1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh

9 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 322,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch và đánh giá dự báo mắc bệnh mạch vành trong 10 năm theo thang điểm Framingham ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh

Trang 1

TÓM TẮT

Cơ sở: Bệnh tim mạch là gánh nặng cho xã hội làm tiêu tốn chi phí chăm sóc và điều trị Để điều trị tốt bệnh tim mạch, vấn đề xác định nguy cơ và can thiệp sớm là phương pháp tốt nhất

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch và đánh giá dự báo mắc bệnh mạch vành trong 10 năm theo thang điểm Framingham ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang trên 219 bệnh nhân tuổi

từ 22 đến 81 (nam 83; nữ 136), được tìm hiểu các yếu tố nguy cơ tim mạch (tuổi, giới, hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường); được đo chỉ số BMI, huyết áp, glucose, cholesterol toàn phần, LDL-C, HDL-C và TG sau khi nhịn ăn 8 giờ và ước tính nguy cơ bệnh ĐMV 10 năm tới theo thang điểm Framingham

Kết quả: Tuổi trung bình nghiên cứu 52,92 ± 13,01 Tỉ lệ THA là 30,6%, ĐTĐ 17,4%, rối loạn lipid máu 72,2%, thừa cân – béo phì 56,6%, hút thuốc lá 14,2% (chỉ nam giới) Chỉ có 13,7% không có yếu tố nguy cơ tim mạch Tỉ lệ nguy cơ cao trở lên ước tính bệnh ĐMV trong 10 năm tới là 15,6% Giá trị nguy cơ bệnh ĐMV trong 10 năm tới là 10,35±8,7% (trong đó nam 14,13±10,2%; nữ 8,04±6,7% - khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0.000) Nguy cơ ước tính ĐMV 10 năm tới tăng theo tuổi; cao hơn ở nhóm có THA, ĐTĐ, hút thuốc lá, tăng cholesterol toàn phần, TG, thừa cân – béo phì so với nhóm còn lại (khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,00)

Kết luận: Tỉ lệ nguy cơ cao ước tính bệnh ĐMV 10 năm tới ở bệnh nhân điều trị tại

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH

Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tạ Thị Phước Hòa 1 , Phạm Hữu Văn 2

(1) Viện Y Dược Học Dân Tộc

(2) Bệnh viện Nhân dân 115

Người phản hồi (Corresponding): Tạ Thị Phước Hòa (hoattp75@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 6/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 17/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 2

Viện Y Dược Học Dân Tộc khá cao và có mối tương quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch.

EVALUATION SOME RISK FACTORS FOR CARDIOVASCULAR DISEASE IN THE PATIENTS AT TRADITIONAL MEDICINE INSTITUTE OF

HOCHIMINH CITY

ABSTRACT:

Background: Cardiovascular disease is a social burden that costs so much for caring and treatment To determine risk factors and early intervention are the best way for good treatment

Objective: Assessing some risk factors for cardiovascular disease and estimating 10-year coronary heart disease (CHD) risk based on Framingham score in the patients

at Traditional Medicine Institute of Hochiminh city.

Method: A prospective, cross-sectional study and analyse on 219 patients, aged

22 – 81 years (male 83, female 136), have found cardiovascular risk factors (age, sex, smoking, hypertension - HP, diabetes mellitus - DM), measured BMI score, blood pressure, glucose, total cholesterol, LDL-C, HDL-C, TG (after 8 hours without eating) and estimated 10-year CHD based on Framingham score.

Result: Average age was 52,92 ± 13,01 years The rate of HP is 30,6%, DM 17,4%, hyperlipidemia 72,2%, overweight – obeisity 56,6%, smoking 14,2% (only men) There

is only 13,7% without cardiovascular risk factors The ratio of high risk ang very high risk of estimated 10-year CHD is 15,6% The value of estimating 10-year CHD is 10,35±8,7% (male 14,13±10,2%; nữ 8,04±6,7%, with statistical significant p<0.000) The estimation of 10-year CHD increase with age and is higher in groups with HP, DM smoking, rising total cholesterol, rising TG, overweight – obeisity than the others (with statistical significant p<0.00).

Conclusion: The rate of high risk and very high risk of estimation 10-year in the pattients at Traditional Medicine Institute is not less and have relationship with cardiovascular risk factors.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tim mạch đã và đang là vấn đề

sức khỏe cộng đồng được quan tâm hàng

đầu trên thế giới, là gánh nặng cho xã hội

làm tiêu tốn chi phí chăm sóc và điều trị

hàng trăm tỷ đô la Mỹ mỗi năm Theo dự

báo và thống kê của Hội tim mạch quốc

gia Việt Nam, đến năm 2017, Việt Nam sẽ

có 1/5 dân số mắc bệnh tim mạch và tăng

huyết áp Một thống kê khác của Hội tim

mạch quốc gia Việt Nam cho thấy, cứ 3

người Việt Nam trưởng thành có 1 người

có nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chủ yếu

là mạch vành

Để điều trị tốt bệnh tim mạch, vấn

đề xác định nguy cơ và can thiệp sớm là phương pháp tốt nhất Theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), mỗi một người đều có thể mắc bệnh tim mạch đặc biệt khi tuổi trên 40 tuổi Do vậy, việc đánh giá nguy cơ bị bệnh tim mạch như thế nào là rất quan trọng

Trang 3

Tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành

phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày tiếp nhận

khoảng gần 500 lượt bệnh nhân đến điều

trị với rất nhiều dạng bệnh lý khác nhau

Câu hỏi được đặt ra là liệu có bao nhiêu

bệnh nhân đến điều trị tại Viện Y Dược

Học Dân Tộc có nguy cơ mắc bệnh tim

mạch trong đó có bệnh mạch vành Vì

vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với

các mục tiêu: Khảo sát một số nguy cơ

tim mạch và dự báo mắc bệnh mạch vành

trong 10 năm theo thang điểm

Framing-ham ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược

Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 219

bệnh nhân (nam 83, nữ 136) độ tuổi từ 18

trở lên đến khám tại Viện Y Dược Học Dân

Tộc thành phố Hồ Chí Minh trong thời

gian từ tháng 12/2015 đến tháng 3/2017

Các bệnh nhân phải có đủ tiêu chí

đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành theo

thang điểm Framingham Loại trừ các

trường hợp sau đây:

Không có đủ các chỉ tiêu đánh giá

nguy cơ bệnh ĐMV theo thang điểm

Framingham

Đang có các bệnh cấp tính hoặc mạn

tính ảnh hưởng nhất thời đến kết quả xét

nghiệm lipid máu, ảnh hưởng nhất thời

đến trị số huyết áp (như tiêu chảy mất

nước, suy kiệt nặng…) và có bệnh tiên

lượng tử vong gần (ung thư, xơ gan…)

2 Phương pháp nghiên cứu:

2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu

tiền cứu, cắt ngang mô tả có phân tích

2.2 Phương pháp tiến hành: Các đối

tượng nghiên cứu được tiến hành theo quy trình – ghi nhận đầy đủ vào bệnh án ng-hiên cứu, như sau:

Bước 1: Hỏi bệnh (tiền sử, bệnh sử, các yếu tố nguy cơ (YTNC): tăng huyết áp (THA), Đái tháo đường (ĐTĐ), hút thuốc lá)

Bước 2: Khám lâm sàng (Đo huyết

áp, cân nặng, chiều cao, chỉ số BMI) Bước 3: Thực hiện cận lâm sàng (Điện tâm đồ, định lượng Cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C, đường huyết đói)

Bước 4: Đánh giá nguy cơ bệnh bệnh động mạch vành (ĐMV) 10 năm tới theo thang điểm Framingham

2.3 Các biến số:

- Đo huyết áp: theo hướng dẫn của Hội tim mạch học Việt Nam Phân độ tăng huyết áp theo tiêu chuẩn JNC 7 (2003)

- Chỉ số hút thuốc lá: tính theo tiêu chuẩn số gói – năm

- Chỉ số BMI: theo phân độ BMI dành cho người châu Á

- Định lượng Cholesterol toàn phần, HDL-C (bắt buộc), các thành phần lipid máu khác (không bắt buộc), glucose máu: mẫu máu được lấy vào buổi sáng nhịn đói ít nhất 8 giờ, xét nghiệm tại khoa Xét nghiệm – Viện Y Dược Học Dân Tộc

- Đánh giá nguy cơ bệnh ĐMV theo thang điểm Framingham dựa vào các thông số: tuổi, giới, hút thuốc lá, chỉ số huyết áp tâm thu, chỉ số cholesterol toàn phần, chỉ số HDL-C, đang sử dụng thuốc

để điều trị huyết áp Từ đó đánh giá mức

độ nguy cơ: Rất cao: trên 30%; cao: từ 20 đến 30%; trung bình: 10 đến dưới 20%; thấp: dưới 10%

Trang 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1: Phân bố tuổi nhóm nghiên cứu

(n = 219)

Nam (n = 83)

Nữ (n = 136)

p

p = 0,159

Trung bình 52,92 ± 13,01 51,45 ± 13,74 53,82 ± 12,53 p = 0,190

Nhóm có độ tuổi từ 50 – 59 chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu Đối tượng nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn so với nam giới Phân bố độ tuổi theo giới, tuổi trung bình giữa hai giới không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >0,05)

Bảng 2: Đặc điểm một số yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi

Yếu tố nguy cơ tim mạch Chung

(n = 219)

Nam (n = 83)

Nữ (n = 136)

Trong nghiên cứu, tỉ lệ THA là 30,6% giống như thống kê về tình hình THA tại Việt Nam Tỉ lệ hút thuốc lá là 14,2% chỉ tập trung ở nam giới Tỉ lệ có rối loạn lipid máu khá cao tuy nhiên tỉ lệ có giảm HDL-C rất thấp (1,4%)

Bảng 3: Tổng hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi:

(n = 219)

Nam (n = 83)

Nữ (n = 136)

p

p = 0,061

Trang 5

Chỉ có 13,7% đối tượng nghiên cứu không có yếu tố nguy cơ Số yếu tố nguy cơ giữa hai giới không có khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 4: Nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo thang điểm Framingham

(n = 219)

Nam (n = 83)

Nữ (n = 136)

p

p = 0,000

Giá trị ước tính trung

Có đến 15,6% có nguy cơ ước tính bệnh ĐMV 10 năm tới từ cao đến rất cao Nguy cơ mắc bệnh ĐMV trong 10 năm tới của giới nam cao hơn nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,000)

Bảng 5: Giá trị nguy cơ ước tính mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo tuổi và giới tính

(n=83)

Nữ (n=136)

p

Giá trị nguy cơ ước tính bệnh động mạch vành trong 10 năm tới gia tăng theo tuổi ở cả hai giới (p<0,000), trong đó nam cao hơn nữ, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,000

Bảng 6: Giá trị nguy cơ ước tính mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo một số yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi

Tăng huyết áp 7,05 ± 6,5 17,84 ± 8,4 p = 0,0001 (< 0,000) Rối loạn lipid máu 8,37 ± 8,7 11,11 ± 8,6 p = 0,036 (< 0,05) Tăng Cholesterol 9,32 ± 8,8 11,24 ± 8,6 p = 0,103

Giảm HDL-C 10,33 ± 8,7 11,70 ± 6,8 p = 0,787

Hút thuốc lá 8,94 ± 7,8 18,87 ± 9,3 p = 0,000 (< 0,000) Đái tháo đường 8,87 ± 8,1 15,92 ± 8,8 p = 0,000 (< 0,000)

Trang 6

Giá trị nguy cơ ước tính tăng cao ở nhóm có yếu tố nguy cơ và có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có hay không có yếu tố nguy cơ (p<0,05) (trừ các yếu

tố như rối loạn lipid máu, tăng Cholesterol, giảm HDL-C)

BÀN LUẬN

Yếu tố nguy cơ tim mạch là các yếu

tố liên quan đến sự gia tăng khả năng mắc

bệnh tim mạch Một người mang một hay

nhiều yếu tố nguy cơ nào đó có nghĩa là

có sự gia tăng khả năng mắc bệnh chứ

không phải bắt buộc là chắc chắn sẽ bị

bệnh Thường các yếu tố nguy cơ hay đi

kèm nhau, thúc đẩy phát triển và làm nguy

cơ bị bệnh tăng theo cấp số nhân

Đặc điểm một số yếu tố nguy cơ tim

mạch:

Tuổi: Trong nghiên cứu của chúng tôi

(bảng 1), tuổi trung bình là 52,92 ± 13,01

(nam 51,45 ± 13,74; nữ 53,82 ± 12,53)

với độ tuổi từ 50 – 59 chiếm tỷ lệ cao nhất

trong nhóm nghiên cứu (35,6%), tỉ lệ giữa

các nhóm tuổi còn lại tương đương Kết

quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn

kết quả nghiên cứu của các tác giả như

Nguyễn Hồng Huệ [1] 55,91 ± 12,86;

Nguyễn Văn Hùng [2] 54,4 ± 11,5 Độ

tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất trong nghiên cứu

là 50 – 59 cũng tương tự như nghiên cứu

của Nguyễn Hồng Huệ, Nguyễn Thị Dung

[1]

Giới tính (bảng 1) có 83 đối tượng

nghiên cứu là nam (37,9%) và 136 đối

tượng nghiên cứu là nữ (62,1%) Kết quả

này cũng tương tự một số nghiên cứu

trong nước như Nguyễn Hồng Huệ [1]–

nam 34%, nữ 66%; Nguyễn Văn Hùng [2]

– nam 32%, nữ 68%

Tăng huyết áp: Tỉ lệ THA (bao gồm

THA đang điều trị và tăng giá trị huyết áp

tâm thu hoặc huyết áp tâm trương tại thời

điểm khảo sát theo JNC VII) trong

ng-hiên cứu là 30,6% (bảng 2) Tỉ lệ này gần tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Huệ [1] 32,8% Điều này phù hợp với nhận định của nhiều chuyên gia hàng đầu về tim mạch tại Việt Nam – tỉ lệ THA đang ngày một gia tăng và là tình trạng báo động đỏ về sức khỏe của cộng đồng

Tình trạng rối loạn lipid máu: Trong nghiên cứu của tôi, có đến 72,2% đối tượng nghiên cứu có rối loạn lipid máu (nam 26,5%; nữ 45,7%) Tỉ lệ này cao hơn nghiên cứu Nguyễn Hồng Huệ [1] 63,6%; thấp hơn nghiên cứu của Trương Thanh Sơn [3] 85,69% và Nguyễn Văn Hùng [2]

83,0%

Hút thuốc lá: Do đặc thù xã hội nên nghiên cứu của tôi chỉ ghi nhận được tình trạng hút thuốc lá tập trung phổ biến

ở nam giới Có 14,2% đối tượng nghiên cứu hút thuốc (bảng 2) So với các nghiên cứu khác, tỷ lệ hút thuốc lá trong nghiên cứu của tôi thấp hơn Nguyễn Hồng Huệ

[1] 19,6%; tương đương với Nguyễn Văn Hùng [2] 13,5%; cao hơn Trương Thanh Sơn [3] 8,06%

Đái tháo đường: Tỉ lệ ĐTĐ trong

ng-hiên cứu của tôi ước tính khoảng 17,4%

(bảng 2) Kết quả nghiên cứu của tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Huệ [1] 31,6%, cao hơn của Trương Thanh Sơn [3] 11,49%.Tại Việt Nam, tỉ lệ người mắc bệnh ĐTĐ cũng gia tăng nhanh chóng, so sánh giữa số liệu thống kê của năm 2002 và 2012 tỉ lệ ĐTĐ ở nước ta tăng tới 211%

Thừa cân – béo phì: Với đối tượng

nghiên cứu thuộc dân tộc châu Á, mức chỉ

Trang 7

số BMI được xem là thừa cân – béo phì do

WHO qui định thấp hơn người châu Âu

Ở nghiên cứu của tôi (bảng 2), nhìn chung

tỉ lệ đối tượng có mức thừa cân – béo phì

khá cao 56,6% trong đó có đến 23,7% béo

phì độ 1; 4,1% béo phì độ 2 Tỷ lệ béo phì

các mức độ trong nghiên cứu của tôi thấp

hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng

[2] 31,3%, Trương Thanh Sơn [3] 37,5%;

cao hơn Nguyễn Hồng Huệ [1] 10,2%

Số yếu tố nguy cơ tim mạch có thể

thay đổi: Trong số YTNC tim mạch có

thể thay đổi được nghiên cứu như THA,

RLLM, ĐTĐ, hút thuốc lá, béo phì; chỉ

có 13,7% không có YTNC còn lại đa số

đối tượng nghiên cứu có 1 YTNC trở lên

(86,3%), số YTNC không có sự khác biệt

giữa hai giới (bảng 3) Trong quần thể, khá

nhiều người có trên một YTNC của bệnh

ĐMV, song trên 90% các biến cố mạch

vành xảy ra ở những người có ít nhất một

YTNC [6], [7] Nói cách khác, khi không

có YTNC tim mạch nào thì khả năng mắc

bệnh ĐMV thường thấp Trong nghiên cứu của tôi, số đối tượng không có YTNC có tỷ lệ thấp (13,7%), điều đó có nghĩa là hơn 80% đối tượng tham gia nghiên cứu có thể xảy ra biến cố ĐMV Điều quan trọng hơn

là những YTNC này thường có liên quan với nhau và ảnh hưởng của chúng mang tính cộng hưởng hơn là tương tác Vì thế, việc đánh giá tần suất các YTNC đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cá nhân

có nguy cơ cao về bệnh tim mạch trong lâm sàng từ đó có thể có biện pháp phòng chống thích hợp

Nguy cơ ước tính bệnh ĐMV trong

10 năm tới theo thang điểm Framingham:

Dự báo nguy cơ bệnh ĐMV trong 10 năm tới của các đối tượng tham gia nghiên cứu của chúng tôi là 10,35 ± 8,7% (bảng 4) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hồng Huệ [1] 6,17 ± 6,06%, Nguyễn Văn Hùng

[2] 6,26 ± 7,5%, Trương Thanh Sơn [3]

8,94 ± 9,1%

Bảng 7 Nguy cơ ước tính bệnh động mạch vành trong 10 năm tới – so sánh với các tác giả khác

Mức nguy cơ

Qua bảng 7, tỉ lệ các mức nguy cơ

bệnh ĐMV trong 10 năm tới trong nghiên

cứu tương đương với kết quả nghiên cứu

của Trương Thanh Sơn [3] Bên cạnh đó

kết quả nghiên cứu cho thấy các đối tượng

nghiên cứu có nguy cơ bệnh ĐMV trong

10 năm tới có mức nguy cơ cao trở lên

chiếm tỉ lệ không nhỏ (15,6%) (bảng 5),

cao hơn hẳn kết quả của các tác giả khác như Nguyễn Hồng Huệ [1] 5,6%; Nguyễn Văn Hùng [2] 5% Điều này có thể lý giải

là do hiện nay tỉ lệ bệnh ĐMV đang có

xu hướng tăng dần ở nước ta trong những năm gần đây [4], [5]

Các yếu tố được ghi nhận là có tương quan với nguy cơ mắc bệnh động

Trang 8

mạch vành:

Nam giới có nguy cơ mắc bệnh mạch

vành 10 năm cao hơn ở nữ giới và sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,000) (bảng

4) Theo ATP III [8], ở bất kỳ lứa tuổi nào,

nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở nam cũng

cao hơn ở nữ mặc dù nguyên nhân của sự

khác biệt này vẫn chưa được biết rõ Thiết

nghĩ, có thể vấn đề hút thuốc lá ở nam cao

hơn nữ là một yếu tố góp phần gây nên sự

khác biệt này

Tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh

mạch vành 10 năm càng cao (p <0,000)

(bảng 5) Đặc điểm này cũng đã được đề

cập trong y văn Lý do chính là có thể vì

tuổi cao thường đi kèm với tăng tích tụ

vữa xơ ở động mạch vành mà vữa xơ động

mạch vành là nguyên nhân chính của phần

lớn trường hợp bệnh mạch vành [8]

Bên cạnh đó, tương tự các nghiên cứu

khác, nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên

quan giữa tình trạng có THA, ĐTĐ, hút

thuốc lá, thừa cân – béo phì với gia tăng

nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong

10 năm tới

KẾT LUẬN

Qua việc khảo sát một số yếu tố nguy

cơ tim mạch đồng thời ước tính nguy cơ

bệnh động mạch vành trong 10 năm tới

theo thang điểm Framingham ở 219 bệnh

nhân bao gồm 83 nam, 136 nữ điều trị tại

Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ

Chí Minh, nghiên cứu rút ra các kết luận

sau:

1 Tỉ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch

như sau:

- Tuổi trung bình là 52,92 ± 13,01,

độ tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là từ 50 – 59

- Tỉ lệ tăng huyết áp là 30,6%, mức

tăng huyết áp có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa hai giới

- Tỉ lệ có rối loạn lipid máu ở đối tượng nghiên cứu khá cao 72,2%

- Chỉ có nam giới trong nghiên cứu hút thuốc lá (14,2%)

- Tỉ lệ đái tháo đường ở đối tượng nghiên cứu vào khoảng 17,4%

- Tình trạng thừa cân – béo phì chiếm tỉ lệ 56,6%, với tỉ lệ béo phì là 27,8%

2 Ước tính nguy cơ mắc bệnh động

mạch vành trong 10 năm tới theo thang điểm Framingham như sau:

- Nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới ở các đối tượng nghiên cứu lần lượt là: thấp 60,7%; trung bình 23,7%; cao 10,1%; rất cao 5,5%

- Mối liên quan đến các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm: giới, tuổi, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng cho-lesterol toàn phần, tăng triglyceride, hút thuốc lá, tình trạng thừa cân – béo phì

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Nguyễn Hồng Huệ, Nguyễn Đức

Công (2008), Nghiên cứu dự báo nguy

cơ bệnh động mạch vành trong 10 năm tới dựa theo thang điểm Framingham ở người đến khám tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, Luận văn chuyên khoa II y

học, Học viện Quân y, Hà Nội

2.Nguyễn Văn Hùng (2011), Nghiên

cứu áp dụng thang điểm Framingham để ước tính nguy cơ bệnh động mạch vành trong 10 năm tới ở những người tới khám tại bệnh viện Quận 5 thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Chuyên khoa cấp 2 Y

học, Học viện Quân y, Thành phố Hồ Chí Minh

3.Trương Thanh Sơn, Nguyễn Văn

Trang 9

Trí, Trương Quang Bình (2011),

“Ng-hiên cứu áp dụng thang điểm

Framing-ham nhằm lượng định nguy cơ bệnh động

mạch vành trong 10 năm tới tại bệnh viện

đa khoa Bình Dương’’, Tạp chí Y học

thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề Nội

khoa, tập 15, 207 – 212

4.Hoàng Văn Sỹ (2014), Ứng dụng

siêu âm nội mạch trong chẩn đoán và điều

trị can thiệp bệnh động mạch vành, Luận

án Tiến sĩ y học, Đại học Y Dược thành

phố Hồ Chí Minh

5.Phạm Viết Tuân, Nguyễn Lân Việt,

Phạm Mạnh Hùng và cs (2010), “Nghiên

cứu mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị

nội trú tại Viện tim mạch Việt Nam trong

thời gian 2003 – 2007”, Tạp chí Tim mạch

học Việt Nam, số 52, tr 11- 18.

6.Capewell S, Beaglehole R, Seddon

M, McMurray J (2000), “Explanation for

the decline in coronary heart disease mor-tality rates in Auckland, New Zealand,

between 1982 and 1983”, Circulation,

102(13), 1511-1516

7.Cooper R, Cutler J, Mosca L et al

(2000), “Trends and disparrities in coro-nary heart disease, stroke, and other car-diovascular diseases in the United states: findings of the national conference on

cardiovascular diseases prevention”, Cir-culation, 102(25), 3137-3147.

8.National Institute of Health (2004),

“The seventh report of the joint-national committee on the Prevention, Detection, Evaluation and Treatment of High Blood Pressure”, Publication No 04-5230, 64 – 69

Ngày đăng: 31/10/2020, 13:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bố tuổi nhóm nghiên cứu - Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 1 Phân bố tuổi nhóm nghiên cứu (Trang 4)
Bảng 4: Nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo thang điểm Framingham  - Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4 Nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo thang điểm Framingham (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w