Hệ thống văn bản qui phạp pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhà nước ban hành và gần đây Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14, Nghị định 162/2017/ NĐ-CP ngày 08/1
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN LÊ THIÊN LAM
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỘI ĐOÀN TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN LÊ THIÊN LAM
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỘI ĐOÀN TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong Luận văn là trung thực Mọi trích dẫn, thông tin trong đề tài đều được chỉ rõ nguồn Những kết quả khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2019
Học viên
Nguyễn Lê Thiên Lam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công tại Học viện Hành chính Quốc gia, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cùng sự hỗ trợ và những lời động viên, khích lệ, những ý kiến đóng góp hết sức quý báu từ các thầy cô, các đồng chí lãnh đạo, gia đình, bạn
bè và đồng nghiệp
Với lòng biết ơn sâu sắc, xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến: TS Ngô Văn Trân, người thầy đã hết lòng chỉ bảo và định hướng khoa học giúp tôi hoàn thành khóa luận này;
Các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố Huế, Phòng Nội vụ thành phố Huế, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Dân vận tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo, PA 88 Công an tỉnh, tỉnh Thừa Thiên Huế đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu, tài liệu; nhiệt tình hỗ trợ trong công tác điều tra thu thập thông tin làm cơ sở cho việc thực hiện Luận văn;
Các thầy, cô giáo Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính quốc gia, Phân viện Học viện Hành chính quốc gia tại thành phố Huế; gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu
Học viên
Nguyễn Lê Thiên Lam
Trang 5MỤC LỤC Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO, HỘI ĐOÀN TÔN GIÁO 7
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 7
1.1.1 Tôn giáo 7
1.1.2 Hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 9
1.1.3 Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 15
1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với tôn giáo, hội đoàn tôn giáo tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 17
1.2.1 Xây dựng thể chế, chính sách và tuyên truyền chủ trương, chính sách liên quan đến tôn giáo 17
1.2.2 Tổ chức bộ máy, bồi dưỡng cán bộ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 19
1.2.3 Quản lý hoạt động của tổ chức tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 21
1.2.4 Quản lý hoạt động từ thiện, xã hội, nội dung sinh hoạt của các hội đoàn tôn giáo 22
1.2.5 Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 24
1.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về các hoạt động của tôn giáo và các hội, đoàn tôn giáo 25
1.3.1 Thực hiện chức năng của nhà nước 25
1.3.2 Đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo hợp pháp của người dân 26
Trang 61.3.3 Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của các hội, đoàn tôn giáo 28 1.4 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước của hoạt động tôn giáo, và hội, đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 30 1.4.1 Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
…… ………30 1.4.2 Nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp và chất lượng đội ngủ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo … 31 1.5 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về tôn giáo và hội đoàn tôn giáo ở một
số địa phương và bài học rút ra cho thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 32 1.5.1 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về tôn giáo và hội đoàn tôn giáo ở một số địa phương 32 1.5.2 Bài học rút ra cho thành phố Huế, Tỉnh Thừa Thiên Huế 37 Tiểu kết Chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỘI ĐOÀN TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 40
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tác động đến quản lý nhà nước về các hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 40 2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội 40 2.1.2 Những tác động của kinh tế - xã hội đến quản lý nhà nước về hoạt động hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 41 2.2 Tình hình tôn giáo và hội đoàn tôn giáo tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 43 2.2.1 Tình hình tôn giáo 43 2.2.2 Một số hội đoàn tôn giáo đặc trưng ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 50
Trang 72.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước các hội đoàn tôn giáo trên địa bàn
thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 60
2.3.1 Tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 60
2.3.2 Thể chế hóa các văn bản qui phạm pháp luật và quản lý nhà nước về tổ chức tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 62
2.3.3 Tổ chức bộ máy, đào tạo cán bộ quản lý hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 67
2.3.4 Quản lý nhà nước đối với hội đoàn tôn giáo tham gia hoạt động an sinh xã hội 70
2.3.5 Đấu tranh với hoạt động lợi dụng hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế 74
2.3.6 Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước đối với hội đoàn tôn giáo 77
2.4 Đánh giá chung 79
2.4.1 Những kết quả đạt được 79
2.4.2 Những hạn chế 81
Tiểu kết chương 2 84
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG HỘI ĐOÀN TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 85
3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 85
3.1.1 Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 85
3.1.2 Tôn trọng quyền tự do tôn giáo của công dân, tạo điều kiện để các tín đồ tôn giáo, hội đoàn tôn giáo tham gia các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn trật tự, an ninh 86
Trang 83.1.3 Cần nhận thức đúng vị trí, vai trò của các tổ chức hội đoàn tôn giáo 88 3.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh TT Huế 88 3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể hóa các văn bản qui phạm pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 88 3.2.2 Tuyên truyền vận động chức sắc tôn giáo, hội đoàn tôn giáo về chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo 90 3.2.3 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 92 3.2.4 Đẩy mạnh sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng, các địa phương trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo trên địa bàn 95 3.2.5 Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 96 3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 96 3.3.1.Đối với Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 97 3.3.2 Đối với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội và các ngành chức năng có liên quan đến hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 97 Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9UBMTTQ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Trang 10Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó Phật giáo, Công giáo là hai tôn giáo lớn, có số lượng tín đồ đông đảo Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo trở nên đa dạng, phong phú Đặc biệt,
để tập hợp tín đồ, phát triển tôn giáo theo chiều sâu, các tôn giáo phát triển khá mạnh mẽ các hội đoàn tôn giáo Từ đó làm cho sinh hoạt tôn giáo trở nên
đa dạng, nhiều màu sắc nhưng cũng vô cùng phức tạp, đòi hỏi tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực này Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước ta luôn đưa ra và thực hiện tốt chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Nghị quyết số 24/NQ-TW, ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị là một dấu mốc quan trọng trong đổi mới nhận thức của Đảng ta về vấn đề tôn giáo Hệ thống văn bản qui phạp pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhà nước ban hành và gần đây Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14,
Nghị định 162/2017/ NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo… thể hiện những bước
tiến rất quan trọng trong việc đổi mới chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về hoạt động tôn giáo; thể hiện sự tôn trọng
tự do, tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và đáp ứng yêu cầu của công tác
Trang 112
quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn
Thành phố Huế được mệnh danh là “Trung tâm tôn giáo” của cả nước Địa phương này không chỉ có nhiều tôn giáo lớn mà hàm chứa có nhiều tín
đồ, chức sắc, đặc biệt các hội đoàn tôn giáo Riêng Công giáo và Phật giáo có trên 37 hội đoàn hoạt động, làm cho hoạt động tôn giáo khá sinh động, song cũng khá phức tạp, nếu không quản lý tốt dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, trong đó có hội đoàn các tôn giáo ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định Tổ chức bộ máy được hợp nhất, củng cố; đội ngũ công chức thực hiện QLNN về lĩnh vực này được tăng cường, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý… Nhờ vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được đảm bảo, chức sắc nhà tu hành, tín đồ tôn giáo mở rộng giao lưu, học tập, các cơ sở thờ tự tôn giáo được xây mới, sửa chữa khang trang Tuy nhiên, nội tại tình hình tôn giáo ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế cũng tiềm ẩn nhiều điều phức tạp, ẩn chứa nguy cơ mất ổn định Đó là sự xuất hiện của “Tăng đoàn”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, “Nhóm tu sĩ Hy vọng” cùng các hội đoàn “Gia đình Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, Thiếu nhi Thánh thể, Sinh viên Công giáo của Công giáo làm cho hoạt động của các tôn giáo trở nên phức tạp, phát triển thiếu ổn định
Trong khi đó, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước chuyên trách nhiều biến động, chính quyền các cấp chưa chú trọng đến hoạt động của các hội đoàn tôn giáo, chưa thấy hết tính phức tạp, nhạy cảm của các tổ chức này Các hội đoàn tôn giáo phát triển mạnh, hoạt động rộng và đa dạng, chưa được chú trọng, quản lý
Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
Trang 123
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo ở từng lĩnh vực, từng địa phương khác nhau, đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu Nhiều công trình liên quan đến lĩnh vực này được công bố Một số công trình tiêu biểu sau:
- Vấn đề tôn giáo trong Cách mạng Việt Nam- lý luận và thực tiễn của
Đỗ Quang Hưng (2008) Cuốn sách đề cập đến quan điểm phát sinh, phát
triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, ảnh hưởng của Chủ nghĩa Mác- Lênin đối với nhận thức của Đảng ta về tôn giáo, quá trình xây dựng đường lối, chính sách tôn giáo ở Việt Nam
- Tôn giáo - Quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đức Lữ (2009), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội,
trên cơ sở các văn kiện Đại hội Đảng, tác giả đã hệ thống hóa, phân tích cơ sở khoa học của toàn bộ quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo
và công tác QLNN về tôn giáo Cuốn sách đã cung cấp cho luận văn những
cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chính sách cũng như quá trình đổi mới về chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
- Gia đình Phật tử của Võ Thị Xuân Hà, Nxb Văn hóa – Thông tin
(2010) đã khái quát và hình thành, phát triển những đóng góp và hạn chế của
tổ chức thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo Việt Nam thông qua GĐPT Qua đó tác giả cũng đề xuất những giải pháp để khắc phục những hạn chế của GĐPT
và kiến nghị những giải pháp quản lý
- Quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn Hồng Dương, Nxb Chính trị quốc gia
(2012), tác giả đã hệ thống hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước
về tôn giáo đồng thời dự báo tình hình tôn giáo trong thời gian đến và những
Trang 13sở để đánh giá các hội đoàn tôn giáo khác và ảnh hưởng của nó trong xã hội
- Quản lý nhà nước về các hoạt động tôn giáo ở các tỉnh miền Trung Việt Nam - Thực trạng và giải pháp của Ngô Văn Trân, Nxb Thuận Hóa
(2016) đã khái quát tình hình QLNN về tôn giáo trên địa bàn miền Trung Tác giả đã đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế trong lĩnh vực này và
Từ nhiều khuynh hướng nghiên cứu khác nhau, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đi trước đã phần nào làm sáng tỏ, kết nối các vấn đề của thực tiễn xã hội với tôn giáo, hội đoàn tôn giáo và QLNN về tôn giáo, hội đoàn tôn giáo trên địa bàn toàn quốc trong điều kiện hiện nay Tuy nhiên các công trình chỉ ở góc độ chính trị học, triết học, tôn giáo học, QLNN về tôn giáo tại một vài địa phương hay trên toàn quốc, chưa có công trình nào tiếp cận, nghiên cứu QLNN về hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế Những tài liệu đề cập trên cung cấp cho tác giả Luận văn những cứ liệu khoa học và thực tiễn để nghiên cứu, hoàn thiện đề tài Vì vậy, đề tài không trùng lặp và có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn trong điều kiện hiện nay
Trang 145
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài luận văn nhằm mục đích góp phần hoàn thiện quản
lý nhà nước về hoạt động hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên Huế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước về hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: hoạt động tôn giáo và quản lý nhà nước về hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2010 đến nay và định hướng đến năm 2025
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn được hình thành trên cơ sở phương pháp luận DVBC và DVLS của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, QLNN đối với các hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Trang 156
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội:
So sánh và đối chiếu, phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa, kết hợp với các phương pháp liên ngành: Sử học, Tôn giáo học Luận văn cũng dựa trên các phương pháp nghiên cứu đặc thù của Khoa học Hành chính: Phân tích hệ thống hành chính, phân tích hành vi quản lý
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng QLNN đối với Hội đoàn tôn giáo trên địa bàn Tp Huế, tỉnh TT Huế, rút ra một số vấn đề bất cập đang đặt ra trong công tác QLNN đối với các hội đoàn tôn giáo trên địa bàn nghiên cứu, từ đó
đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với hội đoàn tôn giáo tại địa phương này trong thời gian tới
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy
và học tập môn Tôn giáo học, QLNN về tôn giáo, QLNN về xã hội, làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động hội đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh thừa Thiên Huế
Trang 16ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau
Theo Mác “Tôn giáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng xoay xung quanh con người chừng nào con người chưa bắt đầu xoay quanh bản thân mình”
Trang 178
[64, tr.13] Để làm sáng tỏ thêm quan điểm này của Mác, Ăngghen trong tác
phẩm Chống Đuy rinh cũng đã viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ảnh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [42, tr
437] Các nhà nghiên cứu Mác- xít về tôn giáo thường coi câu nói trên đây
của Ăngghen là định nghĩa của chủ nghĩa Mác về tôn giáo
Tôn giáo xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người; tùy theo cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về tôn giáo Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và xã hội trở thành sức mạnh siêu nhiên có quyền
uy tối thượng và đã tác động đến một cộng đồng, một nhóm xã hội có tổ chức Tôn giáo chỉ ra đời khi xuất hiện giai cấp và có đấu tranh giai cấp Do đó khi
nói về tôn giáo, Lênin đã định nghĩa: “Tôn giáo là một trong những hình thức
áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc” [37,tr.169]
“Tôn giáo đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo, đối tượng được sùng bái Trong các từ điển thông dụng, thường định nghĩa tôn giáo là sự sùng bái
và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với thần linh Trong QLNN về các hoạt động tôn giáo (tôn giáo
cá nhân và tôn giáo có tổ chức) chúng ta cần đặc biệt chú ý hoạt động của các tôn giáo có tổ chức Đó là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người
có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là
tổ chức giáo hội” [14 tr.9]
Từ những quan điểm trên, cho thấy tôn giáo là nhu cầu chính đáng của một bộ phận nhân dân, là điều kiện thiết yếu, không thể thiếu của một bộ
Trang 189
phận nhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người và tiến bộ xã hội Lịch sử tồn tại và phát triển của tôn giáo, gắn liền với quá trình dựng nước, giữ nước của các dân tộc
1.1.2 Hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
1.1.2.1 Hoạt động tôn giáo
Hoạt động tôn giáo được Luật tín ngưỡng, tôn giáo xác định: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ
chức của tôn giáo” [Khoản 11 Điều 2] Việc rao giảng, thuyết giảng, truyền
bá giáo lý, giáo luật, giới luật (còn gọi là truyền đạo) là một hình thức quan trọng trong việc truyền đạo của tổ chức tôn giáo, nhằm củng cố, phát triển niềm tin, tuyên truyền phổ biến những điều căn bản, cốt lõi để tín đồ sinh hoạt tôn giáo noi theo Đối với những người chưa phải là tín đồ tôn giáo việc truyền bá sinh hoạt tôn giáo là cơ sở để họ tiếp cận, tìm hiểu, qua đó để những nhà truyền đạo thâu nạp thêm tín đồ, phát triển đạo
Truyền bá, thực hành giáo luật, giới luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo)
là hoạt động của chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo nhằm thể hiện sự tuân thủ giáo luật, giới luật, nghi lễ tôn giáo nhằm thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tín đồ hay cộng đồng tín đồ tôn giáo
Thực hiện các nghi thức, nghi lễ, tôn giáo hay hoạt động truyền đạo là trách nhiệm của các chức sắc, tín đồ tôn giáo, hoạt động này diễn ra bình thường và trong phạm vi cơ sở tôn giáo Hoạt động của quản lý, tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện quy định của giáo luật, giới luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo; đảm bảo sự phân định, duy trì trật tự, hoạt động của tổ chức tôn giáo
Trong các hoạt động trên, các chức sắc, chức việc, nhà truyền giáo thường phối, kết hợp việc truyền đạo, hành đạo với nhau Do vậy, việc phân định ranh giới giữa truyền đạo và hành đạo chỉ là tương đối Bên cạnh đó một
Trang 1910
số chức sắc tiến bộ trong một số tôn giáo đã lồng ghép một số chính sách ích nước, lợi dân trong lúc thuyết giảng, phổ biến giáo luật với tín đồ, bồi đắp thêm niềm tin tưởng vai trò QLNN với tôn giáo và tinh thần yêu nước, thương nòi
1.1.2.2 Hội, Hội đoàn tôn giáo
Quan niệm về hội ở Việt Nam hiện nay
Trong tiếng Việt, theo cách hiểu thông thường, danh từ “hội” có hai nghĩa gần nhau dùng để chỉ: “1) cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; 2) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt đồng Chữ “hội” có thể hiểu đơn giản là tụ họp lại, gặp nhau” 1, tr.22-23 Theo Từ điển hành chính của ông Tô Tử Hạ lại cho rằng: “Hội là tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới, cùng
sở thích… tập hợp lại nhằm đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hội viên, không vì mục đích vụ lợi” 41, tr.24
Ngoài ra, điểm qua một số sách và các bài viết liên quan của các tác giả Việt Nam cũng có đưa ra các khái niệm về hội như sau:
- Sách “Pháp luật về quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thế giới
và của Việt Nam” đề xuất định nghĩa như sau:
“Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất 2 cá nhân hoặc tổ chức, thường xuyên đóng góp kiến thức và sinh hoạt, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, không vì mục đích lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước” 1, tr.139
- Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong bài viết “Mối quan hệ giữa xã hội dân sự và hội và dự thảo Luật hội ở Việt Nam” lại hiểu khái niệm Hội theo
Trang 20ra một định nghĩa: “Hội là giao ước của nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hoạt động liên tục để theo đuổi mục đích thuộc các lãnh vực tôn giáo, tế tự, từ thiện, văn hóa, giáo dục, xã hội, khoa học, mỹ thuật, giải trí, đồng nghiệp tương tế, ái hữu, thanh niên và thể dục, thể thao không có tính cách chính trị, thương mại hoặc phân chia lợi tức”[1, tr.109 Sắc lệnh số
52/SL ngày 22 tháng 4 năm 1946 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
đã đề cập đến khái niệm “hội” tại Điều 1 như sau: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung; mục đích ấy không phải để chia lợi tức”
1, tr.115 Và theo quy định hiện hành của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP
ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội thì hội được định nghĩa là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ
chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 11, tr.1
Như vậy, có thể thấy khái niệm hội của Việt Nam được trình bày cụ thể hơn, diễn đạt chi tiết hơn về đặc trưng của các hội, trong khi khái niệm của quốc tế thường diễn đạt theo cách khái quát hơn Tuy nhiên, vẫn có một số điểm khác như sau:
Trang 21- Ở Việt Nam một số ý kiến cho rằng hội bao gồm cả tổ chức hội không
có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu…)
Tuy nhiên, trong luận văn này khái niệm hội vẫn sẽ được hiểu theo
Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động
và quản lý Hội Như vậy có nghĩa là hội không bao gồm Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức giáo hội theo như quy định tại
Khoản 2 Điều 1 của Nghị định này
Hội đoàn tôn giáo
Theo điều 3 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo: “Hội đoàn tôn giáo là hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo” Đây là khái niệm chung để chỉ hội đoàn các tôn giáo, trong đó có
Hội đoàn Công giáo, Hội đoàn Phật giáo và các hội đoàn tôn giáo khác
Điều đó có thể hiểu hội đoàn tôn giáo là một loại hình có tính quần chúng tập hợp tín đồ trong cơ cấu tổ chức của Giáo hội các tôn giáo
Thuật ngữ “hội đoàn” tôn giáo không phải do những người làm công
tác QLNN tự đặt ra Đây là thuật ngữ được sử dụng từ phía các Giáo hội Việc nắm khái niệm về hội đoàn tôn giáo là điều kiện tiên quyết giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những tổ chức mang tính quần chúng của giáo dân trong cơ cấu tổ chức của Giáo hội các tôn giáo Song, ngay trong các văn bản của Giáo hội các tôn giáo khái niệm này cũng không đồng nhất về cách gọi Hội đoàn
Trang 2213
các tôn giáo có một quá trình biến đổi về cách gọi theo thời gian mà Giáo hội các tôn giáo sử dụng; được Giáo hội gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau như
cộng đoàn, hiệp hội, đoàn thể, giới, tu hội đời…
Ở Việt Nam, thuật ngữ hội đoàn tôn giáo cũng rất đa dạng, phong phú Tùy theo từng thời kỳ, địa phương khác nhau mà người ta gọi nó bằng danh
xưng khác nhau Trước đây Giáo hội các tôn giáo quen gọi là họ, hội, đoàn rồi hội đoàn Vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, để tránh sự cấm cản của chính quyền, ở miền Nam thường gọi bằng từ giới, như giới trẻ, giới trung niên, giới cụ ông, giới cụ bà… rồi lan ra và được sử dụng trong cả
nước Hiện nay thuật ngữ hội đoàn đã được sử dụng phổ biến và được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, đôi khi trong các văn bản cả Giáo hội lại gọi đoàn thể hay giới để chỉ các hội đoàn Trong đó hội đoàn các tôn giáo được nhiều người nhìn nhận bao gồm cả các hội như ca đoàn, kèn, trống và các hội có
tổ chức chặt chẽ hơn
Sở dĩ gọi hội đoàn là để nhấn mạnh ý thức tổ chức trong các hội đoàn
Từ hội và từ đoàn có nghĩa là:
+ Hội nói lên sự triệu tập, sự hội họp
+ Đoàn hợp thành một tập thể có tổ chức: Hồng y đoàn, Giám mục
đoàn, hay đoàn là một cộng đoàn…: “Là một nhóm người tin cùng một điều, sống cùng một nơi, dưới một quyền bính theo đuổi cùng một hướng và được hiểu là: Cộng đồng, sở hữu chung, hiệp hội, giáo đoàn, giáo xứ, tập thể” [59, tr.348]
Đối với Giáo hội Công giáo, hội đoàn Công giáo ngoài là những “tập hợp có tổ chức” mang tính tôn giáo đặc thù như Hồng y đoàn, Hội đồng Giám
mục Việt Nam, cộng đồng tu sĩ…, HĐCG còn là hình thức tổ chức tập hợp quần chúng rộng rãi, đa dạng theo lứa tuổi, giới tính, sở thích, nghề nghiệp nhằm phục vụ cho mục đích chung của Giáo hội Trong đó, mục đích lớn nhất
Trang 2314
là truyền bá phúc âm, “mở rộng nước Chúa” và bảo vệ đạo chống lại các nguy
cơ làm tổn hại đến Giáo hội
Đối với Phật giáo, bên cạnh những đạo tràng, đoàn chúng Phật tử… thì GĐPT là một tổ chức đặc thù của GHPG Việt Nam Đó là tổ chức của GHPG Việt Nam thành lập ra, tập hợp, quy tụ thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo để giáo dục Vì vậy, trên 80 năm hình thành, phát triển, GĐPT trở thành phương thức giáo dục, tu học Phật pháp của thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo tại gia
Thực tế cho thấy GĐPT là hình thức tu học, sinh hoạt mới mẻ, sinh động, dễ đi vào quần chúng Là tổ chức qui tụ thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo, nội dung hoạt động chủ yếu là sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu tín ngưỡng và sinh hoạt xã hội Thành phần tham gia tổ chức GĐPT rất đa dạng, không phân biệt giới tính, ngành nghề, độ tuổi, nhưng trước hết là tầng lớp thanh thiếu niên theo Phật giáo
Như vậy, GĐPT là một loại hình hội đoàn tôn giáo của GHPG Việt Nam, một phương thức tu học dành cho những người tu Phật tại gia, trước hết
và chủ yếu nhằm đào luyện thanh – thiếu – đồng niên tin Phật, thành Phật tử chân chính góp phần phụng sự Đạo pháp và xây dựng xã hội
Từ những khái niệm trên, theo tác giả luận văn hội đoàn tôn giáo không phải là hội theo qui định, chế tài của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21
tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội mà chỉ là một dạng tổ chức, tập hợp tín đồ các tôn giáo theo lứa tuổi, giới
tính, sở thích, nhu cầu hay chức nghiệp được Giáo hội các tôn giáo qui định Điều đó, cho thấy hội đoàn các tôn giáo được điều chỉnh bởi Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo trước đây và nay là Luật tín ngưỡng tôn giáo và các văn bản qui phạm pháp luật dưới luật liên quan đến QLNN về hoạt động tôn giáo Nói khác hơn là hội đoàn tôn giáo do các Giáo hội các tôn giáo thành lập theo yêu cầu của Giáo hội, Giáo hội các tôn giáo chịu trách nhiệm quản lý theo
Trang 2415
đúng các qui định của pháp luật, các tổ chức, các nhân tham gia hoạt động trong các hội đoàn tôn giáo chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước các Giáo hội
1.1.3 Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
1.1.3.1 Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
QLNN về hoạt động tôn giáo là quá trình sử dụng quyền lực nhà nước
để tác động, điều hành, điều chỉnh các quá trình hoạt động tôn giáo của các pháp nhân tôn giáo và các thể nhân tôn giáo để hoạt động của các tôn giáo diễn ra theo đúng quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước Bởi vậy, QLNN về hoạt động tôn giáo được hiểu như sau:
Nghĩa rộng: là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý
Nghĩa hẹp: là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, là quá
trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật
1.1.3.2 Quản lý nhà nước về hội, đoàn tôn giáo
Hội đoàn tôn giáo, đối tượng nghiên cứu trong Luận văn này được xác
định không phải là hội đoàn được qui định, điều chỉnh bởi Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội, mà bản chất hội đoàn tôn giáo chỉ là những cộng đồng, nhóm tín đồ, tổ chức tín đồ hoạt động theo nhu cầu, lứa tuổi, giới tính… được Giáo hội các
tôn giáo thành lập, bảo trợ, chịu trách nhiệm trước pháp luật Các hội đoàn
Trang 25và hội, đoàn các tôn giáo, hướng các hoạt động của hội đoàn tôn giáo sinh hoạt đúng theo quy định của luật pháp, kịp thời điều chỉnh, bổ sung công tác QLNN phù hợp với quá trình sinh hoạt của hội, đoàn tôn giáo, phát triển xã hội Hoạt động QLNN đối với hoạt động của hội, đoàn tôn giáo được thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương, bằng một hệ thống pháp luật cụ thể
cho từng loại hình hoạt động
Tăng cường QLNN với hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo không đồng nhất với việc hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Thông qua tăng cường QLNN, hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo chính đáng, hợp pháp được Nhà nước bảo hộ; hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện những hành vi trái pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, sinh hoạt của tôn giáo và hội, đoàn tôn giáo, hướng các hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ luật định, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chức sắc, tín đồ tôn giáo, tổ chức giáo hội, khắc phục các mặt hạn chế, tiêu cực trong tôn giáo, ngăn chặn các phần tử cơ hội lợi dụng tôn giáo có những hoạt động sai trái chống phá nhà nước
Trang 2617
Chủ thể hoạt động QLNN về các hội đoàn tôn giáo là Nhà nước, chủ yếu là hệ thống cơ quan hành pháp, khách thể của QLNN về hội đoàn tôn giáo chính là chức sắc, tín đồ, tổ chức và các hoạt động liên quan đến tôn
giáo, hội đoàn tôn giáo
1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
1.2.1 Xây dựng thể chế, chính sách và tuyên truyền chủ trương, chính sách liên quan đến tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo và tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến tận người dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo được nhà nước
ta quan tâm thực hiện, Đó chính là công tác xây dựng, hoàn thiện khung pháp
lý để QLNN về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Hệ thống pháp luật trên là công cụ pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo cho mọi công dân được bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật; đảm bảo tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; đảm bảo tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn giá trị văn hóa; đảm bảo sự thống nhất, hài hòa lợi ích cá nhân, cộng đồng và lợi ích quốc gia, xã hội, những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ phải được đảm bảo Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân được khuyến khích Mọi hành
vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm phương hại đến nền văn hóa lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị đoan đều bị lên án và xử lý
vi phạm theo luật định
Quốc hội, Chính phủ cũng ban hành và sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các lĩnh vực của tôn giáo như: đất đai, giải
Trang 27- Xây dựng chiến lược dài hạn, kế hoạch năm năm và hàng năm thuộc lĩnh vực tôn giáo;
- Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Qui định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;
- Qui định về việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;
- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo;
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động tôn giáo
Tất cả những nội dung trên đều có ý nghĩa xác định cụ thể, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì thế không thể xem nhẹ một nội dung nào
Để xây dựng thể chế, chính sách QLNN về hoạt động tôn giáo có một
số nguyên tắc chính sau:
Trang 2819
+ Một: phải đứng vững trên đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật và Nhà nước về tôn giáo, hoạt động tôn giáo
+ Hai: phải đảm bảo để mọi tôn giáo hoạt động theo hướng tuân thủ
hiến pháp, pháp luật; để những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ được đảm bảo; hoạt động mê tín dị đoan phải bị phê phán và loại bỏ
+ Ba: phải xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật mọi hành vi lợi dụng
tôn giáo để chống phá chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
1.2.2 Tổ chức bộ máy, bồi dưỡng cán bộ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Hoạt động QLNN đối với các tôn giáo nói chung, hội đoàn tôn giáo nói riêng đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi CBCC làm nhiệm vụ QLNN về tôn giáo phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ, năng lực, khả năng tập hợp, vận động quần chúng và có trình độ am hiểu về tôn giáo nhất định Tổ chức bộ máy QLNN về hoạt động tôn giáo hiện nay căn cứ vào các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; Hiến pháp, các Bộ luật có liên quan và các Nghị định, hướng dẫn của Chính phủ, Ban Tôn giáo của Chính phủ… thể hiện như sau:
* Cấp Trung ương
- Chỉ đạo: Thường trực Bộ Chính trị
- Tham mưu cho Bộ Chính trị: Ban Dân vận Trung ương
- Quản lý: Thủ tướng Chính phủ
- Tham mưu cho Thủ tướng: Bộ Nội vụ (Ban Tôn giáo Chính phủ)
- Bên cạnh đó còn có MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chủ yếu do Đảng, Đoàn chỉ đạo và tổ chuyên viên tham mưu
* Cấp Tỉnh
- Chỉ đạo: Ban Thường vụ cấp Tỉnh
Trang 29- Chỉ đạo: Ban Thường vụ cấp Huyện
- Tham mưu cho Ban Thường vụ cấp Huyện: Ban Dân vận cấp Huyện
- Quản lý: UBND cấp Huyện
- Tham mưu cho UBND cấp Huyện: Phòng Nội vụ cấp Huyện
- Bên cạnh đó còn có MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chủ yếu do thường trực chỉ đạo và cán bộ chuyên trách tham mưu
* Cấp Xã
- Chỉ đạo: Cấp ủy
- Tham mưu cho Cấp ủy cơ sở: MTTQ Việt Nam cùng cấp
- Quản lý: UBND cấp Xã
- Tham mưu cho UBND cấp Xã: Cán bộ theo định suất
- Bên cạnh đó còn có MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội
và cán bộ cốt cán tham mưu
Hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới như sau:
- Chính phủ;
- Bộ Nội vụ (Ban Tôn giáo Chính phủ)
- Sở Nội vụ (Ban Tôn giáo cấp Tỉnh)
- Phòng Nội vụ cấp Huyện, CBCC phụ trách tôn giáo;
- Ban văn hóa - xã hội cấp Xã, CBCC chuyên trách tôn giáo
Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ có chức năng QLNN về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước, là đầu mối phối hợp với các ngành
về công tác tôn giáo và liên hệ với các tổ chức tôn giáo Ban Tôn giáo cấp
Trang 3021
tỉnh trực thuộc Sở Nội vụ, chịu trách nhiệm tham mưu thực hiện chức năng QLNN về các hoạt động tôn giáo theo pháp luật của Nhà nước trong phạm vi địa phương mình
1.2.3 Quản lý hoạt động của tổ chức tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Công tác quản lý các nội dung hoạt động của các tôn giáo, hội đoàn tôn giáo đó chính là giải quyết bằng quyền lực nhà nước các hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo ở những lĩnh vực cụ thể khác nhau, bao gồm các nội dung sau:
- QLNN các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo;
- Quản lý việc đăng kí hoạt động của tổ chức tôn giáo và công nhận tổ chức tôn giáo;
- Quản lý việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tôn giáo trực thuộc;
- Việc đăng kí người vào tu và hoạt động của dòng tu, tu viện, hội đoàn tôn giáo;
- Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; cách chức, bãi nhiệm, thuyên chuyển trong tôn giáo;
- Quản lý về đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo;
- Về việc đăng kí hoạt động tôn giáo (thường xuyên, đột xuất, ngoài cơ
sở tôn giáo);
- Quản lý việc xây, sửa, cải tạo các công trình tôn giáo;
- Về đất đai, tài sản tôn giáo;
- Về hoạt động in ấn, xuất bản, phát hành các ấn phẩm tôn giáo;
- Quản lý việc kinh doanh, xuất, nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ dùng việc đạo;
- Quản lý việc mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, giải thể trường đào tạo;
- Quản lý việc quyên góp; hoạt động từ thiện nhân đạo của các tôn giáo;
- Quản lý việc quan hệ quốc tế của các tổ chức và cá nhân tôn giáo;
Trang 3122
- Quản lý về việc đình chỉ hoạt động tôn giáo
QLNN đối với tôn giáo có một số phương pháp chủ yếu được áp dụng như: Phương pháp giáo dục, thuyết phục, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp cưỡng chế và phương pháp tổng hợp
Nội dung này tùy thuộc vào hình thức hoạt động của các giáo hội tôn giáo, tính đặc thù của các hội đoàn tôn giáo, nhưng phải có sự thỏa thuận, chấp thuận của nhà nước cùng cấp Đây là cơ sở đảm bảo sinh hoạt xã hội phát triển bình thường; vừa đảm bảo cơ sở pháp lý của những biến động tôn giáo trong điều kiện của nhà nước dân chủ, pháp quyền
Điều này thể hiện nhà nước ta luôn tin tưởng và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đối với các hoạt động tôn giáo, hội, đoàn tôn giáo, không can thiệp quá sâu vào bộ máy hay cơ cấu của các tổ chức nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tôn giáo, phát huy tối đa những ưu thế của tôn giáo, hoạt động của hội đoàn tôn giáo đúng quy định của pháp luật
Đối với các hoạt động quốc tế của tôn giáo: Nhà nước tôn trọng mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo Hoạt động đối ngoại tôn giáo phải tuân thủ
và phủ hợp với chính sách đối ngoại của nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền độc lập quốc gia, vì hòa bình ổn định, hợp tác, hữu nghị và thông lệ quốc tế Do đó QLNN đối với công tác quốc tế của các tôn giáo là cần thiết
1.2.4 Quản lý hoạt động từ thiện, xã hội, nội dung sinh hoạt của các hội đoàn tôn giáo
Công tác từ thiện, nhân đạo là một hoạt động được các tôn giáo luôn đề cao, là một hoạt động không thể thiếu của một tôn giáo, hoạt động này khá đa dạng với nhiều loại hình và cấp độ khác nhau
Hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo ở góc độ nhất định đã góp phần chia sẽ gánh nặng giải quyết vấn đề xã hội với nhà nước Trong những năm
Trang 3223
gần đây đời sống xã hội có nhiều chuyển biến đáng kể nên các tôn giáo cũng
có nhiều thay đổi để phù hợp với thực tiển, bộc lộ rõ xu hướng thế tục hóa, hướng vào phục vụ đời, và họ cho rằng đó là tinh thần cứu thế của tôn giáo Trong bối cảnh đó, các hoạt động từ thiện xã hội của các tổ chức cá nhân tôn giáo làm đời sống tôn giáo trở nên sôi động Các hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo được thực hiện chủ yếu theo hai hình thức: Hoạt động thường xuyên và hoạt động không thường xuyên với nhiều loại hình như: Tổ chức các phòng khám bệnh từ thiện, mở bệnh viện, xây dựng nhà dưỡng lão, cô nhi viện, nhà trẻ mẫu giáo, các lớp học tình thương, cơ sở dạy nghề cho trẻ khuyết tật, xây dựng nhà tình nghĩa, sửa chữa hoặc xây dựng cầu cống, đường
sá, trường học, hỗ trợ kinh phí cho sinh viên - học sinh nghèo hiếu học, cứu trợ thiên tai bão lụt, chăm sóc hổ trợ người nhiễm HIV/AIDS, hiến máu cứu người…
Thực tế cho thấy phần lớn các hoạt động từ thiện xã hội trên đây chủ yếu xuất phát trong tổ chức Giáo hội các tôn giáo Những hoạt động này có ảnh hưởng rất đáng kể trong đời sống xã hội, góp phần cùng nhà nước giải quyết vấn đề an sinh xã hội Chính vì vậy, công tác QLNN đối với các hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo, các hội đoàn tôn giáo cần được quan tâm thường xuyên để kịp thời hạn chế các mặt tiêu cực, tạo thêm điều kiện để các
tổ chức tôn giáo, hội, đoàn tôn giáo phát huy tốt hơn nữa công tác từ thiện xã hội lành mạnh, và đóng góp nhiều hơn nữa cho xã hội
Công tác quản lý hoạt động đào tạo, huấn luyện của các tôn giáo, hội, đoàn tôn giáo là một nội dung khá cơ bản, việc đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện… của các tôn giáo và hội, đoàn các tôn giáo là bảo đảm sự phát triển bình thường của các tôn giáo, bảo đảm tính kế thừa và công tác quản lý Đảm nhiệm công việc của tổ chức tôn giáo là trách nhiệm của các chức sắc, chức việc đối với tín đồ tôn giáo, hội đoàn tôn giáo Việc đào tạo, huấn luyện của
Trang 3324
các tôn giáo phải được sự cho phép của nhà nước như: Học viện Phật giáo, trường Trung cấp Phật học, Đại chủng viện … các trại, lớp huấn luyện huynh trưởng các cấp của tổ chức GĐPT, SVCG, TNCG, TNTT, các khóa tu của các đạo tràng, tổ chức giới đàn để phong phẩm cho các nam, nữ tu sỹ, phong cấp cho huynh trưởng Các hoạt động trên đây được diễn ra công khai tại các cơ
sở của tôn giáo, có sự chứng kiến tham dự của các cấp chính quyền
1.2.5 Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Thanh tra, kiểm tra, giám sát trong QLNN là loại hoạt động đặc biệt thuộc chức năng của nhà nước và xã hội, nhằm bảo đảm hiệu lực hiệu quả trong quản lý hành chính nhà nước bảo đảm pháp chế XHCN
Thanh tra, kiểm tra và việc chấp hành pháp luật của nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo, các hội đoàn tôn giáo nhằm bảo đảm được quyền
tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, bảo đảm các hoạt động của tôn giáo
và các hội đoàn được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo và các hội đoàn tôn giáo còn nhằm phát hiện kịp thời, kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm đối với hoạt động trái pháp luật của các tôn giáo, các hội đoàn tôn giáo cũng như các vi phạm trong hoạt động QLNN đối với các tôn giáo, hội đoàn tôn giáo nhằm bảo đảm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong thực tế đảm bảo hoạt động của các tôn giáo, các hội đoàn tôn giáo diễn ra theo đúng quy trình của pháp luật và phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa – đạo đức của các tôn giáo trong đời sống xã hội
Trong thực tiễn, hoạt động kinh tế-xã hội cũng như hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo, bao giờ cũng xuất hiện các hiện tượng “vượt rào”, vô tình hoặc cố ý vi phạm pháp luật Do đó đòi hỏi các cơ quan QLNN cần phải thực
Trang 3425
hiện việc thanh tra, kiểm tra, giám sát để giải quyết ngay từ cơ sở và đúng thẩm quyền pháp lý của từng cấp quản lý, bảo đảm đúng theo luật định tại Luật Khiếu nại, Luật Tố giác về những vấn đề liên quan đến tôn giáo và các hội, đoàn tôn giáo, đồng thời xử lý vi phạm trong thực thi chính sách tôn giáo theo các văn bản pháp luật hiện hành của nhà nước
Việc xử lý các khiếu nại, tố cáo liên quan đến tôn giáo và vi phạm chính sách tôn giáo căn cứ theo Luật Khiếu nại, Luật tố cáo ngày 01/7/2012
và các chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước để giải quyết ngay từ cơ sở và đúng thẩm quyền pháp lý của từng cấp quản lý Xử lý các điểm nóng tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo phải đảm bảo có lý, có tình, đúng pháp luật Do
đó, trong QLNN các hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo phải cương quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo, phá hoại sự ổn định xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân, nhưng cũng phải hết sức khôn khéo, tế nhị, tránh mọi sơ hở, thiếu sót để địch lợi dụng, can thiệp vào nội bộ nước ta
1.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về các hoạt động của tôn giáo và các
hội, đoàn tôn giáo
1.3.1 Thực hiện chức năng của nhà nước
QLNN đối với hoạt động của các tôn giáo, các hội đoàn không chỉ xuất phát từ ý chí nhà nước mà còn xuất phát từ thực tế khách quan của sự hình thành, tồn tại, phát triển và những ảnh hưởng của các tôn giáo, hội đoàn trong lịch sử, hiện tại và tương lai Các tôn giáo và các hội đoàn tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là một thực thể xã hội tồn tại lâu dài, có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Các tôn giáo, hội đoàn tôn giáo vừa mang ưu điểm vừa mang những hạn chế tiêu cực
Để phát huy ưu điểm, tính tích cực của các tôn giáo, hội đoàn tôn giáo trong công cuộc xây dựng xã hội mới và hạn chế tiêu cực do các tôn giáo, hội đoàn
Trang 351.3.2 Đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo hợp pháp của người dân
QLNN đối với các hoạt động của các tôn giáo và các hội đoàn tôn giáo
là một trong những hoạt động của nhà nước đối với một bộ phận dân số chiếm
tỷ lệ không nhỏ trong nhân dân, nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa các mặt: tôn trọng pháp luật; đời sống tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào có đạo phát triển bình thường đối với các hoạt động kinh tế - văn hóa xã hội khác
Khi những nguồn gốc làm phát sinh tôn giáo chưa được giải quyết, tôn giáo vẫn còn tồn tại Thừa nhận những thực tế khách quan này, một mặt nhà nước cần tăng cường quản lý các hoạt động các tôn giáo và các hội đoàn tôn giáo để các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và Pháp luật, mặt khác cần tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân
Tuy nhiên trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, tôn giáo và các hội đoàn tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến nhiều lĩnh vực thuộc đời sống xã hội của nhiều quốc gia Tôn giáo và các hội đoàn tôn giáo có nhiều chức năng đối với xã hội như chức năng thế giới quan, chức năng liên kết cộng đồng, chức năng đền bù hư ảo, điều chỉnh hành vi đạo đức của con người Thực
Trang 36hệ đối ngoại về công tác tôn giáo được chú trọng, đặc biệt là mối quan hệ gắn
bó và trách nhiệm giữa các tổ chức tôn giáo với các cấp chính quyền, mặt trận
và các đoàn thể ngày càng chặt chẽ, cảm thông, từ đó niềm tin của các chức sắc, tín đồ các tôn giáo đối với Đảng, Nhà nước ngày càng gắn bó hơn, trách nhiệm hơn Các phần tử cơ hội lợi dụng tôn giáo, có những việc làm sai trái, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc, chống phá nhà nước đã bị vạch trần, lên án, loại bỏ khỏi tổ chức tôn giáo Vì vậy, QLNN đối với hoạt động của các tôn giáo và hội, đoàn tôn giáo cũng là nhằm đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo một cách hợp pháp của tín đồ
Trang 3728
1.3.3 Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của các hội, đoàn tôn giáo
Bước vào thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay, công tác QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo không những là cần thiết mà còn cần phải tăng cường QLNN đối với hoạt động của các tôn giáo còn xuất phát từ thực tiễn hoạt động của các hội đoàn tôn giáo, đó là:
Thứ nhất, quá trình đổi mới ở đất nước ta đang diễn ra sâu rộng trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo Trong lĩnh vực tôn giáo, từ khi thành lập nước đến nay, quan điểm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán Những năm trở lại đây, quan điểm đó ngày càng cụ thể, rõ ràng và chứa đựng những nội dung mới Các
Nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước đều nhìn nhận “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [19]
Quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng, công tác QLNN đối với các hoạt động tôn giáo nói chung và hội đoàn tôn giáo nói riêng cần phải được đổi mới, tăng cường để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, đáp ứng các quá trình cải biến cách mạng trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ hai, thực tiễn QLNN đối với hoạt động tôn giáo nói chung và hội
đoàn tôn giáo nói riêng ở nước ta trong thời gian vừa qua đã cho thấy, chính quyền và đội ngũ cán bộ có trách nhiệm ở một số nơi chưa nhận thức đúng và quán triệt đầy đủ các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề tôn giáo, hội đoàn tôn giáo Trong quản lý có nơi còn chủ quan, nóng vội và đơn giản hóa khi giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo, dẫn đến vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; có nơi lại thụ động, buông lỏng quản lý dẫn tới các hoạt động tôn giáo lấn lướt chính
Trang 3829
quyền, kỷ cương, phép nước không được giữ nghiêm
Vì những lý do trên, tăng cường QLNN đối với hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo một mặt sẽ khắc phục được những lệch lạc, phiến diện trong công tác quản lý; mặt khác vừa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và góp phần đưa các hoạt động của tôn giáo, hội đoàn tôn giáo theo đúng qui định của pháp luật
Thứ ba, hiện nay trước yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, vấn đề
đặt ra cấp thiết cần phải xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về QLNN đối với các hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Ngày nay nước ta đang tiến hành đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nhiều lĩnh vực đã được luật hóa một cách cụ thể Trong đó QLNN đối với hoạt động tôn giáo được Đảng và Nhà nước ta xác định là những chính sách xã hội quan trọng, có tính đặc thù, vì vậy cải cách hệ thống pháp luật quản lý các hoạt tôn giáo là một yêu cầu khách quan
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, hệ thống pháp luật về tôn giáo đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa bao quát hết được những hoạt động tôn giáo Vì vậy trước yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân và trước yêu cầu của công tác tôn giáo hiện nay, việc xây dựng hệ thống pháp luật về QLNN đối với hoạt động của các hội, đoàn tôn giáo cần tiếp tục được củng cố và hoàn thiện
Thứ tư, trong quá trình mở cửa, hội nhập, nhiều tôn giáo mới được du
nhập gắn liền với quá trình phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh mới, nhiều chuyên gia, nguồn lao động được đa dạng hóa không chỉ từ trong nước mà cả nước ngoài, điều đó làm xuất hiện nhu cầu tôn giáo đa dạng, phức tạp, làm nảy sinh không ít những hạn chế, tiêu cực; từ đó, đòi hỏi
là phải tăng cường QLNN, tăng cường cảnh giác để góp phần đấu tranh chống lại có hiệu quả những âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá công cuộc xây
Trang 3930
dựng và đổi mới đất nước của nhân dân ta
Từ những thực tế như phân tích ở trên, đòi hỏi chúng ta phải tăng cường QLNN đốỉ với hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo qua đó nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân, mặt khác, phải luôn cảnh giác chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
1.4 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước của hoạt động tôn giáo, và hội, đoàn tôn giáo trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong quá trình phát triển, hội nhập của đất nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng đề được đổi mới một cách mạnh mẽ Cùng với đó công tác QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng tôn giáo là luôn có những bước đổi thay cần thiết nhằm đáp ứng hài hòa cùng với sự phát triển của toàn xã hội và hội nhập quốc tế Sự thay đổi đó tạo ra nhiều yếu tố tác động đến QLNN về lĩnh vực này
1.4.1 Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Quá trình đổi mới của nước ta đã tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo Trong lĩnh vực này, quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay là luôn luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, quan điểm đó ngày càng được cụ thể hóa một cách minh bạch, rõ ràng với những nội dung mới đáp ứng nhu cầu bức thiết của sinh hoạt tôn giáo, hài hòa cùng với sự phát triển đất nước Thông qua các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước đều
nhìn nhận: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận khối đại đoàn kết dân tộc” [18] Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta khẳng định rõ: Công dân có
Trang 4031
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng và công tác tôn giáo mang tính đặc thù và toàn
bộ hệ thống chính trị phải có trách nhiệm với công tác này
Trong quá trình mở cửa, hội nhập, bên cạnh những thành quả tích cực đối với công tác tôn giáo, tạo dựng thêm niềm tin tưởng cho các chức sắc, chức việc tín đồ tôn giáo, các tổ chức hội đoàn tôn giáo cũng có không ít những hạn chế, yếu kém, tiêu cực; từ đó đòi hỏi đặt ra giải pháp tăng cường QLNN, tăng cường và luôn đề cao cảnh giác để góp phần đấu tranh chống lại
có hiệu quả các âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá công cuộc đổi mới đất nước làm tổn thương đến uy tín lãnh đạo của Đảng, và sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân Trước yêu cầu cấp thiết đó, nhằm đáp ứng việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và trước yêu cầu đổi mới của công tác tôn giáo hiện nay, việc xây dựng hệ thống pháp lý về QLNN về hoạt động tôn giáo là vấn đề cấp bách, là một yêu cầu khách quan
Từ thực tiễn trên, đòi hỏi chúng ta phải tăng cường QLNN đối với hoạt động tôn giáo, hội, đoàn tôn giáo qua đó nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân, đồng thời khẳng định chính sách đúng đắn của Đảng – Nhà nước ta, trước sau như một là luôn luôn tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, kịp thời ngăn chặn đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền, chống phá sự nghiệp đổi mới của đất nước ta
1.4.2 Nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp và chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo
Thực tiễn cho thấy công tác QLNN đối với tôn giáo, các hội đoàn tôn giáo trong thời gian qua đã có nhiều bước tiến rõ nét Chính quyền các cấp và