1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân một trường hợp u tuyến cận giáp cường tiết parahormone biến chứng viêm tuỵ thể nặng được chẩn đoán và điều trị thành công tại Bệnh viện Quân y 175

6 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 409,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn nguyên gây viêm tụy thường do rượu, sỏi mật, tăng lipid máu. Tăng calci máu là nguyên nhân hiếm gặp gây viêm tụy, thường là tăng calci máu thứ phát sau cường tiết parahormon do Adenoma cận giáp.

Trang 1

TÓM TẮT

Căn nguyên gây viêm tuỵ thường do rượu, sỏi mật, tăng lipid máu Tăng calci máu

là nguyên nhân hiếm gặp gây viêm tuỵ, thường là tăng calci máu thứ phát sau cường tiết parahormon do Adenoma cận giáp Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi gặp một trường hợp Adenoma tuyến cận giáp cường tiết parahormon gây tăng calci máu biến chứng viêm tuỵ thể nặng từ các gợi ý: tăng nồng độ calci máu, loãng xương, sỏi thận, sỏi tuỵ Sau phẫu thuật cắt u cận giáp, kết hợp điều trị viêm tuỵ bệnh nhân có đáp ứng tốt Chúng tôi trình bày ca bệnh với mục đích để làm rõ hơn về cơ chế bệnh sinh, mối liên quan giữa cường cận giáp và bệnh lý viêm tuỵ cũng như phương pháp điều trị.

Từ khoá: Viêm tuy, cường cận giáp nguyên phát.

A CASE OF SERVERE PANCREATITIS DUE TO PRIMARY

HYPERPARATHYROIDISM WHICH DIAGNOSED AND TREATED

WELL IN 175 MILITARY HOSPITAL

ABSTRACT

The cause of pancreatitis are largely dominated by alcohol, gallstones, hyperlipidemia Hypercalcemia is a rare cause of pancreatitis which usually secondary

to the secretion of parathyroid hormone following parathyroid adenoma We found one case of hypercalcemia due to adenoma hyperparathyroidism with development servere pancreatitis from the suggestions: Hypercalcemia, osteoporosis, kidney stones,

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP U TUYẾN CẬN GIÁP CƯỜNG TIẾT PARAHORMONE BIẾN CHỨNG VIÊM TUỴ THỂ NẶNG

ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG

TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Trần Văn Hiều 1 , Trần Hà Hiếu 1 , Nguyễn Hoàng Khải 1 ,

Nguyễn Chí Tùng 1 , Trương Đình Cẩm 1

(1) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Trần Văn Hiều (drtranvanhieu@gmail.com)

Ngày nhận bài: 3/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 12/9/2017

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017

Trang 2

pancreatic stones After resection Parathyroid adenoma, pancreatitis treatment, patient has responded well We present the case for the purpose of further clarifying the pathogenesis of the disease, the association between hyperparathyroidism and pancreatitis as well as the therapeutic approach.

Keywords: Pancretitis, primary hyperparathyroidism.

MỞ ĐẦU

Cường cận giáp nguyên phát là một

hội chứng gồm những rối loạn do tuyến

cận giáp tăng tiết parahormone, nguyên

nhân cường tuyến phần lớn do adenoma,

một phần do tăng sinh, hiếm gặp ung

thư tuyến Cường cận giáp nguyên phát

là một bệnh hiếm gặp, nữ gặp nhiều hơn

nam, tuổi từ 30 - 50 Triệu chứng chính

của cường cận giáp phụ thuộc vào hai rối

loạn là huỷ xương và tăng calci máu từ đó

gây ra hai nhóm triệu chứng: nhóm triệu

chứng tại xương (hư xương do cường cận

giáp) và nhóm triệu chứng ngoài xương

(phần lớn là hậu quả của tình trạng tăng

calci máu) Trong nhóm triệu chứng ngoài

xương, biểu hiện tại hệ thống tiêu hoá bao

gồm những rối loạn chức năng (chán ăn,

buồn nôn, khó tiêu, táo bón), loét dạ dày -

tá tràng, viêm tuỵ và sỏi tuỵ [1]

Viêm tuỵ là tình trạng tổn thương

viêm nhu mô tuỵ do tình trạng hoạt hoá

các enzyme tuỵ ngay tại tuyến tuỵ gây ra

quá trình tự tiêu Nguyên nhân gây viêm

tuỵ chiếm phần lớn là do rượu và sỏi mật

Cường tuyến cận giáp nguyên phát được

xem là nguyên nhân hiếm gặp gây viêm tuỵ

cấp hoặc viêm tuỵ mạn, tỉ lệ gặp khoảng

3,6% Có nhiều cơ chế nhưng tăng calci

đã được chẩn đoán và điều trị có hiệu quả tại Khoa Nội tiêu hoá Bệnh viện Quân Y 175

BÁO CÁO CA BỆNH

Bệnh nhân nam N V D, 56 tuổi, tiền

sử phẫu thuật lấy sỏi thận bên phải cách

6 tháng Vào viện ngày 05/06/2017 do trướng bụng, đau thượng vị, đau cột sống thắt lưng và xương đùi 2 bên Khi vào viện: Thể trạng gầy (BMI: ), không phù, không sốt

Tim nhịp đều 80 chu kỳ/ phút, huyết áp: 100/ 70 mmHg

Thông khí hai phổi rõ, không có ran Bụng cổ trướng tự do mức độ vừa, gan - lách không to, ấn thượng vị đau nhẹ, mendel (-), ấn điểm Mayo - robson không đau

Xét nghiệm thường quy:

Công thức máu:

Hồng cầu: 3,33 T/L; Hemoglobin: 83 g/l; Hematocrit: 26,9%

Bạch cầu: 8,1G/L; Neutro : 75,7% Sinh hoá máu:

Glucose : 6,4 mmol/l

Ure : 12,2 mmol/l; Creatinin: 193 micromol/l

Trang 3

Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng thấy tổn

thương tuỵ (nhu mô thô, teo nhỏ, sỏi tuỵ

và hoại tử đầu tuỵ), dịch ổ bụng lượng

nhiều, sỏi thận 2 bên

Chọc thăm dò dịch ổ bụng thấy dịch

đỏ máu không đông - bản chất dịch tiết với

nồng amylase dịch tăng cao (3070 U/L)

Nhận định đây là một trường hợp viêm

tuỵ mạn đợt cấp thể hoại tử xuất huyết có

tăng calci máu - suy thận cấp trước thận -

sỏi thận 2 bên Trước dữ kiện bệnh nhân

đau nhức nhiều xương cột sống thắt lưng,

xương đùi 2 bên kèm theo tăng calci máu

chúng tôi nghĩ tới 2 căn nguyên chính hay

gặp là cường tuyến cận giáp và bệnh đa u

tuỷ xương

Khảo sát đánh giá tổn thương xương

khung chậu, xương cột sống, xương sọ

bằng chụp X quang, tuỷ đổ và đo mật độ

xương thì chỉ thấy loãng xương vùng cột sống thắt lưng (T-score: - 3,4) Bằng siêu

âm chúng tôi phát hiện khối u cận giáp tại thuỳ dưới trái tuyến giáp, định lượng nồng

độ parahormone tăng cao trên 8 lần so với giới hạn bình thường cao (416,2 ng/ml) Hội chẩn viện đưa ra chẩn đoán xác định:

U tuyến cận giáp cường tiết parahormone biến chứng tổn thương viêm tuỵ mạn đợt cấp thể hoại tử xuất huyết tràn dịch máu ổ bụng, suy thận cấp trước thận - sỏi thận hai bên Xử trí: bệnh nhân được phẫu thuật cắt

u tuyến cận giáp kích thước 2 cm, kết quả phẫu bệnh lý adenoma tuyến Hậu phẫu, theo dõi nồng độ calci máu thường ở mức giới hạn thấp 1,8 - 1,9 mmol/l, không có biểu hiện cơn tetani, tình trạng viêm tuỵ tiến triển tốt lên, hết tràn dịch máu ổ bụng, bệnh nhân ăn uống được, tăng 10 kg/ 2 tháng

Hình 3 Hình ảnh mô bệnh học Adenoma tuyến cận giáp sau phẫu thuật

Hình 2 Hình ảnh CT cho thấy đầu tuỵ hoại tử, sỏi thận 2 bên

Hình1 Hình ảnh CT cho thấy sỏi tuỵ,

nhiều dịch ổ bụng

Trang 4

BÀN LUẬN.

Mối liên quan giữa viêm tuỵ và

cường cận giáp đã được đề cập từ lâu

trong y văn Viêm tuỵ là bệnh lý rối loạn

chức năng ngoại tiết còn cường cận giáp

do rối loạn chức năng nội tiết Có nhiều

giả thuyết nhưng chưa thật sự rõ ràng về

nguyên nhân mối quan hệ giữa hai bệnh

lý này Một số bệnh nhân cường cận giáp

đã được miêu tả có sự lắng đọng calci,

vôi hoá hình thành sỏi trong tuyến tuỵ

[7] Trong thực nghiệm, hoại tử cục bộ

tuyến tuỵ đã xảy ra bởi thử nghiệm tăng

liều hormone tuyến cận giáp [4] Ca lâm

sàng được báo cáo đầu tiên về liên quan

giữa cường cận giáp và vôi hoá tuỵ vào

năm 1974 bởi Martin và Canseco nhưng

cho đến khi Cope và cộng sự thông báo

kết quả của họ rằng viêm tuỵ được xem

là một biểu hiện khác của cường cận giáp

nguyên phát [12]

Sự xuất hiện viêm tụy sau cường

cận giáp nguyên phát là hiếm gặp với tỉ

lệ trung bình 3,6% (1,5 - 15,3%) Cường

cận giáp nguyên phát làm tăng tỉ lệ yếu

tố nguy cơ của viêm tuỵ lên 10 – 30 lần

[2], và viêm tuỵ thường xảy ra trong giai

đoạn tiến triển của bệnh lý cận giáp Cơ

chế của sự xuất hiện viêm tuỵ do cường

cận giáp nguyên phát còn nhiều tranh cãi

nhưng có thể do tăng calci máu là yếu tố

liên quan có ý nghĩa [5] Shah cho rằng

nồng độ calci máu tăng cao trên 1,3 lần so

với bình thường là một yếu tố liên quan

tới khởi phát viêm tuỵ Nồng độ calci máu

mạn nguyên nhân do rượu hoặc viêm tuỵ

vô căn [11]

Tăng calci máu gây ra một số biến chứng: tăng nồng độ calci trong dịch tuỵ làm tăng quá trình hoạt hoá trypsinogen thành trypsin trong ống tuỵ, hoạt hoá en-zym tuỵ thông qua hệ thống tiêu thể và thuỷ phân, sự kết tủa calci và đông vón với protein làm khởi nguồn viêm tuỵ Di truyền cũng được cho là một yếu tố nguy

cơ Thật vậy, đột biến gen SPINK1 (Ser-ine Protease Inhibitor Kazal type I) và gen CFTR (Cystic Fibrosis Transmembrane Conductance Regulator) thường phát triển viêm tuỵ cấp ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát [8] Trong case lâm sàng chúng tôi gặp, sự tăng nồng độ calci máu dường như là cơ chế chính gây viêm tuỵ, với nồng độ calci máu tăng 1,33 lần so với giá trị bình thường cao

Do vậy, nghiên cứu tìm hiểu những

cơ chế khác nhau, mối liên quan giữa cường cận giáp nguyên phát và viêm tuỵ

có nhiều dạng khác nhau Jacob và cộng

sự đề xuất bảng phân loại về mối liên quan này ở 4 dạng [9]: Cường cận giáp nguyên phát biểu hiện bởi viêm tuỵ cấp, cường cận giáp nguyên phát biểu lộ bởi sự xuất hiện viêm tuỵ cấp mà không có viêm tuỵ mạn, và cường cận giáp nguyên phát biểu hiện bằng viêm tuỵ cấp có hoặc không có

sự lắng đọng calci, hoặc hậu phẫu cường cận giáp nguyên phát biến chứng viêm tuỵ cấp

Trang 5

hoặc viêm tuỵ mạn Trong nghiên cứu của

Bai và cộng sự tỉ lệ viêm tuỵ mạn chiếm

35,3% [2] còn theo Diallo và cộng sự tỷ lệ

này chiếm 40% [6]

Việc chẩn đoán cường cận giáp

nguyên phát trong ca bệnh của chúng tôi

dựa vào tìm hiểu căn nguyên viêm tuỵ và

tăng nồng độ calci máu Chẩn đoán xác

định khi nồng độ PTH tăng trên 8 lần

(416,2 pg/ml) so với giá trị bình thường

(16 - 65 pg/ml) kết hợp trên siêu âm phát

hiện khối u tuyến cận giáp Nồng độ

hor-mone cận giáp ở những bệnh nhân cường

cận giáp có xảy ra viêm tuỵ cũng không

cao hơn so với những bệnh nhân chỉ cường

cận giáp nguyên phát [9] [7] Định vị tổn

thương rối loạn bài tiết được thực hiện bởi

khảo sát siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính

vùng cổ trước và có thể thực hiện xạ hình

tuyến cận giáp với chất đồng vị MIBI -

Tc - 99m Tại Western, một khảo sát được

nghiên cứu thấy rằng u tuyến (adenoma)

tuyến cận giáp gặp từ 58 - 79% các trường

hợp, cường sản chiếm 12 - 21% trong khi

u ác tính không ghi nhận trường hợp nào

[10]

Việc phát hiện cường cận giáp nguyên

phát thường dựa vào các triệu chứng của

tăng calci máu Trong đợt tiến triển bệnh

lý tuyến cận giáp, những bệnh nhân biểu

hiện viêm tuỵ thường có triệu tổn thương

ở những cơ quan khác Theo đó, sỏi thận

chiếm 42-46%, 35% trường hợp sỏi mật

[9] [10] Badhada thấy rằng lắng đọng

calci ở thận, sỏi túi mật hoặc sỏi thận, cơn

đau quặn thận, bệnh lý xương và rối loạn

tâm thần thường gặp ở những bệnh nhân

viêm tuỵ mạn do cường cận giáp nguyên

phát hơn là những trường hợp viêm tuỵ

mạn căn nguyên rượu hoặc nguyên nhân

khác [3] Bệnh nhân của chúng tôi biểu

hiện đợt cấp tính của viêm tuỵ mạn đồng thời có biểu hiện sỏi thận và loãng xương Điều trị viêm tuỵ ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát trước hết dựa vào nguyên lý điều trị viêm tuỵ cấp nặng Trong thời gian chưa tiến hành phẫu thuật tuyến cận giáp, cần thiết phải kiểm soát tích cực nồng độ calci máu bằng các biện pháp bù nước điện giải, biphosphonate và nhóm calcitonin

Phẫu thuật tuyến cận giáp cường tiết PTH sẽ làm giảm nồng độ PTH và nồng

độ calci sau mổ cần phải theo dõi chặt chẽ Sau phẫu thuật tuyến cận giáp có thể làm giảm tình trạng viêm tuỵ cấp trong tất

cả các trường hợp [10] Trong viêm tuỵ mạn, việc phẫu thuật cắt tuyến cận giáp cường tiết PTH chỉ làm hết tình trạng viêm cấp tính chứ không thể giải quyết và đảo ngược được tình trạng viêm tuỵ mạn

đã xảy ra trước đó [9] Trong ca bệnh của chúng tôi, sau khi tiến hành phẫu thuật cắt

u tuyến tuyến cận giáp thì biểu hiện đợt cấp của viêm tuỵ mạn giảm nhanh chóng, hết tràn dịch máu ổ bụng, enzyme tuỵ giảm

KẾT LUẬN

Tổn thương tuỵ xảy ra trong quá trình bệnh lý cường cận giáp là hiếm gặp Nồng

độ calci máu bình thường hoặc cao trong bệnh lý cấp hoặc mạn tính viêm tuỵ đặc biệt những trường hợp viêm tuỵ chưa rõ căn nguyên cần phải được chú ý và thăm

dò bổ sung các xét nghiệm về nội tiết học hay các bệnh lý ác tính khác

Khi cường cận giáp có biểu hiện viêm tuỵ kèm theo bên cạnh việc điều chỉnh nồng độ calci huyết, điều trị viêm tuỵ thì phẫu thuật cắt tuyến cận giáp cường tiết cần được tiến hành sớm

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Ngọc Ân (2002), “Cường cận

giáp nguyên phát”, Bệnh thấp khớp, Nhà

xuất bản y học, Hà Nội, tr 38 - 45

2 Bai H X., et al (2012),

“The association of primary

hyperparathyroidism with pancreatitis”, J

Clin Gastroenterol, 46(8), 656-61

3 Bhadada S K., et al (2008),

“Chronic pancreatitis in primary

hyperparathyroidism: comparison

with alcoholic and idiopathic chronic

pancreatitis”, J Gastroenterol Hepatol,

23(6), 959-64

4 Cope O., et al (1957), “Pancreatitis,

a diagnostic clue to hyperparathyroidism”,

Ann Surg, 145(6), 857-63

5 Curto C., et al (2009), “Pancréatite

aiguë et hyperparathyrọdie primaire :

étude multicentrique de l’Association

francophone de chirurgie endocrinienne”,

Journal de Chirurgie, 146(3), 270-274

6 Diallo I., et al (2016), “Primary

Hyperparathyroidism and Pancreatitis: A

Rare Association with Multiple Facets”,

Int Sch Res Notices, 2016, 7294274

7 Faust D B (1935), “Pancreatic

lithiasis”, Annals of Internal Medicine,

9(5), 625-637

8 Felderbauer Peter, et al (2008), “Pancreatitis Risk in Primary Hyperparathyroidism: Relation to Mutations in the SPINK1 Trypsin Inhibitor (N34S) and the Cystic Fibrosis Gene”, Am J Gastroenterol, 103(2), 368-374

9 Jacob Jubbin, et al (2006), “Does hyperparathyroidism cause pancreatitis?

A South Indian experience and a review

of published work”, Vol 76, 740-4

10 Janka-Zires M., et al (2015), “Decrease in the Prevalence of Pancreatitis Associated with Primary Hyperparathyroidism: Experience at a Tertiary Referral Center”, Rev Invest Clin, 67(3), 177-81

11 Khoo T K., et al (2009), “Acute Pancreatitis in Primary Hyperparathyroidism: A Population-Based Study”, J Clin Endocrinol Metab, 94(6), 2115-8

12 Sitges-Serra A., et al (1988),

“Pancreatitis and hyperparathyroidism”,

Br J Surg, 75(2), 158-60

Ngày đăng: 31/10/2020, 13:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. Hình ảnh mơ bệnh học Adenoma tuyến cận giáp sau phẫu  thuật.  - Nhân một trường hợp u tuyến cận giáp cường tiết parahormone biến chứng viêm tuỵ thể nặng được chẩn đoán và điều trị thành công tại Bệnh viện Quân y 175
Hình 3. Hình ảnh mơ bệnh học Adenoma tuyến cận giáp sau phẫu thuật. (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm