1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối liên quan giữa nồng độ homocystein máu với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

12 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 5,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc tìm hiểu mối liên quan giữa tHCy với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở BN ĐTĐ týp 2: chỉ số khối cơ thể (BMI), kiểm soát huyết áp, tăng huyết áp (THA), rối loạn lipid máu, microabumin niệu (MAU), bệnh thận mạn (BTM).

Trang 1

TÓM TẮT

Biến đổi nồng độ homocystein máu (tHCy - total plasma homocysteine concentra-tion) ở BN ĐTĐ týp 2 liên quan đến một số yếu tố nguy cơ tim mạch

Mục tiêu: tìm hiểu mối liên quan giữa tHCy với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở

BN ĐTĐ týp 2: chỉ số khối cơ thể (BMI), kiểm soát huyết áp, tăng huyết áp (THA), rối loạn lipid máu, microabumin niệu (MAU), bệnh thận mạn (BTM)

Kết quả: tHCy tăng cao có ý nghĩa thống kê ở BN có THA, MAU (+), BTM do ĐTĐ Khi mức độ BTM nặng dần thì tHCy tăng dần THA, MAU (+), BTM do ĐTĐ sẽ làm gia tăng nguy cơ tăng tHCy lên 3,45, 4,14 và 3,87 lần Nồng độ homocystein máu tương quan nghịch với mức lọc cầu thận (MLCT) ước tính; tương quan thuận với nồng độ ure, creatinin, LDL-C máu có ý nghĩa thống kê.

THE RELATIONSHIP BETWEEN THE ALTERATION OF HOMOCYSTEINE CONCENTRATIONS WITH SOME CARDIAC RISK

FACTORS OF TYPAE 2 DIABETES MELLITUS PATIENTS

SUMMARY

The relationship between the alteration of homocysteine concentrations with some cardiac risk factors of typae 2 diabetes mellitus patients.

The alteration of homocysteine concentrations in type 2 diabetes mellitus was associated with some cardiac risk factors

The object of the study was to determine the relationship between the alteration

of homocysteine concentrations with body mass index (BMI), blood pressure control, hypertension, microalbuminuria, dyslipidemia, diabetic chronic renal failure

MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEIN MÁU VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở BỆNH NHÂN

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

Phạm Toàn Trung 1 , Hoàng Trung Vinh 1 , Trương Đình Cẩm 1

(1) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Phạm Toàn Trung (phamtoantrung175@gmail.com)

Ngày nhận bài: 6/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 17/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 2

Results showed that: homocysteine concentrations were significantly higher

in patients without blood pressure control, with hypertension, microalbuminuria (+), diabetic chronic kidney disease than those with blood pressure control, without hypertension, microalbuminuria (+), diabetic kidney disease Hyperhomocysteinemia was inversely associated with stage of diabetic chronic kidney disease and 3,45; 4,14; 3,87 - fold increased in patients with hypertension, microalbuminuria (+), diabetic chronic renal failure respectively Homocysteine concentrations were significantly reversely correlated with eGFR (estimated glomerular filtraton rate) and inversely correlated with serum urea, creatinine, LDL-C.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tim mạch và bệnh thận mạn giai

đoạn cuối do ĐTĐ vẫn là những nguyên

nhân gây tử vong chính, ngay cả ở những

nước phát triển Bên cạnh những yếu tố

nguy cơ (YTNC) đã được xác định (THA,

rối loạn lipid máu…), có thể có những yếu

tố khác liên quan bệnh sinh biến chứng

tim mạch ở người ĐTĐ, trong đó nồng độ

homocystein máu cao làm gia tăng nguy

cơ mắc bệnh tim mạch và tỉ lệ tử vong do

mọi nguyên nhân nói chung, do bệnh tim

mạch nói riêng [8], [11] Ở người ĐTĐ

týp 2, tăng tHCy còn làm tăng nguy cơ

xuất hiện MAU [4], bệnh thận mạn do

ĐTĐ [9] Nhiều nghiên cứu trong nước

và trên thế giới cho thấy tăng tHCy ở BN

ĐTĐ týp 2 liên quan suy giảm chức năng

thận [1], [5], kiểm soát huyết áp kém [10]

Mục tiêu: tìm hiểu mối liên quan giữa

tHCy với một số YTNC tim mạch như

BMI, kiểm soát huyết áp, THA, rối loạn

lipid máu, MAU, BTM ở BN ĐTĐ týp 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng

89 người bao gồm 2 nhóm: 61 BN

ĐTĐ týp 2 điều trị nội trú tại khoa Khớp

- Nội tiết Bệnh viện 103 từ tháng 2/2013

đến tháng 7/2013 thuộc nhóm BN và 28

người khỏe mạnh thuộc nhóm chứng,

có độ tuổi trung bình và tỷ lệ giới tương đương nhau, lấy dữ liệu chỉ số tHCy thu được trên nhóm chứng làm chuẩn đánh giá tHCy ở nhóm bệnh

2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: hồi cứu, cắt

ngang, mô tả

* Nội dung nghiên cứu:

+ Khai thác tiền sử bệnh, khám lâm sàng, xét nghiêm cận lâm sàng đối tượng nghiên cứu

+ Định lượng nồng độ HCy máu trên

máy AxSYM của hãng Abbott (Hoa Kỳ)

tại khoa Hoá Sinh - Bệnh viện 103.

tHCy được xác định dựa trên nguyên

lý miễn dịch huỳnh quang đối lưu Đơn vị: µmol/l

* Xử lý số liệu: bằng chương trình

phần mềm Epi-Info 7.0, Microsoft Excel 2007

3 Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu

* Chẩn đoán rối loạn lipid máu:

Theo khuyến cáo Hội tim mạch Việt Nam (2015)

* Chẩn đoán THA: Theo tiêu chuẩn

JNC VII (Joint National Committee VII)

(2003)

* Chẩn đoán tăng tHCy: Khi tHCy

Trang 3

của nhóm bệnh lớn hơn tổng giá trị trung

bình tHCy và 1 lần độ lệch chuẩn của

nhóm chứng

* Đánh giá chỉ số HbA1c: Theo tiêu

chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường châu

Á - Thái Bình Dương (2002)

* Đánh giá chỉ số BMI: Theo tiêu

chuẩn WHO (2004) áp dụng trên người

châu Á trưởng thành

* Đánh giá mục tiêu kiểm soát huyết

áp ở BN ĐTĐ: Theo tiêu chuẩn của Hiệp

hội Đái tháo đường Hoa Kỳ - ADA (2013)

* Chẩn đoán bệnh thận do ĐTĐ:

Theo tiêu chuẩn Hiệp hội Đái tháo đường

Hoa Kỳ - ADA (2013) khi có MAU (+)

(ACR > 30 mg/g) Chẩn đoán và phân loại mức độ suy thận theo KDOQI (Kidney Disease Out-come Quality Initiative) (2002) dựa vào mức lọc cầu thận ước tính độ thanh thải

creatinin (eGFR - Estimated Glomerular

Filtration Rate) theo công thức MDRD (Modification of Diet in Renal Disease) (1999)

Nếu chức năng thận ở giai đoạn 1 hoặc 2, chỉ bị bệnh thận mạn nếu mắc albumin niệu, hồng cầu niệu hoặc cấu trúc thận bất thường trên các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh hoặc bệnh lý thận di

truyền

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Nồng độ tHCy của hai nhóm nghiên cứu

tHCy (µmol/l)

< 0,01

Nhóm bệnh có tHCy cao hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)

Bảng 3.2 Liên quan tHCy với một số chỉ số ở nhóm bệnh (n = 61)

tHCy (µmol/l)

tHCy (µmol/l)

BMI (kg/m 2)

> 0,05

Rối loạn

1,97 THA

KS huyết áp

(mmHg)

2,16 < 0,05 BTM (+) 28 12,31 ± 3,03 < 0,05

Trang 4

- tHCy liên quan không có ý nghĩa thống kê với BMI, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu (p > 0,05)

- Nhóm bệnh kiểm soát HA > 130/80 mmHg, MAU (+), BTM có tHCy cao hơn có ý nghĩa nhóm bệnh kiểm soát HA ≤ 130/80 mmHg, MAU (-), không BTM (p < 0,05)

Bảng 3.4 Liên quan tHCy với giai đoạn BTM ở nhóm bệnh (n = 28)

tHCy (µmol/l)

Giai đoạn BTM

p3-1 < 0,05 p2-1 < 0,05

tHCy tăng dần có ý nghĩa thống kê theo theo mức độ nặng của BTM (p < 0,05)

Bảng 3.5 Liên quan tăng tHCy với THA, mức KS huyết áp, MAU, BTM ở nhóm bệnh (n =61)

Tăng tHCy

Thông số

Có

(n = 28)

Không (n = 33) Không hiệu chỉnh

Hiệu chỉnh (theo tuổi,

giới, eGFR)

* p < 0,05; ** p < 0,005; ǁ p < 0,01

- Tỷ lệ tăng tHCy ở nhóm BN có THA

(61,1%) cao hơn so với nhóm BN không

THA (38,9%) có ý nghĩa thống kê với OR

thô = 4,98 (95%CI = 1,60 - 15,50, p <

0,005) và OR hiệu chỉnh = 3,45 (95%CI =

1,06 - 11,24, p < 0,05).

- Tỷ lệ tăng tHCy ở nhóm BN KS

huyết áp > 130/80 mmHg (65,5%) cao hơn

so với nhóm KS huyết áp ≤ 130/80 mmHg

(34,5%) có ý nghĩa thống kê với OR thô

= 4,86 (95%CI = 1,64 - 14,39, p < 0,005).

- Tỷ lệ tăng tHCy ở nhóm BN MAU (+) (66,7%) cao hơn so với nhóm BN MAU (-) (33,3%) có ý nghĩa thống kê với

OR thô = 4,80 (95%CI = 1,62 - 14,25, p <

0,005) và OR hiệu chỉnh = 4,14 (95%CI =

1,16 - 14,77, p < 0,05).

Trang 5

- Tỷ lệ tăng tHCy ở nhóm BN có STM

(64,3%) cao hơn so với nhóm BN không

STM (35,7%) có ý nghĩa thống kê với OR

thô = 4,14 (95%CI = 1,42 - 12,09, p <

0,005) và OR hiệu chỉnh = 3,87 (95%CI =

1,07 - 13,98, p < 0,05).

Bảng 3.6 Tương quan tHCy với một số chỉ số ở nhóm bệnh (n = 61)

tHCy (µmol/l)

Thông số

Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến

Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (hiệu chỉnh theo tuổi, giới, nồng độ creatinin máu)

- tHCy tương quan thuận mức độ vừa (r = 0,41, p < 0,001) với nồng độ ure máu,

tương quan thuận mức độ vừa (r = -0,40, p < 0,01) với nồng độ creatinin máu, tương quan nghịch mức độ vừa (r = -0,30, p < 0,05) với eGFR khi chưa hiệu chỉnh.

Sau khi hiệu chỉnh, không có tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tHCy với nồng

độ ure máu (p > 0,05).tHCy tương quan thuận chặt chẽ với nồng độ creatinin máu (r =

0,53, p < 0,001), tương quan nghịch mức độ vừa với eGFR (r = -0,41, p < 0,01).

- tHCy tương quan thuận mức độ ít (r = 0,28, p < 0,05) với nồng độ LDL-C máu khi

chưa hiệu chỉnh tHCy tương quan thuận chặt chẽ với nồng độ LDL-C máu sau khi hiệu

chỉnh (r = 0,57, p < 0,05)

BÀN LUẬN

* Liên quan nồng độ homocystein

máu với BMI: Qua kết quả tHCy ở nhóm

bệnh có thừa cân (BMI > 23) và không

thừa cân (BMI < 23), sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Phạm

Quang Thanh (2008) khi so sánh tHCy

ở 11 BN ĐTĐ týp 2 có BMI > 23 và 45

BN ĐTĐ týp 2 có BMI < 23 cũng rút ra

kết luận tương tự [1] Một số tác giả ngoài

nước như Hoogeven EK (1998) [8],

Emo-to M (2001) [7], Russo GT (2004) [91]

cũng thấy không có tương quan ý nghĩa

thống kê giữa tHCy với BMI (tương ứng

là r = -0,02, p = 0,8; r = 0,221, p = 0,057

và r = 0,068, p > 0,05) [11] Tuy vậy, một

số nghiên cứu khác lại chỉ ra tHCy có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê

với BMI ở BN ĐTĐ týp 2: The NHANES

1999 - 2002 (2005) với r = -0,19, p < 0,05

[6], Looker HC (2003) với r = -0,23, p <

0,0001 [9] Có lẽ BMI không phản ánh chính xác hoàn toàn khối lượng cơ của cơ thể mà khối lượng cơ lại tỷ lệ với nồng

độ creatin/creatinin máu và do vậy cũng

có tương quan nhất định với tHCy khi giá trị BMI đủ lớn, trong khi BN ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi lại có BMI trung bình là chủ yếu

Trang 6

* Liên quan nồng độ homocystein

máu với rối loạn lipid máu: Bệnh nhân

ĐTĐ có tỷ lệ vữa xơ động mạch gấp 2 -

6 lần so với người không ĐTĐ Rối loạn

lipid máu rất phổ biến ở BN ĐTĐ týp 2,

cùng với stress oxy hóa, bất thường chức

năng tiểu cầu và rối loạn đông máu (tăng

thrombin, yếu tố VII, yếu tố tổ chức,

PAI-1, giảm thrombomodulin, protein C ) là

các YTNC góp phần gia tăng vữa xơ động

mạch, dẫn đến biến chứng mạch máu lớn

ở người ĐTĐ (bệnh ĐMV, bệnh mạch

máu não, bệnh động mạch ngoại vi) Tăng

tHCy vừa là nguyên nhân, vừa làm tăng

tiến triển vữa xơ động mạch thông qua

nhiều cơ chế gồm rối loạn chức năng nội

mạc, cảm ứng stress oxy hóa, thúc đẩy

viêm mạch và huyết khối Cơ chế phân

tử quá trình này có vai trò chủ yếu của

sự oxy hóa LDL-C ở thành động mạch

bởi các superoxide, hydrogen superoxide

hình thành LDL-C có tính oxy hóa cao

Tăng nồng độ LDL-C máu và/hoặc giảm

nồng độ HDL-C máu được xác định là

YTNC chính của bệnh ĐMV [13]

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm

bệnh có rối loạn lipid máu có tHCy cao

hơn nhóm không rối loạn lipid máu nhưng

chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Sau

hiệu chỉnh, chúng tôi thấy có mối tương

quan thuận chặt chẽ giữa tHCy với

LDL-C máu

Phạm Quang Thanh (2008) cũng thấy

chỉ số tHCy không khác biệt có ý nghĩa ở

33 BN ĐTĐ týp 2 có rối loạn lipid máu

và 23 BN ĐTĐ týp 2 không rối loạn lipid

máu [8] Chico A (1998) nghiên cứu 90

BN ĐTĐ týp 2 nhận thấy tương quan

thuận yếu có ý nghĩa giữa tHCy với nồng

độ LDL-C máu (r = 0,26, p < 0,05),

tri-glyceride máu (r = 0,22, p < 0,05) [3] Emoto M (2001) khảo sát 75 BN ĐTĐ týp 2 thấy có tương quan nghịch yếu có ý

nghĩa của tHCy với nồng độ HDL-C máu (r = -0,294, p = 0,01) [7] Davies L (2001)

nghiên cứu 260 BN ĐTĐ týp 2 thấy có tương quan nghịch chặt chẽ giữa tHCy

với nồng độ cholesterol máu (r = -0,656,

p = 0,02) [5]

Kết quả chúng tôi không giống ng-hiên cứu Shargorodsky M (2009) trên 85

BN ĐTĐ týp 2 không thấy tương quan

có ý nghĩa giữa tHCy với các chỉ số lipid máu [12] Theo chúng tôi, các BN ĐTĐ

có thể đã được điều trị chế độ ăn và thuốc

hạ lipid máu nên chỉ số lipid cải thiện đáng kể Vì thế các kết quả không giống nhau giữa các nghiên cứu Chính vì vậy việc điều chỉnh các chỉ số lipid máu (giảm

LDL-C, tăng HDL-C) cần tiến hành đồng

thời với giảm tHCy ở BN ĐTĐ

* Liên quan nồng độ

homocyste-in máu với tăng huyết áp: Kết quả cho

thấy nhóm bệnh có THA có tHCy cao hơn nhưng chưa có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh không TH Khi phân nhóm bệnh theo mục tiêu kiểm soát HA, nhóm bệnh kiểm soát HA không đạt mục tiêu có nồng độ HCy cao hơn có ý nghĩa thống kê

so với nhóm bệnh kiểm soát HA đạt mục tiêu Lý giải kết quả này, chúng tôi cho rằng cả nhóm bệnh THA và kiểm soát HA không đạt mục tiêu đều có chức năng thận phản ánh qua các chỉ số eGFR, nồng độ creatinin máu kém hơn so với nhóm bệnh không THA và kiểm soát HA đạt mục tiêu THA là bệnh thường gặp đi kèm với ĐTĐ týp 2 Sự kết hợp 2 bệnh trên sẽ làm

Trang 7

gia tăng tổn thương thận THA tác động

xấu đến chức năng thận, làm giảm MLCT,

tăng creatinin máu, dẫn đến tăng tHCy

Qua nghiên cứu, tỷ lệ tăng tHCy gia tăng

4,98 và 4,86 lần (chưa hiệu chỉnh) khi

kèm theo THA và kiểm soát HA không

đạt mục tiêu

Kết quả chúng tôi tương tự tác giả

Russo GT (2004) thấy 97 BN ĐTĐ týp 2

kèm THA có tHCy cao hơn 214 BN ĐTĐ

týp 2 không THA nhưng chưa có ý nghĩa

thống kê (12,3 so với 11,7 µmol/l, p >

0,05), có tương quan thuận có ý nghĩa giữa

tHCy với huyết áp tâm thu (p < 0,01) [11]

Chico A (1998) nghiên cứu 90 BN ĐTĐ

týp 2 thấy nhóm ĐTĐ THA có tHCy cao

hơn nhóm không THA có ý nghĩa thống

kê (10,5 ± 5,6 so với 6,9 ± 4,2 µmol/l, p

< 0,05), đồng thời nhóm THA cũng có chỉ

số chức năng thận (MAU, protein niệu

24h, nồng độ creatinin máu) kém hơn

nhóm không THA [3] Looker HC (2003)

nghiên cứu 395 BN ĐTĐ týp 2 thấy nhóm

BN THA cũng có tHCy cao hơn nhóm

không THA có ý nghĩa thống kê (10,7 so

với 8,6 µmol/l, p < 0,0001); có tương quan

thuận mức độ ít có ý nghĩa giữa tHCy với

huyết áp tâm thu (r = 0,24, p < 0,0001) và

HATTr (r = 0,17, p = 0,0007) [9] Passaro

A (2003) nghiên cứu tác động của kiểm

soát các yếu tố chuyển hóa lên mức HCy

trên 95 BN ĐTĐ týp 2 trong 3 năm thấy

có mối tương quan giứa tHCy với huyết áp

tâm thu (r = 0,296, p = 0,004) Tác giả cho

rằng ở BN ĐTĐ týp 2, cơ chế tăng tHCy

gây biến chứng mạch máu lớn trực tiếp

hoặc gián tiếp (thông qua suy giảm chức

năng thận và/hoặc THA) do tác dụng tổn

thương nội mạc [10] Các kết quả không

hoàn toàn giống nhau có thể do tác động của điều trị THA (điều chỉnh chế độ ăn và/hoặc thuốc hạ HA) ở BN trước khi đưa vào nghiên cứu Chúng tôi cho rằng cần thiết phải kiểm soát tốt HA song song với giảm tHCy ở BN ĐTĐ týp 2

* Liên quan nồng độ homocystein

máu với microalbumin niệu và bệnh thận mạn: Thận đóng vai trò chính trong

chuyển hóa HCy, cùng với gan là hai cơ quan có đầy đủ các enzym xúc tác cho chu trình sulfur (chuyển nhóm sulfur) và con đường tái methyl hóa thứ yếu Con đường chuyển methyl hóa cung cấp nhóm methyl để tổng hợp tiền chất của creatinin

là creatin Chỉ HCy tự do mới qua được cầu thận, 99% được tái hấp thu, phần lớn chuyển hóa ngay tại thận và khoảng 1% bài tiết qua nước tiểu [13] Các ng-hiên cứu lớn trên thế giới chỉ tương quan nghịch mức độ mạnh giữa tHCy với GFR hoặc eGFR, độ thanh thải creatinin; tương quan thuận với nồng độ creatinin máu như trong dữ liệu nghiên cứu nghiên cứu

NHANES [6] Ở BN ĐTĐ, MAU được

coi là dấu ấn chỉ điểm cho sự xuất hiện biến chứng mạch máu nói chung và mạch máu nhỏ nói riêng, đặc biệt là bệnh thận ĐTĐ khi MAU vừa là chỉ dấu sớm tổn thương thận, vừa phản ánh tiến triển suy giảm chức năng thận Khi chức năng thận

kém dần theo các giai đoạn MAU (-) đến

MAU (+), protein niệu sẽ làm tHCy tăng dần [7]

Qua kết quả, chúng tôi thấy nhóm bệnh MAU (+) có tHCy cao hơn nhóm

ĐTĐ MAU (-) có ý nghĩa thống kê (p <

0,05) Kết quả tương tự được ghi nhận khi

so sánh nhóm bệnh có suy thận và không

Trang 8

suy thận tHCy tăng dần có ý nghĩa theo

giai đoạn suy thận Có mối tương quan

thuận mức độ vừa giữa tHCy với nồng

độ ure, creatinin máu, tương quan nghịch

mức độ ít giữa tHCy với eGFR Mức tương

quan càng mạnh hơn giữa tHCy với nồng

độ creatinin máu, eGFR sau hiệu chỉnh,

không còn tương quan giữa nồng độ ure

máu với nồng độ HCy sau hiệu chỉnh Ở

BN ĐTĐ có MAU (+) hoặc STM đã làm

gia tăng tỷ lệ tăng tHCy tương ứng lên

4,80 và 4,14 lần khi chưa hiệu chỉnh; 4,14

và 3,87 lần sau khi hiệu chỉnh

Shargorodsky M (2009) nghiên cứu

86 BN ĐTĐ týp 2 thấy có tương quan

nghịch mức độ vừa giữa tHCy với nồng

độ creatinin máu (r = -0,344, p < 0,001),

không có tương quan giữa tHCy và nồng

độ ure máu (r = 0,205, p = 0,117) [12]

Duncan GE (2005) phân tích 133 BN ĐTĐ

týp 2 từ dữ liệu The NHANES 1999 - 2002

nhận thấy tHCy tương quan thuận chặt

chẽ với nồng độ creatinin máu (r = 0,55,

p < 0,0001) và tương quan nghịch mức độ

vừa với eGFR (r = -0,46, p < 0,0001) [6].

Theo chúng tôi, nồng độ ure máu chỉ

phản ánh gián tiếp chức năng thận, dễ bị

ảnh hưởng bởi chế độ ăn, sử dụng thuốc…

nên sự tương quan có ý nghĩa với tHCy

không còn sau khi hiệu chỉnh theo tuổi,

giới, nồng độ creatinin máu Kết quả này

phù hợp nghiên cứu của Russo GT (2004)

trên 312 BN ĐTĐ týp 2 thấy tHCy tăng

dần có ý nghĩa thống kê theo các khoảng

phân vị nồng độ creatinin máu và giảm dần

theo các khoảng phân vị hệ số thanh thải

creatinin tHCy tương quan thuận với nồng

độ creatinin máu (r = 0,417, p < 0,0001),

tương quan nghịch với hệ số thanh thải

creatinin nội sinh (p < 0,001) [11]

Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với một số tác giả trong nước Dương Thị Tuyết (2008) so sánh tHCy ở 20 BN ĐTĐ týp 2 có MAU (+) thấy cao hơn có ý nghĩa

thống kê so với 37 BN ĐTĐ có MAU (-)

(13,59 so với 11,43 µmol/l, p < 0,05) [2], Phạm Quang Thanh (2008) nghiên cứu

56 BN ĐTĐ týp 2 thấy nhóm MAU (+)

có tHCy cũng cao hơn có ý nghĩa so với

nhóm MAU (-) (13,09 ± 3,88 so với 9,28

± 2,98 µmol/l, p < 0,05); có tương quan thuận chặt chẽ giữa tHCy và MAU (r = 0,597, p < 0,05) [1]

Emoto M (2001) nghiên cứu 75 BN ĐTĐ týp 2 đối chứng 54 người bình thường, thấy tHCy tăng dần theo mức

độ bệnh thận từ MAU (-) đến MAU (+),

albumin niệu đại thể và suy thận; nhóm bệnh suy thận có tHCy cao hơn rõ rệt nhóm bệnh chưa suy thận (p < 0,001) và nhóm chứng (p < 0,001) [7] Nhận xét tương tự cũng được ghi nhận bởi Chico

A (1998), đồng thời có tương quan thuận chặt chẽ giữa tHCy và MAU (r = 0,66, p

< 0,001) [3] Davies L (2001) nghiên cứu

260 BN ĐTĐ týp 2 cũng phát hiện nhóm MAU (+) có tHCy cao hơn nhóm MAU

(-) (13,2 ± 7,8 so với 11,3 ± 4,6 µmol/l, p

< 0,01) [5] Looker HC (2003) so sánh 93

ca ĐTĐ týp 2 MAU (+) với 289 ca ĐTĐ

týp 2 có MAU (-) thấy tHCy cao hơn có ý

nghĩa thống kê (10,88 so với 8,99 µmol/l,

p < 0,0001) [9]

Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu

mô tả cắt ngang và tiến cứu trên BN ĐTĐ týp 2 đều chỉ ra tăng tHCy là hậu quả chủ yếu của biến chứng tổn thương thận do

Trang 9

ĐTĐ, liên quan với chỉ số MAU, MLCT,

hệ số thanh thải creatinin và mức độ bệnh

thận ĐTĐ [6], [7] HCy tự do được lọc qua

cầu thận, tái hấp thu 99% tại thận và chỉ

đào thải một lượng rất nhỏ qua thận < 1%

Suy giảm chức năng thận làm độ thanh

thải HCy, rối loạn chuyển hóa HCy tại

thận và ngoài thận (suy giảm con đường

chuyển nhóm methyl và tái methyl hóa

do khiếm khuyết chuyển hóa amino acid

chứa nhóm sulfur và/hoặc khiếm khuyết

tái methyl hóa HCy thành methionin)

gây tích lũy và tăng tHCy [13] Tuy vậy,

tHCy ở người ĐTĐ týp 2 có thể giảm so

với người bình thường đã được ghi nhận ở

giai đoạn “chớm” tổn thương thận có tăng

MLCT [13], [14] Do đó, một số tác giả

xem HCy là 1 marker phản ánh suy giảm

chức năng thận ở người ĐTĐ [14] Cũng

có một số tác giả cho rằng tăng tHCy liên

quan tăng nguy cơ MAU (+) ở ĐTĐ týp 2,

vì thế có thể tHCy có vai trò nguyên nhân

trong bệnh sinh bệnh thận ĐTĐ [3], [4],

[9] Kiểm soát tHCy hợp lý ở người ĐTĐ

có thể tạo điều kiện ngăn chặn suy giảm

chức năng thận

Chico A (1998) cho rằng có mối liên

quan giữa tăng tHCy với tăng AER ở BN

ĐTĐ, đặc biệt người ĐTĐ týp 2 và đề ra

giả thiết liên kết giữa tăng tHCy và sự

xuất hiện MAU, bệnh thận ĐTĐ [3]

Looker HC (2003) phân tích tHCy

của 396 BN ĐTĐ týp 2 trong nghiên cứu

dọc 1982 - 2000 thấy trong 229 ca không

có bệnh thận ĐTĐ, 152 ca MAU (-) tại

thời điểm ban đầu có 101 ca tiến triển

bệnh thận ĐTĐ (ACR ≥ 300 mg/g) sau

8,6 năm, 48 ca xuất hiện MAU (+) sau 9,8

năm Tác giả kết luận tăng tHCy liên quan tăng tần suất bệnh thận ĐTĐ với IRR =

1,42 (95%CI = 1,09 - 1,84, p = 0,01) và IRR = 1,39 (95%CI = 1,04 - 1,86, p =

0,03); tăng tần suất xuất hiện MAU (+)

với IRR = 1,6 (95%CI = 1,01 - 2,54, p <

0,05) và IRR = 1,96 (95%CI = 1,17 - 3,3,

p < 0,05) sau hiệu chỉnh tuổi, giới và thời

gian mắc ĐTĐ [9]

Cho EH (2008) theo dõi dọc 887 BN

ĐTĐ týp 2 có MAU (-) tại thời điểm ban

đầu thấy 76 ca xuất hiện MAU (+) sau 36

± 11,7 tháng, so sánh với 152 ca không

có MAU (+) tương đồng về tuổi và giới thấy nhóm xuất hiện MAU (+) có tHCy cao hơn có ý nghĩa thống kê nhóm không

có MAU (+) trong thời gian nghiên cứu (11,8 ± 3,7 so với 10,3 ± 3,1 µmol/l, p = 0,003) Tác giả cho rằng tăng tHCy liên quan tăng nguy cơ MAU (+) ở BN ĐTĐ

týp 2 với OR = 5,167 (95% CI, 1,898 -

14,067, p = 0,001), tHCy cao có thể đóng

vai trò là một nguyên nhân bệnh sinh gây tổn thương thận sớm ở người ĐTĐ [4] Trong nghiên cứu, nhóm ĐTĐ có MAU (+) hoặc suy thận đều có chỉ số chức năng thận kém hơn (eGFR giảm, nồng độ creatinin máu cao) có ý nghĩa (p

< 0,05) so với nhóm ĐTĐ MAU (-), nhóm

ĐTĐ không suy thận Điều này giải thích kết quả nghiên cứu của chúng tôi Do thiết

kế nghiên cứu cắt ngang, chúng tôi cũng không thể xác định mối quan hệ nguyên

nhân - kết quả của tăng tHCy và tình trạng

tổn thương thận Chúng tôi cho rằng giữ tHCy ở mức hợp lý cũng có thể góp phần nào dự phòng và làm chậm tiến triển bệnh thận ĐTĐ

Trang 10

KẾT LUẬN:

Qua nghiên cứu mối liên quan biến

đổi tHCy với một số YTNC tim mạch ở

61 BN ĐTĐ týp 2, chúng tôi nhận thấy:

- tHCy liên quan không có ý nghĩa

thống kê với BMI, THA, rối loạn lipid máu

- Nhóm bệnh kiểm soát HA > 130/80

mmHg, MAU (+), BTM có tHCy cao hơn

có ý nghĩa so với nhóm bệnh kiểm soát HA

≤ 130/80 mmHg, MAU (-), không BTM

- tHCy tăng dần có ý nghĩa thống kê

theo theo mức độ nặng của BTM

Tỷ lệ tăng homocystein máu gia tăng

3,45 lần khi kèm theo THA Sự xuất hiện

của MAU (+), BTM làm gia tăng nguy

cơ tăng homocystein máu lên 4,14 lần và

3,87 lần

tHCy tương quan thuận mức độ vừa

có ý nghĩa thống kê với nồng độ ure máu;

tương quan thuận chặt chẽ có ý nghĩa

thống kê với nồng độ creatinin máu; tương

quan nghịch mức độ vừa có ý nghĩa thống

kê với mức lọc cầu thận ước tính, tương

quan thuận chặt chẽ với nồng độ LDL-C

máu

Nói tóm lại, kết quả nghiên cứu cho

thấy ở BN ĐTĐ týp 2 kèm theo một số

yếu tố nguy cơ tim mạch (kiểm soát huyết

áp chưa đạt mục tiêu, microalbumin niệu

(+), giảm MLCT do bệnh thận mạn) sẽ

góp phần làm tăng nguy cơ tăng nồng độ

homocystein máu - một yếu tố nguy cơ

tim mạch độc lập đã được chứng minh

làm tăng nguy cơ biễn cố tim mạch và tử

vong trong dân số nói chung và BN ĐTĐ

nói riêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Quang Thanh (2008),

“Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ homocysteine máu với microalbumin niệu và độ dày lớp trung mạc động mạch cảnh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2”, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ chuyên khoa

II, Trường Đại học y Hà Nội, 75 trang

2 Dương Thị Tuyết, Nguyễn Thị Hương, Phạm Thiện Ngọc (2008), “Nồng

độ homocystein máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, Tập 53, Số 1 2008, trang 71-76

3 Chico A., Pørez A., Córdoba A et al (1998), “ Plasma homocysteine is related

to albumin excretion rate in patients with diabetes mellitus: a new link between diabetic nephropathy and cardiovascular disease ?”, Diabetologia 1998 Jun; 41(6): pp.684-93

4 Cho E.H., Kim E.H., Kim W.G et

al (2010), “Homocysteine as a Risk Factor for Development of Microalbuminuria

in Type 2 Diabetes”, Korean Diabetes

J 2010 Jun; 34(3): pp.200-6

5 Davies L., Wilmshurst E.G., Mcelduff A et al (2001), “The Relationship Among Homocysteine, Creatinine Clearance, and Albuminuria in Patients With Type 2 Diabetes”, Diabetes Care 2001 Oct; 24(10): pp.1805-9

6 Duncan G.E., Li S.M and Zhou X.H (2005), “Age and kidney function are the primary correlates of fasting plasma total homocysteine levels in non-diabetic and diabetic adults Results from the 1999–2002 National Health and Nutrition Examination Survey”, Nutr Metab (Lond) 2005 May 26;2:13

Ngày đăng: 31/10/2020, 13:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Nồng độ tHCy của hai nhóm nghiên cứu - Mối liên quan giữa nồng độ homocystein máu với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
Bảng 3.1. Nồng độ tHCy của hai nhóm nghiên cứu (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm