Trong thời gian qua, được sự quan tâm, giúp đỡ của cấp trên, cùng với sự nỗ lực, phấn đấu của địa phương, đội ngũ công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân UBND huyện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LÊ VĂN KHUYẾN
NĂNG LỰC THAM MƯU CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
THUỘC UBND HUYỆN QUẢNG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LÊ VĂN KHUYẾN
NĂNG LỰC THAM MƯU CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
THUỘC UBND HUYỆN QUẢNG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ CÔNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Hải
Các số liệu, tài liệu và kết quả nghiên cứu tham khảo trong luận văn này được trích dẫn theo quy định Các số liệu, kết quả nghiên cứu của tôi trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Thừa Thiên Huế, ngày tháng 3 năm 2020
HỌC VIÊN
Lê Văn Khuyến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn đến Học viện Hành chính Quốc gia, các khoa, phòng, đơn vị của Học viện, Phân viên Học viện Hành chính khu vực miền Trung, đặc biệt là những thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy cho tôi trong thời gian học và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Hải
đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Quảng Điền, lãnh đạo và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền và những cá nhân đã cung cấp số liệu, tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát để có dữ liệu hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân tôi đã có nhiều nỗ lực, cố gắng hoàn thiện luận văn nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp quý báu của quý thầy cô giáo và những người quan tâm để đề tài luận văn này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Học viên
Lê Văn Khuyến
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
HCNN: Hành chính nhà nước
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 45
Trang 7Phụ lục 4: Phiếu khảo sát đánh giá về năng lực tham mưu đội ngũ công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế (Phiếu dành cho lãnh đạo UBND huyện, lãnh đạo các cơ quan và công chức đánh giá đối với công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện)
Phụ lục 5: Phiếu khảo sát đánh giá về năng lực tham mưu đội ngũ công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế (Phiếu dành cho đối tượng là công dân đánh giá đối với công chức các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện)
Phụ lục 6: Phiếu khảo sát đánh giá về năng lực tham mưu đội ngũ công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế (Phiếu dành cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện tự đánh giá bản thân mình)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1: Số lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền giai đoạn 2016-2018 51
Bảng 2.2: Cơ cấu công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện giai đoạn 2016-2018 53
Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn công chức các cơ quan giai đoạn 2016-2018 55
Bảng 2.4: Trình độ lý luận chính trị của công chức giai đoạn
Trang 9MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn 7
3.1 Mục tiêu 7
3.2 Nhiệm vụ 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC THAM MƯU CỦA CÔNG CHỨC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN 11
1.1 Công chức và vai trò của công chức trong cơ quan chuyên môn cấp huyện 11
1.1.1 Khái niệm và phân loại công chức 11
1.1.1.1 Khái niệm công chức 11
1.1.1.2 Phân loại công chức 12
1.1.2 Ví trí, vai trò của công chức trong các cơ quan chuyên môn cấp huyện 14
1.2 Năng lực tham mưu của công chức cơ quan chuyên môn UBND cấp huyện 15
1.2.1 Khái niệm năng lực 16
1.2.2 Khái niệm tham mưu và năng lực tham mưu của công chức 16
1.2.3 Đặc điểm của năng lực tham mưu 18
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực tham mưu của công chức 19
1.2.4.1 Các tiêu chí chung 19
1.2.4.2 Các tiêu chí cụ thể 20
1.2.5 Những biểu hiện về năng lực tham mưu công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 28
Trang 101.2.6 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tham mưu của công chức tại
các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 30
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện 32
1.3.1 Các yếu tố khách quan 32
1.3.2 Các yếu tố chủ quan 35
1.4 Kinh nghiệm nâng cao năng lực tham mưu cho công chức ở một số địa phương và bài học rút ra cho huyện Quảng Điền 36
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Sóc Trăng 36
1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình 37
1.4.3 Kinh nghiệm của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế 38
1.4.4 Kinh nghiệm của Văn phòng HĐND và UBND thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 40
1.4.5 Bài học rút ra cho huyện Quảng Điền 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THAM MƯU CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 44
2.1 Khái quát chung về huyện Quảng Điền và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 44
2.1.1 Tình hình tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Quảng Điền 44
2.1.2 Khái quát về UBND huyện Quảng Điền 46
2.1.3 Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 47
2.2 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 50
2.2.1 Về số lượng công chức 50
2.2.2 Về cơ cấu công chức 53
2.2.3 Về trình độ công chức 55
2.3 Năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 60
2.3.1 Đánh giá về những biểu hiện về năng lực tham mưu công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 60
Trang 112.3.2 Hoạt động tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND huyện Quảng Điền 65
2.3.3 Kết quả tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 67
2.3.4 Kết quả khảo sát năng lực tham mưu của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 72
2.4 Đánh giá năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 85
2.4.1 Những kết quả đã đạt được 85
2.4.2 Những hạn chế 87
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 90
2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 90
2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 92
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THAM MƯU CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 95
3.1 Định hướng nâng cao năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 95 3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao năng lực tham mưu của công chức 95
3.1.2 Quan điểm của tỉnh Thừa Thiên Huế và huyện Quảng Điền 97
3.2 Mục tiêu, yêu cầu nâng cao năng lực tham mưu công chức 97
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực tham mưu đối với công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền 101
3.3.1 Tiến hành sắp xếp, bố trí lại đội ngũ công chức theo yêu cầu của Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức 101
3.3.2 Đổi mới và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực tham mưu 102
3.3.3 Thực hiện tốt công tác tuyển dụng công chức 103
3.3.4 Đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, sử dụng công chức 104
Trang 123.3.5 Làm tốt công tác giáo dục, nâng cao giá trị nghề nghiệp, phẩm chất, đạo đức của công chức 106
3.3.6 Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, xếp loại công chức 1073.3.7 Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và điều kiện làm việc cho công chức 110
3.3.8 Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra công vụ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và xử lý kỷ luật đối với công chức vi phạm 112
3.3.9 Hoàn thiện quy trình tham mưu của công chức 1143.3.10 Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của công chức trong tham mưu công việc 114
3.3.11 Nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương, doanh nghiệp trong việc xây dựng ý tưởng, xây dựng chính sách tạo động lực làm việc, thu hút nhân tài vào làm việc tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 115
3.3.12 Tăng cường công tác lãnh chỉ đạo của cấp ủy các các cấp và vai trò của người đứng đầu của Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 116
KẾT LUẬN 119
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công chức nhà nước là nguồn nhân lực quan trọng của bộ máy hành chính nhà nước (HCNN) Nguồn nhân lực này quyết định việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của cơ quan HCNN các cấp Hiệu lực, hiệu quả của hệ thống các cơ quan HCNN, xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức Do vậy, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan HCNN, chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của đội ngũ công chức, đây là hạt nhân của nền HCNN Từ đó, xây dựng các chương trình, kế hoạch và chiến lược phát triển đội ngũ công chức phù hợp, phát huy tối đa nhân
tố con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn Trong thành tựu đó, phải kể đến sự đóng góp quan trọng của đội ngũ công chức nhà nước Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), gắn liền với nó là việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, đặc biệt
là đội ngũ công chức
Trong thời gian qua, được sự quan tâm, giúp đỡ của cấp trên, cùng với
sự nỗ lực, phấn đấu của địa phương, đội ngũ công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Quảng Điền đã từng bước được xây dựng và phát triển về mọi mặt; hầu hết công chức đã luôn nỗ lực, phấn đấu rèn luyện để trưởng thành, thể hiện rõ phẩm chất, trí tuệ của
Trang 142
mình, đảm đương được nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của huyện nhà
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đội ngũ công chức tại các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền hiện vẫn còn tình trạng vừa thừa, vừa thiếu về lượng lại vừa yếu về chất; mặt khác một bộ phận lại hẫng hụt về kiến thức, kỹ năng nên không theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ, đặt ra Một số ít công chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cơ hội, thực dụng, tham ô, lãng phí đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân và cản trở tiến trình đổi mới Công tác cán bộ, nhất là các khâu tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng vẫn còn bất cập, hạn chế Bên cạnh đó, năng lực tham mưu thực hiện nhiệm vụ của công chức cũng chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới, kết quả tham mưu của một số công chức còn hạn chế, nhất là tham mưu chiến lược chưa có tính chuyên nghiệp, phần lớn thiếu khả năng độc lập, quyết đoán trong giải quyết công việc, thụ động trong thực thi các nhiệm vụ; thiếu khả năng bao quát tình hình, đồng thời chậm thích ứng với nhiệm vụ mới Khả năng tư duy, dự báo, xây dựng chương trình, kế hoạch còn yếu, thiếu khả năng nghiên cứu, tổng hợp tình hình, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; tinh thần hợp tác, phối hợp công việc còn thiếu chặt chẽ, nên hiệu quả tham mưu công việc chưa cao, công chức chủ yếu tham mưu những công việc trong phạm vi được phân công
mang tính lặp đi, lặp lại, chứ chưa có những tham mưu, hiến kế mang tính đột
phá, chiến lược cho sự phát triển của huyện mang tính lâu dài, bền vững Thông thường, việc tham mưu này chỉ do lãnh đạo cơ quan thực hiện, trong
đó một phần do đội ngũ công chức không giữ chức vụ lãnh đạo chưa thực hiện tốt việc tham mưu của họ, nên vai trò tham mưu của người lãnh đạo cũng
bị hạn chế Thực trạng này đã làm ảnh hưởng đến việc triển khai nhiệm vụ quản lý, điều hành của UBND huyện
Trang 153
Trước yêu cầu cấp thiết đó, việc nghiên cứu, đánh giá khoa học về năng lực tham mưu của công chức làm việc tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế có ý nghĩa hết sức quan trọng Làm cơ sở góp phần giúp cho UBND huyện thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; giúp UBND huyện có chiến lược trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế-
xã hội ở địa phương
Xuất phát từ thực tế nêu trên, đồng thời trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã được học trong chương trình đào tạo Cao học, chuyên ngành Quản lý công, tại Học viện Hành chính quốc gia và yêu cầu từ thực tiễn tình hình công
tác chuyên môn tại địa phương, tác giả chọn đề tài “Năng lực tham mưu của
công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” để làm luận văn cao học Đây là vấn đề đang được lãnh
đạo huyện quan tâm, cần sớm có biện pháp để giải quyết kịp thời nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền tại địa phương
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Việc xây dựng, nâng cao chất lượng cũng như năng lực tham mưu của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, công chức làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng là chủ đề được quan tâm Làm thế nào để nâng cao năng lực tham mưu của đội ngũ công chức đã và đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý quan tâm nhằm tìm ra những giải pháp tích cực nhất, để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau, trước hết cần kể tới:
- Đề tài khoa học: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại học
Trang 164
đất nước” của Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm (1996 - 2000), tác giả đã hệ
thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp và những kiến nghị nhằm củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cả về số lượng và chất lượng
- TS Nguyễn Thị Tâm, “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
huyện các tỉnh miền Trung đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay”,
Đề tài khoa học cấp Bộ 2009 - 2010, mã số B.3.09 - 02 Tác giả đã nêu lên một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện ở một số tỉnh duyên hải miền Trung từ đó đề ra một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay
- Phó Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hữu Hải, đã có nhiều công trình nghiên cứu về công chức và phát triển công chức như: Những vấn đề đặt ra với việc đào tạo, bồi dưỡng công chức theo nhu cầu, Về tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước 2008; Thực hiện nghĩa
vụ, trách nhiệm công chức theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội thảo tại Học viện Hành chính quốc gia năm 2010, Trong các tác phẩm của mình, tác giả đã tập trung phân tích, lý giải và làm rõ về chất lượng cán bộ, công chức Nhà nước; vai trò của cán bộ, công chức trong xây dựng nền hành chính quốc gia
và định hướng trong xây dựng đội ngũ công chức Nhà nước Việt Nam
- Thạc sĩ Phạm Thị Thu Lan (2018), Vài nét về năng lực tham mưu của công chức, viên chức ở Việt Nam;
- Tiến sĩ Văn Tất Thu (2010), Ví trí, vai trò và nguyên tắc của công tác tham mưu trong văn phòng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 01/2010;
- Thạc sĩ Lê Hồng Ngọc (2016), Một số vấn đề về năng lực đội ngũ tham mưu trong tổ chức hành chính nhà nước;
Trang 175
- Lê Hải Dương (2015), Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác tham mưu- tổng hợp của Văn phòng HĐND và UBND thị xã Phước Long;
- Thạc sĩ Nguyễn Duy Phương (2007), Thực trạng và giải pháp nâng
cao năng lực đội ngũ công chức hành chính ở Thừa Thiên Huế từ năm 2004-
2006
- Luận văn thạc sỹ, năm 2015, chuyên ngành Quản lý công của tác giả
Hoàng Chí Trung với đề tài “Năng lực thi hành công vụ của công chức các
cơ quan hành chính nhà nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”
- Luận văn thạc sỹ, năm 2017, chuyên ngành Quản lý công của tác giả
Trần Hương Lâm với đề tài “Năng lực công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình”
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc nhiều công trình, luận văn, luận án khác có đề cập ít nhiều tới vấn đề này
- Nguyễn Trọng Điều: "Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng cao chất
lượng đội ngũ công chức"; Tạp chí Cộng sản, số tháng 10 năm 2009 Tác giả
đã đưa ra quan điểm về hoàn thiện chế độ công vụ và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
- Ngô Thành Can: "Chất lượng thực thi công vụ - vấn đề then chốt của
cải cách hành chính" ; Viện Khoa học Tổ chức nhà nước Tác giả đã đưa ra
quan điểm về chất lượng thực thi công vụ, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ; đánh giá thực trạng thực thi công vụ và đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ
- Bùi Huy Khiên, Nâng cao năng lực của cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, Tạp chí Giáo dục lý luận, số tháng 1/2013
Mỗi công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến vấn đề đến chất lượng
và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở nhiều cấp độ khác nhau Dưới góc độ khoa học, các công trình nói trên là hết sức có giá trị
Trang 186
đối với những người đã và đang nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và năng lực tham mưu của công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng
Đánh giá chung:
Một là, các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn luận về khái niệm công chức, công chức hành chính,…và thường tập trung phân tích đánh giá về công chức Nhà nước nói chung, chưa đi sâu vào phân tích năng lực tham mưu một nhóm công chức cụ thể Vì vậy, trong đề tài này tác giả luận văn đi sâu nghiên cứu đánh giá về năng lực tham mưu của công chức đang làm việc tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hai là, các công trình nghiên cứu thường đánh giá chất lượng công chức dựa trên yêu cầu của công vụ trong bộ máy HCNN, các giải pháp thường quan tâm tới nâng cao chất lượng công chức để đảm bảo nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính; còn ít đề tài nghiên cứu tới những thay đổi của các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng công chức Trong đề tài này, tác giả luận văn dành một phần nghiên cứu đánh giá năng lực tham mưu của công chức dưới sự tác động của các yếu tố bên ngoài
Ba là, Quảng Điền là một huyện thuần nông, vùng trũng, điều kiện kinh tế- xã hội còn nhiều khó khăn, vì vậy việc xây dựng và củng cố đội ngũ công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện ít nhiều cũng gặp những khó khăn, trở ngại nhất định Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu liên quan đến năng lực tham mưu của công chức trên địa bàn Do vậy, xuất phát từ thực tiễn yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới, cũng như nhiệm vụ công tác chuyên môn của tác giả, việc tìm giải pháp nâng cao năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là nhiệm vụ quan trọng, cần được quan tâm nghiên cứu đúng mức
Trang 19và phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn huyện
- Phân tích thực trạng năng lực tham mưu của công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tham mưu của công chức chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi không gian: Đề tài đánh giá năng lực tham mưu của công chức tại 12 cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Trang 208
Thiên Huế gồm: Văn phòng HĐND và UBND huyện; phòng Nội vụ; phòng Giáo dục và Đào tạo; phòng Văn hóa và Thông tin; phòng Tài nguyên và Môi trường; phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; phòng Y tế; phòng Tư pháp; Thanh tra huyện; phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; phòng Kinh tế và Hạ tầng; phòng Tài chính - Kế hoạch
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá năng lực tham mưu liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của công chức tại các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua các yếu tố cấu thành năng lực
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu năng lực thực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ năm 2016-2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích để xử lý các số liệu thứ
cấp thu thập được;
+ Phương pháp so sánh, đánh giá;
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Để bổ sung thông tin, giúp cho nghiên cứu sâu về năng lực tham mưu của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, trong thời gian thực hiện Luận văn, tác giả đã điều tra bằng phiếu khảo sát đối với một số cán bộ, công chức lãnh đạo UBND huyện, trưởng phòng, phó trưởng phòng và chuyên viên ở các cơ quan
Trang 219
chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền và khảo sát đối với công dân trên địa bàn một số thông tin liên quan đến năng lực tham mưu của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, tổng cộng gồm 87 phiếu Trong đó:
- Lãnh đạo UBND huyện: 03 phiếu;
- Lãnh đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc: 24 phiếu;
- Chuyên viên các cơ quan chuyên môn trực thuộc: 30 phiếu
- Công dân: 30 phiếu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả hy vọng sẽ đóng góp một số ý nghĩa lý luận và thực tiễn như sau:
- Về mặt lý luận: Góp phần vào hệ thống hoá lý luận về công chức, về năng lực và năng lực tham mưu của công chức các cơ quan HCNN, đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực nói chung và tiêu chí đánh giá năng lực tham mưu nói riêng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tham mưu, sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực tham mưu của công chức trong giai đoạn hiện nay
- Về mặt thực tiễn: Góp phần phân tích, đánh giá đúng tình hình thực trạng năng lực tham mưu thông qua các số liệu, bảng biểu đối với đội ngũ công chức, từ đó nhận xét những kết quả đã đạt được, những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những hạn chế của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, phương hướng và hệ thống các giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, đồng thời, góp phần giúp lãnh đạo UBND huyện Quảng Điền có cách nhìn đầy đủ, tổng quát hơn và có những quyết sách trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn
Trang 2210
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1 Cơ sở khoa học về năng lực tham mưu của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện
Chương 2 Thực trạng năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3 Định hướng, giải pháp nâng cao năng lực tham mưu của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 2311
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC THAM MƯU CỦA CÔNG CHỨC
CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN
1.1 Công chức và vai trò của công chức trong cơ quan chuyên môn cấp huyện
1.1.1 Khái niệm và phân loại công chức
1.1.1.1 Khái niệm công chức
Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định
về công chức là Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1950, tại Điều 1 quy định: “ Những công Dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định.”[10, tr1] Sau đó, do nhu cầu
bổ sung nhân lực trong bộ máy nhà nước ngày càng tăng, thực tiễn khi đó không có đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chức theo Quy chế nên suốt một thời gian dài sau đó, chế độ công chức
dần được thay thế bằng chế độ “cán bộ, công nhân viên chức” bao gồm tất cả
những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế nhà nước Tất cả đều thuộc biên chế nhà nước, được
gọi là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân
biệt ai là cán bộ, công nhân, viên chức theo cách quan niệm có tính truyền thống đã hình thành trước đó
Trang 2412
Thuật ngữ công chức được sử dụng trở lại tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức báo hiệu xu hướng mới trong sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động công vụ về công chức Theo quy định tại Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính
vẫn chưa có sự phân biệt giữa công chức hành chính với công chức sự nghiệp
Trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền HCNN và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ công chức nhà nước, Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định rõ:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [ 28, tr1]
1.1.1.2 Phân loại công chức
Trang 2513
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008; công chức được phân loại dựa trên các tiêu chí sau:
* Theo trình độ đào tạo: Công chức được chia làm ba loại:
- Công chức loại A: là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học;
- Công chức loại B: là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp;
- Công chức loại C: là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp
Cách phân loại này có ý nghĩa nhất định về lý luận và thực tiễn trong việc tiêu chuẩn hóa trình độ chuyên môn của công chức, khuyến khích họ phấn đấu học tập, nâng cao trình độ, thăng tiến theo chức nghiệp
* Theo ngạch công chức: gồm bốn loại:
- Công chức loại A: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;
- Công chức loại B: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;
- Công chức loại C: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;
- Công chức loại D: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên
* Theo vị trí công tác: Công chức được phân ra làm hai loại:
- Công chức lãnh đạo, chỉ huy;
- Công chức chuyên môn, nghiệp vụ
Việc phân loại công chức như trên là việc làm có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn đối với việc cơ cấu, quy hoạch, quản lý công chức trong hoạt động công vụ
Trang 26ủy quyền của UBND huyện và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự quản lý thống nhất của ngành, lĩnh vực công tác ở địa phương
Đội ngũ công chức HCNH nói chung và công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền HCNN nước, là lực lượng trực tiếp vận hành và quyết định hiệu lực, hiệu quả, chất lượng hoạt động của bộ máy HCNN Trong giai đoạn hội nhập, phát triển đất nước hiện nay vai trò chủ đạo của đội ngũ công chức trong các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp huyện thể hiện trên các phương diện: trong hoạch định chính sách; trong tổ chức thực hiện chính sách; trong vai trò cầu nối giữa cơ quan hành chính với nhân dân
Công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là một bộ phận của công chức hành chính, là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ Đây là đội ngũ trực tiếp đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống nhằm bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn tài sản chung và ngân sách nhà nước, phát triển và ổn định kinh tế - xã hội; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đồng thời công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là những người hiểu
rõ tình hình thực tiễn, nắm được những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn
Trang 27Để thực thi công vụ, thực thi quyền lực Nhà nước trong phát triển kinh
tế thị trường định hướng XHCN với nhiều phương án, quyết định quản lý và
sự khó khăn trong lựa chọn phương án tối ưu, cùng với yêu cầu ngày càng cao của quá trình quản lý đối với thực tiễn đòi hỏi công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, cấp tỉnh và công chức HCNN nói chung phải có những quyết định quản lý kịp thời, hiệu quả, khoa học phù hợp với xu thế phát triển của địa phương, đất nước Hiện nay, trong nền kinh tế tri thức
và sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đòi hỏi đội ngũ công chức này phải có đủ khả năng, trình độ để nắm bắt và xử lý thông tin
1.2 Năng lực tham mưu của công chức cơ quan chuyên môn UBND cấp huyện
Công chức cơ quan chuyên môn UBND cấp huyện là một bộ phận của công chức trong bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan HCNN nói riêng nên khi nghiên cứu về năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn UBND cấp huyện thì hiển nhiên dùng những khái niệm chung về năng lực và năng lực tham mưu của công chức đề đánh giá các yếu tố liên quan đến năng lực tham mưu của công chức cơ quan chuyên môn UBND cấp huyện
Trang 2816
1.2.1 Khái niệm năng lực
Hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về năng lực Tùy theo cách tiếp cận thì năng lực được hiểu theo những cách khác nhau:
Theo cách tiếp cận của các nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, các thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực được hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân nơi đóng vai trò quan trọng Năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà phần lớn là do nỗ lực, phấn đấu, rèn luyện mà có
Theo cách hiểu của các nhà quản lý, năng lực có thể được hiểu là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học: “năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có thể thực hiện một hoạt động nào đó hoặc theo nghĩa khác là phẩm chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hành động nào đó với chất lượng cao”
Theo Bernard Wynne, năng lực là một tập hợp các kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích lũy và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc
Từ các cách hiểu khác nhau về năng lực, đồng thời làm rõ năng lực với khả năng, trình độ cá nhân có thể hiểu năng lực là tổng hợp những yếu tố về trình độ, kỹ năng và thái độ có khả năng giúp chủ thể hoàn thành công việc ở mức tốt nhất
1.2.2 Khái niệm tham mưu và năng lực tham mưu của công chức
Công tác tham mưu có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của các cơ quan, tổ chức Việc tham mưu của công chức nằm trong nội hàm của việc thực thi công vụ của công chức Theo đó, tham mưu là hiến kế, kiến
Trang 2917
nghị, đề xuất, đưa ra các ý tưởng độc đáo, sáng tạo có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc đặt ra và tổ chức thực hiện
kế hoạch công tác ngắn hạn, dài hạn, hàng năm của cơ quan đơn vị đạt kết quả cao nhất Cá nhân làm tham mưu ngày xưa gọi là các quân sư, các mưu sĩ,
là những người hiến kế cho nhà vua, cho thủ lĩnh; trong trận mạc, đề ra các kế hoạch tấn công tác chiến
Từ định nghĩa trên, trong việc thực thi nhiệm vụ của công chức có thể phân thành hai loại tham mưu: tham mưu sự vụ và tham mưu chiến lược Trong đó, tham mưu sự vụ là tham mưu giải quyết các công việc hàng ngày, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong khuôn khổ các chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước Tham mưu chiến lược là tham mưu phát triển tổ chức, tham mưu để đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của cơ quan, tổ chức ngày một chất lượng hơn, tham mưu để xây dựng chính sách và pháp luật ngày một tốt hơn, đáp ứng yêu cầu và mong muốn ngày càng tăng của người dân
Công tác tham mưu không chỉ là tham dự, đề xuất chủ trương, chính sách cho cơ quan lãnh đạo cấp trên, cho lãnh đạo, quản lý cấp mình mà còn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ chuyên môn cho lãnh đạo, quản lý và cơ quan cấp dưới Mặt khác, tham mưu không chỉ là đề xuất các chủ trương mà còn phải đưa ra được các giải pháp, cách thức tổ chức triển khai thực hiện phù hợp, khoa học, hiệu quả giúp lãnh đạo quản lý, chỉ đạo, điều hành công việc
Từ những phân tích nêu trên, có thể rút ra khái quát chung về khái niệm năng lực tham mưu của công chức là: Khả năng của công chức trong việc vận dụng những kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi và những yếu tố có liên quan của công chức một cách tốt nhất để tham dự, đề xuất, hiến kế cho cấp trên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền
Trang 3018
1.2.3 Đặc điểm của năng lực tham mưu
- Năng lực tham mưu có tính cụ thể và những kỹ năng, nghiệp vụ cần thiết Có thể hình dung mối quan hệ giữa tham mưu với lãnh đạo, quản lý là sự gắn bó hữu cơ, tất yếu của quá trình ra các quyết định của lãnh đạo, quản lý
- Năng lực tham mưu hướng đến phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và
xã hội;
- Năng lực tham mưu hướng vào các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong lãnh đạo, quản lý và tham gia quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời tổ chức cung ứng và phục vụ các nhu cầu chung của xã hội, của nhân dân không vì mục đích lợi nhuận
- Năng lực tham mưu là khả năng mang tính chuyên nghiệp, chuyên trách của một cá nhân phục vụ cho lãnh đạo trong việc ban hành quyết định, một cách chính xác, hợp lý, đạt hiệu quả cao cũng như tăng cường hiệu quả tổ chức thực hiện các quyết định
- Năng lực tham mưu có khả năng thu thập thông tin, phân tích, đề xuất phương án giải quyết đúng đắn, hiệu quả trong lĩnh vực chuyên môn nhất định Người tham mưu có đặc thù luôn ở vị trí trợ giúp một chủ thể là nhà lãnh đạo, quản lý Những đặc điểm, yêu cầu mới của chủ thể lãnh đạo sẽ quyết định tính chất, đặc điểm của năng lực tham mưu
- Năng lực tham mưu là có tư duy độc lập, phân tích và tổng hợp tốt, có kiến thức, kinh nghiệm chuyên sâu; biết lắng nghe các ý kiến trái chiều và biết tuân theo, bảo lưu ý kiến đúng, tìm biện pháp khắc phục, tháo gỡ khó khan; có khả năng hướng dẫn thực hiện về lĩnh vực mình đảm trách cho cấp lãnh đạo, quản lý và cơ quan tham mưu cấp dưới
- Có tính nguyên tắc cao, nhưng xem xét giải quyết công việc cụ thể với thái độ khách quan, biện chứng, không định kiến, hẹp hòi, không bảo thủ,
Trang 31Từ những đặc điểm về năng lực tham mưu của công chức nêu trên so với năng lực thực thi công vụ của công chức ta thấy, 2 khái niệm này có liên quan mật thiết và có nhiều nội dung tương đồng nhau nhưng khái niệm năng lực thực thi công vụ có tính bao quát và rộng hơn, bao gồm cả năng lực tham mưu, năng lực lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực tham mưu của công chức
- Kiến thức: Thuộc về năng lực tư duy, là hiểu biết mà cá nhân có được sau khi trải qua quá trình giáo dục - đào tạo, đọc hiểu, phân tích và ứng dụng
Ví dụ: kiến thức chuyên môn, trình độ ngoại ngữ
- Kỹ năng: Thuộc về kỹ năng thao tác, là khả năng biến kiến thức có được thành hành động cụ thể, hành vi thực tế trong quá trình làm việc của cá nhân Ví dụ: Kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng giao tiếp
-Phẩm chất/Thái độ: Thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm, là cách cá nhân tiếp nhận và phản ứng lại với thực tế, đồng thời thể hiện thái độ và động
cơ với công việc Ví dụ: trung thực, tinh thần trách nhiệm, dấn thân
Trang 3220
Theo quy định tại Điều 7, Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25 tháng
6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Hướng dẫn Nghị định số 36/2013/N Đ-
CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức:
- Khung năng lực của từng vị trí việc làm được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm
- Khung năng lực của từng vị trí việc làm công chức có sự khác nhau, trong đó yêu cầu về năng lực, kỹ năng cần phải có để hoàn thành nhiệm vụ ở
vị trí việc làm cụ thể, như: năng lực tổng hợp; năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tế của ngành; năng lực tập hợp, quy tụ; năng lực điều hành và phối hợp hoạt động; kỹ năng soạn thảo văn bản;
- Trình độ học vấn:
Đây là yếu tố cơ bản và là yêu cầu tối thiểu đối với mọi công chức, nó được thể hiện ở khả năng tổng hợp của công chức trên mọi lĩnh vực.Trình độ học vấn thường được đánh giá bằng số năng thực tế mà công chức được học trong hệ thống quốc dân Trên thực tế, trình độ học vấn được biểu hiện trên các văn bằng: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Trang 3321
Là những kiến thức, khả năng, kỹ năng của mỗi công chức trong một ngành nghề, một lĩnh vực nhất định Đó là sản phẩm của đào tạo, là kết quả của quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp của công chức Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng được phản ánh thông qua hai góc độ:
+ Thứ nhất: bằng cấp chuyên môn mà công chức có, được tính từ chứng chỉ nghề, sơ cấp về chuyên môn nghiệp vụ trở lên
+ Thứ hai: khả năng vận dụng hiệu quả kiến thức chuyên môn vào trong thực tế công tác, phát huy được hiệu quả mang lại giá trị thực tế
Phản ảnh mức độ nhận thức về những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lê nin về chế độ nhà nước, bản chất của nhà nước, chủ trương, đường lối, chính sách Có được những kiến thức đó công chức sẽ hoạt động đúng định hướng chính trị, giúp cho quá trình tuyên truyền, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật đến với quần chúng nhân dân đạt hiệu quả cao hơn
- Trình độ quản lý nhà nước:
Trình độ quản lý nhà nước phản ánh những kiến thức mà công chức đạt được: Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật, nền HCNN, nắm vững
và vận dụng thành thạo các công cụ, kỹ năng, phương pháp điều hành, quản
lý nhà nước Các kiến thức về quản lý nhà nước sẽ giúp công chức hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về nhiệm vụ và quyền hạn của mình để giải quyết công
Trang 3422
việc đạt hiệu quả cao, đúng pháp luật Hoạt động của công chức là hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực mà họ phụ trách nên mỗi công chức phải trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước
b) Kỹ năng, nghiệp vụ
Kỹ năng là khả năng, sự thành thạo áp dụng các kỹ thuật, phương pháp
và các công cụ để giải quyết công việc Một năng lực có thể bao gồm nhiều
kỹ năng Kỹ năng của công chức là làm chủ được công việc, áp dụng thành thạo các kỹ thuật, phương pháp và công cụ quản lý để giải quyết công việc theo nhiệm vụ của mình được phân công
- Kỹ năng tham mưu:
Nhiệm vụ của công chức là tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo đơn vị trong công tác lãnh đạo, điều hành đơn vị Do vậy, năng lực tham mưu của công chức được xem như là năng lực rất quan trọng của công chức Đây là kỹ năng đề xuất với lãnh đạo ban hành, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý hành chính nhà nước ở các lĩnh vực được phân công phụ trách, đảm bảo các yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý Kỹ năng tham mưu thể hiện trình độ, năng lực của công chức trong tham mưu đúng, kịp thời để giải quyết các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Để công tác tham mưu đạt kết quả, công chức cần có những kỹ năng như áp dụng pháp luật, kỹ năng nhận diện và phân tích
và giải quyết vấn đề
- Kỹ năng lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là một hoạt động quan trọng trong việc thực thi công vụ của công chức Việc lập kế hoạch sẽ giúp công chức xác định rõ mục tiêu cần phải đạt và biện pháp, cách thức để đạt thực hiện mục tiêu, lộ trình thực hiện
để sắp xếp thời gian, bố trí phương tiện, nhân lực, kinh phí Công chức có thể lập kế hoạch dài hạn hoặc ngắn hạn tùy theo tính chất của công việc Kế hoạch càng cụ thể, chi tiết thì việc thực hiện các bước càng thuận lợi
Trang 3523
- Kỹ năng phối hợp trong công việc:
Đây là kỹ năng cần có trong quá trình thực thi công vụ Đây là kỹ năng phối kết hợp giữa các công chức với nhau, giữa công chức với các phòng, ban trong tổ chức và bên ngoài tổ chức để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Trong cơ quan, các phòng, ban, cá nhân không hoạt động độc lập mà có
sự liên kết, quan hệ chặt chẽ với nhau Trong quá trình thực thi công vụ, công chức không tách mình ra khỏi tập thể, không làm việc một mình mà cần có sự phối hợp, hỗ trợ với các phòng, ban đơn vị trong cơ quan
- Kỹ năng giao tiếp:
Trong thực thi công vụ, kỹ năng giao tiếp có vai trò quan trọng Đối tượng giao tiếp của công chức rất rộng, có thể là cấp trên, đồng nghiệp, nhân dân Đối với mỗi đối tượng giao tiếp, cần có cách thức và kỹ năng riêng Đặc biệt, khi giao tiếp với công dân cần thể hiện sự chuẩn mực trong giao tiếp công vụ để tạo được sự tin cậy của công dân khi tiếp xúc, nâng cao uy tín của công chức và tổ chức trong cung ứng dịch vụ công Để nâng cao hiệu quả giao tiếp, công chức cần có các kỹ năng: kỹ năng diễn đạt, kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, kỹ năng thuyết phục…
- Kỹ năng giải quyết công việc:
Công chức phải đảm nhiệm khối lượng công việc rất lớn Do vậy, kỹ năng giải quyết công việc giúp họ giải quyết công việc một cách khoa học Để
giải quyết công việc có hiệu quả, công chức cần có kỹ năng thu thập và
xử lý thông tin, kỹ năng phân tích, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng quản lý thời gian Với những công việc đột xuất hoặc có tính chất cấp bách thì cần bố trí thời gian, thích cực phối hợp với các đơn vị và cá nhân liên quan để hoàn thành công việc theo đúng quy định
- Kỹ năng soạn thảo văn bản:
Trang 3624
Văn bản soạn thảo phải có tính mục đích, tính khoa học, tính đại chúng, tính khả thi Công chức khi soạn thảo văn bản cũng cần hiểu về thể thức của văn bản và nắm được quy trình chung về soạn thảo một văn bản gồm có các bước như: giai đoạn chuẩn bị, lập chương trình xây dựng văn bản, thu thập tài liệu, phân tích, đánh giá thông tin, giải đoạn viết văn bản dự thảo, giai đoạn duyệt ký và ban hành văn bản, giai đoạn gửi và lưu trữ văn bản,…
Tất cả các kỹ năng trên đều có vai trò quan trọng đối với công chức trong quá trình thực thi công vụ Các kỹ năng có quan hệ chặt chẽ với nhau,
bổ trợ cho nhau Bởi vậy, mỗi công chức cần không ngừng rèn luyện để tiến tới thành thạo tất cả các kỹ năng nêu trên
c) Thái độ, hành vi
Thái độ là cách nghĩ, cách nhìn nhận và cách hành động trước một vấn
đề hay một tình huống cụ thể Thái độ của công chức là sự thích hay không thích, đồng tình, phản đối hay thời cơ trước một sự việc, hiện tượng hoặc một người từ đó có ảnh hưởng tới hành vi của họ khi ứng xử với sự việc, hiện tượng hoặc con người Thông thường, nếu có thái độ tích cực thì sẽ có hành vi tích cực và ngược lại
Hành vi của công chức là khả năng làm chủ trạng thái tinh thần của bản thân trong giải quyết công việc nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Như vậy, cùng một sự việc, một đối tượng nếu công chức có thái độ, hành
vi khác nhau thì sẽ có cách hành xử khác nhau, đem lại hiệu quả khác nhau
Có thể đánh giá thái độ, hành vi của công chức qua một số tiêu chí sau:
- Ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế làm việc của cơ quan:
Công chức là người đem chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào nhân dân, giải thích và hướng dẫn cho nhân dân thực hiện, do đó công chức phải là người đi tiên phong trong việc chấp hành
Trang 3725
chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Ý thức chấp hành là phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, nghĩa là công chức không được làm những gì mà Đảng và Nhà nước cấm Điều này được đánh giá bằng việc hàng năm công chức có vi phạm các quy định của Đảng và những quy định của nhà nước về những điều cấm công chức không được làm Bên cạnh đó, công chức cũng được đánh giá bằng ý thức chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan Việc chấp hành tốt nội quy, quy chế của cơ quan phản ánh tính chuyên nghiệp của công chức trong thực thi công vụ, phục vụ nhân dân
- Tinh thần, ý thực học tập, rèn luyện đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ:
Ý thức học tập, rèn luyện ở đây được đánh giá chủ yếu là tinh thần tự học tập, rèn luyện trong công tác và đời sống
- Tinh thần, ý thức trách nhiệm đối với việc thực thi công vụ: Việc đánh giá tinh thần, ý thức trách nhiệm là rất quan trọng, nó phản ánh hiệu quả thực thi công vụ của công chức Tinh thần, ý thức trách nhiệm được đánh giá bằng kết quả làm việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ so với thời gian quy định Công chức có thái độ tốt là người luôn chủ động trong các mặt công tác của mình và do đó luôn cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao đúng với thời gian quy định Ngược lại, công chức không có ý thức, trách nhiệm luôn
có thái độ ỷ lại, không quan tâm đến kết quả, hiệu quả của công vụ mà mình đảm nhận Việc công chức hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng với thời gian quy định, có chất lượng tốt, được cơ quan, đồng nghiệp và nhân dân tín nhiệm
là tiêu chí quan trọng để đánh giá công chức
- Tinh thần hợp tác, cầu thị cởi mở trong giao tiếp và thái độ phục vụ đối với nhân dân: Tiêu chí này cũng được phản ánh thông qua một số biểu hiện bên ngoài của công chức như sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ, tinh thần học
Trang 38d) Phẩm chất đội ngũ công chức: Phẩm chất của công chức thể hiện trên
các tiêu chí cụ thể sau:
- Trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc và nhân dân;
Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trong bất cứ tình huống nào, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng về độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng Có tinh thần yêu nước nồng nàn, đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; sẵn sàng hy sinh
vì sự nghiệp của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân
- Có phẩm chất đạo đức trong sáng; lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, giản dị; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư Tâm huyết và có trách nhiệm với công việc; không háo danh; có tinh thần đoàn kết, xây dựng, gương mẫu, thương yêu đồng chí, đồng nghiệp
- Bản thân không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi và tích cực đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đối với làm Có ý thức tổ chức kỷ luật Trung thực, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
Trang 3927
- Có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn; Thực sự tiên phong, gương mẫu, có tác phong dân chủ, khoa học, đoàn kết cán bộ; công bằng, chính trực
đ) Tư chất, năng khiếu của công chức: Đây là tiềm năng có tính tự nhiên, di truyền; là tố chất bẩm sinh gắn với đặc điểm riêng của cá nhân, tạo nên sự khác biệt giữa người này với người khác Tư chất, năng khiếu chỉ phát huy khi cá nhân thực sự say mê, hứng thú với nghề nghiệp, công việc được giao Với vai trò là yếu tố cấu thành năng lực thực tham mưu, đề xuất, tư chất, năng khiếu là tiền đề để phát triển năng lực hoạt động nghề nghiệp nói chung, năng lực tham mưu, đề xuất của người công chức nói riêng
e) Tiêu chí đánh giá thông qua kết quả tham mưu của công chức
Đây là nhóm tiêu chí đánh giá năng lực tham mưu của công chức, phản ánh năng lực hoàn thành nhiệm vụ của công chức Đánh giá năng lực tham mưu của công chức thực chất là xem xét, so sánh giữa thực hiện nhiệm vụ cụ thể của công chức với những tiêu chí đã được xác định trong tiêu chí đánh giá năng lực tham mưu của công chức Nếu công chức thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ mà không phải do lỗi của cơ quan thì có thể kết luận rằng năng lực tham mưu của công chức còn hạn chế, không đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao ngay cả khi công chức đó có trình độ chuyên môn đào tạo cao hơn cả yêu cầu của công việc
Năng lực tham mưu có mối quan hệ liên quan mật thiết với chất lượng đội ngũ công chức Bởi vì người làm công tác tham mưu không đơn thuần là giúp việc cho lãnh đạo các cấp, mà còn phải là người có bản lĩnh, có năng lực, trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức trong sáng, trung thực, thẳng thắn, nghiêm túc, chủ động, độc lập, thích ứng cao trong công việc, luôn cần
cù, tỉ mỉ, thận trọng và có tính chuyên nghiệp, nguyên tắc cao; phải là người
có khả năng điều phối công việc, có khả năng phân tích, tổng hợp và nhạy bén
Trang 4028
với nhiệm vụ chính trị, có tư duy biện chứng, không định kiến, hẹp hòi, không bảo thủ, cảm tính, vụ lợi; dám đề xuất, dám chịu trách nhiệm Trong đó chất lượng đội ngũ công chức thường gắn với trình độ, kiến thức
Theo đó, đánh giá về chất lượng đội ngũ công chức cần xem xét trên cả
ba phương diện là số lượng, cơ cấu và chất lượng Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức gồm:
- Chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc
- Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Tiến độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ
- Tinh thần trách nhiệm và phối hợp thực hiện nhiệm vụ
- Ý thức tổ chức kỷ luật
- Thái độ phục vụ nhân dân
Qua phân tích nêu trên cho thấy rõ mối quan hệ giữa năng lực tham mưu và chất lượng đội ngũ công chức Nếu chất lượng công chất tốt sẽ góm phần nâng cao năng lực tham mưu của công chức
1.2.5 Những biểu hiện về năng lực tham mưu công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện
Biểu hiện của năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau theo nội dung, theo từng mặt công tác, theo cương vị, chức trách được giao, theo yếu
tố tạo thành Mỗi cách tiếp cận đều có góc độ riêng, song dù quan niệm thế nào chăng nữa, năng lực tham mưu, đề xuất của công chức cũng gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ của người họ Theo đó, có thể nêu lên biểu hiện của năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện thể hiện các nội dung sau: