyên truyền, vận động nhân dânxoá bỏ các hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có hại cho môi trường; khi phát hiệncác dấu hiệu bất thường về ô nhiễm môi trường hoặc sự cố môi trường hoặccác hành vi phạm quy định pháp luật về BVMT tại địa bàn được phân côngquản lý, thì xử lý đúng thẩm quyền hoặc báo cáo ngay cho UBND cấp xã; báocáo UBND cấp xã về hiện trạng hoạt động, tình hình thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải theo quy định
Với những quy định trên đây về trách nhiệm của cộng đồng dân cư trongBVMT do các hoạt động của đô thị gây ra bước đầu đã tạo được nhữngchuyển biến đáng kể trong việc BVMT đô thị
Trang 261.1.3.2 Quy định về phòng ngừa ô nhiễm, ứng phó và khắc phục sự
Quy hoạch BVMT là việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát triển
và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật BVMT gắn với hệ thống giải phápBVMT trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững
Bên cạnh đó còn có các quy định pháp luật về yêu cầu về BVMT đối với
đô thị BVMT đô thị thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững gắn vớiviệc duy trì các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử và bảo đảm tỷ lệ không gianxanh theo quy hoạch Có kết cấu hạ tầng về BVMT đồng bộ, phù hợp với quyhoạch đô thị, khu dân cư tập trung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnphê duyệt Có thiết bị, phương tiện, địa điểm để phân loại tại nguồn, thu gom,tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải
và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ giađình trong khu dân cư Bảo đảm yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môitrường; lắp đặt và bố trí công trình vệ sinh nơi công cộng
Để phòng ngừa sự cố môi trường, tại Điều 108 của Luật BVMT năm
2014 đã quy định về trách nhiệm của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh trong
Trang 27phòng ngừa sự cố môi trường với các biện pháp như: Lập kế hoạch phòngngừa và ứng phó; lắp đặt thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó; đào tạo,huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố môi trường; thực hiệnchế độ kiểm tra thường xuyên, áp dụng biện pháp an toàn theo quy định củapháp luật; có biện pháp loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố môi trường khi pháthiện có dấu hiệu sự cố môi trường Ngoài ra, Luật BVMT năm 2014 còn cócác quy định khác về biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường như quy hoạchBVMT, ĐMC, ĐTM, quản lý chất thải, đánh giá sức chịu tải của môi trường;công bố các đoạn sông, dòng sông không còn khả năng tiếp nhận chất thải;xác định hạn ngạch xả nước thải vào sông; phương án BVMT; bảo hiểm môitrường, ký quỹ cải tạo và phục hồi môi trường, quy chuẩn kỹ thuật về môitrường; quan trắc môi trường; công khai thông tin môi trường; thanh tra, kiểmtra, kiểm soát hoạt động BVMT Có thể thấy, đây là những quy định quantrọng có vai trò quyết định địa điểm, công nghệ của dự án, kiểm soát việc xảthải, giám sát quá trình hoạt động của cơ sở, để hạn chế tối đa ô nhiễm môitrường hoặc sự cố môi trường.
Hiện nay, cơ chế ứng phó sự cố và thiên tai ở nước ta là tương đối đầy
đủ, nhất là khi Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2017/NĐ-CP quy định
tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
Khắc phục sự cố môi trường: Khi sự cố môi trường xảy ra, sẽ xuất hiệncác loại thiệt hại: Thiệt hại về môi trường (sự thay đổi theo chiều hướng bấtlợi của hệ sinh thái, mất an toàn môi trường, ô nhiễm môi trường…); Thiệthại về dân sự (ảnh hưởng tới sức khỏe, an toàn của con người, mất nguồn thunhập, thiệt hại về tài sản, thay đổi theo hướng bất lợi về nơi sinh sống và sinhkế…)
Theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, thì người gây sự cốmôi trường phải gánh chịu toàn bộ hậu quả do hành vi của mình gây ra như
Trang 28bồi thường thiệt hại về môi trường, bồi thường thiệt hại về dân sự và khắcphục sự cố môi trường, hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự
1.1.3.4 Quy định về giải quyết tranh chấp môi trường, xử lý vi phạm pháp luật môi trường
Tranh chấp môi trường là những xung đột giữa các tổ chức, cá nhân, cáccộng đồng dân cư về quyền và lợi ích liên quan đến việc phòng ngừa, khắcphục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; về việc khai thác, sử dụng hợp lícác nguồn tài nguyên và môi trường; về quyền được sống trong môi trườngtrong lành và quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản do làm ô nhiễmmôi trường gây nên
Nội dung tranh chấp về môi trường gồm: tranh chấp về quyền, tráchnhiệm BVMT trong khai thác, sử dụng thành phần môi trường; tranh chấp vềxác định nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tranh chấp
về trách nhiệm xử lý, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suythoái, sự cố môi trường
Giải quyết tranh chấp là các hoạt động khắc phục, loại trừ tranh chấp đãphát sinh bằng một phương pháp nào đó, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các bên tranh chấp, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội Việc giải quyết tranhchấp về môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyếttranh chấp dân sự ngoài hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan
Vi phạm pháp luật môi trường là hành vi cố ý hoặc vô ý của tổ chức, cánhân không tuân thủ các quy định về pháp luật môi trường
Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về BVMT, gây ô nhiễm, suy thoái,
sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân khác, có trách nhiệmkhắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theoquy định của pháp luật
Trang 29Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật môi trường có thể gánhchịu các loại trách nhiệm sau đây:
* Trách nhiệm hành chính: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT lànhững hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVMT
do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội
phạm và theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11
năm 2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực BVMT
Hành vi vi phạm môi trường bị xử lý hành chính bao gồm: hành vi viphạm các quy định về kế hoạch BVMT, đánh giá tác động môi trường và đề
án BVMT; các hành vi gây ô nhiễm môi trường; các hành vi vi phạm các quyđịnh về quản lý chất thải; hành vi vi phạm quy định về BVMT của cơ sở sảnxuất, kinh doanh và dịch vụ (sau đây gọi chung là cơ sở) và khu công nghiệp,khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụtập trung (sau đây gọi chung là khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung);hành vi vi phạm các quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu máy móc,thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phếliệu, chế phẩm sinh học; nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; hoạtđộng lễ hội, du lịch và khai thác khoáng sản; hành vi vi phạm các quy định vềthực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường;hành vi vi phạm hành chính về đa dạng sinh học bao gồm: Bảo tồn và pháttriển bền vững hệ sinh thái tự nhiên; bảo tồn và phát triển bền vững các loàisinh vật và bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền; hành vi cảntrở hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hànhchính và các hành vi vi phạm quy định khác về BVMT
Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: cảnh cáo; phạt tiền
Trang 30tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức.Ngoài ra còn bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng cóthời hạn đối với các loại giấy phép xử lý chất thải nguy hại, giấy phép xả thảikhí thải công nghiệp, giấy xác nhận đủ điều kiện về BVMT trong nhập khẩuphế liệu làm nguyên liệu sản xuất…và tịch thu tang vật vi phạm hành chính,phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT.Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm môi trường có trách nhiệm thực hiệncác biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc khôi phục lại tình trạng môitrường đã bị ô nhiễm hoặc phục hồi môi trường bị ô nhiễm do vi phạm hànhchính gây ra; buộc trồng lại, chăm sóc và bảo vệ diện tích khu bảo tồn đã bịphá hủy, phục hồi sinh cảnh ban đầu cho các loài sinh vật, thu hồi nguồn gen
từ các hoạt động tiếp cận nguồn gen trái pháp luật; buộc tháo dỡ hoặc di dờicây trồng, công trình, phần công trình xây dựng trái quy định về BVMT; buộctháo dỡ công trình, trại chăn nuôi, khu nuôi trồng thủy sản, nhà ở, lán trại xâydựng trái phép trong khu bảo tồn; buộc thực hiện các biện pháp khắc phụctình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả
vi phạm theo quy định
* Trách nhiệm dân sự
Tổ chức, cá nhân có hành vi gây tổn hại môi trường, gây ảnh hưởng tớitính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì phải chịu trách nhiệm dân sự
cụ thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ô nhiễm môi trường và hậu quả do
ô nhiễm môi trường phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyềnnghiên cứu, điều tra và kết luận kịp thời Hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môitrường của tổ chức, cá nhân phải được phát hiện và xử lý kịp thời theo quyđịnh của pháp luật
Trang 31Theo quy định tại các Điều 4, Điều 163, Điều 164, Điều 165 LuậtBVMT năm 2014 và Điều 263, Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 Thiệt hại do ônhiễm, suy thoái môi trường gồm: suy giảm chức năng, tính hữu ích của môitrường; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữuích của môi trường gây ra [33].
Các tội phạm môi trường bao gồm: tội gây ô nhiễm môi trường, tội viphạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, tội vi phạm quy định về phòngngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường, tội vi phạm quy định về bảo vệ
an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quyđịnh về bảo vệ bờ, bãi song, tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, tội làmlây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, tội làm lây lan dịchbệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật, tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản, tộihuỷ hoại rừng, tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp,quý hiếm, tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, tộinhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại
Trang 32Người thực hiện hành vi phạm tội môi trường nếu là cá nhân bị áp dụnghình phạt tiền, phạt tù Đối với pháp nhân thương mại áp dụng hình phạt tiền
và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
1.1.4 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
Thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội đòi hỏi phải có các chuẩn mựctrong mọi hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuântheo Những văn bản quy định những nguyên tắc như vậy người ta gọi là vănbản quy phạm pháp luật, được nhà nước đảm bảo cho nó được thực hiện Cácvăn bản quy phạm pháp luật về môi trường đô thị cũng chính là những quytắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật
Có thể nói trong hệ thống pháp luật Việt Nam thì pháp luật BVMT đô thị
là lĩnh vực mới nhất Nguyên nhân là do vấn đề môi trường mới thực sự đặt ranhững thách thức khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới tới nay Trongthời gian sau đó thì vấn đề môi trường ngày càng trở nên trầm trọng: sự ônhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất Vì vậy mà vấn
đề BVMT đã được đưa ra và thực hiện phổ biến Tuy nhiên, pháp luật BVMT
đô thị lại có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn Bên cạnh
đó pháp luật BVMT đô thị ngày càng có vai trò quan trọng trong việc BVMTnói chung, môi trường đô thị nói riêng, thể hiện:
Thứ nhất, pháp luật BVMT đô thị là cơ sở pháp lý quy định cơ cấu tổ
chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVMT
Hệ thống cơ quan quản lý môi trường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nướcnói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống địa phương
Thứ hai, pháp luật BVMT đô thị là cơ sở pháp lý cho việc thanh tra,
kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường.Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, định kì hàng năm hoặckiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn
Trang 33xử lí vi phạm được áp dụng cho mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước cónhững hành vi vô ý hay cố ý vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vựcmôi trường đô thị.
Thứ ba, pháp luật BVMT đô thị là cơ sở pháp lý cho xã hội hóa công tác
1.2.1.1 Khái niệm của thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
Thực hiện pháp luật là hành vi của con người được tiến hành phù hợpvới yêu cầu của các quy phạm pháp luật Khoa học pháp lý gọi đó là nhữnghành vi hợp pháp THPL là quá trình hoạt động có mục đích làm cho nhữngquy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp
lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật
Để BVMT nói chung và môi trường đô thị nói riêng trước nguy cơ suythoái và ô nhiễm đang diễn ra dưới tác động của con người và thiên nhiên, đểphục vụ cho nhu cầu của con người và tốc độ phát triển của các đô thị, Nhànước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản QPPL về BVMT, nhằm điềuchỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động BVMT Tuy nhiên, đểnhững quy định pháp luật về BVMT đi vào cuộc sống và trở thành hành vi xử
sự hợp pháp của các chủ thể pháp luật về BVMT ở các đô thị phát huy tácdụng của nó trong thực tiễn, Nhà nước phải giữ vai trò cốt yếu trong việc thựchiện và tổ chức THPL về BVMT ở các đô thị, nhằm hạn chế tối đa sự gây ônhiễm môi trường do chất thải trong quá trình sản xuất, sinh sống, hoạt độngcủa đô thị đồng thời khuyến khích tạo điều kiện để các tổ chức và cá nhân đầu
tư cơ sở hạ tầng, tham gia THPL về BVMT ở các đô thị
Trang 34Từ lý giải trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm THPL về BVMT đô
thị: là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về BVMT ở các đô thị đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật về BVMT, nhằm phát huy tích cực, chủ động trong THPL về BVMT ở các đô thị, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về BVMT đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển bền vững.
1.2.1.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
Trên cơ sở khái niệm về thực hiện pháp luật về BVMT đô thị như đã đưa
ra ở phần trên, chúng ta có thể rút ra các đặc điểm của thực hiện pháp luật vềBVMT đô thị như sau:
Một là, việc THPL về BVMT đô thị là hoạt động hợp pháp của các chủ
thể tham gia vào quan hệ pháp luật về BVMT đô thị Đây là đặc điểm đầu tiênthể hiện tính chất của hoạt động này Hành vi hợp pháp nghĩa là những hành
vi mang tính pháp lý phù hợp với các quy định của pháp luật, cũng có thểhiểu là hành vi làm đúng theo những gì mà pháp luật quy định Như vậy, mộtchủ thể thực hiện pháp luật phải bằng hành vi hợp pháp, có thể là hành vihành động hoặc không hành động nhưng phải làm đúng, làm đủ, không tráivới những quy định của pháp luật
Điều này đồng nghĩa với việc THPL về BVMT đô thị cần đảm bảo tínhhợp pháp của các chủ thể như: Chính phủ, Các cơ quan nhà nước mà nòng cốt
là Bộ TNMT và các chủ thể khác trong xã hội như doanh nghiệp, cơ quan, tổchức, cá nhân Như vậy, khi thực hiện đúng các quy định của pháp luật sẽ gópphần thúc đẩy, đảm bảo các yếu tố của BVMT nói chung và môi trường đô thịnói riêng
Hai là, hoạt động THPL về BVMT đô thị được thể hiện cụ thể đó là việc
đưa các quy phạm pháp luật vào thực hiện trên thực tế Hoạt động thực hiện
Trang 35pháp luật đưa kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là các văn bản quyphạm pháp luật có hiệu lực thi hành vào cuộc sống nghĩa là các quy phạmpháp luật sẽ được các chủ thể khác nhau thực hiện một cách hợp pháp trongthực tế cuộc sống
Như vậy, các quy định của pháp luật trên giấy tờ sẽ được hiện thực hóatrong đời sống thông qua hành vi hợp pháp của các chủ thể
Như chúng ta đã phân tích ở phần trên, hệ thống pháp luật về bảo vệmôi trường đô thị ở Việt Nam đã được hoàn thiện tương đối đầy đủ với nhiềuvăn bản khác nhau Tuy nhiên, nếu như các văn bản này được ban hànhnhưng không được các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện trên thực tế thìluật cũng chỉ nằm trên giấy mà thôi, đồng thời với điều đó là môi trường nóichung và môi trường đô thị nói riêng sẽ không được bảo vệ một cách chặt chẽnhất Do đó, việc THPL về BVMT sẽ góp phần quan trọng vào công tácBVMT đô thị ở Việt Nam trong những năm tới đây
Ba là, về chủ thể của THPL về BVMT đô thị là rất rộng lớn Hiện nay
theo quy định của pháp luật về BVMT ở Việt Nam thì các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có vai trò trong hoạt động BVMT đô thị là rất đa dạng gồm: Nhànước, các cơ quan nhà nước như: chính phủ, các bộ, ngành…; các doanhnghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ pháp luật; các tổ chức kháchoặc cá nhân Các chủ thể này sẽ phải đáp ứng được yêu cầu am hiểu hệthống pháp luật về BVMT cũng như thực hiện đầy đủ các yêu cầu, yếu tốquyết định việc BVMT đô thị
Bốn là, về phương pháp THPL về BVMT đô thị thì cần đảm bảo các yếu
tố sau Nhà nước ta là nhà nước XHCN, do đó THPL về BVMT đô thị đồngthời phải dựa trên cơ sở giáo dục thuyết phục THPL bằng phương pháp tuyêntruyền, giáo dục pháp luật là để mọi tổ chức, mọi người dân nâng cao ý thứcpháp luật, tự giác tuân thủ chấp hành pháp luật, làm những điều pháp luật cho
Trang 36phép Đối với các trường hợp vi phạm, các biện pháp tổ chức, hành chính,kinh tế sẽ được áp dụng, tùy theo mức độ vi phạm Pháp luật nào cũng có tínhcưỡng chế thi hành, vì vậy cưỡng chế thi hành pháp luật BVMT đô thị là cầnthiết Tuy nhiên, chúng ta không tuyệt đối hóa các biện pháp cưỡng chếTHPL về BVMT đô thị
Năm là, về mục đích của việc THPL về BVMT đô thị Mục đích cưỡng
chế không nhằm trừng trị, trấn áp về thể xác, tinh thần mà nhằm phòng ngừacác hành vi vi phạm pháp luật có tổ chức Cùng với việc sử dụng các biệnpháp cưỡng chế, Nhà nước cố gắng thể hiện trong pháp luật BVMT đô thịnhững tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, làm cho phápluật BVMT đô thị có tính thuyết phục, đồng thời tăng cường công tác tuyêntruyền giáo dục pháp luật BVMT đô thị để mỗi người dân nhận thức sâu sắcvai trò to lớn của pháp luật BVMT đô thị và thực hiện nghiêm chỉnh nó
1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
Hình thức THPL là cách thức mà các chủ thể tiến hành các hoạt động cómục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống Các QPPLmôi trường đô thị có số lượng rất lớn với nhiều nội dung phong phú Vì thế,hình thức THPL về BVMT đô thị cũng rất đa dạng
1.2.2.1 Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu (BĐKH) cùng với suy thoái tàinguyên là những thách thức lớn của nhân loại trong thế kỷ 21, làm thay đổicác hệ sinh thái tự nhiên, quá trình phát triển, đe dọa nghiêm trọng đối với anninh môi trường Để phòng ngừa, ứng phó với vấn đề trên, các quốc gia đãthảo luận, thống nhất đưa ra những quy định chung làm căn cứ để mỗi nước
có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ Căn cứ vào luật pháp quốc tế và điều kiệnthực tế về tự nhiên, kinh tế - xã hội, phong tục tập quán riêng… mỗi nước đã
Trang 37xây dựng, ban hành Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành để điều chỉnhhành vi của mỗi cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, để các văn bản pháp luật mớiban hành đi vào cuộc sống thì cần phát huy vai trò của công tác tuyên truyền,phổ biến, giáo dục về BVMT.
Trong gần 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủtrương, đường lối, nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật về BVMTnhư Khoản 1 Điều 6, Luật BVMT năm 2014 nêu rõ một trong những hoạtđộng được khuyến khích là “truyền thông, giáo dục và vận động mọi ngườitham gia BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và
đa dạng sinh học” hay “phổ biến, giáo dục pháp luật về BVMT phải đượcthực hiện thường xuyên và rộng rãi” (Điều 154) Khoản 1 và 2 Điều 155 củaLuật quy định cụ thể công tác giáo dục về môi trường, đào tạo nguồn nhânlực: “Chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông phải có nội dunggiáo dục về môi trường”, “Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực BVMT;khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường và đàotạo nguồn nhân lực BVMT”…
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMTtrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xác định, giảipháp quan trọng để BVMT đó là “đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dụcnâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT” Mới đây nhất, tại Nghị quyết số24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản
lý tài nguyên và BVMT được Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa XI thông qua, đã nhấn mạnh nhóm giải pháp chính để BVMT là:
“Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức,hình thành ý thức chủ động ứng phó với BĐKH, sử dụng tiết kiệm tài nguyên
và BVMT”
Trang 38Trong thời gian qua, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, côngtác tuyên truyền về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đã đượctriển khai tương đối toàn diện, rộng khắp và đạt được những kết quả bước đầukhá tích cực.
Nội dung tuyên truyền bao gồm chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khíhậu; hoạt động thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổikhí hậu của các cơ quan quản lý nhà nước; việc chấp hành pháp luật về bảo vệmôi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu của các tổ chức, cá nhân; thông tin,tuyên truyền về các kịch bản biến đổi khí hậu và các hệ quả của nó ở ViệtNam cũng như trên thế giới; tuyên truyền về các kết quả nghiên cứu khoahọc, các dự báo, cảnh báo liên quan đến biến đổi khí hậu; thông tin về cácchương trình, dự án ứng phó với biến đổi khí hậu; phản ánh các vi phạm trongchấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu củacác tổ chức, cá nhân; biểu dương những điển hình trong công tác bảo vệ môitrường, thông tin về những cách thức sáng tạo để bảo vệ môi trường trong sảnxuất và đời sống;…
Các hình thức tuyên truyền được sử dụng khá đa dạng Vai trò chủ lựcthuộc các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan truyền thông, cácmạng xã hội do thế mạnh của việc thông tin phát tán nhanh chóng đến cácnhóm công chúng trên nền tảng tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông.Một hình thức tuyên truyền quan trọng là lồng ghép tuyên truyền giáo dục vềbảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hệ thống giáo dục vàđào tạo từ mầm non đến đại học, sau đại học Ngoài ra, còn có hình thứctuyên truyền miệng, tổ chức các diễn đàn, sự kiện, hội thảo, triển lãm, tọađàm, câu lạc bộ, tuyên truyền qua hoạt động của đội ngũ cộng tác viên, tìnhnguyện viên đối với từng vùng, miền và các cộng đồng cụ thể…
Trang 39Về phương pháp tuyên truyền, bên cạnh phương pháp thuyết phục bằng
lý lẽ, các luận cứ, luận chứng để hình thành ở mỗi người một lập trường, thái
độ đúng đắn với môi trường, thay đổi quan điểm hoặc hành vi của họ và để họ
có hành động tự giác bảo vệ môi trường, các phương tiện thông tin đại chúngcòn sử dụng rộng rãi những sự việc, hiện tượng điển hình trong đời sống thực
tế ở địa phương, cơ sở, đưa ra các kiểu hành vi, lối sống tôn trọng, bảo vệ môitrường, từ đó tác động đến người dân, giúp họ hình thành những hành vi, lốisống phù hợp theo gương điển hình Ngoài ra, các phương pháp tuyên truyềnkhác cũng được sử dụng tích cực như pano, áp phích, khẩu hiệu cổ động,
Về chủ thể, có thể nói cả hệ thống chính trị tham gia tuyên truyền vềbảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, từ các cơ quan của Đảng,Nhà nước đến Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó vaitrò chủ lực thuộc về các cơ quan báo chí của Đảng, Nhà nước, các cơ quantuyên truyền, truyền thông của ngành tuyên giáo, ngành thông tin và truyềnthông, ngành tài nguyên và môi trường Bên cạnh đó, các tổ chức phi chínhphủ, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân cũngtham gia tuyên truyền về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu
1.2.2.2 Tổ chức, triển khai thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường đô thị
Thứ nhất, về hoạt động kiện toàn cơ cấu tổ chức, bộ máy và năng lựccán bộ làm công tác bảo vệ môi trường
- Ở cấp Trung ương: Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lýmôi trường ở cấp trung ương; có chức năng thẩm định và phê duyệt báo cáomôi trường và thực hiện giám sát sau khi xây dựng xong ĐTM Theo LuậtBảo vệ môi trường năm 2014, các bộ, ngành có trách nhiệm quản lý môitrường của các hoạt động trong lĩnh vực của mình
Trang 40- Ở cấp tỉnh: Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan giúp Ủy bannhân dân cấp tỉnh quản lý môi trường ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương Các sở có liên quan (Như Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Giáodục và Đào tạo, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch…) của tỉnh/thành phố trựcthuộc trung ương sẽ quản lý các dự án theo phân cấp tại địa phương Dưới cấp
Sở Tài nguyên và Môi trường, có ba Chi cục bao gồm Chi cục Bảo vệ môitrường, Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường và Quỹ Môi trường Chicục Bảo vệ Môi trường đóng vai trò quản lý môi trường, Trung tâm Quan trắc
và phân tích môi trường có trách nhiệm giám sát chất lượng môi trường vàQuỹ Môi trường quản lý các khoản đầu tư về môi trường Nhiệm vụ thẩmđịnh ĐTM và thực hiện giám sát sau khi xây dựng xong ĐTM thuộc về Chicục Bảo vệ môi trường
- Ở các thành phố trực thuộc cấp tỉnh: Phòng Tài nguyên và Môi trườngtrực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố chịu trách nhiệm quản lý môi trường.Mỗi phòng có từ 02 đến 05 cán bộ với chức năng chính liên quan đến pháttriển đô thị quốc gia khu vực miền núi phía Bắc Phòng Quản lý đô thị thànhphố trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố quản lý bốn lĩnh vực chính baogồm an toàn giao thông đô thị, xây dựng, sử dụng đất, vệ sinh môi trường vàquản lý đô thị Trong lĩnh vực xây dựng, một số vấn đề môi trường và an toàntại các địa điểm xây dựng cũng sẽ được đơn vị này giám sát, chẳng hạn như:Thanh tra, nhắc nhở và có những hành động, theo quy định của pháp luật vềhành vi vi phạm về an toàn giao thông, giấy phép xây dựng, xáo trộn mặt đất
và cảnh quan mà không được phép
Về hạn chế: (i) Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã có sự phân cấpmạnh chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT cho các bộ, ngành vàđịa phương Song thực tiễn cho thấy, tổ chức chuyên môn về BVMT, đặc biệttại các địa phương còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phân cấp quản