2 tâm là phát triển công nghiệp lọc dầu - hoá dầu - hoá chất, các ngành công nghiệp có quy mô lớn bao gồm: công nghiệp cơ khí, đóng và sửa chữa tàu biển, luyện cán thép, sản xuất xi măng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HẢI TRƯỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHU KINH TẾ DUNG QUẤT, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HẢI TRƯỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHU KINH TẾ DUNG QUẤT, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HOÀNG QUY
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2019
Học viên Nguyễn Hải Trường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy, cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp và của gia đình
Sự động viên giúp đỡ đó là nguồn khích lệ quý báu cho tác giả hoàn thành luận văn này
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả xin chân thành cảm ơn đến TS Nguyễn Hoàng Quy - Người đã chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và trách nhiệm để tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc Học viện hành chính Quốc gia tại thành phố Huế, Lãnh đạo khoa sau đại học, các thầy, cô giáo của Học viện đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu, hoàn thành chương trình cao học
Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC Trang bìa
Lời cam đoan
Trang 62.1 Đặc điểm, vai trò khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 42
2.1.1 Đặc điểm khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 42
2.1.2 Vai trò của khu kinh tế Dung Quất đối với sự phát triển của tỉnh Quảng Ngãi 44
2.1.3 Thực trạng về công tác quy hoạch 48
2.1.4 Thực trạng về vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 50
2.1.5 Thực trạng thu hút đầu tư ngoài ngân sách nhà nước 52
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 55
2.2.1 Các quy định pháp lý về thu hút đầu tư 55
2.2.2 Các chính sách thu hút vốn đầu tư 55
2.2.3 Phương thức thu hút vốn đầu tư phát triển 58
2.2.4 Bộ máy quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất 68
2.2.5 Kiểm tra, giám sát vốn đầu tư 78
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 80
2.3.1 Những kết quả đạt được 80
2.3.2 Những hạn chế 82
2.3.3 Những nguyên nhân của hạn chế 83
Tiểu kết chương 2 87
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHU KINH TẾ DUNG QUẤT, TỈNH QUẢNG NGÃI 88
3.1 Phương hướng quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 88
3.1.1 Phương hướng chung 88
Trang 73.1.2 Phương hướng cụ thể 91 3.1.3 Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2019 - 2025: 95 3.2 Hệ thống giải pháp quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 95 3.2.1 Nhóm giải pháp về hệ thống thể chế chính sách 95 3.2.2 Nhóm giải pháp về quy hoạch 102 3.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động 105 3.2.4 Nhóm giải pháp về kiểm tra, đánh giá công tác quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 110 3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu
tư xây dựng khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 113 KẾT LUẬN 117 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOT: Xây dựng- kinh doanh- chuyển giao
BQL: Ban quản lý
BT: Xây dựng- chuyển giao
BT-GPMB: Bồi thường- giải phóng mặt bằng CNXH: Chủ nghĩa xã hội
NSTW: Ngân sách Trung ương
ODA: Nguồn vốn Tài trợ phát triển chính thức OPEC: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
PPP: Đối tác công tư
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu kinh tế của KKT Dung Quất giai đoạn 2008-2018 46 Bảng 2.2 Tình hình vốn NSNN hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất 51
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 9/11/1994, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 658/TTg chọn Dung Quất làm địa điểm xây dựng Nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam Ngày 11/4/1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 207/TTg về phê duyệt Quy hoạch chung KCN Dung Quất Theo đó, KCN Dung Quất với diện tích 14.000 ha (trong đó Quảng Ngãi 10.300 ha, Quảng Ngãi 3.700 ha) được xác định là KCN lọc hoá dầu đầu tiên của Việt Nam, là khu tập trung các ngành công nghiệp qui mô lớn, gắn với cảng biển nước sâu Dung Quất, sân bay quốc tế Chu Lai, là trung tâm kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi trong Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung và giữ vai trò quan trọng về quốc phòng
Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm
1997 đã đề ra chủ trương nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài Đặc Khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện để khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và thí điểm áp dụng những thể chế và chính sách kinh tế mới nhằm huy động tối đa nguồn nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững an ninh, quốc phòng
Thực hiện chủ trương trên, đồng thời tạo cơ chế và chính sách mới đột phá phát triển Dung Quất, Bộ Chính trị đã có Thông báo số 155-TB/TW ngày 09/9/2004 về việc thống nhất chủ trương chuyển KCN Dung Quất thành KKT Dung Quất Theo đó, ngày 11/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 50/2005/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động của KKT Dung Quất, với mục tiêu đặt ra: “(1) Xây dựng và phát triển KKT Dung Quất để trở thành khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực với trọng
Trang 112
tâm là phát triển công nghiệp lọc dầu - hoá dầu - hoá chất, các ngành công nghiệp có quy mô lớn bao gồm: công nghiệp cơ khí, đóng và sửa chữa tàu biển, luyện cán thép, sản xuất xi măng, sản xuất container và các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu; gắn với việc phát triển và khai thác có hiệu quả cảng biển nước sâu Dung Quất, sân bay quốc
tế Chu Lai và đô thị công nghiệp - dịch vụ Vạn Tường, đô thị Dốc Sỏi; (2) Đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng và phát triển KKT Dung Quất cùng với Khu Kinh tế Dung Quất trở thành những hạt nhân tăng trưởng, trung tâm đô thị - công nghiệp - dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và làm động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực miền Trung và cả nước; là một đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng, góp phần mở rộng thị trường khu vực miền Trung và Tây Nguyên và trở thành cầu nối với thị trường Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan; (3) Tạo việc làm, thúc đẩy đào tạo
và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong vùng; góp phần tạo ra những sản phẩm có thương hiệu, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; (4) Khai thác có hiệu quả các lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong giao thương, dịch vụ quốc tế và trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực; tạo sự lan toả ra các vùng xung quanh, tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác trong cả nước”
Để đạt được những mục tiêu đã đặt ra, vai trò quản lý của nhà nước là rất quan trọng, đặc biệt là quản lý nhà nước về thu hút vốn để xây dựng cơ sở
hạ tầng phục vụ phát triển Khu kinh tế và Nhà nước là người nhận thức đúng các quy luật vận động phát triển, nắm vững và dự báo được các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị- xã hội trong nước và quốc tế để vạch ra các chiến lược và kế hoạch phát triển thể chế hoá các chủ trương đường lối phát triển của Khu kinh tế thành các quy chế, luật lệ để hướng dẫn và sử dụng các kích
Trang 123
thích kinh tế nhằm định hướng phát triển các khu kinh tế, các thành phần kinh
tế, các loại hình doanh nghiệp, hoạt động phát triển đúng hướng và có hiệu quả
Tuy nhiên, Cơ chế tài chính cho Khu kinh tế Dung Quất trong thời gian qua, nhất là trong giai đoạn đầu mới thành lập không ổn định và không đáp ứng yêu cầu vốn đầu tư Cơ chế ưu đãi đầu tư chưa thật sự hấp dẫn và thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư chiến lược; về chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý chưa phát huy hết hiệu lực, hiệu quả Do vậy, đề tài “Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi” được chọn có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt đối với việc xây dựng, phát triển Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Hệ thống luận cứ khoa học Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng
- Đánh giá, phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
- Đề xuất những giải pháp Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng của Khu kinh tế Dung Quất nhằm thu hút vốn với tốc độ cao hơn và hiệu quả hơn
3 Tình hình nghiên cứu:
Nghiên cứu quản lý nhà nước về đầu tư, thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đã được nhiều công trình, nhiều tác giả nghiên cứu như: Luận văn thạc sỹ Quản lý nhà nước về nguồn nhân lực phát triển khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi của tác giả Trần Thị Kim Tích; Đầu tư phát triển Khu kinh tế Dung Quất: thực trạng và giải pháp; bài viết Kinh nghiệm quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới của tác giả Nguyễn Phương Thảo, Luận văn tiến sỹ Quản lý nhà nước về vốn đầu tư phát
Trang 134
triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội ( 2015)…Các công trình khoa học đã nghiên cứu và đề cập đến những vấn đề chủ yếu của đầu tư vốn vào khu kinh tế, các công trình khác và các lĩnh vực khác nhau về Khu kinh tế Dung Quất
Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và cụ thể Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi từ trước đến nay chưa có công trình khoa học nào đề cập đến Do vậy, luận văn có thể coi là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Quản lý nhà nước có hiệu lực, hiệu quả đối với các nguồn vốn trong và ngoài nước có thể thu hút được để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Quản lý nhà nước đối với thu hút vốn đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
- Về thời gian: Thời gian từ khi thành lập KCN Dung Quất, nay là Khu kinh tế Dung Quất (1996) đến nay, tầm nhìn 2020 - 2030
- Về không gian: Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp luận: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng cơ sở phương pháp luận
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra, khảo sát thực tế
Trang 145
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu về vốn, nhu cầu, khả năng và các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, đề ra các giải pháp quản lý nhà nước đối với thu hút vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển Khu kinh tế Dung Quất- Là tài liệu khoa học giúp cho các cơ quan quản lý và Khu kinh tế Dung Quất tham khảo vận dụng
7 Kết cấu của đề tài: ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 15Thuật ngữ “Khu kinh tế” (Economic Zones) xuất hiện từ cuối thập niên
70 của thế kỷ trước từ Trung Quốc Cho đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về KKT Theo nghĩa rộng, KKT là những khu vực địa lý được áp dụng những chính sách đặc biệt Theo nghĩa hẹp, KKT là một loại hình riêng của khu kinh tế tự do, đầy đủ như một xã hội thu nhỏ Đó là một khu vực địa lý riêng biệt, được áp dụng những chính sách kinh tế đặc biệt nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ, kiến thức về quản lý để phát triển kinh tế với một cơ cấu ngành nghề đầy đủ, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp hướng
về xuất khẩu nhưng cũng không bỏ qua thị trường nội địa KKT bao gồm tất
cả các loại hình khác nhau của khu kinh tế tự do, được tổ chức thành lập các khu chức năng: khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng nước sâu và các ngành công nghiệp, dịch vụ gắn với cảng, khu phi thuế quan, khu đô thị, khu du lịch, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác
Ở Việt Nam, KKT được hiểu là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ
Trang 167
chế quản lý thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong khung pháp lý hiện hành và ngày càng hoàn thiện
b) Đặc điểm: KKT có một số đặc điểm sau:
Là khu vực có vị trí địa lý, ranh giới riêng biệt với các vùng khác, một
bộ phận lãnh thổ quốc gia được Chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp lý riêng, mở cửa theo các thông lệ quốc tế
Là nơi có môi trường đầu tư, kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường, được hưởng quy chế tự do và ưu đãi hơn các vùng khác
Là nơi giao lưu kinh tế với nước ngoài thông thoáng, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
c) Vai trò của KKT
Thứ nhất, các KKT có điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, giúp giải quyết khó khăn về vốn, tiếp cận và chuyển giao khoa học - công nghệ tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý hiện đại; khai thác và sử dụng tối ưu nguồn vốn còn chưa được huy động; tạo nên sự thông thương, liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước; từng bước thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển năng động hơn, có khả năng cạnh tranh sản phẩm cao hơn trên thị trường quốc tế
Thứ hai, các KKT tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và phương phá quản lý hiện đại Với ưu thế đặc biệt, các KKT đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài
Thứ ba, các KKT góp phần khai thác hiện quả các nguồn lực và lợi thế của quốc gia, các khu vực Ở những khu vực có điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội thuận lợi, với sự xuất hiện của các KKT đã làm cho việc khai thác và
sử dụng các nguồn lực trở nên hiệu quả hơn, nền kinh tế phát triển sôi động
Trang 178
hơn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ở những khu vực có đất đai cằn cỗi, hoang hóa, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, ít có khả năng sinh lợi, khi KKT được xây dựng và đi vào hoạt động với sự thu hút đầu tư trong và ngoài nước đã làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội thay đổi hẳn: các vùng thuần nông trở thành các vùng kinh tế
đa ngành, trong đó các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, còn nông nghiệp chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa; chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên rõ rệt
Thứ tư, các KKT tạo thêm việc làm và nâng cao trình độ cho người lao động Sự hoạt động đa ngành nghề của các KKT đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao động, đặc biệt là lao động địa phương với chính sách ưu tiên giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ Với yêu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế, trình độ lao động trong các KKT cũng phải được nâng lên xứng tầm
Do đó, khi đi vào hoạt động, các KKT một mặt thu hút lao động có chất lượng, mặt khác có hỗ trợ để bồi dưỡng nâng cao tay nghề lao động Đồng thời, với quy chế hoạt động sản xuất, kinh doanh chặt chẽ, các KKT còn rèn luyện tác phong lao động mới và nâng cao tính kỷ luật lao động
Thứ năm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực xuất khẩu Sự phát triển của các KKT với việc ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từ khu vực 1 sang khu vực 2 và 3, kéo theo chuyển dịch lao động tương ứng Nơi đây có sự tập trung và ưu tiên về vốn, khoa học - công nghệ, do đó sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế Điều này làm tăng cơ hội xuất khẩu cho hàng hóa được sản xuất trong các KKT
Thứ sáu, góp phần đổi mới cơ chế quản lý, cải thiện môi trường đầu tư
và mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước trên thế giới Rút kinh nghiệm từ việc xây dựng và phát triển các KKT ở các quốc gia đi trước, các
Trang 189
KKT đi sau cũng ứng dụng các cơ chế quản lý thông thoáng, từ đó cải thiện được rất nhiều môi trường đầu tư Việc hấp dẫn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước liên kết, ký kết đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
1.1.1.2 Cơ sở hạ tầng khu kinh tế
a) Khái niệm
Ở nước ta, cơ sở hạ tầng còn được gọi là kết cấu hạ tầng Tuy nhiên, để tránh nhầm lẫn với thuật ngữ cơ sở hạ tầng thường đi cùng với thuật ngữ kiến trúc thượng tầng trong triết học nên kết cấu hạ tầng thường được dùng hơn Kết cấu hạ tầng có nguồn gốc từ tiếng Anh (infrastructure) gồm 2 từ ghép infra (ở dưới đáy) và structure (kết cấu, cấu trúc)
Cơ sở hạ tầng được hiểu theo nghĩa rộng gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật gồm hệ thống giao thông, nhà máy điện, nhà máy xử lý rác thải và cơ sở hạ tầng xã hội như trường học, cơ sở y tế, trung tâm thương mại
Cơ sở hạ tầng khu kinh tế là tổng thể các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động đầu tư phát triển khu kinh tế được diễn ra một cách bình thường
Trang 1910
chiến lược, lợi thế về đất đai, lao động cũng không nổi trội giữa các KKT thì việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi, niềm tin và sự tin tưởng các nhà đầu
tư đối với chính quyền, đặc biệt là cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển đồng
bộ, hiện đại sẽ là những điều kiện quan trọng và tiên quyết để giành lợi thế trong việc thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đối với các KKT ven biển của Việt Nam nói riêng và đối với các mô hình KKT, đặc khu kinh tế trên thế giới nói chung
c) Phân loại: Dựa trên những tiêu chí khác nhau, cơ sở hạ tầng KKT được phân chia thành nhiều loại như sau:
- Theo lĩnh vực kinh tế - xã hội thì cơ sở hạ tầng KKT phân thành: + CSHT kinh tế: là những công trình phục vụ sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc tiếp tục quá trình sản xuất trong lĩnh vực lưu thông tại KKT Nó bao gồm có hệ thống giao thông vận tải, cấp thoát nước, hệ thống truyền tải điện, sân bay, bến cảng…
+ CSHT xã hội: là toàn bộ các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho hoạt động văn hóa xã hội, nâng cao dân trí, văn hoá tinh thần của nhân dân, công nhân, lao động đang sinh sống và làm việc tại khu kinh tế như: trường học, bệnh viện, trung tâm văn hoá thể thao, công viên, các nơi vui chơi giải trí, trung tâm thương mại…
+ CSHT môi trường: là những công trình ở các lĩnh vực phục vụ cho việc bảo vệ, giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái trong KKT như: các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai rừng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống xử lý chất thải công nghiệp…
+ CSHT an ninh quốc phòng: là những công trình đảm bảo những điều kiện vật chất kỹ thuật chung cho lĩnh vực an ninh - quốc phòng như hệ thống
cơ sở vật chất cho sản xuất và bảo quản vũ khí, bảo dưỡng vũ khí, khí tài, các
Trang 2011
chính sách phát triển quốc phòng… Đây là những công trình đặc thù có thể nằm trên địa bàn KKT nhưng không thuộc sự quản lý của Ban Quản lý
Tuy nhiên, trên thực tế ít có loại cơ sở hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục
vụ cho hoạt động kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại
Có những loại CSHT vừa phục vụ cho sản xuất, vừa phục vụ cho hoạt động văn hoá, an ninh - quốc phòng, như: Hệ thống cầu đường bộ, truyền tải điện… Bốn loại cơ sở hạ tầng KKT nêu trên có mối quan hệ tương tác với nhau, trong đó, cơ sở hạ tầng kinh tế giữ vị trí quan trọng, có tác động và quyết định đến sự phát triển các loại cơ sở hạ tầng khác nhau
- Theo ngành kinh tế thì CSHT KKT được phân thành: CSHT ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, năng lượng, xây dựng, thuỷ lợi, giáo dục, y tế, du lịch, văn hoá xã hội… Qua phân loại nhằm xác định vai trò, trách nhiệm từng ngành trong việc quản lý, khai thác từng bộ phận CSHT KKT; đa
số các công trình hạ tầng KKT được sự đầu tư, quản lý, khai thác của Ban Quản lý, còn lại một số ngành đặc thù, có chuyên môn sâu thì do các cơ quan, đơn vị chuyên ngành đầu tư, quản lý và khai thác như: bưu chính viễn thông, năng lượng, thủy lợi, giáo dục, y tế Ban Quản lý chỉ có chức năng, nhiệm vụ phối hợp thực hiện các công trình trên địa bàn
- Theo tính chất đặc điểm của mỗi loại, cơ sở hạ tầng được phân thành:
cơ sở hạ tầng mang hình thái vật chất và phi vật chất
+ Cơ sở hạ tầng mang hình thái vật chất bao gồm các công trình thuộc
cơ sở hạ tầng như: Hệ thống đường giao thông, điện, kênh mương, trường học, công trình y tế, các cơ sở quốc phòng - an ninh, hệ thống thông tin liên lạc…
+ Cơ sở hạ tầng mang hình thái phi vật chất là hệ thống thiết chế xã hội, cơ chế hoạt động, thủ tục hành chính, an ninh trật tự xã hội… đó là các yếu tố về điều kiện, môi trường phục vụ cho các hoạt động trong KKT
Trang 2112
Từ cách thức phân loại cơ sở hạ tầng theo các tiêu thức khác nhau thành các loại hình cơ sở hạ tầng khác nhau nhằm giúp cho công tác phân cấp quản lý và đầu tư xây dựng, khai thác sử dụng các loại cơ sở hạ tầng phù hợp phục vụ cho sự nghiệp phát triển KKT
1.1.2 Thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
1.1.2.1 Khái niệm về vốn đầu tư
Vốn đầu tư là yếu tố đầu vào quan trọng, được sử dụng vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp và nền kinh tế tổng thể của một quốc gia Đó là tất
cả những gì mà doanh nghiệp, nền kinh tế sử dụng vào quá trình sản xuất, nhằm mục đích tạo ra khối lượng sản phẩm, hàng hoá có giá trị lớn hơn giá trị
bỏ ra ban đầu
Như vậy theo quan điểm kinh tế vĩ mô, vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; vốn đầu tư làm tăng tài sản lưu động và vốn đầu tư vào nhà ở
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, vốn đầu tư là tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức [24]
Dưới góc độ là nhân tố đầu vào, vốn đầu tư là một trong số yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn, công nghệ)
Dưới góc độ quản lý kinh tế, vốn đầu tư được xem xét là toàn bộ các chi phí được đưa vào sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động kinh tế - xã hội
Theo quan niệm của tác giả, vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư
1.1.2.2 Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Vốn đầu tư cho hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng là một trong các hình thức vốn đầu tư trực tiếp vào kinh tế, nó có vai trò hết sức quan trọng Vốn
Trang 2213
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở hạ tầng tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại các cơ sở, nhưng nó có liên quan chặt chẽ và tạo yếu tố thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển; có thể nói vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng là bước mở đầu của đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động đầu tư xây dựng CSHT đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp từng thời kỳ phát triển, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế chung, tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và phát triển kinh tế - xã hội
Đầu tư xây dựng CSHT là một trong những nhân tố cơ bản tạo nên lực lượng sản xuất ngày càng có trình độ cao hơn Tất cả các ngành kinh tế chỉ có thể tăng trưởng nhanh, nếu có đầu tư xây dựng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nhờ có vốn đầu tư xây dựng mà ngày càng có nhiều các công trình văn hoá, giáo dục, y tế, nhà ở để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Nhờ có các nguồn vốn đó (đặc biệt là nguồn vốn trong nước), mà quy
mô đầu tư cho các ngành, lĩnh vực, các vùng, đặc biệt các vùng khó khăn đều được tăng Nhiều công trình kết cấu hạ tầng đã được hoàn thành và đang triển khai
Vai trò của vốn đầu tư thông qua chính sách đầu tư đúng đắn có ý nghĩa quan trọng, không ngừng góp phần mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả mà còn khuyến khích đầu tư phát triển
từ các thành phần kinh tế, từ đó làm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả cao hơn
1.1.2.3 Các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
a) Nguồn vốn trong nước
- Nguồn vốn nhà nước bao gồm 3 bộ phận:
Trang 23ổn định xã hội Tuy nhiên, do ngân sách nhà nước bị giới hạn, các khoản chi ngày càng nhiều cho nên chỉ một số hạng mục, công trình quan trọng thì mới được ưu tiên sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước, còn các khoản đầu tư kinh
tế xã hội khác thì phải huy động từ khu vực tư nhân
+ Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nguồn vốn này
có đặc điểm là phải mang tính hoàn trả, không có sự bao cấp của Nhà nước Chủ đầu tư là người vay vốn từ Nhà nước, phải tính kỹ hiệu quả sử dụng vốn
để sau khi thời hạn sử dụng phải hoàn trả cho Nhà nước cả gốc và lãi Thông qua cho các chủ thể trong nền kinh tế vay để đầu tư xây dựng CSHT, Nhà nước còn thực hiện công tác quản lý và điều tiết vĩ mô, khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô đây chính là thực hiện mục tiêu phát triển xã hội Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề
xã hội như xóa đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 2415
+ Nguồn vốn từ các doanh nghiệp Nhà nước: Nguồn vốn này được lấy
từ các doanh nghiệp mà Nhà ước có vốn góp chi phối, nguồn này bao gồm từ lợi nhuận giữ lại của các doanh nghiệp, vốn ban đầu từ Nhà nước,…nguồn vốn này đã đóng góp rất lớn vào tổng nguồn vốn cho đầu tư xây dựng CSHT
- Nguồn vốn tư nhân:
Bao gồm nguồn vốn tích lũy của dân cư và các doanh nghiệp Nếu xã hội chỉ dựa vào nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển xã hội thì không đủ, cần có các nguồn vốn khác đó chính là khu vực tư nhân Nguồn vốn này có đặc điểm là thuộc sở hữu riêng của các chủ thể trong nền kinh tế,
do các chủ thể đó quyết định việc sử dụng
b) Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
Thứ nhất, vốn FDI (Foreign Direct Investment): là nguồn vốn do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đồng thời tổ chức điều hành, quản lý
Thứ hai, vốn ODA (Official Development Assistance): là vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện
ưu đãi Nguồn vốn này thường dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức của chính phủ, Trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ Nguồn vốn này phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, được tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế, được đại diện thẩm quyền hai bên nhận
và hỗ trợ vốn ký kết Hiệp định ký kết hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế
Thứ ba, nguồn vốn tín dụng từ các tổ chức tài chính quốc tế: Nguồn vốn này không có các ưu đãi lớn như vốn ODA nhưng lại không gắn liền với các điều kiện về chính trị - xã hội Để tiếp cận được nguồn vốn này thì thủ tục tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất thường cao,
Trang 2516
ngoài ra còn có các điều kiện vay vốn khác bất lợi cho nước vay vốn, các tổ chức tài chính trên thế giới có thể cung cấp nguồn vốn này như IMF, WB, ADB…
Thứ tư, nguồn vốn huy động từ thị trường tài chính quốc tế: Thông qua thị trường tài chính quốc tế để có thể thu hút nguồn vốn dài dạn dùng cho đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng như thông qua phát hành trái phiếu quốc tế Nguồn vốn này có thuận lợi là có thể huy động với khối lượng lớn để đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế mà không bị ràng buộc các điều kiện như trong quan hệ tín dụng, bên cho vay khó có thể dùng quan hệ này để gây sức ép cho nước huy động, tạo điều kiện tiếp cận thị trường vốn quốc tế Đây cũng là cơ hội để thúc đẩy thị trường tài chính trong nước phát triển, tính thanh khoản trên thị trường này cao do các công cụ có thể mua đi bán lại để chuyển hóa thành tiền mặt Tuy nhiên, việc huy động bằng hình thức này cũng gặp phải hạn chế là nếu có hệ số tín nhiệm thấp thì phải chịu lãi suất cao
1.1.2.4 Thu hút vốn đầu tư
Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm tới việc thu hút, khai thác các nguồn vốn đầu tư, làm cho lượng vốn đầu tư tăng lên nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư
Muốn tăng vốn đầu tư trước hết phải thực hiện tăng tỷ lệ tiết kiệm trong nước cho đầu tư, thứ hai trong nền kinh tế mở, nhất là Việt Nam và các nước đang phát triển nguồn tiết kiệm trong nước chưa đủ đáp ứng cho đầu tư, đòi hỏi phải thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài Như vậy thu hút vốn đầu tư có thể hiểu bao gồm cả việc thu hút nguồn tiết kiệm từ trong nước và thu hút nguồn vốn nước ngoài nhằm đạt được một khối lượng vốn đầu tư được xác định
Thu hút vốn đầu tư được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, được các chính phủ các nước đẩy mạnh thực hiện và thực tế đang diễn ra sự
Trang 2617
cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, khu vực, vùng miền Không ngừng tăng cường thu hút vốn đầu tư là sự cần thiết khách quan, bởi một số lý do sau:
Thứ nhất, thu hút vốn đầu tư góp phần tăng trưởng kinh tế
Mô hình Harrod - Domar đã chỉ ra rằng vốn đầu tư của nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp với tốc độ tăng trưởng: Mức tăng GDP = vốn đầu tư/ICOR Muốn tăng trưởng kinh tế hàng năm với tốc độ cao thì phải tăng mức đầu tư và giảm ICOR xuống hạn chế không tăng Như vậy thu hút đầu tư
là làm cho lượng đầu tư tăng lên góp phần thúc đẩy tăng trưởng Ngoài ra thu hút đầu tư thì nhu cầu các yếu tố đầu vào của quá trình đầu tư làm cho sản xuất tại chỗ tăng lên, quá trình đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển
Thứ hai, thu hút vốn đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối tương quan giữa chung so với một thời điểm trước đó Đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho cơ cấu được hình thành hợp lý Trên cơ sở cơ cấu kinh tế được xác định cho mỗi thời kỳ, định hướng và các biện pháp thu hút đầu tư cụ thể đối với mỗi ngành làm cho tỷ trọng vốn đầu tư giữa các ngành khác nhau sẽ mang lại kết quả tăng trưởng khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch
cơ cấu ngành và ảnh hưởng chung đến tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế
Cùng với những vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, hoạt động thu hút đầu tư còn tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu vùng, hình thành và phát huy vai trò của vùng trọng điểm, đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế cho các vùng khó khăn, thúc đẩy mối liên hệ, giao lưu kinh tế liên vùng, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững
Định hướng và biện pháp thu hút đầu tư hợp lý còn tác động đến cơ cấu thành phần kinh tế, và các tác động đến mối quan hệ giữa đầu tư khu vực Nhà
Trang 27có thể mới nhưng vẫn dựa trên cơ sở công nghệ hiện có; thì trong thời kỳ cách mạng khoa học, công nghệ, đầu tư vào các thiết bị mới thường đi kèm với những bước tiến công nghệ mới, tạo chuyển biến mạnh mẽ vê năng suất lao động Trên cơ sở này tích luỹ tư bản tăng nhanh và tăng cường khả năng đầu
tư mới Đầu tư mới lại thúc đẩy tốc độ đổi mới thiết bị kỹ thuật và công nghệ
Đối với các nước đang phát triển, mặc dù tích luỹ vốn và công nghệ thấp nhưng cũng có những lợi thế của người đi sau tiếp thu, thích nghi và làm chủ công nghệ có sẵn, rút ngắn thời gian và giảm những rủi ro trong áp dụng công nghệ
1.2 Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư
“Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”,
“Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nuớc và sử dụng pháp luật nhà nuớc để điều chỉnh các hành vi của con nguời trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan
Trang 28Ta có thể đưa ra khái niệm “Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT” như sau:
“Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT là những tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền tới các đơn vị và cá nhân thực hiện quá trình thu hút,
sử dụng vốn đầu tư, thông qua các cơ chế, chính sách của Nhà nước nhằm phát triển hệ thống CSHT KKT có hiệu quả”
1.2.1.2 Mục tiêu quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng khu kinh tế
Quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT phải nhằm đạt được các mục tiêu quan trọng, bao gồm mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng, thể hiện trên các khía cạnh sau:
(1) Định hướng, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước nhằm xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng khu kinh tế
Đây là mục tiêu đầu tiên mà QLNN đối với vốn đầu tư hướng tới nhằm giải quyết vấn đề ngân sách để phát triển CSHT KKT Các quốc gia nói chung
và địa phương nói riêng đều phải đối mặt với sự mâu thuẫn khó giải quyết, một bên là nhu cầu về cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới về CSHT KKT, một bên là sự thiếu hụt về vốn Trong khi khả năng huy động các nguồn thu từ
Trang 29Bằng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư của mình, Nhà nước sẽ huy động các nguồn vốn, đặc biệt là vốn của doanh nghiệp trong và ngoài nước vào các công trình hạ tầng KKT theo đúng mục tiêu phát triển CSHT KKT của mình Muốn vậy các cơ quan QLNN bên cạnh việc kêu gọi, khuyến khích các nguồn vốn đầu tư khác cho việc xây dựng CSHT KKT cần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, thông thoáng, đảm bảo lợi ích thỏa đáng cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế sẵn sàng bỏ vốn đầu tư để cùng Nhà nước xây dựng CSHT KKT
Vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT bao gồm vốn bằng tiền, hoặc vốn bằng tài sản như đất đai Việc vốn hóa các tài sản đầu tư vào CSHT KKT đòi hỏi tính chính xác, đúng thời điểm, phù hợp với quy chế quản lý đầu tư của Nhà nước mà không gây thiệt thòi cho người sở hữu vốn, đảm bảo mục tiêu đầu tiên là huy động được tối đa nguồn vốn
Để đạt được mục tiêu này, các cơ quan QLNN phải chú trọng công tác lập kế hoạch vốn đầu tư cho CSHT KKT và các chính sách khuyến khích huy động vốn ngoài NSNN
(2) Đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn vốn đầu tư vào các dự án xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng khu kinh tế
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn vốn đầu tư (đặc biệt là vốn NSNN) ngày càng hạn hẹp, song nhu cầu xây dựng CSHT KKT lại rất lớn, thường xảy ra những khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng Vì thế, việc cân đối nguồn vốn và phân bổ hợp
Trang 3021
lý vào những dự án đầu tư hạ tầng KKT sao cho đúng đối tượng, đảm bảo tính cấp thiết, đúng số lượng và tiến độ, phục vụ tốt yêu cầu đầu tư, phát triển và hoạt động của các doanh nghiệp, người dân trong và ngoài KKT là vấn đề không đơn giản, là mục tiêu phấn đấu của QLNN
Các công trình hạ tầng KKT nếu thực hiện xây dựng chậm trễ không chỉ đội giá thành mà còn cản trở hoạt động của các doanh nghiệp và sinh hoạt của người trên địa bàn, gây nhiều bức xúc cho doanh nghiệp và nhân dân Vì thế, đẩy nhanh tiến độ xây dựng là một đòi hỏi cấp thiết Điều này càng gây sức ép để thực hiện việc cấp vốn đầy đủ và kịp thời
Để phân bổ vốn đúng đối tượng, đầy đủ và kịp thời cho các công trình CSHT KKT, trước hết công tác lập kế hoạch, cân đối nguồn vốn phải được thực hiện cẩn thận, có những đánh giá sát sao, khoa học, tránh trường hợp quyết định phê duyệt vốn một cách tuỳ hứng, thiếu quan tâm đầy đủ, đúng mức đến lượng vốn huy động được Phân bổ vốn phải đảm bảo đúng kế hoạch, dự toán đã được phê duyệt, cả về khối lượng và tiến độ
(3) Sử dụng hiệu quả nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế Phát triển hiệu quả hệ thống CSHT KKT là mục tiêu quan trọng nhất và
có thể xem là mục tiêu cuối cùng của QLNN đối với vốn đầu tư trong xây dựng CSHT KKT Với mục tiêu này, việc quản lý phải đảm bảo vốn đầu tư phải được sử dụng một cách hiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất và hoàn thành công trình CSHT KKT có chất lượng cả về kỹ thuật, mỹ thuật và bền vững, phục vụ tốt nhu cầu của các doanh nghiệp và người dân Để đạt được mục tiêu này, vốn đầu tư phải được phân bổ vào các công trình trọng điểm, hạ tầng thiết yếu, hạ tầng khung phát huy ngay hiệu quả đầu tư, đảm bảo mục tiêu dài hạn Trong quá trình thực hiện đầu tư cần thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát nguồn vốn, tránh thất thoát, lãng phí, tiết kiệm nguồn vốn, làm giảm giá thành của công trình Như vậy, với một lượng vốn nhất định,
Trang 3122
các công trình CSHT KKT được phát triển một cách hiệu quả, giải quyết được nhu cầu đầu tư, xây dựng và hoạt động của các doanh nghiệp trong và ngoài KKT, góp phần phát triển kinh tế xã hội đất nước
Có thể nói, việc thực hiện mục tiêu này cũng rất khó khăn, phụ thuộc vào tầm nhìn của lãnh đạo trong việc quy hoạch, lập và thẩm định kế hoạch vốn; phụ thuộc vào yêu cầu của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược đến đầu tư tại KKT Ngoài ra, việc quản lý, giám sát công tác thi công, nghiệm thu công trình, kể cả việc quản lý sau khi công trình được đưa vào sử dụng của các cơ quan quản lý là hết sức quan trọng Hay nói cách khác, việc thực hiện có kết quả các mục tiêu trước đã nêu trên sẽ cho phép thực hiện mục tiêu này với kết quả tốt nhất
1.2.1.3 Đặc điểm quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng khu kinh tế
(1) Có quy hoạch, kế hoạch rõ ràng để thực hiện mục tiêu đề ra Trên cơ sở quy hoạch phát triển, trong đó có quy hoạch đầu tư CSHT KKT, phải xây dựng kế hoạch đầu tư CSHT KKT dài hạn, trung hạn, hàng năm làm cơ sở để thu hút, huy động vốn và thực hiện đầu tư
(2) Đảm bảo tính liên tục
Do yêu cầu của các doanh nghiệp và người dân trên địa bàn là thường xuyên, liên tục Nên việc quản lý nhà nước về thu hút đầu tư CSHT KKT phải liên tục mới có thể đáp ứng được và đảm bảo tốt nhất cho các hoạt động của doanh nghiệp và người dân
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế
1.2.2.1 Các quy định pháp lý
Khu kinh tế ven biển được cho phép nghiên cứu xây dựng thí điểm từ chủ trương của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Trên cơ sở
Trang 32tư, các hình thức huy động nguồn vốn khác nhau để đầu tư cơ sở hạ tầng
Đối với các hoạt động về xây dựng cơ sở hạ tầng KKT ven biển được thực hiện theo các văn bản của nhà nước về đầu tư công, xây dựng, đấu thầu
Nội dung quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế
Quản lý vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT là một hoạt động tổng thể, bao gồm từ khâu lập kế hoạch, tổ chức huy động (thu hút), phân bổ, thanh, quyết toán và kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư CSHT KKT Trong đề tài này sẽ tập trung đánh giá, phân tích và đưa ra các giải pháp thực hiện tốt việc thu hút vốn đầu tư
Ngoài ra tùy vào từng thời kỳ, tùy vào đặc điểm từng vùng, địa phương
có thể có các chính sách hỗ trợ để cạnh tranh, thu hút các nguồn vốn đầu tư hạ tầng như: Hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận tổ chức tài chính, các vốn tín dụng ưu đãi
để thực hiện dự án; Hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thiết yếu và khu tái định cư của dự án; Hỗ trợ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch; Hỗ trợ đào tạo lao động, vận động thu hút đầu tư; Hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính
Trang 3324
Xây dựng các quy định để huy động các nguồn vốn khác để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội quan trọng trong KKT như: phát hành trái phiếu công trình, sử dụng vốn ODA, vốn tín dụng ưu đãi, vốn đầu tư theo hình thức PPP, huy động vốn từ quỹ đất, vốn ứng trước của nhà đầu tư
1.2.2.3 Phương thức thu hút các nguồn vốn để đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng KKT
Đối với các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội quan trọng của khu kinh tế thì phải được bố trí vốn từ nguồn vốn đầu tư phát triển của ngân sách địa phương và nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương nhằm tạo ra cơ sở hạ tầng ban đầu làm cơ sở cho các nhà đầu tư nhận thấy được những thuận lợi, tiềm năng để tìm kiếm cơ hội đầu tư vào KKT
Đối với các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng quy mô lớn, có vai trò then chốt đối với sự phát triển khu kinh tế có thể phát hành trái phiếu công trình
Công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, công trình dịch
vụ, tiện ích công cộng cần thiết của khu kinh tế được sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn tín dụng ưu đãi và các trợ giúp kỹ thuật khác
Thu hút vốn đầu tư theo các hình thức PPP và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Các dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng các khu chức năng trong khu kinh tế có thể huy động vốn thông qua việc cho nhà đầu có khả năng về tài chính và kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư thuê lại một phần hoặc toàn bộ diện tích đất chưa cho thuê để đầu tư và cho thuê lại đất
Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phục
vụ chung trong khu kinh tế được huy động vốn từ quỹ đất theo quy định của pháp luật về đất đai
Trang 34về thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT Trong đó, sở Kế hoạch và Đầu
tư, sở Xây dựng, sở Tài chính, Kho bạc nhà nước, Ban Quản lý KKT là các
cơ quan thuộc UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý vốn đầu tư trong phát triển CSHT KKT ở những mặt khác nhau Ví dụ, sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng lập kế hoạch vốn, tham mưu phân bổ vốn, sở Xây dựng thực hiện chức năng thẩm định dự án, Kho bạc nhà nước thành phố thực hiện việc quản lý thanh toán vốn, Ban Quản lý KKT là chủ đầu tư thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng từ nguồn vốn NSNN
1.2.2.5 Kiểm tra, giám sát vốn đầu tư
Kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT là hoạt động của cơ quan QLNN trong quá trình huy động, phân
bổ và sử dụng vốn đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của mình Đây là hoạt động rất quan trọng, triển khai trước, trong và sau khi dự án được phê duyệt Các dự án này chủ yếu là thuộc nguồn ngân sách của KKT Với các dự án thuộc các nguồn vốn khác, việc kiểm tra, giám sát vốn chỉ thực hiện trong quá trình lập và phê duyệt dự án còn quá trình thực hiện thì chỉ kiểm tra tiến độ thực hiện, việc tuân thủ pháp luật và bảo vệ môi trường
Kiểm tra, giám sát vốn đầu tư nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư vốn của dự án phát triển CSHT KKT đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển KKT Dung Quất nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nói chung Công tác này còn giúp cho quá trình huy động,
Trang 35Trong kiểm tra, giám sát quản lý vốn đầu tư xây dựng các công trình CSHT KKT cần có sự tham gia của các cơ quan thanh tra chuyên ngành như thanh tra tài chính, thanh tra xây dựng, thanh tra giao thông vận tải và các cơ quan thanh tra có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm, kịp thời phát hiện và xử lý các sai phạm Công tác kiểm toán các công trình cũng hết sức quan trọng nhằm phát hiện ra các sai phạm trong quá trình sử dụng vốn như sử dụng không đúng mục đích, không đúng theo dự toán đã được phê duyệt Trên cơ sở kết quả kiểm toán, các cơ quan thanh tra sẽ phát hiện ra các sai phạm và tiến hành xử lý theo đúng quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, việc giám sát của cộng đồng dân cư thông qua các tổ chức
xã hội, đoàn thể quần chúng cũng rất quan trọng Nó góp phần làm cho việc thực hiện dự án đúng quy định, tiết kiệm, có hiệu quả hơn
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế
1.2.3.1 Hệ thống pháp luật và chính sách quản lý về thu hút vốn đầu tư
cơ sở hạ tầng KKT của quốc gia và Tỉnh
Các văn bản pháp luật và chính sách này chính là “kim chỉ nam” cho hoạt động quản lý thu hút vốn đầu tư Do đó, nó có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT
Trang 36sử dụng vốn đầu tư ngày càng phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế
Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành các quy phạm pháp luật của Nhà nước, các quy định, quyết định và chính sách có liên quan đến quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT do Tỉnh ban hành mang yếu tố chủ quan, tác động trực tiếp đến hoạt động và chu trình quản lý Chính sách thu hút, quản lý vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT tác động vào hoạt động thu hút, phân bổ vốn một cách hiệu quả cho thực hiện các dự án xây dựng CSHT KKT để đạt được mục tiêu phát triển hệ thống KCHT của mình Các chính sách này sẽ tác động đến quản lý thu hút vốn đầu tư trong phát triển của KKT, góp phần tích cực vào việc thu hút và sử dụng các nguồn vốn vào phát triển CSHT KKT, giúp cho công tác quản lý thu hút vốn đầu tư được tiến hành thuận lợi hơn, đạt hiệu quả mong muốn
1.2.3.2 Mức độ áp dụng quy trình quản lý hiện đại trong quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT
Quy trình quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT nằm trong chuỗi quy trình quản lý vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT bao gồm từ khâu lập kế hoạch vốn đầu tư, thu hút vốn đầu tư, phân bổ vốn đầu tư và kiểm tra, giám sát thực hiện vốn đầu tư
Trang 3728
Một quy trình quản lý hiện đại có khả năng gắn kết tất cả các khâu trong quy trình, tăng tính phối hợp giữa các bộ phận cũng như tăng khả năng kiểm tra, giám sát và phát hiện những bất cập cần điều chỉnh trong từng khâu của quy trình quản lý, tránh được hiện tượng câu kết lợi ích, “lợi ích nhóm” trong quản lý vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT Đồng thời, quy trình quản lý hiện đại sẽ cho phép áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, giảm thời gian, tinh giảm bộ máy và tiết kiệm chi phí quản lý
Việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT được nhanh chóng và hiệu quả hơn Hệ thống quản lý hiện đại với phầm mềm được thiết kế những công cụ trợ giúp, các hệ thống biểu mẫu phân tích sẽ góp phần đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu đầu
tư và hoạch định chính sách cho các cơ quan lập và phê duyệt kế hoạch vốn hàng năm của dự án Ngoài ra, hệ thống sẽ giúp giảm tải việc nhập liệu của các cơ quan, trao đổi thông tin kịp thời trong suốt quá trình từ thu hút, phân
bổ vốn đến kế hoạch vốn và thanh toán, quyết toán vốn Việc áp dụng phần mềm quản lý hiện đại vì thế sẽ giúp các cơ quan quản lý thu hút, phân bổ và thanh, quyết toán vốn đầu tư được dễ dàng, đầy đủ hơn Nhờ đó các cơ quan quản lý có thể theo dõi, phát hiện và điều chỉnh kịp thời các vấn đề phát sinh trong khi thực hiện đầu tư vốn cho các công trình giao thông đô thị
1.2.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT
Tổ chức bộ máy quản lý chính là nhân tố quyết định của công tác quản
lý Muốn hoạt động quản lý có hiệu quả thì trước hết cần có một bộ máy quản
lý tốt, đủ năng lực hoạt động Dưới góc độ quản lý cấp Tỉnh, bộ máy quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT chính là các chủ thể của quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT địa phương, hoạt động theo chức năng, quyền hạn của mình
Trang 3829
Một bộ máy quản lý tốt là bộ máy đồng bộ, có đủ các cơ quan chức năng để thực hiện quản lý tất cả các khâu trong hoạt động liên quan tới thu hút vốn đầu tư trong phát triển CSHT KKT Các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong các hoạt động quản lý nhằm giải quyết những vấn đề xảy ra trong quá trình thực hiện Ngược lại, nếu tổ chức bộ máy quản lý thiếu hụt, không bao quát hết các khâu của quá trình quản lý hoặc bộ máy cồng kềnh, chồng chéo chức năng và nhiệm vụ thì hoạt động quản lý sẽ gặp nhiều khó khăn Tình trạng bỏ ngỏ hoặc trùng lặp trong quản lý của các cơ quan này
sẽ không điều chỉnh hết các sai phạm phát sinh hay gây khó khăn cho các đơn
vị thực hiện
Với bộ máy quản lý, vấn đề cốt lõi là công tác cán bộ Một bộ máy quản lý tốt là bộ máy có đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức Với bộ máy quản lý thu hút vốn đầu tư, các tiêu chuẩn này lại càng quan trọng Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công tác quản lý ở tất cả các nội dung như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, lập kế hoạch vốn, thu hút vốn đầu tư, tổ chức thực hiện cũng như kiểm tra, giám sát vốn đầu tư Ở cương
vị quản lý, nhất là quản lý vốn thì phẩm chất đạo đức tốt, trong sạch sẽ giúp cho các cán bộ quản lý tránh xa được các vi phạm, tiêu cực của bản thân cũng như phát hiện và xử lý tiêu cực được nhanh chóng, chính xác hơn Công tác đầu tư xây dựng CSHT KKT sẽ tránh được hiện tượng tham nhũng, gây thất thoát vốn, làm giảm chất lượng và hiệu quả của công trình Nếu tổ chức bộ máy với đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng được yêu cầu như trên, công tác quản lý sẽ đạt được kết quả cao
Chính vì thế, cần chú trọng quan tâm tổ chức bộ máy để giúp cho công tác quản lý thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT được thuận lợi và có hiệu quả
Trang 3930
1.2.3.4 Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KKT
Chiến lược, quy hoạch phát triển KKT của Chính phủ, kế hoạch phát triển KKT của Tỉnh là căn cứ để kế hoạch vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT như nhu cầu về vốn, nguồn vốn và các giải pháp huy động vốn được xây dựng và phê duyệt Do đó, chất lượng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KKT có ảnh hưởng rất lớn tới kế hoạch vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT
Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KKT được nghiên cứu cẩn thận, có tầm nhìn xa, được xây dựng chi tiết, cụ thể sẽ giúp cho công tác lập
kế hoạch vốn được thuận lợi, việc sử dụng vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng KKT đem lại kết quả cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của KKT Ngược lại, nếu công tác quy hoạch KKT manh mún, thiếu tầm nhìn xa sẽ dẫn đến tình trạng các công trình hạ tầng KKT ít giá trị hoặc phải điều chỉnh lại công năng sử dụng, thậm chí ảnh hưởng đến các công trình khác Điều này sẽ gây thất thoát, lãng phí khi sử dụng vốn đầu tư vào các công trình, làm giảm hiệu quả của vốn đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT
1.2.3.5 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh
Đây là nhân tố khách quan, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu và nguồn vốn đầu tư cho phát triển CSHT KKT của tỉnh Mỗi một địa phương khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau mà có nhu cầu và nguồn lực vốn đầu tư khác nhau
Một thành phố có vị trí chính trị quan trọng với quốc gia sẽ được quan tâm đầu tư hơn thành phố, địa phương khác Đối với một tỉnh còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, chưa đồng bộ; sẽ có những ưu tiên trong việc phân bổ các nguồn lực, nhất là NSTW hỗ trợ có mục tiêu vào phát triển, đặc biệt là phát triển CSHT, trong đó phát triển hệ thống hạ tầng KKT luôn được quan tâm hàng đầu
Trang 4031
Điều kiện kinh tế khác nhau cũng làm cho nguồn lực vốn đầu tư của thành phố, địa phương khác nhau Với những thành phố, địa phương có điều kiện kinh tế phát triển, nguồn vốn ngân sách dồi dào thì việc đầu tư vốn vào phát triển CSHT, trong đó có CSHT KKT càng thuận lợi Mặt khác, với các thành phố phát triển, các doanh nghiệp và người dân có thu nhập cao nên việc huy động vốn đầu tư cũng dễ dàng hơn so với các thành phố, địa phương gặp nhiều khó khăn
Tất cả các nhân tố trên đã ảnh hưởng đến QLNN về thu hút vốn đầu tư xây dựng CSHT KKT
1.3 Những kinh nghiệm thế giới và trong nước về quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế
1.3.1 Kinh nghiệm thế giới và trong nước
Đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo CSHT nói chung và CSHT KKT nói riêng luôn là yêu cầu cấp thiết để phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, nguồn vốn để thực hiện việc này là không nhỏ và nguồn lực từ NSNN không thể đáp ứng đủ Câu hỏi đặt ra, làm sao có thể huy động được nhiều nguồn bổ sung vào vốn ngân sách cho phát triển CSHT KKT và sử dụng hiệu quả các nguồn lực này? Các nguồn này có thể huy động qua các hình thức hợp tác công tư PPP; đấu giá quyền sử dụng đất; vay vốn từ các tổ chức tài chính và dân cư;
(1) Huy động vốn đầu tư cho ngân sách từ việc đấu giá quyền sử dụng đất Đây là một chính sách hữu hiệu nhằm tạo vốn phát triển CSHT KKT ở một số địa phương của nước ta và một số nước có điều kiện tương đồng khác
Ở nước ta, đấu giá quyền sử dụng đất được sử dụng rộng rãi như một
cơ chế tài chính tại tất cả các tỉnh thành, đặc biệt là tại các thành phố lớn, tạo
ra nguồn lực vốn quan trọng khá lớn đầu tư cho cơ sở hạ tầng
Một trong những địa phương ở nước ta đã áp dụng thành công chính sách này là thành phố Đà Nẵng Ngay từ khi trở thành thành phố trực thuộc