Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Vấn đề hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại đã từng được đề cập nghiên cứu với nhiều góc độ khác n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ TẤN DUYẾN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH
THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ TẤN DUYẾN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH
THỪA THIÊN HUẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8 34 02 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HOÀNG QUY
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2019
Học viên
Lê Tấn Duyến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy, Cô giáo trường Học viện Hành chính Quốc Gia đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học Đặc biệt là thầy TS Nguyễn Hoàng Quy – người hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian quý báu để chỉ dẫn và định hướng phương pháp nghiên cứu trong thời gian tôi tiến hành thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Chi nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thừa Thiên Huế, các cơ quan ban ngành, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, các đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian và đóng góp ý kiến giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu
Để thực hiện luận văn, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tự nghiên cứu với tinh thần chịu khó, nghị lực và ý chí vươn lên Tuy nhiên, không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định Kính mong Quý Thầy, Cô và bạn bè đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn
Xin gửi lời chúc sức khỏe và chân thành cảm ơn !
Học viên
Lê Tấn Duyến
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Tín dụng của Ngân hàng thương mại 6
1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 18
1.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng 24
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 24
1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại 26
1.2.3 Những chỉ tiêu phân loại và đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại 34
1.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 42
1.3.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của Vietinbank 43
1.3.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của VIB 44
1.3.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của HD Bank 44
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH HUẾ 46
Trang 62.1 Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank - Chi
nhánh Huế 46
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 46
2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh 49
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy 50
2.1.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 52
2.1.5 Nguồn nhân lực của Sacombank - CN Huế 56
2.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank - Chi nhánh Huế 59
2.2.1 Thực trạng huy động vốn và cho vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank Chi nhánh Huế 59
2.2.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank Chi nhánh Huế 66
2.2.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Sacombank - Chi nhánh Huế 71 2.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sacombank - Chi nhánh Huế 79
2.3.1 Những thành tựu đạt được trong quản trị rủi ro tín dụng 79
2.3.2 Những hạn chế cần khắc phục trong quản trị rủi ro tín dụng 80
2.3.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 83
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SACOMBANK CHI NHÁNH HUẾ 88
3.1 Mục tiêu chiến lược phát triển tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank - Chi nhánh Huế 88
3.1.1 Định hướng phát triển của Sacombank 88
3.1.2 Định hướng phát triển của Sacombank - Chi nhánh Huế 88
3.1.3 Định hướng về công tác quản trị rủi ro tín dụng 89
Trang 73.2 Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại tại Sacombank - Chi
nhánh Huế 92
3.2.1 Các giải pháp phòng ngừa rủi ro 92
3.2.2 Các giải pháp hạn chế, bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra 102
3.3 Kiến nghị 106
3.3.1 Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank 106
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan ban ngành 111
KẾT LUẬN 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Nguyên nghĩa
KPI : Key Performance Indicator
NHNN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
QHKH : Quan hệ khách hàng
Sacombank : Ngân hàng Sài gòn Thương tín
TMCP : Thương mại cổ phần
VIB : Ngân hàng Quốc tế
VietinBank : Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
VPSC : Công ty Dịch vụ Tiết kiệm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu đạt được trong năm 2018 của tỉnh
TT Huế 54Bảng 2.2 Dư nợ cho vay của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 55Bảng 2.3: Tình hình nhân sự của Sacombank - CN Huế qua các năm từ 2016 đến 2018 57Bảng 2.4: Tình hình Huy động vốn tại Sacombank - CN Huế từ năm 2016 đến 2018 59Bảng 2.5: Tình hình Dư nợ tại Sacombank - CN Huế từ năm 2016 đến 2018 62Bảng 2.6: Kết quả kinh doanh của Sacombank - CN Huế từ năm 2016 đến 2018 65Bảng 2.7: Tình hình phân loại nợ tại Sacombank - CN Huế từ năm 2016 đến 2018 66Bảng 2.8 Tình hình nợ nhóm 2 tại Sacombank - CN Huế 68Bảng 2.9: Bảng tình hình nợ xấu tại Sacombank - Chi nhánh Huế 70Bảng 2.10: Tổng hợp xếp loại khách hàng năm 2018 tại Sacombank - CN Huế 78
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng huy động vốn qua 03 năm 60
Biểu đồ 2.2: Huy động vốn theo kỳ hạn qua 03 năm 60
Biểu đồ 2.3: Huy động vốn theo đối tượng khách hàng qua 03 năm 61
Biểu đồ 2.4: Tăng trưởng tín dụng chung qua 03 năm 63
Biểu đồ 2.6: Tăng trưởng tín dụng theo đối tượng khách hàngqua 03 năm 64
Sơ đồ 2.1: Mô hình chấm điểm và xếp hạng khách hàng 77
Trang 11có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả vì nếu ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí phá sản Vì thế bộ phận quản lý tín dụng và quản trị rủi ro là hai bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của bất kỳ ngân hàng thương mại nào Các yếu tố khách quan thường là những nhìn nhận ban đầu và tổng quát
về triển vọng của dự án cần vay vốn Nếu dự án có triển vọng thành công cao thì rủi ro tín dụng thấp và ngược lại
Các yếu tố chủ quan có thể được hiểu là tính tin cậy của doanh nghiệp đi vay hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp khi đến hạn Nhân tố này được phân tích chủ yếu dựa vào các dữ liệu kế toán của doanh nghiệp
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế Sự luân chuyển dòng vốn giữa một bên CẦN vốn và một bên CÓ vốn nhàn rỗi đã xuất hiện quan hệ tín dụng Ngân hàng là một trung gian tài chính có chức năng: Nhận tiền gửi của
Trang 122
dân cư, tài chính kinh tế, tài chính tín dụng… và cho vay lại các thành phần kinh tế với lãi suất thích hợp Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự thanh khoản trong nền kinh tế Hiện nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa một bên là: Ngân hàng (người cho vay) và một bên là đối tượng đi vay (người dân, các thành phần trong nền kinh tế…) trên nguyên tắc hoàn trả Khi đáo hạn, khách hàng thanh toán cho ngân hàng
cả gốc và lãi thì quan hệ tín dụng là thành công Tuy nhiên, đối với một khoản vay, trong quá trình thực hiện, ngân hàng luôn phải trích lập một khoản dự phòng rủi ro khi có tín hiệu rủi ro từ phía đối tượng đi vay
Đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro tại NHTM đã trở nên cấp thiết Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp và khủng hoảng tài chính tăng cao Việt Nam là một nước có nền kinh tế
mở nên không tránh khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới Do đó, đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất có thể những nguy cơ gây nên rủi ro và Ngân hàng TMCP Sacombank cũng không là ngoại lệ
Với bối cảnh như thế, rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng đồng thời quản trị rủi ro tín dụng giữ vị trí trung tâm trong hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng Chính vì vậy tôi chọn đề tài "Quản trị rủi
ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sacombank Chi nhánh Huế” làm đề tài nghiên cứu
Trang 133
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại đã từng được đề cập nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau trong các tạp chí nghiên cứu khoa học, luận văn Thạc sĩ,… Liên quan đến đề tài, có một số công trình nghiên cứu ở những góc độ, khía cạnh khác nhau như sau:
- Nguyễn Thị Ánh Thúy - 2009: Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế
- Nguyễn Hồng Luận - 2010: Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NaviBank)
- Nguyễn Mạnh Phát - 2017: Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB)
- Dương Thị Hồng Hạnh - 2016: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - CN Quảng Nam
- Mai Xuân Thịnh - 2017: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Định
- Tưởng Thiều Nga - 2009: Giải pháp quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rũi ro tín dụng tại VietcomBank - CN Đồng Nai Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Việc tác giả chọn đề tài như trên là phù hợp với chuyên ngành và hoàn toàn không trùng lặp với những công trình đã được công bố Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng.
- Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh và hoạt động tín dụng, thực trạng về rủi ro tín dụng trong thời gian qua tại Ngân hàng TMCP Sacombank
Trang 144
Chi nhánh Huế, từ đó nhận biết được những mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế của những biện pháp phòng chống rủi ro áp dụng trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp có thể áp dụng trong thực tiễn để ngăn ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng, giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng tín dụng đảm bảo hoạt động kinh doanh của chi nhánh được ổn định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Sacombank Chi nhánh Huế
- Phạm vi nghiên cứu: Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sacombank Chi nhánh Huế và một số NHTM khác trên địa bàn tỉnh TT Huế
5 Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng từ những số liệu sơ cấp và thứ cấp
- Số liệu trong đề tài được lấy từ Báo cáo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sacombank - Chi nhánh Huế từ năm 2016 đến 2018
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Nâng cao nhận thức và hiểu biết về tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng trong Hệ thống Ngân hàng TMCP Sacombank nói chung và Chi nhánh Huế nói riêng
- Để ngân hàng có cái nhìn trực diện và bao quát về thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản lý rủi ro tín dụng hiện nay tại Chi nhánh Huế và thấy được những hạn chế và yếu kém còn tồn tại
- Định hướng Ngân hàng theo phương thức quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, đáp ứng các tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Sacombank - Chi nhánh Huế với các Ngân hàng thương mại khác trên địa bàn
Trang 155
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương,
Trang 166
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.1.1 Tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Ngân hàng thương mại
Khái niệm về Ngân hàng thương mại: NHTM có lịch sử xuất hiện từ rất lâu, nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng Người làm nghề đổi tiền thường là người giàu, trước đó có thể đã làm nghề cho vay nặng lãi Họ thường có két tốt để cất giữ để đảm bảo an toàn Do yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng) các chủ cửa hàng vàng, bạc vừa đổi tiền, thanh toán
hộ, vừa đúc tiền và cho vay nặng lãi Họ là những người làm nghề kinh doanh tiền tệ hay còn gọi là nhà buôn tiền Do tính chất vô danh của tiền nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay Hoạt động này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền - kẻ cho vay nặng lãi - thành nhà buôn tiền - ngân hàng Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi của khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi xuất cho vay
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá
Trang 177
phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
- Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
- Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó
để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
- Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Chức năng Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại có các chức năng cơ bản như sau:
- Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem
là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là
Trang 18Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa
mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
- Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn
Trang 199
được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng
hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng
tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán,
chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ
bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm do vậy ngân
hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn
1.1.1.2 Tín dụng của Ngân hàng thương mại
Khái niệm Tín dụng ngân hàng: Theo Mác, tín dụng là sự chuyển
nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau
một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị
ban đầu Theo quan niệm này phạm trù tín dụng có ba nội dung chủ yếu đó là:
tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi
vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình
thức tiền tệ hoặc hàng hoá Qúa trình đó được thể hiện qua ba giai đoạn sau:
- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay ở giai đoạn này, giá trị vốn
tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá
trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị
- Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Người đi vay sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng họ được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn
nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình Tuy nhiên, người đi vay chỉ được
quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền
sở hữu về giá trị đó
Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn
tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn
tín dụng được người đi vay hoàn lại cho người cho vay Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa
Trang 2010
vốn cần đầu tư và người cần vốn để sử dụng Nhưng thực tế hai người này khó có thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian hoặc cũng có thể phù hợp được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên để thoả mãn được nhu cầu của cả hai người thì cần thiết phải có người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi Trên cơ sở
số vốn tập trung được phân phối cho những người cần vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay Người đó không ai khác chính là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các NHTM - người môi giới tài chính trên thị trường tài chính Việc các NHTM tập trung vốn dưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới hình thức cho vay dược gọi là tín dụng ngân hàng
Qua khái niệm về tín dụng ngân hàng trên ta thấy vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM
- Tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân Hoạt động tín dụng ngân hàng làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn
- Tín dụng đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, góp phần đầu tư phát triển kinh tế
- Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, điều hoà lưu thông tiền tệ, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế ngoại thương Đặc điểm của tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân
Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại
Trang 2111
Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế
Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hình thức khác là:
Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay
Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay Phân loại tín dụng ngân hàng:
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:
Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau: Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời
về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt
Trang 2212
tiêu dùng của cá nhân
Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng
để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy
Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:
Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh
Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn
Trang 2313
lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ
Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để
so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng
Vai trò, vị trí của Tín dụng Ngân hàng thương mại:
Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo các quy luật khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, Các doanh nghiệp để có thể đứng vững trên thương trường thì cần phải có vốn để đầu tư và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ưu để doanh nghiệp có thể khai thác Các doanh nghiệp phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển Như vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trường Vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọ dự án có mức sinh lãi cao nhất Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án
Trang 2414
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát sử dụng vốn vay Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Bên cạnh
đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
- Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả
Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu
Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả
- Thứ ba: Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán Khi nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức
Trang 2515
tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông
- Thứ tư: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế
Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt
ra Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay… đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế
Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
và phát triển
Để đánh giá hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thương mại có tốt hay không, cần xem xét chất lượng tín dụng
Vai trò của tín dụng đối với Ngân hàng:
- Hoạt động cấp tín dụng là nguồn mang lại lợi nhuận chính cho Ngân hàng thương mại: Với các nước phát triển trên thế giới thì lợi nhuận thu được của các Ngân hàng từ hoạt động dịch vụ chiếm tỷ trọng khá cao Tuy nhiên, tại Việt Nam thì tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng, nguồn thu từ tín dụng đóng góp trung bình đến 70% lợi nhuận của Ngân hàng, cá biết có ngân hàng lên đến 90% Trong khi hoạt động dịch vụ của các Ngân hàng tại Việt Nam đang phát triển thì các Ngân hàng phải gia tăng dư
nợ cho vay nhằm tăng lãi thu về từ hoạt động kinh doanh Qua đó, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM Song song với lợi ích của việc phát triển tín dụng, nó
Trang 2616
cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn cho các NHTM
- Hoạt động cấp tín dụng là kênh tiêu thụ vốn: Từ khái niệm Ngân hàng
là một trung gian tài chính giữa Cung và Cầu về vốn, trong đó cung là các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức, doanh nghiệp,… mà Ngân hàng
có thể huy động được và cầu là đối tượng cần vốn từ Ngân hàng để bổ sung
và phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Chúng ta dể dàng nhận thấy tín dụng Ngân hàng chính là kênh tiêu thụ vốn huy động được của Ngân hàng Hay nói cách khác, tín dụng chính là đầu ra chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1.3 Nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại Các yếu tố khách quan: Các yếu tố khách quan thường là những nhìn nhận ban đầu và tổng quát về triển vọng của dự án cần vay vốn Nếu dự án có triển vọng thành công cao thì rủi ro tín dụng thấp và ngược lại Các yếu tố này bao gồm:
- Môi trường kinh tế: thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng tiêu thụ
- Sự phát triển của ngành liên quan: nếu ngành liên quan đến dự án đang
ở giai đoạn phát triển thì dự án có nhiều khả năng thành công Ngược lại; nếu ngành liên quan đến dự án đang ở giai đoạn suy thoái và có nhiều công ty trong ngành làm ăn thua lỗ thì khả năng thành công của dự án là thấp
- Môi trường pháp lý: Luật bảo hiểm, luật lao động, luật cạnh tranh là những điều khoản cần được quan tâm khi đánh giá một dự án
Các yếu tố chủ quan: Các yếu tố chủ quan có thể được hiểu là tính tin cậy của doanh nghiệp đi vay hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp khi đến hạn Nhân tố này được phân tích chủ yếu dựa vào các dữ liệu kế toán của doanh nghiệp
- Hiệu quả hoạt động hiện tại của doanh nghiệp: kết quả kinh doanh hàng quí và hàng năm của doanh nghiệp
Trang 27- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: được căn cứ dựa vào vốn tự có, các khoản cho vay, tài sản thế chấp, người bảo lãnh Các ngân hàng có thể đánh giá mức rủi ro tín dụng trên cơ sở xác định tỷ lệ tổng vốn cần vay của doanh nghiệp/vốn tự có của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ này là cao thì rủi ro tín dụng cao, và ngược lại
- Tính thanh khoản cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
Dù doanh nghiệp có tình trạng kinh tế tốt nhưng nếu tính thanh khoản hay khả năng huy động tiền mặt không cao thì doanh nghiệp có nhiều khả năng phải thanh toán nợ quá hạn quy định Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
có rủi ro tín dụng cao
Một trong những hoạt động chính của ngân hàng thương mại là hoạt động cho vay nên rủi ro tín dụng là một nhân tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả
vì nếu ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí phá sản Vì thế bộ phận quản lý tín dụng và quản trị rủi
ro là hai bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của bất kỳ ngân hàng thương mại nào
Trang 2818
1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Thực tế đã có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng, cụ thể: Theo Timothy W.Koch thì cho rằng “RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi KH không thanh toán hay thanh toán trễ hạn” Theo Ngân hàng thế giới (The World Bank), RRTD tức là việc chi trả
bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là không được chi trả toàn bộ Điều này gây ra sự
cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng
Theo khoản 1 điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam và các quyết định sửa đổi, bổ sung về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động của TCTD, “RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy, có thể hiểu RRTD là biến cố xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế là việc KH vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng
Có thể phân biệt rủi ro theo các tiêu thức sau:
- Rủi ro tĩnh và rủi ro động
- Rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt
- Rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ
Rủi ro tín dụng là ngôn từ thường được sử dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính Đó là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho
Trang 2919
vay tín dụng Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng
Đánh giá rủi ro tín dụng là công việc thuộc về các chuyên viên phân tích, chuyên viên kế toán và chuyên viên kiểm toán Mức độ rủi ro cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của mục đích vay vốn cũng như hoạt động của người vay vốn
- Các yếu tố khách quan thường là những nhìn nhận ban đầu và tổng quát
về triển vọng của dự án cần vay vốn Nếu dự án có triển vọng thành công cao thì rủi ro tín dụng thấp và ngược lại Các yếu tố này bao gồm:
Môi trường kinh tế: thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng tiêu thụ
Sự phát triển của ngành liên quan: nếu ngành liên quan đến dự án đang
ở giai đoạn phát triển thì dự án có nhiều khả năng thành công Ngược lại; nếu ngành liên quan đến dự án đang ở giai đoạn suy thoái và có nhiều công ty trong ngành làm ăn thua lỗ thì khả năng thành công của dự án là thấp
Môi trường pháp lý: Luật bảo hiểm, luật lao động, luật cạnh tranh là những điều khoản cần được quan tâm khi đánh giá một dự án
- Các yếu tố chủ quan có thể được hiểu là tính tin cậy của doanh nghiệp
đi vay hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp khi đến hạn Nhân tố này được phân tích chủ yếu dựa vào các dữ liệu kế toán của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động hiện tại của doanh nghiệp: kết quả kinh doanh hàng quí và hàng năm của doanh nghiệp
Các khoản tín dụng hiện tại và lịch sử của các khoản tín dụng quá khứ của doanh nghiệp: Nếu hiện tại doanh nghiệp đang có các khoản vay khác và
có các khoản vay tín dụng quá hạn chưa được thanh toán hay doanh nghiệp có các khoản vay tín dụng đã được thanh toán nhưng thường quá hạn phải chi trả thì tín tin cậy của doanh nghiệp là thấp, và việc cho doanh nghiệp vay tín dụng sẽ có rủi ro cao
Khả năng tài chính của doanh nghiệp: được căn cứ dựa vào vốn tự có,
Trang 3020
các khoản cho vay, tài sản thế chấp, người bảo lãnh Các ngân hàng có thể đánh giá mức rủi ro tín dụng trên cơ sở xác định tỷ lệ tổng vốn cần vay của doanh nghiệp/vốn tự có của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ này là cao thì rủi ro tín dụng cao, và ngược lại
Tính thanh khoản cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
Dù doanh nghiệp có tình trạng kinh tế tốt nhưng nếu tính thanh khoản hay khả năng huy động tiền mặt không cao thì doanh nghiệp có nhiều khả năng phải thanh toán nợ quá hạn quy định Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
có rủi ro tín dụng cao
Một trong những hoạt động chính của ngân hàng thương mại là hoạt động cho vay nên rủi ro tín dụng là một nhân tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả
vì nếu ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí phá sản Vì thế bộ phận quản lý tín dụng và quản trị rủi
ro là hai bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của bất kỳ ngân hàng thương mại nào
Nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó các loại rủi ro chính thường gặp sau đây:
- Rủi ro tín dụng ngân hàng: Rủ ro thất thoát tài chính có thể phát sinh khi khách hàng hoặc đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ trong hợp đồng đói với ngân hàng Rủi ro tín dụng có thể phát sinh trong các hoạt đọng cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng Biểu hiện của rủi
ro tín dụng khi khách hàng không hoàn trả gốc và lãi đúng hạn, hoặc ngân hàng phải trả thay khách hàng trong các hợp đồng cam kết bảo lãnh Hoặc khi
Trang 31 Rủi ro về giá phát sinh khi lãi suât thị trường tăng làm giảm giá trị của trái phiếu và cá khoản cho vay với lãi suất cố định Ngân hàng nắm giữ
Rủi ro tái tài trợ bao gồm rủi ro tái đầu tư tài sản, là rủi ro khi lãi suất thị trường giảm, NH phải chấp nhận đàu tư các nguồn vốn của mình vào các tài sản có mục đích sinh lời thấp hơn Rủi ro tái tài trợ nguồn vốn khi lãi suất thị trường tăng, NH phải huy động nguồn vốn với các mức chi phí cao hơn
- Rủi ro hối đoái: Rủi ro hối đoái là khả năng thiệt hại đối với ngân hàng
do sự biến động của tì giá hối đoái gây ra Khi ngân hàng không duy trì trạng thái cân xứng giữa tài sản CÓ và tài sản NỢ về ngoại tệ
Trạng thái ngoại tệ trường (TSC > TSN): ngoại tệ giảm giá -> NH lỗ
Trạng thái ngoại tệ đoản (TSC < TSN): ngoại tệ tăng -> NH lỗ
- Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản xảy ra khi có nhu cầu thanh toán, chi trả của ngân hàng phát sinh ngoài dự tính của ngân hàng Biểu hiện của rủi ro thanh khoản được thể hiện trong các trường hợp: Chi phí của ngân hàng gia tăng khi phải vay bổ sung nguồn vốn hoặc bán tài sản Hoặc ngân hàng phải đối mặt với khả năng phá sản khi thiệt hại của ngân hàng quá lớn, hoặc nhu cầu rút tiền quá lớn
- Các loại rủi ro ngân hàng khác
Trang 3222
Rủi ro hoạt động (rủi ro vận hành): Phát sinh trong cách hoạt động của ngân hàng
Rủi ro môi trường: Sự thay đổi của môi trường hoạt động
Rủi ro công nghệ, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín
1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.(Theo thông tư số 02/2018/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2018)
- Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết
- Khoản nợ là số tiền tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
đã gửi, giải ngân từng lần theo thỏa thuận đối với nợ quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 02/2018/TT-NHNN
- Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể
Trang 3323
ngân hàng nước ngoài chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và/hoặc gia hạn nợ cho khách hàng khi khách hàng không có khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng nhưng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá có khả năng trả được đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ cơ cấu lại
- Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5
- Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5
- Tỷ lệ cấp tín dụng xấu là tỷ lệ giữa tổng nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với tổng nợ và các cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5
- Khách hàng là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), cá nhân, các chủ thể khác theo quy định của pháp luật dân
sự có quan hệ cấp tín dụng, tiền gửi; phát hành trái phiếu, giấy tờ có giá đã được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua
- Sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro là việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hạch toán chuyển khoản nợ được xử lý rủi ro ra hạch toán ngoại bảng và tiếp tục theo dõi, có biện pháp để thu hồi nợ đầy đủ theo hợp đồng đã ký, cam kết đã thỏa thuận với khách hàng
1.1.2.3 Đặc điểm rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân
Trang 3424
hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng
Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên thông thường ngân hàng ở vào thế bị động, ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về những khókhăn thất bại của khách hàng và do đó thường có những ứng phó chậm trễ
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp: Đặc điểm này thể hiện
ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro ro tín dụng cũng như diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra
1.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1.2.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro
Khái nhiệm: Quản trị rủi ro là một quán trình bao gồm các hoạt động nhằm hạn chế, loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả mà rủi ro gây ra đối với hoạt động kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp, giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại về người
và của cải của doanh nghiệp
Vai trò của quản trị rủi ro:
- Nhận dạng rủi ro, chủ động phòng ngừa rủi ro
- Thực hiện được mục tiêu, sứ mạng của doanh nghiệp qua việc lựa chọn chiến lược ít rủi ro
- Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
Nội dung quản trị rủi ro:
- Chính sách tín dụng
- Quy trình tín dụng
- Nhận diện rủi ro đối với khách hàng vay
- Phân loại khách hàng vay
- Phân loại dư nợ
Trang 3525
- Hệ thống kiểm tra, kiểm soát cho vay
- Trích lập dự phòng và quản lý rủi ro
1.2.1.2 Quản trị rủi ro là nhân tố bắt buộc đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại
Sự cần thiết của Quản trị rủi ro:
Cũng như các doanh nghiệp khác ngân hàng thương mại cũng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn Do đặc thù của ngành ngân hàng là kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, nên khi có rủi ro xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng thương mại mà còn gay tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội của quốc gia
Về phía ngân hàng, bất kỳ rủi ro nào xảy ra cũng gây ra những tổn thất
về mặt tài chính cho ngân hàng, có thể làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, khi lợi nhuận không bù được chi phí thì dẫn đến tình trạng thua lỗ và phá sản Trong kinh doanh ngân hàng, việc tìm kiếm lợi nhuận sẽ không tránh khỏi những rủi ro và tổn thất về mặt tài chính Một thực tế cho thấy hoạt động nào mang lại lợi nhuận cao thì tiềm ẩn rủi ro lớn Vì vậy, quản trị rủi ro là yêu cầu tất yếu và tối cần thiết cho tất cả các ngân hàng
Như đã đề cập, cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu và chứa đựng nhiều rủi
ro nhất trong các hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại Do
đó, sự an toàn trong lĩnh vực hoạt động này có ý nghĩa sống còn đối với bất
kỳ ngân hàng thương mại nào Trong thực tiễn, các ngân hàng đều xây dựng chiến lược và hệ thống quản trị rủi ro bao gồm nhiều “công cụ” nhằm thực hiện mục tiêu của mình trong hoạt động cấp tín dụng
Mục tiêu của Quản trị rủi ro:
Mục tiêu của quản trị rủi ro cũng giống như mục tiêu của hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại là mang lại lợi nhuận cao nhất và an toàn nhất cho chính ngân hàng mình Quản lý và hạn chế tối đa các rủi ro xảy
Trang 3626
ra trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn cho các giao dịch, bao gồm
an toàn cho hoạt động cấp tín dụng
1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Nhận biết và dự đoán rủi ro
- Trong quá trình giao dịch phát sinh, trên cơ sở dữ liệu thu thập được và các thông tin sẵn có liên quan đến khoản tín dụng đang xem xét, một cuộc phân tích được thực hiện nhằm nhận biết và dự đoán các rủi ro có thể xảy ra
- Để quản trị rủi ro tín dụng một cách có hiệu quả công tác dự đoán để xác định những rủi ro tiềm ẩn và rủi ro hiện có trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng Mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể chấp nhận được chỉ có thể được thiết lập sau khi đã xác định những yếu tố tạo nên rủi ro tín dụng Việc phát hiện rủi ro tín dụng dựa trên nhiều yếu tố, trong
đó người ta xem xét kỹ lưỡng các đặc thù của từng sản phẩm cũng như các điều kiện, các yêu cầu và khả năng đáp ứng của nó
Định lượng và đo lường rủi ro: Là việc đo lường mức độ rủi ro dự kiến, giúp ban điều hành xác định được biên độ của rủi ro dự kiến Việc định lượng rủi ro được xác định trên cơ sở thống kê, dựa trên hai biến số: khả năng mất mát và tần số mất mát Khả năng mất mát thể hiện con số tuyệt đối của từng khoản mất mát, tần số mất mát thể hiện khả năng mất mát có thể xuất hiện Ngoài hai biến số trên còn có các yếu tố định tính khác như: luật pháp, quy chế hoạt động, tình hình kinh tế, thị trường và những tác động của nó, kế hoạch của từng bộ phận cũng được xem xét trong giai đoạn này
Dự phòng rủi ro: Dự phòng một nguồn lực để bù đắp nhằm giảm thiểu tổn thất khi có rủi ro xảy ra, giúp ngân hàng duy trì hoạt động bình thường là một đòi hỏi rất quan trọng của quản trị rủi ro Dự phòng gần như là điều kiện bảo hiểm bắt buộc đối với hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại
Trang 3727
Trong thực tiễn hoạt động, người ta sử dụng một hoặc nhiều giải pháp dự phòng khác nhau Giải pháp thông thường nhất là sử dụng tài sản thế chấp, cầm cố của người vay hoặc của bên thứ ba bảo lãnh cho người vay, các chứng thư bảo lãnh của các Tổ chức tín dụng khác phát hành, một số trường hợp nguồn dự phòng lại chính là tài sản hình thành từ vốn vay, đặc biệt và không thể thiếu là nguồn Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng được trích hàng năm của chính Tổ chức tín dụng Ngoài ra, để tận thu và sớm đưa nguồn vốn ngân hàng vào lưu thông, tái đầu tư, các Tổ chức tín dụng còn lựa chọn giải pháp Bán nợ cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực mua bán nợ
Theo dõi và kiểm soát rủi ro:
- Là việc thường xuyên thu thập các thông tin liên quan trong quá trình cấp tín dụng và giám sát việc thực hiện đầy đủ các quy định của hệ thống quản trị rủi ro Một trong những công cụ đắc lực của hệ thống giám sát là
“Kiểm soát nội bộ” Thông qua bộ phân này cùng với các thông tin trong tác nghiệp hàng ngày, ban điều hành có thể theo dõi và phát hiện dấu hiệu rủi ro xảy ra trong chu kỳ cấp tín dụng Yêu cầu đối với công việc theo dõi rủi ro là phải thường xuyên đánh giá tính ổn định của các loại rủi ro, mức độ rủi ro thực tế, trao đổi thông tin nội bộ,…
- Quá trình kiểm soát rủi ro còn đòi hỏi một sự phối hợp chung có tính tổng thể từ các bộ phận chức năng riêng biệt, không thể mạnh ai nấy biết Tuy nhiên, để có sự khách quan, các ngân hàng thường thiết lập một bộ phận đặc biệt, đọc lập với các bộ phận chức năng chịu rủi ro gọi là “Phòng quản lý rủi ro” hay “Khối kiểm toán nội bộ”,… nhằm thực hiện chức năng theo dõi tổng thể rủi ro trên toàn hệ thống
Đánh giá quản trị rủi ro: Là việc rà soát và đánh giá tính hiệu quả của chính sách, chương trình quản trị rủi ro và các biện pháp đã thực hiện Hội đồng quản trị thực hiện rà soát các quy chế, quy định về kiểm soát rủi ro
Trang 3828
chung trên toàn hệ thống Kiểm toán nội bộ có trách nhiệm đánh giá công việc quản trị rủi ro, gồm cả việc xem xét các bộ phân kinh doanh có quản trị rủi ro trong hạn mức rủi ro cho phép hay không, liệu bộ phân quản trị rủi ro có thực hiện đúng, đủ các chức năng của mình hay không Việc tuân thủ các giới hạn
an toàn như: tỷ lệ dư nợ tối đa của một khách hàng vay so với vốn tự có của một tổ chức tín dụng, tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh toán ngay, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro,…
Các cơ chế xử lý rủi ro:
- Trong hoạt động cấp tín dụng không tránh khỏi những rủi ro thực tế xảy ra Thông thường, khi có rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụng, phía ngân hàng và doanh nghiệp sẽ cùng nhau đưa ra những giải pháp xử lý thích hợp và cùng có lợi từ những phương án dự phòng rủi ro mà hai bên đã lựa chọn và thỏa thuận trước đó Nếu đôi bên không cùng giải quyết được thì sẽ cùng đưa
ra tòa án để xử lý
- Trong mọi trường hợp, nếu các phương án xử lý rủi ro nêu trên vãn không đủ bù đắp hoặc không có kết quả dẩn đến nợ xấu không có khả năng thu hồi thì ngân hàng sẽ dùng Quỹ dự phòng rủi ro đã được trích khi phát sinh
nợ xấu để xử lý khoản vay đó Các ngân hàng trên thế giới và ở nước ta đều
có quy định về việc phân loại nợ sau khi cho vay để làm căn cứ trích lập Quỹ
dự phòng rủi ro tín dụng
- Để quản trị rủi ro tín dụng một cách có hiệu quả, các tổ chức tín dụng còn phải có khả năng quản trị tốt các loại rủi ro khác như: rủi ro về lãi suất, rủi ro về thanh khoản, rủi ro trong hoạt động,… Bởi vì các loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng đều có tác động qua lại với nhau, loại rủi ro này có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại rủi ro khác và ngược lại
1.2.2.2 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Mô hình quản lý rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm
Trang 3929
mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra
Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là
mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán
Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung: Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp.Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng
Xây dựng chính sách quản lý rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống
Thích hợp với ngân hàng quy mô lớn
- Điểm yếu:
Việc xây dựng và triển khai mô hình quản lý tập trung này đòi hỏi phải
Trang 4030
đầu tư nhiều công sức và thời gian
Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng lý thuyết với thực tiễn
Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán: Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay
- Điểm mạnh:
Gọn nhẹ
Cơ cấu tổ chức đơn giản
Thích hợp với ngân hàng quy mô nhỏ
- Điểm yếu:
Nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu
Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng 1.2.2.3 Quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay và chính sách
dự phòng rủi ro
- Theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay và chính sách dự phòng rủi ro
- Quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay tối thiểu phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Được xây dựng trên cơ sở thông tin, số liệu khách hàng đã thu thập được, kết quả xếp hạng khách hàng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ + Được sử dụng thống nhất trên toàn hệ thống, làm cơ sở để xét duyệt, cấp tín dụng, quản lý tiền vay đối với khách hàng
+ Có quy định chính sách tín dụng đối với khách hàng trong đó bao gồm