1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý CBQL và giáo viên mầm non GVMN; 2 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục; 3 Tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp GDMN; 4
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ DIỄM THI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ DIỄM THI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ TRỌNG HÁCH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học, dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế và các tài liệu đã được công bố
Thừa Thiên Huế, ngày 15 tháng 6 năm 2019
Học viên
Trần Thị Diễm Thi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:
- Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Vũ Trọng Hách đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi hoàn thành Luận văn này
- Ban Giám đốc, các Khoa chuyên môn, Phòng, Ban, cán bộ, giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập
và nghiên cứu tại Học viện
- Lãnh đạo, cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong việc nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
- Các đồng nghiệp đã chia sẻ kiến thức cũng như tạo điều kiện về mặt thời gian, công việc để tôi có thời gian nghiên cứu, hoàn thành Luận văn
Do năng lực và thời gian còn hạn chế nên Luận văn này có thể còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong tiếp tục nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các anh chị đồng nghiệp để công trình nghiên cứu của tôi ngày càng hoàn thiện hơn
Học viên
Trần Thị Diễm Thi
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ
Danh mục hình ảnh, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MẦM NON 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.1.1 Giáo dục mầm non 11
1.1.2 Quản lý nhà nước 13
1.1.3 Quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 14
1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 15
1.2.1 Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân 15
1.2.2 Quản lý nhà nước về giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển của giáo dục mầm non theo đúng định hướng của đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước 17
1.2.3 Những tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đến quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non 18
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 19
1.4 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 20
1.4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 20
Trang 61.4.2 Các cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước về giáo dục 21
1.4.3 Phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mầm non 22
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục mầm non ở một số địa phương và bài học rút ra cho thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 22
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục mầm non ở một số địa phương 23
1.5.2 Bài học rút ra đối với thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 26
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 30
2.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Huế ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 30
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 30
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 31
2.2 Tình hình giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế 33
2.2.1 Thực trạng về quy mô phát triển giáo dục mầm non 34
2.2.2 Thực trạng về chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non 38
2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế 41
2.3.1 Thực trạng việc ban hành và phổ biến các văn bản quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 41
2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế 43 2.3.3 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên mầm non, nhân viên 50
Trang 72.3.4 Thực trạng quản lý nhà nước về công tác đầu tư xây dựng cở sở vật
chất, trang thiết bị 57
2.3.5 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục mầm non 60
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế 63
2.4.1 Kết quả đã đạt được 63
2.4.2 Hạn chế 65
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 67
Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 71
3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế 71
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế 78
3.2.1 Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chỉ đạo, ban hành và phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục mầm non 78
3.2.2 Đẩy mạnh việc thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế 81
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non 84
3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường mầm non 86
3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, việc chấp hành và giải quyết khiếu nại, vi phạm pháp luật về giáo dục mầm non 88
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNV : Bộ nội vụ CBQL : Cán bộ quản lý GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo GDMN : Giáo dục mầm non GVMN : Giáo viên mầm non HĐND : Hội đồng nhân dân QLNN : Quản lý nhà nước THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng trường công lập, trường ngoài công lập, nhóm cơ sở độc
lập trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn từ 2014 - 2018 34
Bảng 2.2: Quy mô trường lớp mầm non trên địa bàn thành phố Huế 35
Bảng 2.3: Công tác huy động trẻ ra lớp từ năm 2014 -2018 36
Bảng 2.4: Số lượng trẻ phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi trên địa bàn thành phố Huế 37
Bảng 2.5: Số trường mầm non đạt chuẩn quốc gia từ năm 2014 – 2018 38
Bảng 2.6: Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ giáo dục mầm non 39
Bảng 2.7: Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ giáo dục mầm non 40
Bảng 2.8: Số lượng cán bộ, giáo viên, nhân viên giáo dục mầm non 51
Bảng 2.9: Tỷ lệ giáo viên mầm non đạt chuẩn năm học 2017 - 2018 52
Bảng 2.10: Tình hình kiểm tra trường, cơ sở GDMN tại thành phố Huế giai đoạn 2014 -2018 61
Bảng 2.11: Kết quả xử lý vi phạm qua công tác kiểm tra đối với các trường, cơ sở giáo dục mầm non tại thành phố Huế giai đoạn 2014 -2018 62
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức phòng Giáo dục và đào tạo, thành phố Huế 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta, Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên, là nền tảng cho sự phát triển của giáo dục tiểu học và các bậc học tiếp theo, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Mục tiêu của GDMN đó là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một Có thể nói trẻ mầm non như một cây non, nếu ta trồng cây non tốt thì sau này cây lên tốt, nếu ta gieo những hạt giống tốt sẽ tạo tiền đề vững chắc cho thế hệ trẻ mai sau
Thấy rõ tầm quan trọng của bậc học mầm non, những năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) luôn chú trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ và coi chất lượng giáo dục trẻ mầm non là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với bậc học mầm non Chất lượng giáo dục trẻ mầm non quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc lớn vào sự giáo dục của trẻ trong trường mầm non Chất lượng giáo dục trẻ mầm non tốt thì trẻ sẽ thành người tốt, trở thành công dân có ích cho xã hội Ngược lại, chất lượng giáo dục trẻ mầm non không tốt thì trẻ thành người xấu, sau này trẻ sẽ thành gánh nặng cho xã hội Chính vì vậy việc giáo dục trẻ mầm non rất quan trọng đối với mỗi gia đình, mỗi nhà trường và từng quốc gia
Do vậy, trong những năm qua Nhà nước đã tập trung đầu tư rất lớn cho GDMN Năm học 2016-2017, GDMN đánh dấu một mốc quan trọng khi cả nước hoàn thành mục tiêu Phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi; đã ban hành được chương trình GDMN sau chỉnh sửa; tiếp tục triển khai có hiệu quả
Trang 11tổ chức hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; quan tâm xây dựng môi trường giáo dục, tạo cơ hội cho trẻ được vui chơi, trải nghiệm Cụ thể, tính đến tháng 6/2018, trên cả nước có 15.256 trường mẫu giáo, mầm non, nhà trẻ (công lập 12.662, ngoài công lập 2.594); có 5.306.536 trẻ mầm non (trẻ nhà trẻ 707.990, trẻ mẫu giáo 4.598.546) Cả nước hiện có 178.546 nhóm, lớp học 2 buổi/ngày, đạt 89,65% (còn 20.605 nhóm/lớp chưa học 2 buổi/ngày) Có 165.516 nhóm, lớp tổ chức bán trú, tỷ lệ 83,11%, trẻ nhà trẻ được ăn bán trú đạt 84,62%, trẻ mẫu giáo được ăn bán trú đạt 76,63%
Thành phố Huế - tỉnh Thừa Thiên Huế cũng là một trong những địa phương cùng cả nước thực hiện công tác quản lý, chỉ đạo thực thi những chính sách, đề án mà Chính Phủ, Bộ, các Sở ban ngành đề ra đem lại những thành quả tích cực
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, GDMN thành phố Huế vẫn còn những hạn chế bất cập như: việc phát triển trường lớp chưa đáp ứng được nhu cầu học tập nói chung và của con em nhân dân tại các khu công nghiệp và khu
đô thị mới phát triển trên địa bàn nói riêng Các trường mầm non mặc dù, đã được nhà nước quan tâm, hỗ trợ đầu tư nhưng vẫn luôn ở trong tình trạng quá tải học sinh, khiến chất lượng GDMN không được đảm bảo
Trong công tác quản lý, một số trường mầm non trên địa bàn chưa có những biện pháp tích cực để quản lý, đánh giá việc giáo viên thực hiện đúng nội dung, yêu cầu của chương trình GDMN mới của Bộ GD&ĐT, nhiều cơ sở còn nặng về quản lý hành chính Về đội ngũ giáo viên, đa số các trường mầm non trên địa bàn thành phố Huế còn thiếu về số lượng, thiếu cục bộ, đột biến
do những năm qua tập trung huy động trẻ để đạt chuẩn phổ cập Thiếu về số lượng lại yếu về chất lượng do nguồn giáo viên không đáp ứng được việc trong thời gian ngắn, thậm chí có người còn chưa được qua các lớp huấn luyện về chuyên môn Bên cạnh đó, mức lương của cán bộ GDMN, đặc biệt là
Trang 12các cô giáo vẫn còn khá thấp, không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống, dẫn đến nhiều người bỏ nghề, các trường khó thu hút nhân lực
Nhận thức được thực trạng trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý
nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế”, làm nội dung nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý
công của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề GDMN nói chung và quản lý nhà nước( QLNN) về GDMN nói riêng ngày càng được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm và mỗi một
đề tài, bài báo hay luận văn, luận án lại thể hiện một cách nhìn nhận vấn đề hay quan điểm khác nhau
Nhiều nhà khoa học đã công bố công trình nghiên cứu trên các tạp chí liên quan đến đề tài như:
Nguyễn Thị Nghĩa (2015), Phát triển giáo dục mầm non theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, Tạp chí giáo dục số 370/2015, tr 1-4 Hội nghị lần
thứ VIII Ban chấp hành TW Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Bài viết đã chỉ ra những cơ hội
29-và thách thức của GDMN trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển GDMN trong những năm tiếp theo (1) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên mầm non (GVMN); (2) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục; (3) Tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp GDMN; (4) Tăng cường cơ sở vật chất, phát triển mạng lưới trường lớp, tang tỉ lệ huy động trẻ; (5) Đẩy mạnh công tác xã hội hóa, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển GDMN Tác giả cho rằng đội ngũ CBQL các cấp, giáo
Trang 13viên các cấp nói chung và GDMN nói riêng phải luôn là những lực lượng tiên phong đi đầu, trên cơ sở đó vận ộng, tuyên truyền huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho GD&ĐT chính là những điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 29.[27]
Trần Thị Thanh Nhàn (2016), Quản lý hoạt động giáo dục mầm non trong các trường mầm non công lập, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Tạp
chí Thiết bị giáo dục, số 133/2016, tr 102 – 105 Trong những năm gần đây, GDMN quận Hà Đông phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Quy mô trường lớp phát triển mạnh theo hướng đa dạng hóa các loại hình Hàng năm, Phòng giáo dục đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp, đánh giá hiệu trưởng theo chuẩn hiệu trưởng trường mầm non và đánh giá đội ngũ phó hiệu trưởng nhằm đảm bảo chất lượng đội ngũ ngày càng tương xứng với trình độ đào tạo, bồi dưỡng Và tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý thực hiện chương trình trong các trường mầm non công lập quận Hà Đông: (i) Chỉ đạo và hướng dẫn cán bộ, giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp trong các trường mầm non công lập, (ii) Tăng cường bồi dưỡng cán bộ, giáo viên về chương trình GDMN; (iii) Động viên cán bộ, giáo viên phát huy sáng tạo, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức chương trình giáo dục trong trường mầm non Những biện pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường mầm non cũng như tạo sự phát triển đồng đều, công bằng cho trẻ em học ở các trường mầm non công lập nói chung và trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội nói riêng.[28]
Lê Văn Chín (2017), Thực trạng giáo dục mầm non ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Tâm lý học, số 2/2017, tr 56 – 63 GDMN là
cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng ban đầu cho
sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn
Trang 14sàng đi học cho trẻ em Cấp học mầm non ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong những năm qua đã có nhiều cố gắng đạt được nhiều thành tựu tốt Tuy vậy, cấp học này hiện nay vẫn còn bất cập, hạn chế Để GDMN phát triển, cần có chính sách đặc thù riêng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long Riêng các tỉnh trong khu vực phải biết phát huy nội lực và đẩy mạnh công tác
xã hội hóa giáo dục Theo tác giả, GDMN ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang đòi hỏi phải có những chính sách đặc thù, quan tâm đầu tư nguồn lực cho các địa phương trong vùng Hai nguồn lực chính cần tập trung là con người và tài chính Riêng nguồn lực tài chính cần có sự đầu tư từ ngân sách nhà nước và huy động toàn xã hội để phát triển giáo dục của vùng.[10]
Một số công trình nghiên cứu, luận văn, luận án có nội dung đề cập tới GDMN, quản lý hoạt động GDMN như:
Dương Thị Thanh Huyền (2005), Xã hội hóa giáo dục mầm non và những biện pháp thực hiện trên địa bàn Hà Nội, Luận án Tiến sĩ xã hội học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nêu lên thực trạng của xã hội hóa GDMN trên địa bàn thành phố Hà Nội và chủ yếu bàn về chất lượng học tập của các trường mầm non, đề tài nghiên cứu chủ yếu xoay quanh vấn
đề chất lượng giáo dục mầm non chứ ít quan tâm tới công tácquản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục mầm non hiện nay.[23]
Đinh Minh Dũng (2012), Quản lý nhà nước ở cấp huyện đối với giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở vùng đồng bằng sông Cửu Long,
luận án Tiến sĩ ngành quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống lý luận, pháp lý về quản lý nhà nước ở cấp huyện đối với GDMN, tiểu học và trung học cơ sở vùng đồng bằng sông Cửu long Trong quá trình nghiên cứu, luận án đưa ra hệ thống lý luận về phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn cấp huyện trong bối cảnh mới Luận án đã góp phần khẳng định tầm
Trang 15quan trọng, vị trí, vai trò, nội dung của quản lý nhà nước ở cấp huyện đối với GDMN, tiểu học và trung học cơ sở (THCS) (mà đã có một thời kỳ trong lịch
sử quản lý nhà nước về giáo dục đã có đề xuất nên xóa) là một cấp cơ sở, cấp khởi đầu, cấp chủ chốt trực tiếp và cũng là cấp cuối cùng trong quản lý nhà nước về giáo dục trên cả năm thành tố: Thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, tài chính công và công tác thanh tra, kiểm tra [13]
Lê Hoàng Thu Thủy (2012), Phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà
nẵng Luận văn chủ yếu hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đếnphát triển GDMN.Phân tích thực trạng phát triển GDMN trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và đề xuất một số giải pháp phát triển GDMN trên địa bàn thành phố Quy Nhơn [40]
Ngô Mỹ Linh (2014), Quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội,
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Xã hội học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở GDMN ngoài công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, tác giả đã đề xuất những giải pháp thực tiễn góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước trên lĩnh vực này như giải pháp hoạch định chính sách và triển khai thực hiện chính sách; thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở GDMN ngoài công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội [24]
Ngoài ra, còn có một số các đề tài nghiên cứu khoa học, hội thảo cũng
Trang 16khai Nghị quyết 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam, với hai nhóm vấn đề chính được quan tâm: một là, những vấn đề lý luận
và thực tiễn về chính sách hỗ trợ phát triển GDMN trong bối cảnh đổi mới, hai là, những giải pháp và các mô hình hiệu quả trong việc đổi mới, phát triển chương trình GDMN nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và trẻ mầm non có nhu cầu giáo dục đặc biệt nói riêng Các trao đổi, thảo luận tập trung về các vấn đề: (1) Cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển GDMN, đặc biệt, về nguồn lực tài chính và giải pháp xã hội hóa giáo dục; (2) Phát triển chương trình giáo dục và đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và đánh giá, đặc biệt, cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong phát triển chương trình GDMN, (3) Phát triển đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên ở các cơ sở GDMN, (4) Đảm bảo công bằng trong GDMN [22]
Trần Thị Ngọc Trâm (2013), Đổi mới quản lý cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trong quá trình hội nhập quốc tế, Đề tài khoa học và công
nghệ cấp Bộ, mã số: B2010-37- 88CT, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Về lý luận, đề tài đã làm sáng tỏ các khái niệm và thuật ngữ liên quan (quản
lý, quản lý nhà trường, quản lý cơ sở GDMN, quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập, mô hình cơ sở GDMN), làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan với đề tài: một số loại hình cơ sở GDMN ngoài công lập, vị trí và vai trò của quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập; mục tiêu và các nguyên tắc đổi mới quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập, mục tiêu và nội dung quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập, các tiêu chí và các yếu tố ảnh hưởng quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập có hiệu quả Về thực tiễn, đề tài đã nghiên cứu cơ sở pháp lý của đổi
mới quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập; nghiên cứu kinh nghiệm về quản lý
cơ sở GDMN ngoài công lập của một số nước trong khu vực và trên thế giới;
Trang 17nghiên cứu thực trạng về quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập Việt Nam hiện
nay [41]
Các công trình nghiên cứu trên có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu nghiên cứu thực trạng cấp thiết chưa nêu rõ công tác quản lý của nhà nước đến GDMN, hay chưa chỉ rõ yếu kém từ khâu quản lý dẫn đến việc thực thi các đề án của chính phủ vấp phải trở ngại khó khăn Và xét thấy đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về quản lý nhà nước về GDMN tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế Chính vì vậy, tác giả luận văn đã chọn vấn
đề này làm đề tài nghiên cứu với mong muốn góp một phần công sức luận giải vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: đề tài luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần
hoàn thiện quản lý nhà nước về GDMN tại thành phố Huế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: QLNN về GDMN trên địa bàn thành phố
Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 18+ Về thời gian nghiên cứu: từ năm học 2013– 2014 đến năm học 2017 -
2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng
các phương pháp phân tích-tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, hệ thống hóa
+ Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện có
và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về GDMN ở nước ta hiện nay (ở Chương I)
+ Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu, báo cáo chuyên môn của chính quyền và phương pháp quan sát thực tế để đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về GDMN trên địa bàn thành phố Huế (ở Chương II)
+ Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về GDMN trên địa bàn thành phố Huế trong thời gian tới (ở Chương III)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về lý luận: Đề tài đã hệ thống hóa, góp phần làm rõ các vấn
đề lý luận chung về GDMN, QLNN về GDMN, đưa ra các yếu tố tác động
đến QLNN về GDMN và sự cần thiết của QLNN đối với GDMN
- Ý nghĩa về thực tiễn:
Từ việc đi sâu nghiên cứu QLNN về GDMN trên địa bàn thành phố Huế, luận văn đã đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN về GDMN trên địa bàn thành phố Huế
Với kết quả đạt được, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập môn GDMN, quản lý nhà nước về giáo dục,
Trang 19quản lý nhà nước về xã hội, làm tài liệu tham khảo để đề xuất một số chủ trương, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về GDMN
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 20Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau:
- Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người Quá trình xã hội hoá con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có
ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân
- Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội Đó là hoạt động
có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách
- Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm Quá trình
sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp
Trang 21+ Ở cấp độ thứ tư, Giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu [23, tr2]
Và theo tác giả Nguyễn Thị Ánh: “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ bằng tri thức và khái niệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia hoạt động sản xuất và đời sống xã hội [1]
Theo PGS.TS Nguyễn Thu Linh và GS.TS Bùi Văn Nhơn, “Giáo dục
đó là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hiểu biết về thế giới khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng như hình thành nhân cách của con người Giáo dục diễn ra thường xuyên, liên tục ở nhiều môi trường hoạt động của con người (trong gia đình, nơi làm việc, trong nhà trường, trong quan hệ xã hội), trong đó, môi trường ở nhà trường có vai trò quyết định” [29, tr 67]
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có thể hiểu khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đói tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những
phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra
1.1.1.2 Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi [35, Điều 21]Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một [35, Điều 22]
Trang 22GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm: (i) Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ
ba tháng tuổi đến ba tuổi; (ii) Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi; (iii) Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi
GDMN phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông,
bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học
Vì vậy, chương trình GDMN là sự cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ
1.1.2 Quản lý nhà nước
Nhà nước ra đời là một tất yếu trong lịch sử để đảm nhận sứ mệnh cao cả
là duy trì sự ổn định, phát triển chung toàn xã hội thông qua các hoạt động quản lý Nội hàm quản lý nhà nước có thể thay đổi tùy thuộc vào chế độ chính trị, bối cảnh lịch sử hay đặc điểm văn hoá, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia qua các thời kỳ Trong xã hội có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý như: Tổ chức đảng, Nhà nước, ban lãnh đạo các tổ chức kinh
tế, xã hội, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội, nhưng so sánh hoạt động giữa các tổ chức này cho thấy quản lý nhà nước có những điểm khác biệt
Trước hết, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp;
Trang 23Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia;
Thứ ba, phạm vi quản lý nhà nước là toàn diện các lĩnh vực của đời sống
xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hoá, xă hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;
Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý, được ban hành chính sách, kế hoạch để quản
lý xã hội
Thứ năm, mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, đảm bảo
sự ổn định và phát triển của xã hội
Như vậy, khái niệm về quản lý nhà nước được hiểu là: Quản lý nhà nước
là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục
vụ nhân dân, đảm bảo sự ổn định và phát triển toàn xã hội [21, tr 59]
1.1.3 Quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
Từ các khái niệm quản lý nhà nước, GDMN, tác giả có thể đưa ra khái
niệm quản lý nhà nước về GDMN như sau: quản lý nhà nước về GDMN là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, chức năng nhiệm vụ của nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình hoạt động GDMN và mọi hành vi hoạt động của các cơ sở GDMN cũng như đội ngũ cán bộ, công chức quản lý GDMN
Quản lý nhà nước về GDMN có 03 bộ phận chính gồm: chủ thể, đối tượng và mục tiêu quản lý nhà nước về GDMN
Chủ thể quản lý nhà nước về GDMN là các cơ quan quyền lực nhà nước Tuy nhiên, chủ thể trực tiếp là bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến cơ sở được cụ thể hóa ở điều 100 của Luật Giáo dục năm 2005
Trang 24Đối tượng của quản lý nhà nước về GDMN là hệ thống giáo dục quốc dân, là mọi hoạt động GDMN trong phạm vi toàn xã hội
Mục tiêu quản lý nhà nước về GDMN là đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật trong các hoạt động giáo dục nói chung và GDMN nói riêng
Quản lý nhà nước về GDMN là một hệ thống, bao gồm: các thể chế, cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý giáo dục ở các cấp Ba bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ, chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành, tác nghiệp Cơ chế quản lý giáo dục là tập hợp hệ thống các chính sách, nguyên tắc, quy chế, chế độ… quy định các mối quan hệ, cách thức vận hành các hoạt động quản lý ở các cấp, giữa chủ thể và khách thể quản lý trong hoạt động giáo dục Có vai trò gắn kết các thành phần trong hệ thống quản lý hướng các hoạt động quản lý vào các mục tiêu quản lý, thiếu cơ chế quản lý thì hệ thống không thể vận hành được
1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
1.2.1 Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
Lứa tuổi mầm non có vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển cuộc đời của mỗi con người Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc
độ sinh lý, tâm lý vận động, tâm lý xã hội đã khẳng định sự phát triển củatrẻ
từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai
Vì vậy, GDMN là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
Trang 25Ý thức được tầm quan trọng của GDMN tới sự phát triển của trẻ nhỏ, ngành giáo dục phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo viên, cải thiện chương trình của GDMN, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao cơ sở vật chất,… nhằm mang tới cho các em một môi trường học tập tốt nhất, một môi trường có thể phát triển toàn bộ ưu điểm, kỹ năng của trẻ nhỏ
Thực tế những năm qua, do điều kiện của đất nước, ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp Do đó, ngân sách nhà nước tập trung chủ yếu cho các bậc học khác để thực hiện các mục tiêu quốc gia như: Phổ cập giáo dục tiểu học (bắt đầu từ năm 1991 đến nay) Phổ cập giáo dục Trung học (từ năm
2004 đến nay) và nâng cao chất lượng giáo dục đại học Phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi mới được chính thức đưa vào Luật giáo dục năm 2009
Như vậy, GDMN ngày càng được Đảng và nhà nước dành cho nhiều sự quan tâm, ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc GDMN, mở rộng tiếp cận đối với GDMN chất lượng cao Từ đó cũng tạo cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước ban hành được các quy chuẩn về trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ CBQL, giáo viên Phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất theo hướng chuẩn, phù hợp với điều kiện vùng miền, mỗi xã phường đều có trường mầm non đáp ứng nhu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ Đội ngũ giáo viên, CBQL được phát triển về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ
Như vậy, quản lý nhà nước về GDMN sẽ giúp cho toàn xã hội nhận thức về ý nghĩa vai trò của GDMN, nhận thức được trách nhiệm của nhà nước, của các cấp chính quyền, của xã hội, của cha mẹ trẻ và từng người dân đối với công tác chăm sóc giáo dục và sự phát triển của GDMN
Trang 261.2.2 Quản lý nhà nước về giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển của giáo dục mầm non theo đúng định hướng của đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Thông qua quản lý nhà nước về GDMN, việc thực hiện các chủ trương chính sách quốc gia nâng cao hiệu quả đầu tư cho GDMN, chú ý thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục mới được triển khai, thực hiện có hiệu quả Trên cơ sở các chính sách về GDMN, các cấp cơ sở mới tổchức triển khai thực hiện trong cộng đồng dân cư trên địa bàn Đây là nhân tốquan trọng và có vai trò quyết định đến sự nghiệp giáo dục, đảm bảo các mục tiêu, chiến lược thực thi đúng hướng và mang lại kết quả tốt nhất Điều này góp phần kiểm tra tính phù hợp của chính sách đề ra, nhằm kiến nghị sửa đổi
Quản lý nhà nước về GDMN tạo điều kiện cho người học được tham gia đầy đủ, đúng theo chương trình, kế hoạch với chất lượng tốt nhất; ngoài ra còn góp phần đảm bảo thực thi các chính sách về đào tạo bồi dưỡng, bố trí đội ngũ giáo viên, CBQL giáo dục trong các cơ sở GDMN cũng như các chế độ đãi ngộ đối với họ nhằm phát huy khả năng chuyên môn, hoàn thành tốt nhiệm vụ của nhà giáo; đồng thời góp phần huy động mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục như mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh
Ngoài ra, quản lý nhà nước về GDMN có thể được coi là khâu then chốt trong hoạt động GDMN vì nó đảm bảo thực hiên thắng lợi của mọi hoạt động GDMN, tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách con người
Trang 271.2.3 Những tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đến quản
lý nhà nước đối với giáo dục mầm non
Xu hướng toàn cầu hoá và chuyển đổi kinh tế sang hướng đáp ứng nhu cầu thị trường đang là xu thế chủ đạo của nhiều nước trên thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam Cơ chế thị trường đang dần trở thành thuật ngữ quen thuộc trong tất cả các lĩnh vực, ngay cả trong giáo dục là nơi có sự bao cấp của nhà nước cao nhất Vì vậy, ngày nay, giáo dục nói chung và GDMN nói riêng được xem là một loại dịch vụ
Bên cạnh đó, khi cả nhân loại đang bước vào thế kỷ của trí tuệ, của nền kinh tế tri thức, vấn đề con người đã được đặt ra ở tầm cao mới, coi con người
là vốn quý nhất, coi sự phát triển nguồn nhân lực con người là cuộc cách mạng trong bối cảnh thế giới đang biến động mạnh mẽ, cùng hợp tác, cùng cạnh tranh Vì vậy, chúng ta phải tập trung chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo, phát huy sức mạnh của con người Việt Nam ngay từ cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân – GDMN
Và xu hướng xã hội hóa giáo dục nói chung và GDMN nói riêng đã được đẩy mạnh trong thời gian gần đây Nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài cũng đã đầu tư phát triển dự án các cơ sở GDMN và nhận được sự quan tâm lớn của xã hội Đây là xu hướng cần được tiếp tục được đẩy mạnh, để góp phần quan trọng vào đổi mới, nâng cao chất lượng GDMN tại Việt Nam
Như vậy, khi mà GDMN được đặt trong thời kỳ hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường, bản thân GDMN cũng phải có những chuyển biến và chịu ảnh hưởng (bao gồm tích cực, tiêu cực) đề phù hợp với thời đại Do đó, càng cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước đề có thể điều tiết mọi hoạt động, định hướng cho GDMN phát triển theo các mục tiêu cụ thể, giảm thiểu các tác động tiêu cực
Trang 281.3 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
Như đã trình bày ở trên, GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy, nội dung quản lý nhà nước về GDMN là nội hàm trong nội dung quản lý nhà nước về giáo dục nói chung, được quy định tại điều 99
và điều 100 của Luật giáo dục năm 2005 Và bao gồm 05 nội dung chính sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục nói chung và GDMN nói riêng; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác;
- Tổ chức bộ máy quản lý GDMN;
-Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và CBQLGDMN;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung và GDMN nói riêng;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục nói chung và GDMN nói riêng
Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục (trong đó bao gồm cả GDMN) Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục nói riêng và GDMN nói chung
- Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về GDMN
- Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước về GDMN theo thẩm quyền
Trang 29- Uỷ ban nhân dân ( UBND) các cấp thực hiện quản lý nhà nước về GDMN theo sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả GDMN tại địa phương.[35]
1.4 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
1.4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Prawase Wasi trong tham luận về “Giáo dục cho tương lai” tại Hội nghị khoa học khu vực về Giáo dục tại Băng Cốc (8/1990) cho rằng: Giáo dục không tồn tại trong chân không Nó được quyết định bởi khung cảnh chính trị
và văn hoá, tín ngưỡng, học thuyết, kinh tế, trí lực xã hội và những nhân sinh quan chiếm ưu thế Với ý kiến này ông đã nói lên được vai trò cực kỳ quan trọng của công tác GD&ĐT, nó là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh
tế, xã hội, văn hóa cho tương lai của mọi quốc gia, mỗi dân tộc
Ngược lại nền kinh tế tăng trưởng, xã hội phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD&ĐT phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng Đây là mối quan hệ biện chứng Cụ thể như sau:
- Cơ chế thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và tốc độ phát triển của sự nghiệp giáo dục;
- Mức độ phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện
cơ sở vật chất, trang thiết bị trong tiến trình hiện đại hoá giáo dục;
-Trình độ phát triển khoa học - công nghệ;
- Truyền thống văn hoá giáo dục tác động đến phát triển giáo dục Như vậy, tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển sự nghiệp GD&ĐT nói chung và GDMN nói riêng cụ thể: quy mô, mạng lưới, chất lượng GDMN của địa phương và năng lực đầu tư cho GDMN của các
Trang 30lực lượng xã hội nên việc quản lý nhà nước về GDMN cũng một phần nào bị ảnh hưởng
1.4.2 Các cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước về giáo dục
Chính sách GD&ĐT nói chung, chính sách quản lý của nhà nước về GDMN nói riêng là một trong những chính sách xã hội cơ bản trong hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước Chính sách GDMN là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các hoạt động GDMN nhằm thực hiện các mục tiêu của nhà nước về lĩnh vực này Chính sách GDMN là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu của nhà nước về GDMN, cùng các phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đó Chính sách GD&ĐT nói chung, GDMN nói riêng có mối quan hệ biện chứng với các chính sách kinh tế, xã hội khác, đặc biệt là mối quan hệ với chính sách lao động và việc làm, chính sách an sinh xã hội
Bởi lẽ, GDMNcó vai trò quan trọng, đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Phát triển GDMN, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ em cũng là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Như vậy, khi chính sách quản lý của nhà nước về GDMN không được giải quyết tốt thì dẫn tới một thế hệ có trình độ dân trí thấp, các tệ nạn xã hội dễ phát sinh, thất nghiệp có thể tăng lên Ngoài ra, đối tượng của chính sách GDMN là trẻ em
từ 0 đến 6 tuổi, đây là vốn quý - “như búp trên cành”; là nguồn nội lực cốt lõi đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước Như vậy, nếu không có chính sách quản lý của nhà nước về GDMN đúng đắn thì sẽ không tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội
Trang 311.4.3 Phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mầm non
Giáo dục nói chung và GDMN nói riêng là ngành nghề đặc thù, nơi đào tạo, hình thành nhân cách, kỹ năng, phẩm chất con người; có ảnh hưởng lớn đến xã hội, nên rất cần một đội ngũ thầy cô giáo có đủ tâm và tài, nhất là bộ phận CBQLGDMN Bởi vì, họ là những người đại diện, điều hành, có quyền quyết định tất cả hoạt động trong cơ sở giáo dục Đơn vị nên hay hư, trì trệ hay phát triển phụ thuộc nhiều vào sách lược, khả năng chỉ đạo, triển khai của
họ Một giám đốc sở, một ban giám hiệu yếu kém, có biểu hiện tiêu cực, … nhất định sẽ kéo theo nhiều hệ lụy cho cơ sở đó
Vì vậy, vai trò của đội ngũ CBQL GDMN có tác động rất lớn đến công tác quản lí phát triển GDMN của từng địa phương, đơn vị Đó chính là những người lãnh đạo thực thi, cụ thể hóa các chủ trương,chính sách của Đảng, xác định phương hướng cho tổ chức đối với phát triển GDMN Vì vậy các nhà quản lý ngoài trình độ chuyên môn phải có tầm nhìn xa, trông rộng để đưa định hướng phù hợp cho cơ sở giáo dục, phải là những người đầu đàn trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ GDMN
Nếu như đội ngũ CBQL, chỉ đạo GDMN còn nặng về điều hành sự vụ, chưa chủ động tham mưu các chính sách, giải pháp đảm bảo điều kiện phát triển GDMN; không coi trọng đúng mức công tác quản lý chất lượng GDMN, công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát thì hoạt động quản lý nhà nước về GDMN sẽ còn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục mầm non ở một số địa phương và bài học rút ra cho thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 321.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục mầm non ở một số địa phương
1.5.1.1 Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm là việc các nhà giáo dục tạo
ra các điều kiện, các cơ hội để mọi đứa trẻ được chủ động, sáng tạo, tích cực hoạt động, tự chiếm lĩnh kiến thức và kinh nghiệm Với mục tiêu trên, năm học 2017-2018, Phòng GD&ĐT thành phố Đông Hà chỉ đạo các trường mầm non trên địa bàn chọn chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” làm trọng tâm thực hiện nhiệm vụ
Đa số các trường xây dựng môi trường vật chất trong và ngoài lớp học theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm như tạo được các góc chơi, khu vực chơi và các đồ dùng đồ chơi, học liệu khác nhau được quy hoạch phù hợp, thân thiện với trẻ, tạo được môi trường sáng tạo, sử dụng hiệu quả môi trường giáo dục trong việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non Luôn tạo cơ hội và mở rộng quan hệ giao tiếp xã hội giữa trẻ với nhiều người giúp trẻ tự tin, tích cực, hứng thú với các hoạt động giáo dục phát triển toàn diện, sưu tầm và sáng tạo nhiều trò chơi bằng cách thường xuyên thay đổi cách chơi, luật chơi để khích lệ trẻ tham gia, chủ động chơi tập - thử nghiệm với các loại thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, khuyến khích trẻ tự tạo ra đồ chơi, trò chơi theo ý tưởng riêng của mình, tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động chơi
tự do, hội thi, lễ hội để trẻ được trải nghiệm và “tập làm”
Để việc thực hiện chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” phát huy hiệu quả, bên cạnh xây dựng trong các nhà trường, thì việc tuyên truyền và phối hợp với các bậc cha mẹ và cộng đồng cũng được quan tâm Công tác tuyên truyền về giáo dục mầm non được chú trọng Các
cơ sở đã tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cha mẹ trẻ và cộng đồng về ý nghĩa của việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm
Trang 33non, tạo nhiều cơ hội cho gia đình và cộng đồng được tham gia vào các hoạt động của nhà trường Xây dựng mối quan hệ tích cực đối với gia đình trẻ, phối hợp chặt chẽ với gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ, tôn trọng sự khác biệt và nhu cầu của mỗi gia đình để có những phối hợp với từng gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ bằng nhiều hình thức, phương pháp nhằm thu hút các bậc cha mẹ và cộng đồng tham gia hiệu quả vào công tác xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non
Như vậy, xây dựng tốt môi trường giáo dục trong trường mầm non là phương tiện, điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, khả năng thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội, tạo tiền đề vững chắc cho trẻ mầm non vào học lớp 1 trường tiểu học, phù hợp với phương châm của Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo: “Học bằng chơi, chơi mà học”
1.5.1.2 Huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non huyện nhà, đáp ứng nhu cầu chăm sóc, dạy dỗ trẻ em mầm non, ngành giáo dục huyện Chợ Lách đã có những giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn của CBQL, giáo viên các trường mầm non trên địa bàn huyện
Để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp, cụm giáo dục mầm non tiến hành rà soát lại tình hình thực tế tại mỗi đơn vị Qua đó phát động phong trào
tự học, tự bồi dưỡng trong đội ngũ CBQL và GVMN nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và năng lực ngoại ngữ theo Thông tư liên tịch số 20/2015/TTLT-BGDĐT-BNVcủa Bộ nội vụ( BNV) quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp GVMN Mỗi giáo viên sẽ
tự đăng ký tham gia các lớp bồi dưỡng
Trang 34Căn cứ vào kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của Phòng GD&ĐT, các trường tổ chức xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng từng năm học Cán
bộ, giáo viên, nhân viên tự cân nhắc điều kiện cá nhân xây dựng kế hoạch đăng ký học một hoặc nhiều nội dung về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, tin học hoặc ngoại ngữ Hàng tháng, mỗi cán bộ, giáo viên báo cáo tiến độ học tập và đề xuất, kiến nghị giải pháp thực hiện trong thời gian tiếp theo Nhà trường tổ chức bình xét gương điển hình tiên tiến trong công tác tự học, tự bồi dưỡng để nhân rộng
Kinh nghiệm của ngành giáo dục huyện chính là phát huy vai trò nòng cốt trong đội ngũ CBQL và các giáo viên chủ chốt như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn và giáo viên giỏi trong tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ để làm gương, tạo hiệu ứng lan tỏa tại đơn vị Đồng thời, xây dựng nội bộ từng đơn vị thực sự đoàn kết, gắn bó, gần gũi nhằm phát huy tinh thần tương thân tương ái, giúp nhau trong học tập, bồi dưỡng Đưa nội dung học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học vào tiêu chí thi đua cá nhân và thi đua trong cụm giáo dục mầm non để mỗi cán
bộ, giáo viên phát huy tinh thần trách nhiệm đối với tập thể
Việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ CBQL và GVMN đã mang lại những ý nghĩa tích cực, trước hết là cho nhà trường, cho chính trẻ mầm non Các em được thụ hưởng cách dạy mới mà chính bản thân trở thành trung tâm trong việc dạy và học, được tạo điều kiện học tập, vui chơi sáng tạo, thoải mái, thêm yêu trường lớp
1.5.1.3 Huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm 2013, Nam Đông là huyện đầu tiên của tỉnh được công nhận phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi và luôn duy trì 100% trẻ em 5 tuổi đến lớp Để có được kết quả đó là thành quả từ công tác dân vận của cả hệ thống chính trị Nhà trường đã phối hợp với chính quyền địa phương, nhất là các trưởng thôn,
Trang 35trưởng bản… đến từng nhà, giải thích, thuyết phục, vận động phụ huynh cho con đi học đúng độ tuổi Gặp được cha mẹ các cháu cũng không dễ, phải đến vào buổi tối sau giờ lên nương, lên rẫy, và không phải chỉ đi một lần mà thuyết phục được, nhiều phụ huynh lấy lý do con còn nhỏ chưa cần học chữ, thậm chí là chưa làm giấy khai sinh nên chưa cho đi học… để từ chối Nhờ có các ban ngành từ huyện tới xã, thôn… đã cùng vào cuộc hết sức quyết liệt, đặc biệt là đội ngũ giáo viên các trường kiên trì, chịu khó, nhiệt tình và tâm huyết Như vậy, mới tạo cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi đối tượng trẻ em trên địa bàn
Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của các cháu, mỗi trường mầm non trên địa bàn đều được trang bị 5 máy vi tính, nối mạng internet; 1
bộ thiết bị đồ chơi (135 triệu đồng/bộ); khu vui chơi ngoài trời với tối thiểu 5 loại đồ chơi (trên 300 triệu đồng) Phòng GD&ĐT huyện cũng khuyến khích giáo viên và phụ huynh tự làm đồ dùng dạy học mầm non thông qua việc tổ chức các cuộc thi Nhiều năm liền, sản phẩm đồ chơi mầm non của giáo viên đại diện huyện dự thi cấp tỉnh đều đạt giải
Một trong những khó khăn đối với công tác GDMN trên địa bàn là tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng và tỉ lệ thấp còi còn cao Để nâng cao chất lượng bữa
ăn cho các em, ngoài kinh phí đóng góp hàng tháng của phụ huynh, Phòng GD&ĐT huyện huy động sự đóng góp từ các ban ngành, tổ chức xã hội, kết nối với các địa chỉ từ thiện hỗ trợ thêm gạo, sữa… cho các em Chính sách hỗ trợ giáo dục của tỉnh cho học sinh vùng khó cũng được ngành giáo dục huyện triển khai đầy đủ và hiệu quả, đối với học sinh thuộc hộ nghèo được miễn học phí và hỗ trợ tiền ăn trưa
1.5.2 Bài học rút ra đối với thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Phát triển GDMN là trách nhiệm chung của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân và toàn xã hội nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ
Trang 36em, thực hiện tốt mục tiêu " Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai", đảm bảo mục tiêu về an sinh xã hội Vì vậy, các cấp chính quyền và các ngành chức năng trên địa bàn thành phố Huế phải có trách nhiệm quản lý, tăng cường đầu
tư cho GDMN, nhà trường phối kết hợp cùng gia đình và các cấp chính quyền quan tâm, chăm lo tốt lứa tuổi mầm non, đa dạng hóa các phương thức chăm sóc giáo dục trẻ
Do đó, để đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước về GDMN tại thành phố Huế, vừa có thể mở rộng được quy mô, vừa có thể nâng cao chất lượng theo mục tiêu đào tạo của bậc học, vấn đề có ý nghĩa quan trọng đặt ra là phải phát triển đồng bộ Cụ thể như sau:
- Tập trung quản lý chuyên môn, quản lý chất lượng chăm sóc, giáo dục trong các sơ sở GDMN Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cấp trong quản lý GDMN Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến GDMN theo phân cấp quản lý
- Đổi mới, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục các cấp; nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ của các cơ sở GDMN Tăng cường công tác kiểm tra hỗ trợ chuyên môn, kiểm tra thường xuyên và đột xuất, đặc biệt đối với các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi sai phạm và kiên quyết đình chỉ các nhóm lớp tư thục không đảm bảo các điều kiện về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cải cách hành chính, giảm các hội họp không cần thiết Chỉ đạo công tác quản lý, lưu trữ và
sử dụng hồ sơ, sổ sách chuyên môn trong các cơ sở GDMN đảm bảo tinh gọn, hiệu quả, theo đúng quy định tại Điều lệ trường mầm non, không phát sinh thêm hồ sơ, sổ sách, tránh hình thức gây áp lực cho CBQL và cơ sở GDMN
Trang 37- Chỉ đạo các hội thi, các hoạt động trải nghiệm cho trẻ trong các cơ sở GDMN đảm bảo an toàn, thiết thực, hiệu quả
- Tiếp tục tăng cường chỉ đạo các cơ sở GDMN đổi mới đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ và đánh giá giáo dục mầm non theo hướng phát triển năng lực giáo viên, đặc biệt là năng lực thực hành tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ Việc đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp GVMN cần tránh hình thức và không chạy theo thành tích
- Thành phố tích cực chỉ đạo các cơ sở GDMN thực hiện đánh giá sự phát triển của trẻ theo đúng quy định của Chương trình GDMN Không khảo sát trẻ mẫu giáo 5 tuổi để chuyển tiếp lên tiểu học
- Thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý tài chính trong các cơ
sở GDMN; tăng cường các biện pháp quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trong quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển GDMN Từ một số trường lớp nhỏ lẻ, chưa có vị trí trong nền giáo dục, GDMN đã trở thành một cấp học có vị thế trong hệ thống giáo dục quốc dân từ năm 2005 đến nay.Với những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, hoạt động quản lý của nhà nước đối với GDMN đã có nhiều thay đổi
Tại chương 1 là chương cơ sở khoa học, tác giả đã đi tìm hiểu và nghiên cứu một số khái niệm cơ bản: GDMN, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về GDMN Từ đó, luận văn nêu ra sự cần thiết và những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về GDMN Và qua kinh nghiệm tại một số địa phương như huyện Chợ Lách, huyện Nam Đông, thành phố Đông Hà, tác giả
đã đúc rút ra một số bài học có thể vận dụng tại thành phố Huế
Cũng từ những khái niệm này sẽ là cơ sở để tác giả nghiên cứu thực trạng của hoạt động quản lý nhà nước về GDMN trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Huế ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
Có toạ độ địa lý là 107°31„45„„-107°38' kinh Ðông và 16°24' vĩ Bắc, thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc - Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gần tuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á
16°30'„45„„-Cách Hà Nội 675 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.060
km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ với các trung tâm kinh tế đang phát triển nhanh như khu khuyến khích phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây, thành phố Đà Nẵng, khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghiệp Dung Quốc , Huế có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối dễ dàng với thủ
đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước
Thành phố Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú và diện mạo riêng, tạo nên một không gian hấp dẫn, được xây dựng trong không gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An - Vọng Cảnh Thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ; tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên-đô thị-văn hoá lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival và các hoạt động du lịch thể thao khác nhau
Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyền thống đặc sắc với du lịch mà không một thành phố, địa danh nào ở nước ta có được; là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia Huế nằm ở vị trí trung tâm của
Trang 40các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng), gần với các thành phố cố đô của các nước trong khu vực
Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta
Tóm lại, thành phố Huế nằm ở vị trí trung độ trục giao lưu Bắc – Nam
và trên hành làng kinh tế xuyên Á (Đông – Tây), có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu, liên kết kinh tế với nhiều tỉnh, thành phố trong nước và thế giới Nằm trên “con đường di sản miền Trung” thành phố Huế vừa là nơi giàu thắng cảnh, vừa là địa bàn đa văn hóa, quy tụ nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa, công trình kiến trúc độc đáo và bảo tồn không ít giá trị văn hóa phi vật thể khác nhau Huế là thành phố đã hai lần được UNESCO công nhận là thành phố có di sản văn hóa thế giới Mặt khác, thành phố Huế là vùng đất có truyền thống hiếu học, là nơi quy tụ và đào tạo nhân tài Ngày nay, Huế đã trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học lớn của miền Trung và cả nước Như vậy, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của thành phố Huế đã có những ảnh hưởng nhất định tới giáo dục nói chung, và tất yếu là với GDMN nói riêng
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục mầm non
Thành phố Huế có 27 đơn vị hành chính gồm 27 phường: An Cựu, An Đông, An Hoà, An Tây, Hương Sơ, Kim Long, Phú Bình, Phú Cát, Phú Hậu, Phú Hiệp, Phú Hòa, Phú Hội, Trường An, Vĩnh Ninh, Phú Nhuận, Phú Thuận, Phước Vĩnh, Phường Đúc, Tây Lộc, Thuận Hòa, Thuận Lộc, Thuận Thành, Vỹ Dạ (Vĩ Dạ), Xuân Phú, Hương Long, Thủy Xuân, Thủy Biều
Thành phố Huế là 1 trong 5 thành phố trực thuộc tỉnh trên cả nước chỉ
có phường mà không có xã nào và hiện nay đây cũng là thành phố trực thuộc tỉnh đồng thời là đơn vị hành chính cấp huyện có nhiều phường nhất