Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả của Misoprostol trong xử trí thai ngừng tiến triển trong tử cung dưới 12 tuần về: Tỉ lệ thành công, thời gian - liều thuốc trung bình gây sảy thai, các tác dụng phụ - biến chứng và sự hài lòng của bệnh nhân.
Trang 1TÓM TẮT
Mở đầu: Trước đây, xử trí thai ngừng tiến triển trong tử cung nhỏ hơn hoặc bằng 12 tuần đa số là hút nạo Sử dụng Misoprostol gây sảy thai ngừng tiến triển trong tử cung
là xu hướng hiện nay trên thế giới và Việt Nam.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của Misoprostol trong xử trí thai ngừng tiến triển trong tử cung dưới 12 tuần về: tỉ lệ thành công, thời gian - liều thuốc trung bình gây sảy thai, các tác dụng phụ - biến chứng và sự hài lòng của bệnh nhân.
Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu lâm sàng không nhóm chứng từ 01/02/2016 đến 31/08/2017 với 120 bệnh nhân được chẩn đoán thai ngừng tiến triển trong tử cung dưới
12 tuần tại khoa Phụ Sản Bệnh viện quân y 175 Phác đồ: Misoprostol 400 mcg ngậm dưới lưỡi mỗi 4 giờ, tối đa 6 liều trong 48 giờ.
Kết quả: Tỉ lệ thành công là 94,17% Thời gian ra thai trung bình là 9,87 ± 2,54 giờ Liều thuốc ra thai trung bình là 2,87 ± 0,98 Tác dụng phụ gồm: tiêu chảy (6,67%), buồn nôn (5,00%), nôn (4,17%), sốt (4,17%), rét run (1,33%) Biến chứng: băng huyết (0,83%), nhiễm trùng (0%)
Kết luận: Phá thai nội khoa với thai ngừng tiến triển trong tử cung dưới 12 tuần liều 400 mcg ngậm dưới lưỡi mỗi 4 giờ, tối đa 6 liều trong 48 giờ an toàn và hiệu quả.
Từ khóa: Misoprostol, thai ngừng tiến triển, ngậm dưới lưỡi.
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MISOPROSTOL TRONG XỬ TRÍ THAI NGỪNG TIẾN TRIỂN TRONG TỬ CUNG NHỎ HƠN
HOẶC BẰNG 12 TUẦN TẠI KHOA PHỤ SẢN
BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Nguyễn Thị Huyền Trang 1 , Trịnh Hồng Hạnh 1 , Huỳnh Thị Thanh Giang 1 , Nguyễn Văn Hữu 1 Nguyễn Thị Dung 1 , Đặng Thị Ngọc Hạnh 1 , Nguyễn Sơn Hải 1
(1) Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thị Huyền Trang (bstrangbv175@yahoo.com.vn)
Ngày nhận bài: 25/9/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 4/10/2017
Ngày bài báo được đăng: 25/12/2017
Trang 2EFECTIVENESS OF MISOPROSTOL TO MANAGE THE IMPROGRESSIVE UNDER 12 WEEK PREGNANCY AT THE DEPARTMENT
OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY AT MILTARY HOSPITAL 175
ABSTRACT
Background: The management of the improgressive under 12 weeks pregnancy was vaccum aspiration in the past Medical abortion with Misoprostol has been the current trend in the world and Viet Nam.
Objective: Effectiveness of Misoprostol to manage the improgressive under 12 week pregnancy: the rate of complete miscarriage, average duration of time to expultion pregnancy product, average dose using of Misoprostol; side effects, complications, and satisfaction of patients.
Methods: Prospective study - uncontrolled clinical trial 01/02/2016 to 31/08/2017 with 120 patients diagnosed improgressive under 12 week pregnancy at the departement
of obstetrics and gynecology in 175 miltary hospital Misoprostol 400 mcg sublingual every 4 hours, 6 times in 48 hours.
Results: The rate of complete miscarriage is 94,17% Average duration of time to expultion pregnancy product is 9,87 ± 2,54 hours The average dose using of Misoprostol 2,87 ± 0,98 The side effects include: diarrhea 6,67%, nausea 5%, vomiting 4,17%, fever 4,17%, numb mouth 3,33%, chills 1,33% Complications: Haemorrage (0,83%), Infection (0%)
Conclusions: Medical abortion for the improgressive under 12 week pregnancy with a dose 400 mcg Misoprostol sublingually every 4 hours, max 6 dose in 48 hours are safe and effective.
Key words: Misoprostol, improgressive pregnancy, sublingual.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai ngừng tiến triển trong tử cung là
tình trạng thai chết trong tử cung mà chưa
được tống xuất ra ngoài Thai ngừng tiến
triển thường xảy ra trong vòng 12 tuần
đầu của thai kỳ, diễn tiến có thể sảy thai tự
nhiên hoặc còn lưu lại trong tử cung cần
phải xử trí [10] Xử trí các thai kỳ ngừng
tiến triển trong tử cung dưới 12 tuần gồm
có phương pháp ngoại khoa và phương
pháp nội khoa Phương pháp ngoại khoa
là phương pháp kinh điển, gồm nong,
hút, nạo buồng tử cung Đây là thủ thuật
xâm lấn, có nguy cơ thủng tử cung, nhiễm
trùng, vô sinh, gây ảnh hưởng đến tâm lý
của người bệnh Phương pháp nội khoa
là phương pháp không xâm lấn, sử dụng thuốc Misoprostol để gây sảy thai, được
sử dụng nhiều trong những năm gần đây Trên thế giới có nhiều nghiên cứu với nhiều phác đồ khác nhau để chấm dứt thai ngừng tiến triển trong tử cung dưới
12 tuần tuổi thai Ở Việt Nam có một số nghiên cứu với liều dùng và đường dùng thuốc khác nhau: 400 mcg ngậm dưới lưỡi kết hợp 200 mcg đặt âm đạo [7], 400 mcg ngậm dưới lưỡi mỗi 4 giờ [3] Các ng-hiên cứu trên thế giới và trong nước đều cho kết quả tỉ lệ thành công cao Mặc dù Misoprostol đã được đưa vào hướng dẫn
Trang 3chuẩn quốc gia để chấm dứt thai kì nhưng
chưa có phác đồ chuẩn cho các trường
hợp thai ngừng tiến triển trong tử cung
dưới 12 tuần
Tại khoa Phụ Sản Bệnh viện quân y
175, từ trước đến tháng 2 năm 2016, tất
cả các trường hợp thai ngừng tiến triển
trong tử cung dưới 12 tuần tuổi thai đều
được chấm dứt thai kỳ bằng phương pháp
ngoại khoa Để khắc phục những nhược
điểm của phá thai ngoại khoa, nâng cao
chất lượng điều trị cho người bệnh, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu:
“ Đánh giá hiệu quả của Misoprostol
trong xử trí thai ngừng tiến triển trong tử
cung nhỏ hơn hoặc bằng 12 tuần tại khoa
Phụ Sản Bệnh viện quân y 175”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định tỉ lệ thành công của phác đồ
Misoprostol trong xử trí thai ngừng tiến
triển trong tử cung nhỏ hơn hoặc bằng 12
tuần
Xác định thời gian và liều thuốc trung
bình gây tống xuất thai
Xác định tỉ lệ các tác dụng phụ của
Misoprostol và các biến chứng
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu lâm
sàng không nhóm chứng
Đối tượng nghiên cứu: 120 thai phụ
được chẩn đoán thai ngừng tiến triển trong
tử cung ở tuổi thai nhỏ hơn hoặc bằng 12
tuần tại khoa Phụ sản Bệnh viện Quân y
175 từ đến 1/2/206 đến 30/08/2017
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
Thai ngưng tiến triển trong tử cung
có tuổi thai ≤ 12 tuần (dựa vào kinh cuối
cùng hoặc siêu âm) Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: [2], [5], [10]
Dị ứng hoặc có tiền sử dị ứng với Misoprostol
Thiếu máu nặng hoặc rối loạn đông máu
Bệnh lý nội khoa nặng: hen, tiểu đường, tăng huyết áp, suy thận, suy gan Điều trị bằng corticoid toàn thân lâu ngày
Có vết mổ cũ trên thân tử cung Phương pháp tiến hành nghiên cứu: Phương pháp tiến hành:
Xác định tuổi thai dựa vào: kinh cuối cùng, các siêu âm có trước đó và siêu âm hiện tại
Khám phụ khoa: xác định tình trạng đau bụng, ra huyết và độ mở cổ tử cung khi nhập viện Khám toàn thân phát hiện các bệnh lý đi kèm
Xét nghiệm thường qui (lưu ý xét nghiệm bilan đông chảy máu)
Sau khi đã thỏa được tiêu chuẩn chọn mẫu, bệnh nhân sẽ được tư vấn về phương pháp nội khoa, các ưu và khuyết điểm Bệnh nhân đồng ý sẽ được kí vào cam kết tham gia nghiên cứu
Phác đồ nghiên cứu:
Misoprostol dạng viên nén 200 mcg
do công ty trách nhiệm hữu hạn liên do-anh Stada- Việt Nam sản xuất, số đăng ký VD-1326-10
Liều dùng: Misoprostol 400 mcg ngậm dưới lưỡi, lặp lại mỗi 4 giờ, tổng liều tối đa 4 liều trong 24 giờ Nếu thai chưa sảy hoặc sảy thai không trọn: Miso-prostol 400 mcg ngậm dưới lưỡi tối đa 2
Trang 4liều ngày thứ 2.
Đánh giá kết quả dựa vào khám lâm
sàng và siêu âm sau 24 giờ, 48 giờ
Nếu thành công, bệnh nhân xuất viện
Nếu thất bại, chuyển phương pháp ngoại
khoa
Đánh giá kết quả:
Tiêu chuẩn thành công: Thai sảy trọn
trong 48 giờ, lâm sàng ổn định: không đau
bụng, ra máu âm đạo ít; siêu âm: không
thấy túi thai trong lòng tử cung, lòng tử
cung sạch; không có bất kì can thiệp ngoại
khoa nào
Tiêu chuẩn thất bại:
Thai không sảy hoặc sảy không trọn
trong 48 giờ; siêu âm: còn túi thai trong
lòng tử cung, hoặc còn sót nhau
Thai sảy nhưng băng huyết phải hút kiểm soát buồng tử cung cầm máu
Các chỉ tiêu nghiên cứu chính:
Tỉ lệ thành công
Thời gian và liều thuốc trung bình gây sảy thai
Đau bụng: đánh giá mức độ đau theo thang điểm “Pain Scale” [8], qui đổi về không đau, ít, vừa, nhiều, rất nhiều
Ra máu âm đạo: không ra, ít, vừa, nhiều, rất nhiều
Các tác dụng phụ: tiêu chảy, buồn nôn, nôn, đau bụng, sốt, rét run
Các biến chứng: băng huyết (ra máu
âm đạo ≥ 2 băng vệ sinh trong 1 giờ, trong
2 giờ liên tiếp) [5], nhiễm trùng
KẾT QUẢ
1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu (n = 120)
Nhóm tuổi:
≤ 20
21 – 29
31 – 39
≥ 40
19 54 37 10
15,83 45,00 30,83 8,34 Nghể nghiệp:
Công nhân Nhân viên Nội trợ Khác
75 18 12 15
62,50 15,00 10,00 12,50 75,83% các đối tượng tham gia nghiên cứu tập trung ở độ tuổi từ 21 đến 39 Nghề nghiệp chủ yếu là công nhân (62,5%)
Trang 5Bảng 2: Tiền căn sản khoa (n= 120)
Số con:
0
Tiền căn bỏ thai, sảy thai
0
Tiền căn phá thai nội khoa
Tiền căn phá thai ngoại khoa
Tiền căn phá thai nội và ngoại
khoa
36 38 1
30,00 31,67 0,83
Phần lớn các đối tượng tham gia nghiên cứu đã có ít nhất 1 con 62,50% có tiền sử
bỏ - sảy thai ít nhất 1 lần Tỉ lệ đã từng phá thai nội khoa và ngoại khoa là tương đương nhau
2 Phân bố tuổi thai và đặc điểm lâm sàng, siêu âm
Bảng 3: Tuổi thai (n = 120)
Nhóm nghiên cứu có tuổi thai từ 7 – 9 tuần là cao nhất, kế đến là nhóm có tuổi thai
từ 9 – 10 tuần
Bảng 4: Đặc điểm lâm sàng của thai ngừng phát triển trong tử cung (n = 120)
Đau bụng:
Không
Ra máu âm đạo:
Không
Cổ tử cung:
Đóng kín
Trang 6Bảng 5: Đặc điểm siêu âm
Nhóm không có phôi và có phôi thai ≤ 2 cm chiếm tỉ lệ cao 81,66%
Bảng 6: Tỷ lệ sảy thai theo tuổi thai
n (Tỉ lệ %)
Sảy thai không trọn hoặc không sảy
n (Tỉ lệ %)
Nhóm tuổi thai nhỏ hơn hoặc bằng 6 tuần có tỉ lệ sảy thai trọn cao nhất 100% Nhóm tuổi thai 11 – 12 tuần tỉ lệ thất bại cao nhất 13,33% Tỉ lệ sảy thai chung ở các nhóm tuổi thai trong nghiên cứu là 94,17%
Bảng 7: Thời gian và liều thuốc trung bình gây sảy thai
Bảng 8: Các tác dụng phụ
Tiêu chảy có tỉ lệ cao nhất là 6,67%
Trang 7Bảng 9: Mức độ ra máu sau ngậm thuốc
Trong 120 trường hợp, 83,33% ra máu âm đạo lượng ít hoặc vừa Chỉ có 0,83% ra máu âm đạo rất nhiều
Bảng 10: Mức độ đau bụng
Bảng 11: Mức độ hài lòng của bệnh nhân
94,17% bệnh nhân hài lòng hoặc rất hài lòng với phương pháp điều trị
Trong 120 trường hợp, có 1 trường hợp sảy thai băng huyết, được xử trí hút kiểm soát buồng tử cung cầm máu cấp cứu
Không có trường hợp nào bị nhiễm trùng
BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối
tượng nghiên cứu tập trung ở lứa tuổi
sinh sản từ 21 đến 39 tuổi, nghề nghiệp
phần lớn là công nhân Có 23,33% chưa
có con, phá thai bằng Misoprostol thành
công giúp tránh được can thiệp thủ thuật,
giảm stress tâm lý cho bệnh nhân Nhóm
nghiên cứu phần lớn có tuổi thai 7 – 10
tuần chiếm 88%, tương ứng với kết quả
siêu âm 81,66% túi thai không có phôi
hoặc phôi ≤ 2 cm Nghiên cứu về đặc
điểm lâm sàng của thai ngừng phát triển
trong tử cung, 100% các trường hợp cổ
tử cung đóng kín, 87,5% không đau bụng
và 85% không ra máu âm đạo Điều này chứng tỏ không có dấu hiệu nào để nhận biết là thai ngừng phát triển trong tử cung dưới 12 tuần, chỉ có đi khám thai định kỳ mới phát hiện được Kết quả này cũng cho thấy tất cả các trường hợp tham gia nghiên cứu không có dấu hiệu dọa sảy trước khi ngậm thuốc theo phác đồ
Phá thai nội khoa bằng Misoprostol đơn thuần hay kết hợp với Mifepristone đã được sử dụng phổ biến trong những năm
Trang 8gần đây Trên thế giới có nhiều nghiên
cứu về phá thai nội khoa với thai kỳ bình
thường với từng giai đoạn tuổi thai cụ
thể Tuy nhiên nghiên cứu về phá thai nội
khoa bằng Misoprostol với thai ngừng tiến
triển trong tử cung dưới 12 tuần còn nhiều
vấn đề cần tranh luận Liều dùng thuốc,
khoảng cách dùng thuốc, tiêu chí đánh giá
thành công hay thất bại cũng chưa có sự
thống nhất Thai ngừng tiến triển trong tử
cung có nhiều nguy cơ chảy máu, băng
huyết, thậm chí rối loạn đông máu khi
sảy thai Trong nghiên cứu của chúng tôi
lựa chọn liều thuốc Misoprostol 400 mcg
ngậm dưới lưỡi mỗi 4 giờ, tối đa 4 liều
trong 24 giờ Các trường hợp thai không
sảy hoặc sảy không trọn được lặp lại tối
đa 2 liều ở ngày hôm sau Theo dõi đến 48
giờ nếu thất bại sẽ chuyển hút buồng tử
cung Sở dĩ chúng tôi chọn liều trên dựa
trên dược động học của Misoprostol có
thời gian tác dụng đỉnh là 30 phút, thời
gian tác dụng là 4 giờ, và liều tối đa sử
dụng trong 24 giờ là 2200 mcg [2], [6]
Nghiên cứu của chúng tôi dùng tối đa 4
liều là 1600 mcg trong 24 giờ vì liều đầu
tiên cho bệnh nhân ngậm thuốc bắt đầu
từ 8 giờ, đến liều thứ 4 là lúc 20 giờ Sau
liều thứ 4 nếu thai chưa ra chúng tôi cho
nghỉ để ngày hôm sau ngậm thuốc tiếp vì
chúng tôi không muốn bệnh nhân ngậm
thuốc vào ban đêm, tránh lo lắng căng
thẳng cho bệnh nhân, và cũng tránh để
thời điểm sảy thai vào nửa đêm về sáng
Với phác đồ nghiên cứu của chúng
tôi cho tỉ lệ thành công cao 94,17%
Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hoàng [3]
chấm dứt thai ngừng tiến triển trong tử
cung dưới 12 tuần với phác đồ 400mcg
nhậm dưới lưỡi mỗi 4 giờ, tối đa 4 liều
trong 24 giờ có tỉ lệ thành công chung là
91,85% Nghiên cứu của Ninh Văn Minh [7] là 92,9% (đình chỉ thai nhỏ hơn hoặc bằng 12 tuần ngưng tiến triển trong tử cung với liều Misoprostol 400 mcg ngậm dưới lưỡi và đặt âm đạo 200 mcg, lặp lại liều thứ 2 sau 4 giờ) Nghiên cứu của Tang [9]xử trí thai ngừng tiến triển trong
tử cung dưới 12 tuần với liều Misoprostol
400 mcg ngậm dưới lưỡi mỗi 4 giờ, tối
đa 4 liều trong 24 giờ là 87,5% Tỉ lệ thành công trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu khác
có thể do phác đồ dùng thuốc của chúng tôi có thêm từ 1 đến 2 liều sau 24 giờ nếu thai chưa sảy hoặc sảy chưa trọn Ở nhóm tuổi thai từ 9 – 12 tuần tỉ lệ thành công là 89,36% tương đương với nghiên cứu của Bao Thị Kim Loan [1] là 88,89% (chấm dứt thai từ 9 – 12 tuần ngừng tiến triển trong tử cung bằng Misoprostol với liều 400mcg ngậm dưới lưỡi mỗi 4 giờ, tối đa
5 liều trong 24 giờ - 2015), thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Đào Thị Anh Vinh [4] là 92,36% (chấm dứt thai ngừng tiến triển trong tử cung từ 9 -12 tuần bằng Misoprostol với liều 600 mcg đặt âm đạo, lặp lại sau 4 giờ) Có thể với tuổi thai 9 -
12 tuần liều thuốc Misoprostol 600 mcg gây co bóp tử cung mạnh hơn dẫn đến sảy thai cao hơn
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả thời gian tống xuất thai trung bình là 9,87 ± 2,54 giờ, dài hơn so với nghiên cứu của Ninh Văn Minh [7] (9,4 ± 2,4 giờ) Sự khác biệt này không có ý nghĩa
vì phác đồ dùng thuốc của 2 nghiên cứu khác nhau Có thể do nghiên cứu của Ninh Văn Minh [7] dùng kết hợp Misoprostol
400 mcg ngậm dưới lưỡi và 200 mcg đặt
âm đạo nên thời gian tống xuất thai sớm hơn Số liều thuốc Misoprostol trung bình
Trang 9cần dùng là 2,87 ± 0,98 cao hơn so với
nghiên cứu của Bao Thị Kim Loan [1] là
2,62 ± 0,97 giờ Tuy nhiên sự chênh lệch
kết quả này không có ý nghĩa vì đối tượng
nghiên cứu, phác đồ nghiên cứu của 2 đề
tài không hoàn toàn giống nhau
Đánh giá mức độ đau bụng sau ngậm
thuốc theo thang điểm cho kết quả hầu
hết các đối tượng cảm thấy đau bụng ít
hoặc vừa Chỉ có 5,83% trường hợp đau
bụng nhiều, cần phải dùng thuốc giảm đau
Paracetamol 500 mg uống 1 – 2 viên là
ổn Không có trường hợp nào muốn thay
đổi phương pháp điều trị vì đau
Đánh giá mức độ máu mất, chúng
tôi đánh giá ở thời điểm sảy thai 83,33%
ra máu âm đạo lượng ít hoặc vừa Chỉ có
0,83% ra máu âm đạo nhiều (≥ 2 băng
vệ sinh trong 1 giờ, trong 2 giờ liên tiếp)
được hút kiểm soát buồng tử cung để cầm
máu
Các tác dụng phụ của Misoprostol
hầu như không đáng kể, trong đó tác dụng
phụ gặp nhiều nhất là tiêu chảy với tỉ lệ
6,67%, tương đương kết quả nghiên cứu
của Bùi Thị Thanh Hoàng cao nhất là tiêu
chảy 8,15 % [3] Nghiên cứu của Bao Thị
Kim Loan [1] có tỉ lệ tác dụng phụ cao
nhất là tiêu chảy chiếm 37,04% Các tác
dụng phụ khác như nôn, buồn nôn, sốt, rét
run không đáng kể Tất cả các tác dụng
phụ này đều nhẹ và thoáng qua, không
cần phải xử trí Điều này phù hợp với hầu
hết các nghiên cứu về tác dụng phụ của
Misoprostol trong đình chỉ thai [7]
Trong nghiên cứu có 7 trường hợp
thất bại, phải hút buồng tử cung: 5 trường
hợp bị thất bại do không ra thai (4,17%),
1 trường hợp sảy thai không trọn (0,83%),
1 trường hợp sảy thai băng huyết (0,83%)
Các trường hợp này sau hút kiểm soát
buồng tử cung đều ổn định, không có trường hợp nào phải truyền máu, nhiễm trùng
Hầu hết các đối tượng tham gia nghiên cứu đều cảm thấy rất hài lòng và hài lòng với phương pháp điều trị Chỉ có 5,83% trường hợp không hài lòng vì thất bại, chuyển phương pháp ngoại khoa
KẾT LUẬN
Nghiên cứu hiệu quả của Misoprostol với phác đồ 400 mcg ngậm dưới lưỡi tối
đa 6 liều trong 48 giờ chấm dứt thai kỳ với 120 trường hợp thai ngừng tiến triển trong tử cung nhỏ hơn hoặc bằng 12 tuần tại khoa Phụ Sản Bệnh viện quân y 175 từ 1/2/2016 đến 31/08/2017 cho kết quả:
Tỉ lệ thành công là 94,17%
Thời gian ra thai trung bình là 9,87 ± 2,54 giờ
Liều thuốc ra thai trung bình là 2,87
± 0,98 Tác dụng phụ gồm: tiêu chảy (6,67%), buồn nôn (5,00%), nôn (4,17%), sốt (4,17%), rét run (1,33%) Không có trường hợp nào cần xử trí
Biến chứng băng huyết: 0,83% - không cần truyền máu
Không có biến chứng nhiễm trùng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Bao Thị Kim Loan (2016), “Hiệu quả của Misoprostol ngậm dưới lưỡi trong
xử trí thai 9 đến 12 tuần ngừng tiến triển tại trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Bình Dương”, Y học TP Hồ Chí Minh tập 20 số 1 năm 2016:280-285
2.Bộ môn sản (2011), “Vai trò của misoprostol trong thai kỳ”, Chương trình đào tạo liên tục lần thứ 21
3.Bùi Thị Thanh Hoàng (2011), “So
Trang 10sánh hiệu quả của Misoprostol ngậm dưới
lưỡi và đặt âm đạo trong thai kỳ ngưng
tiến triển nhỏ hơn 12 tuần tuổi thai”, Y
học Tp Hồ Chí Minh tập 15 phụ bản số 1
năm 2011:34-40
4.Đào Thị Anh Vinh (2014), “Hiệu
quả của Misoprostol trong chấm dứt thai
ngừng tiến triển ≤ 9 tuần tại Bệnh viện đa
khoa Thống Nhất Đồng Nai”, Y học TP
Hồ Chí Minh tập 18 phụ bản số 1 năm
2014:121-125
5.Ninh Văn Minh (2013), “Tác dụng
của Misoprostol trong đình chỉ thai nhỏ
hơn hoặc bằng 12 tuần ngừng phát triển
trong tử cung tại bệnh viện phụ sản
Thái Bình”, Y học thực hành 869, số
5/2013:129-130
6.Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sinh sản.International
Federation of Gynecology and Obstetrics
(FIGO) (2012), Misoprostol Clinical Guidelines, www.misoprostol.org/File/ guidelines.php
7.R Morgan Griffin (2011), “Using the Pain Scale : How to talk about Pain” Pain management
8.Tang OS, Lau WN, Ng EH, Lee SW,
Ho PC (2003), “A prospective randomized study to compare the use of repeated doses
of vaginal with sublingual misoprostol in the management of first trimester silent miscarriages”, Hum Repord:18(1):176-81
Obstetricians and gynecologists, Society
of Family Planning (2014); “Clinical guidelines: Medical management of first trimester abortion” Contraception 89: 148-161