Bài viết trình bày khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch và đánh giá dự báo mắc bệnh mạch vành trong 10 năm theo thang điểm Framingham ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1TÓM TẮT
Cơ sở: Bệnh tim mạch là gánh nặng cho xã hội làm tiêu tốn chi phí chăm sóc và điều trị Để điều trị tốt bệnh tim mạch, vấn đề xác định nguy cơ và can thiệp sớm là phương pháp tốt nhất
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch và đánh giá dự báo mắc bệnh mạch vành trong 10 năm theo thang điểm Framingham ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang trên 219 bệnh nhân tuổi
từ 22 đến 81 (nam 83; nữ 136), được tìm hiểu các yếu tố nguy cơ tim mạch (tuổi, giới, hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường); được đo chỉ số BMI, huyết áp, glucose, cholesterol toàn phần, LDL-C, HDL-C và TG sau khi nhịn ăn 8 giờ và ước tính nguy cơ bệnh ĐMV 10 năm tới theo thang điểm Framingham
Kết quả: Tuổi trung bình nghiên cứu 52,92 ± 13,01 Tỉ lệ THA là 30,6%, ĐTĐ 17,4%, rối loạn lipid máu 72,2%, thừa cân – béo phì 56,6%, hút thuốc lá 14,2% (chỉ nam giới) Chỉ có 13,7% không có yếu tố nguy cơ tim mạch Tỉ lệ nguy cơ cao trở lên ước tính bệnh ĐMV trong 10 năm tới là 15,6% Giá trị nguy cơ bệnh ĐMV trong 10 năm tới là 10,35±8,7% (trong đó nam 14,13±10,2%; nữ 8,04±6,7% - khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0.000) Nguy cơ ước tính ĐMV 10 năm tới tăng theo tuổi; cao hơn ở nhóm có THA, ĐTĐ, hút thuốc lá, tăng cholesterol toàn phần, TG, thừa cân – béo phì so với nhóm còn lại (khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,00)
Kết luận: Tỉ lệ nguy cơ cao ước tính bệnh ĐMV 10 năm tới ở bệnh nhân điều trị tại
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH
Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tạ Thị Phước Hòa 1 , Phạm Hữu Văn 2
(1) Viện Y Dược Học Dân Tộc
(2) Bệnh viện Nhân dân 115
Người phản hồi (Corresponding): Tạ Thị Phước Hòa (hoattp75@yahoo.com)
Ngày nhận bài: 6/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 17/9/2017
Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017
Trang 2Viện Y Dược Học Dân Tộc khá cao và có mối tương quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch.
EVALUATION SOME RISK FACTORS FOR CARDIOVASCULAR DISEASE IN THE PATIENTS AT TRADITIONAL MEDICINE INSTITUTE OF
HOCHIMINH CITY
ABSTRACT:
Background: Cardiovascular disease is a social burden that costs so much for caring and treatment To determine risk factors and early intervention are the best way for good treatment
Objective: Assessing some risk factors for cardiovascular disease and estimating 10-year coronary heart disease (CHD) risk based on Framingham score in the patients
at Traditional Medicine Institute of Hochiminh city.
Method: A prospective, cross-sectional study and analyse on 219 patients, aged
22 – 81 years (male 83, female 136), have found cardiovascular risk factors (age, sex, smoking, hypertension - HP, diabetes mellitus - DM), measured BMI score, blood pressure, glucose, total cholesterol, LDL-C, HDL-C, TG (after 8 hours without eating) and estimated 10-year CHD based on Framingham score.
Result: Average age was 52,92 ± 13,01 years The rate of HP is 30,6%, DM 17,4%, hyperlipidemia 72,2%, overweight – obeisity 56,6%, smoking 14,2% (only men) There
is only 13,7% without cardiovascular risk factors The ratio of high risk ang very high risk of estimated 10-year CHD is 15,6% The value of estimating 10-year CHD is 10,35±8,7% (male 14,13±10,2%; nữ 8,04±6,7%, with statistical significant p<0.000) The estimation of 10-year CHD increase with age and is higher in groups with HP, DM smoking, rising total cholesterol, rising TG, overweight – obeisity than the others (with statistical significant p<0.00).
Conclusion: The rate of high risk and very high risk of estimation 10-year in the pattients at Traditional Medicine Institute is not less and have relationship with cardiovascular risk factors.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tim mạch đã và đang là vấn đề
sức khỏe cộng đồng được quan tâm hàng
đầu trên thế giới, là gánh nặng cho xã hội
làm tiêu tốn chi phí chăm sóc và điều trị
hàng trăm tỷ đô la Mỹ mỗi năm Theo dự
báo và thống kê của Hội tim mạch quốc
gia Việt Nam, đến năm 2017, Việt Nam sẽ
có 1/5 dân số mắc bệnh tim mạch và tăng
huyết áp Một thống kê khác của Hội tim
mạch quốc gia Việt Nam cho thấy, cứ 3
người Việt Nam trưởng thành có 1 người
có nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chủ yếu
là mạch vành
Để điều trị tốt bệnh tim mạch, vấn
đề xác định nguy cơ và can thiệp sớm là phương pháp tốt nhất Theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), mỗi một người đều có thể mắc bệnh tim mạch đặc biệt khi tuổi trên 40 tuổi Do vậy, việc đánh giá nguy cơ bị bệnh tim mạch như thế nào là rất quan trọng
Trang 3Tại Viện Y Dược Học Dân Tộc thành
phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày tiếp nhận
khoảng gần 500 lượt bệnh nhân đến điều
trị với rất nhiều dạng bệnh lý khác nhau
Câu hỏi được đặt ra là liệu có bao nhiêu
bệnh nhân đến điều trị tại Viện Y Dược
Học Dân Tộc có nguy cơ mắc bệnh tim
mạch trong đó có bệnh mạch vành Vì
vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với
các mục tiêu: Khảo sát một số nguy cơ
tim mạch và dự báo mắc bệnh mạch vành
trong 10 năm theo thang điểm
Framing-ham ở bệnh nhân điều trị tại Viện Y Dược
Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 219
bệnh nhân (nam 83, nữ 136) độ tuổi từ 18
trở lên đến khám tại Viện Y Dược Học Dân
Tộc thành phố Hồ Chí Minh trong thời
gian từ tháng 12/2015 đến tháng 3/2017
Các bệnh nhân phải có đủ tiêu chí
đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành theo
thang điểm Framingham Loại trừ các
trường hợp sau đây:
Không có đủ các chỉ tiêu đánh giá
nguy cơ bệnh ĐMV theo thang điểm
Framingham
Đang có các bệnh cấp tính hoặc mạn
tính ảnh hưởng nhất thời đến kết quả xét
nghiệm lipid máu, ảnh hưởng nhất thời
đến trị số huyết áp (như tiêu chảy mất
nước, suy kiệt nặng…) và có bệnh tiên
lượng tử vong gần (ung thư, xơ gan…)
2 Phương pháp nghiên cứu:
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu
tiền cứu, cắt ngang mô tả có phân tích
2.2 Phương pháp tiến hành: Các đối
tượng nghiên cứu được tiến hành theo quy trình – ghi nhận đầy đủ vào bệnh án ng-hiên cứu, như sau:
Bước 1: Hỏi bệnh (tiền sử, bệnh sử, các yếu tố nguy cơ (YTNC): tăng huyết áp (THA), Đái tháo đường (ĐTĐ), hút thuốc lá)
Bước 2: Khám lâm sàng (Đo huyết
áp, cân nặng, chiều cao, chỉ số BMI) Bước 3: Thực hiện cận lâm sàng (Điện tâm đồ, định lượng Cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C, đường huyết đói)
Bước 4: Đánh giá nguy cơ bệnh bệnh động mạch vành (ĐMV) 10 năm tới theo thang điểm Framingham
2.3 Các biến số:
- Đo huyết áp: theo hướng dẫn của Hội tim mạch học Việt Nam Phân độ tăng huyết áp theo tiêu chuẩn JNC 7 (2003)
- Chỉ số hút thuốc lá: tính theo tiêu chuẩn số gói – năm
- Chỉ số BMI: theo phân độ BMI dành cho người châu Á
- Định lượng Cholesterol toàn phần, HDL-C (bắt buộc), các thành phần lipid máu khác (không bắt buộc), glucose máu: mẫu máu được lấy vào buổi sáng nhịn đói ít nhất 8 giờ, xét nghiệm tại khoa Xét nghiệm – Viện Y Dược Học Dân Tộc
- Đánh giá nguy cơ bệnh ĐMV theo thang điểm Framingham dựa vào các thông số: tuổi, giới, hút thuốc lá, chỉ số huyết áp tâm thu, chỉ số cholesterol toàn phần, chỉ số HDL-C, đang sử dụng thuốc
để điều trị huyết áp Từ đó đánh giá mức
độ nguy cơ: Rất cao: trên 30%; cao: từ 20 đến 30%; trung bình: 10 đến dưới 20%; thấp: dưới 10%
Trang 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân bố tuổi nhóm nghiên cứu
(n = 219)
Nam (n = 83)
Nữ (n = 136)
p
p = 0,159
Trung bình 52,92 ± 13,01 51,45 ± 13,74 53,82 ± 12,53 p = 0,190
Nhóm có độ tuổi từ 50 – 59 chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu Đối tượng nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn so với nam giới Phân bố độ tuổi theo giới, tuổi trung bình giữa hai giới không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >0,05)
Bảng 2: Đặc điểm một số yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi
Yếu tố nguy cơ tim mạch Chung
(n = 219)
Nam (n = 83)
Nữ (n = 136)
Trong nghiên cứu, tỉ lệ THA là 30,6% giống như thống kê về tình hình THA tại Việt Nam Tỉ lệ hút thuốc lá là 14,2% chỉ tập trung ở nam giới Tỉ lệ có rối loạn lipid máu khá cao tuy nhiên tỉ lệ có giảm HDL-C rất thấp (1,4%)
Bảng 3: Tổng hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi:
(n = 219)
Nam (n = 83)
Nữ (n = 136)
p
p = 0,061
Trang 5Chỉ có 13,7% đối tượng nghiên cứu không có yếu tố nguy cơ Số yếu tố nguy cơ giữa hai giới không có khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 4: Nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo thang điểm Framingham
(n = 219)
Nam (n = 83)
Nữ (n = 136)
p
p = 0,000
Giá trị ước tính trung
Có đến 15,6% có nguy cơ ước tính bệnh ĐMV 10 năm tới từ cao đến rất cao Nguy cơ mắc bệnh ĐMV trong 10 năm tới của giới nam cao hơn nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,000)
Bảng 5: Giá trị nguy cơ ước tính mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo tuổi và giới tính
(n=83)
Nữ (n=136)
p
Giá trị nguy cơ ước tính bệnh động mạch vành trong 10 năm tới gia tăng theo tuổi ở cả hai giới (p<0,000), trong đó nam cao hơn nữ, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,000
Bảng 6: Giá trị nguy cơ ước tính mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới theo một số yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi
Tăng huyết áp 7,05 ± 6,5 17,84 ± 8,4 p = 0,0001 (< 0,000) Rối loạn lipid máu 8,37 ± 8,7 11,11 ± 8,6 p = 0,036 (< 0,05) Tăng Cholesterol 9,32 ± 8,8 11,24 ± 8,6 p = 0,103
Giảm HDL-C 10,33 ± 8,7 11,70 ± 6,8 p = 0,787
Hút thuốc lá 8,94 ± 7,8 18,87 ± 9,3 p = 0,000 (< 0,000) Đái tháo đường 8,87 ± 8,1 15,92 ± 8,8 p = 0,000 (< 0,000)
Trang 6Giá trị nguy cơ ước tính tăng cao ở nhóm có yếu tố nguy cơ và có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có hay không có yếu tố nguy cơ (p<0,05) (trừ các yếu
tố như rối loạn lipid máu, tăng Cholesterol, giảm HDL-C)
BÀN LUẬN
Yếu tố nguy cơ tim mạch là các yếu
tố liên quan đến sự gia tăng khả năng mắc
bệnh tim mạch Một người mang một hay
nhiều yếu tố nguy cơ nào đó có nghĩa là
có sự gia tăng khả năng mắc bệnh chứ
không phải bắt buộc là chắc chắn sẽ bị
bệnh Thường các yếu tố nguy cơ hay đi
kèm nhau, thúc đẩy phát triển và làm nguy
cơ bị bệnh tăng theo cấp số nhân
Đặc điểm một số yếu tố nguy cơ tim
mạch:
Tuổi: Trong nghiên cứu của chúng tôi
(bảng 1), tuổi trung bình là 52,92 ± 13,01
(nam 51,45 ± 13,74; nữ 53,82 ± 12,53)
với độ tuổi từ 50 – 59 chiếm tỷ lệ cao nhất
trong nhóm nghiên cứu (35,6%), tỉ lệ giữa
các nhóm tuổi còn lại tương đương Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn
kết quả nghiên cứu của các tác giả như
Nguyễn Hồng Huệ [1] 55,91 ± 12,86;
Nguyễn Văn Hùng [2] 54,4 ± 11,5 Độ
tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất trong nghiên cứu
là 50 – 59 cũng tương tự như nghiên cứu
của Nguyễn Hồng Huệ, Nguyễn Thị Dung
[1]
Giới tính (bảng 1) có 83 đối tượng
nghiên cứu là nam (37,9%) và 136 đối
tượng nghiên cứu là nữ (62,1%) Kết quả
này cũng tương tự một số nghiên cứu
trong nước như Nguyễn Hồng Huệ [1]–
nam 34%, nữ 66%; Nguyễn Văn Hùng [2]
– nam 32%, nữ 68%
Tăng huyết áp: Tỉ lệ THA (bao gồm
THA đang điều trị và tăng giá trị huyết áp
tâm thu hoặc huyết áp tâm trương tại thời
điểm khảo sát theo JNC VII) trong
ng-hiên cứu là 30,6% (bảng 2) Tỉ lệ này gần tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Huệ [1] 32,8% Điều này phù hợp với nhận định của nhiều chuyên gia hàng đầu về tim mạch tại Việt Nam – tỉ lệ THA đang ngày một gia tăng và là tình trạng báo động đỏ về sức khỏe của cộng đồng
Tình trạng rối loạn lipid máu: Trong nghiên cứu của tôi, có đến 72,2% đối tượng nghiên cứu có rối loạn lipid máu (nam 26,5%; nữ 45,7%) Tỉ lệ này cao hơn nghiên cứu Nguyễn Hồng Huệ [1] 63,6%; thấp hơn nghiên cứu của Trương Thanh Sơn [3] 85,69% và Nguyễn Văn Hùng [2]
83,0%
Hút thuốc lá: Do đặc thù xã hội nên nghiên cứu của tôi chỉ ghi nhận được tình trạng hút thuốc lá tập trung phổ biến
ở nam giới Có 14,2% đối tượng nghiên cứu hút thuốc (bảng 2) So với các nghiên cứu khác, tỷ lệ hút thuốc lá trong nghiên cứu của tôi thấp hơn Nguyễn Hồng Huệ
[1] 19,6%; tương đương với Nguyễn Văn Hùng [2] 13,5%; cao hơn Trương Thanh Sơn [3] 8,06%
Đái tháo đường: Tỉ lệ ĐTĐ trong
ng-hiên cứu của tôi ước tính khoảng 17,4%
(bảng 2) Kết quả nghiên cứu của tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Huệ [1] 31,6%, cao hơn của Trương Thanh Sơn [3] 11,49%.Tại Việt Nam, tỉ lệ người mắc bệnh ĐTĐ cũng gia tăng nhanh chóng, so sánh giữa số liệu thống kê của năm 2002 và 2012 tỉ lệ ĐTĐ ở nước ta tăng tới 211%
Thừa cân – béo phì: Với đối tượng
nghiên cứu thuộc dân tộc châu Á, mức chỉ
Trang 7số BMI được xem là thừa cân – béo phì do
WHO qui định thấp hơn người châu Âu
Ở nghiên cứu của tôi (bảng 2), nhìn chung
tỉ lệ đối tượng có mức thừa cân – béo phì
khá cao 56,6% trong đó có đến 23,7% béo
phì độ 1; 4,1% béo phì độ 2 Tỷ lệ béo phì
các mức độ trong nghiên cứu của tôi thấp
hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng
[2] 31,3%, Trương Thanh Sơn [3] 37,5%;
cao hơn Nguyễn Hồng Huệ [1] 10,2%
Số yếu tố nguy cơ tim mạch có thể
thay đổi: Trong số YTNC tim mạch có
thể thay đổi được nghiên cứu như THA,
RLLM, ĐTĐ, hút thuốc lá, béo phì; chỉ
có 13,7% không có YTNC còn lại đa số
đối tượng nghiên cứu có 1 YTNC trở lên
(86,3%), số YTNC không có sự khác biệt
giữa hai giới (bảng 3) Trong quần thể, khá
nhiều người có trên một YTNC của bệnh
ĐMV, song trên 90% các biến cố mạch
vành xảy ra ở những người có ít nhất một
YTNC [6], [7] Nói cách khác, khi không
có YTNC tim mạch nào thì khả năng mắc
bệnh ĐMV thường thấp Trong nghiên cứu của tôi, số đối tượng không có YTNC có tỷ lệ thấp (13,7%), điều đó có nghĩa là hơn 80% đối tượng tham gia nghiên cứu có thể xảy ra biến cố ĐMV Điều quan trọng hơn
là những YTNC này thường có liên quan với nhau và ảnh hưởng của chúng mang tính cộng hưởng hơn là tương tác Vì thế, việc đánh giá tần suất các YTNC đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cá nhân
có nguy cơ cao về bệnh tim mạch trong lâm sàng từ đó có thể có biện pháp phòng chống thích hợp
Nguy cơ ước tính bệnh ĐMV trong
10 năm tới theo thang điểm Framingham:
Dự báo nguy cơ bệnh ĐMV trong 10 năm tới của các đối tượng tham gia nghiên cứu của chúng tôi là 10,35 ± 8,7% (bảng 4) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hồng Huệ [1] 6,17 ± 6,06%, Nguyễn Văn Hùng
[2] 6,26 ± 7,5%, Trương Thanh Sơn [3]
8,94 ± 9,1%
Bảng 7 Nguy cơ ước tính bệnh động mạch vành trong 10 năm tới – so sánh với các tác giả khác
Mức nguy cơ
Qua bảng 7, tỉ lệ các mức nguy cơ
bệnh ĐMV trong 10 năm tới trong nghiên
cứu tương đương với kết quả nghiên cứu
của Trương Thanh Sơn [3] Bên cạnh đó
kết quả nghiên cứu cho thấy các đối tượng
nghiên cứu có nguy cơ bệnh ĐMV trong
10 năm tới có mức nguy cơ cao trở lên
chiếm tỉ lệ không nhỏ (15,6%) (bảng 5),
cao hơn hẳn kết quả của các tác giả khác như Nguyễn Hồng Huệ [1] 5,6%; Nguyễn Văn Hùng [2] 5% Điều này có thể lý giải
là do hiện nay tỉ lệ bệnh ĐMV đang có
xu hướng tăng dần ở nước ta trong những năm gần đây [4], [5]
Các yếu tố được ghi nhận là có tương quan với nguy cơ mắc bệnh động
Trang 8mạch vành:
Nam giới có nguy cơ mắc bệnh mạch
vành 10 năm cao hơn ở nữ giới và sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,000) (bảng
4) Theo ATP III [8], ở bất kỳ lứa tuổi nào,
nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở nam cũng
cao hơn ở nữ mặc dù nguyên nhân của sự
khác biệt này vẫn chưa được biết rõ Thiết
nghĩ, có thể vấn đề hút thuốc lá ở nam cao
hơn nữ là một yếu tố góp phần gây nên sự
khác biệt này
Tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh
mạch vành 10 năm càng cao (p <0,000)
(bảng 5) Đặc điểm này cũng đã được đề
cập trong y văn Lý do chính là có thể vì
tuổi cao thường đi kèm với tăng tích tụ
vữa xơ ở động mạch vành mà vữa xơ động
mạch vành là nguyên nhân chính của phần
lớn trường hợp bệnh mạch vành [8]
Bên cạnh đó, tương tự các nghiên cứu
khác, nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên
quan giữa tình trạng có THA, ĐTĐ, hút
thuốc lá, thừa cân – béo phì với gia tăng
nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong
10 năm tới
KẾT LUẬN
Qua việc khảo sát một số yếu tố nguy
cơ tim mạch đồng thời ước tính nguy cơ
bệnh động mạch vành trong 10 năm tới
theo thang điểm Framingham ở 219 bệnh
nhân bao gồm 83 nam, 136 nữ điều trị tại
Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ
Chí Minh, nghiên cứu rút ra các kết luận
sau:
1 Tỉ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch
như sau:
- Tuổi trung bình là 52,92 ± 13,01,
độ tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là từ 50 – 59
- Tỉ lệ tăng huyết áp là 30,6%, mức
tăng huyết áp có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa hai giới
- Tỉ lệ có rối loạn lipid máu ở đối tượng nghiên cứu khá cao 72,2%
- Chỉ có nam giới trong nghiên cứu hút thuốc lá (14,2%)
- Tỉ lệ đái tháo đường ở đối tượng nghiên cứu vào khoảng 17,4%
- Tình trạng thừa cân – béo phì chiếm tỉ lệ 56,6%, với tỉ lệ béo phì là 27,8%
2 Ước tính nguy cơ mắc bệnh động
mạch vành trong 10 năm tới theo thang điểm Framingham như sau:
- Nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong 10 năm tới ở các đối tượng nghiên cứu lần lượt là: thấp 60,7%; trung bình 23,7%; cao 10,1%; rất cao 5,5%
- Mối liên quan đến các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm: giới, tuổi, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng cho-lesterol toàn phần, tăng triglyceride, hút thuốc lá, tình trạng thừa cân – béo phì
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Nguyễn Hồng Huệ, Nguyễn Đức
Công (2008), Nghiên cứu dự báo nguy
cơ bệnh động mạch vành trong 10 năm tới dựa theo thang điểm Framingham ở người đến khám tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, Luận văn chuyên khoa II y
học, Học viện Quân y, Hà Nội
2.Nguyễn Văn Hùng (2011), Nghiên
cứu áp dụng thang điểm Framingham để ước tính nguy cơ bệnh động mạch vành trong 10 năm tới ở những người tới khám tại bệnh viện Quận 5 thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Chuyên khoa cấp 2 Y
học, Học viện Quân y, Thành phố Hồ Chí Minh
3.Trương Thanh Sơn, Nguyễn Văn
Trang 9Trí, Trương Quang Bình (2011),
“Ng-hiên cứu áp dụng thang điểm
Framing-ham nhằm lượng định nguy cơ bệnh động
mạch vành trong 10 năm tới tại bệnh viện
đa khoa Bình Dương’’, Tạp chí Y học
thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề Nội
khoa, tập 15, 207 – 212
4.Hoàng Văn Sỹ (2014), Ứng dụng
siêu âm nội mạch trong chẩn đoán và điều
trị can thiệp bệnh động mạch vành, Luận
án Tiến sĩ y học, Đại học Y Dược thành
phố Hồ Chí Minh
5.Phạm Viết Tuân, Nguyễn Lân Việt,
Phạm Mạnh Hùng và cs (2010), “Nghiên
cứu mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị
nội trú tại Viện tim mạch Việt Nam trong
thời gian 2003 – 2007”, Tạp chí Tim mạch
học Việt Nam, số 52, tr 11- 18.
6.Capewell S, Beaglehole R, Seddon
M, McMurray J (2000), “Explanation for
the decline in coronary heart disease mor-tality rates in Auckland, New Zealand,
between 1982 and 1983”, Circulation,
102(13), 1511-1516
7.Cooper R, Cutler J, Mosca L et al
(2000), “Trends and disparrities in coro-nary heart disease, stroke, and other car-diovascular diseases in the United states: findings of the national conference on
cardiovascular diseases prevention”, Cir-culation, 102(25), 3137-3147.
8.National Institute of Health (2004),
“The seventh report of the joint-national committee on the Prevention, Detection, Evaluation and Treatment of High Blood Pressure”, Publication No 04-5230, 64 – 69