Từ tháng 10/2016 đến tháng 5/2017 tại Khoa ngoại chung - Bệnh viện Quân y 87, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiến cứu tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng( TSNQNSND) với nguồn năng lượng Laser Holmium YAG cho 40 bệnh nhân (41 niệu quản, 42 vị trí sỏi ). Có 28 nam ( 70% ), 12 nữ ( 30% ), độ tuổi trung bình: 65,22 ± 15,19 , trong đó có 1 bệnh nhân bị sỏi 2 bên, 1 bệnh nhân có 2 viên sỏi vừa ở đoạn 1/3 giữa vừa ở đoạn 1/3 trên.
Trang 1KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TÁN SỎI NIỆU QUẢN NỘI SOI NGƯỢC DÒNG BẰNG NĂNG LƯỢNG HOLMIUM LASER TẠI BỆNH
VIỆN QUÂN Y 87
Phan Đức Thanh 1 , Vũ Đình Phương 1 , Nguyễn Việt Cường 2 Tóm tắt
Từ tháng 10/2016 đến tháng 5/2017 tại Khoa ngoại chung - Bệnh viện Quân
y 87, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiến cứu tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng( TSNQNSND) với nguồn năng lượng Laser Holmium YAG cho 40 bệnh nhân (41 niệu quản, 42 vị trí sỏi ) Có 28 nam ( 70% ), 12 nữ ( 30% ), độ tuổi trung bình: 65,22 ± 15,19
, trong đó có 1 bệnh nhân bị sỏi 2 bên, 1 bệnh nhân có 2 viên sỏi vừa ở đoạn 1/3 giữa vừa
ở đoạn 1/3 trên Tỷ lệ t án sỏi thành công: 41/42 viên sỏi (97,6%), thất bại 1/42 ( 2,4%)
Tỉ lệ sạch sỏi ngay sau tán sỏi 92,7% 4 trường hợp có biến chứng nhẹ sau phẫu thuật: 2 bệnh nhân nhiễm trùng và 2 bệnh nhân đau quặn thận
Summary
THE RESULT 0F URETEROSCOPIC LITHOTRIPSY TREATMENT BY USING A 9.5F SEMIRIGID URETEROSCOPY WITH
HOLMIUM: YAG LASER AT MILITARY HOSPITAL 175
From May - 2013 to May- 2017, in General Surgical Department of the 87 Military Hospital, a prospective study was conducted in 40 patients (with 41 ureters,
42 ureteral stones) treated with ureteroscopic lithotripsy by using a 9.5F semirigid ureteroscope with holmium: YAG laser In this study, there were 40 patients: 28 males and 12 females, with a mean age of 65,22 ± 15,19 years old Bilateral ureteroscopy simultaneously were in 1 patient One patient had both middle ureteral stone and upper ureteral stone.The success rate of stone removal was 97,6% Unsuccessful was
1 Bệnh viện Quân y 87
2 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Phan Đức Thanh (phanducthanh3009@gmail.com)
Ngày nhận bài: 12/01/2018, ngày phản biện: 29/01/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2018
Trang 22,4% Stone-free rate was 92,7% Four minor postoperative complications( 10%): two patients had infections and two patients had acute postoperative pain.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi niệu quản (NQ) là một
trong những bệnh lý thường gặp của hệ
tiết niệu Ở Việt Nam sỏi NQ chiếm tỷ
lệ 28 - 40% trong bệnh lý sỏi tiết niệu
[7],[9],[13] Sỏi NQ thường gây các biến
chứng do tắc đường tiết niệu, do nhiễm
khuẩn Nếu không được điều trị kịp thời
thì chức năng thận bị suy giảm do ứ nước
thận, ứ mủ thận [1],[7],[10] Điều trị sỏi
hệ tiết niệu đã có những thành tựu đáng
kể Tán sỏi qua nội soi (Endo Uroscopic
Lithotrypsy) đã giải quyết tới 90% các
trường hợp sỏi và phẫu thuật lấy sỏi chiếm
khoảng 10% Việt Nam đã áp dụng tán
sỏi NQ nội soi ngược dòng với các nguồn
năng lượng khác nhau (xung cơ học, siêu
âm, laser ), để điều trị sỏi NQ gần như
hầu hết ở các BV lớn Trong đó nguồn tán
laser Ho: YAG có tính hiệu quả và an toàn
cao [3],[4],[14],[17],[19],[21] Tuy nhiên,
ở các bệnh viện tuyến dưới và các cơ sở
điều trị không phải là trung tâm hàng đầu
của cả nước, với điều kiện về trang thiết
bị, cơ sở vật tư điều trị và con người còn
hạn chế thì kỹ thuật này vẫn còn là một
thách thức không nhỏ Việc tiếp tục có
những nghiên cứu đánh giá về kết quả
điều trị nội soi tán sỏi NQ ngược dòng tại
các cơ sở này là hết sức cần thiết Vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “
Kết quả tán sỏi nội soi ngược dòng sử
dụng năng lượng Holmium Laser điều
trị sỏi niệu quản tại Bệnh viện Quân y 87” nhằm: Đánh giá kết quả điều trị và
tìm hiểu một số tai biến, biến chứng của phương pháp qua đó rút ra một số kinh nghiệm trong điều trị sỏi NQ bằng tán sỏi qua nội soi NQ với nguồn năng lượng Holmium Laser
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tiến cứu từ 10/2016- 5/2017 trên 40 bệnh nhân ( BN) bị sỏi niệu quản được điều trị tán sỏi nội soi ngược dòng bằng laser holmium YAG
- Tiêu chuẩn chọn bệnh : BN trưởng thành, sỏi niệu quản có kích thước: 5 - 20mm ở bất cứ vị trí nào của niệu quản, không có chống chỉ định tán sỏi nội soi Loại trừ BN sỏi niệu quản trên phụ nữ mang thai
- Chẩn đoán xác định và vị trí sỏi dựa vào KUB, siêu âm bụng,UIV hoặc CT-Scan
- Bộ dụng cụ nội soi tán sỏi niệu quản:
+ Máy soi NQ của hãng Karl-storz gồm ống soi bán cứng, kích thước 9.5
Fr, dài 43 cm, có 2 kênh thao tác và 1 kênh dẫn nước
+ Nguồn tán sỏi: Holmium Laser của hãng Accutech, bước sóng 2080nm, phát xung thành nhịp 3-10Hz, năng lượng
Trang 3thay đổi từ 500-1800Mj.
+ Dụng cụ khác: Máy X quang
C-arm, Rọ lấy sỏi, Kìm gắp sỏi, Dây
dẫn,Thông JJ: 6-7 Fr.
1 Phương pháp phẫu thuật:
- Vô cảm: Tê tủy sống( 39BN),
mê nội khí quản( 1 BN) BN nằm tư thế
sản khoa
- Tiến hành soi NQ và tán sỏi NQ
với nguồn laser Holmium YAG
2 Nội dung nghiên cứu:
- Dịch tễ: Tuổi, giới
- Xét nghiệm: Công thức bạch
cầu, ure+ creatinin máu, nước tiểu ( BC,
HC niệu)
- KUB : vị trí sỏi, kích thước sỏi,
mức độ cản quang ( so sánh mức độ cản
quang của xương sườn 12)
- UIV: Đánh giá sự bài tiết thuốc
và lưu thông thuốc bên NQ có sỏi
- Siêu âm : đánh giá mức độ thận
ứ dịch ( 4 mức độ : I, II, III, IV )
- Các ghi nhận trong phẫu thuật:
tình trạng lỗ NQ, niêm mạc NQ, polype
NQ, vấn đề đặt sonde JJ, thời gian tán sỏi,
thời gian hậu phẫu, ghi nhận những khó
khăn, tai biến, biến chứng…
3 Đánh giá kết quả
- Thành công: tán sỏi vỡ nát, các
mảnh sỏi được lấy ra hoàn toàn hay chỉ còn những mảnh vụn nhỏ < 3mm có thể
tự tiểu ra được, không có tai biến, biến chứng trong mổ Chụp KUB kiểm tra khi tái khám thấy sạch sỏi
- Thất bại: không tán được sỏi,
do các nguyên nhân như: sỏi quá rắn, sỏi chạy lên thận, tai biến trong phẫu thuật… phải chuyển phương pháp điều trị, chụp KUB khi tái khám thấy còn sỏi NQ hoặc sỏi chạy lên thận
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến cứu của chúng tôi: 40 BN bị sỏi NQ, trong đó có 1 BN
có sỏi NQ 2 bên và 1 BN có sỏi ở 2 vị trí ( chậu và lưng ) cùng một bên được TSNS Như vậy có tất cả 42 vị trí sỏi được tán với kết quả như sau:
1 Những đặc điểm chung: 1.1 Tuổi: Tuổi trung bình 65,22
± 15,19 Nhỏ nhất: 20; lớn nhất 76 tuổi Tuổi 20-60 chiếm đa số (85%), độ tuổi còn lao động Không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi (p = 0,103)
1.2 Giới
Nam (chiếm 70%) gặp nhiều hơn nữ (chiếm 30%) Tỷ lệ Nam/ Nữ = 7/3 Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,024
Trang 41.3 Tiền sử về niệu khoa:
Bảng 1 Tiền sử bệnh lý tiết niệu (n=40)
Có 7/40 BN (22,5%) có tiền sử bệnh lý tiết niệu Trong đó có 4 BN đã từng
được phẫu thuật mở lấy sỏi NQ hoặc sỏi thận
2 Những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng:
- BN vào viện với triệu chứng lâm sàng chủ yếu là đau vùng hông lưng bên bị sỏi: 30 BN ( 75,0%), các triệu chứng khác như cơn đau quặn thận, đái buốt, đái dắt, đái máu, sốt v.v gặp với tỷ lệ thấp
- Số lượng BC trung bình là 9,02 ± 2,47 Số lượng BC cao nhất 16,1 K/mL Có
1 BN có cấy khuẩn niệu dương tính với chủng E Coli
- Ure cao nhất: 8,5 mmol/l Creatinin cao nhất: 140 µmol/l
- Mức độ ứ nước ở thận do sỏi gây ra:
Biểu đồ : Mức độ ứ nước của thận bệnh lí trên siêu âm
- Chức năng thận bệnh lý trên UIV:
Trang 5Bảng 2 Phân tiết thuốc của thận trên UIV (n = 34)
Thận chậm phân tiết và không phân tiết chiếm tỉ lệ 55,9%; Thận phân tiết bình thường chiếm tỉ lệ 44,1%
- Lưu thông của niệu quản bên có sỏi trên UIV
Bảng 3 Lưu thông của thuốc cản quang trên UIV (n=41)
Có 11/41 (26,83%) không xác
định được lưu thông đường niệu do thận
không phân tiết thuốc trên UIV hoặc không
chụp UIV Số BN thuốc không xuống NQ
hoặc thuốc dừng lại trên sỏi như nhau đều
là 9 BN (21,95%) 12 BN (29,27%) thuốc
qua sỏi xuống bàng quang
3 Đặc điểm của sỏi:
- Vị trí: Sỏi NQ đoạn 1/3 dưới
23/42 (54,8%), đoạn 1/3 giữa 9/42
(21,4%), đoạn 1/3 trên 10/42 (23,8%)
- Kích thước: trung bình: 9,88
± 4,42 mm ( nhỏ nhất 5mm, lớn nhất 20 mm)
4 Những đặc điểm liên quan đến phẫu thuật: Trong quá trình tán sỏi
cho 42 vị trí sỏi, chúng tôi có ghi nhận sau:
4.1 Hình thái miệng NQ: bình
thường: 24/41 (58,5%), phù nề : 11/41 (26,8%), hẹp: 6/41 (14,6% )
4.2.Tình trạng niêm mạc NQ trước tán sỏi: 42 trường hợp soi và tiếp cận sỏi cho thấy: Niêm mạc NQ tại vị trí
Trang 6sỏi trước tán bình thường: chiếm 26,2%,
bị xung huyết chiếm 45,2%, khảm (dính
vào sỏi): 16,7%, tăng sinh niêm mạc dạng
polyp: 4,8%, Vừa khảm vừa polyp: 7,1%
4.3 Tỷ lệ đặt được dây dẫn
đường qua sỏi lúc ban đầu:
13/42 (31,0%) trường hợp không
đặt được dây dẫn đường qua sỏi lúc ban
đầu, phải tán vỡ 1 phần sỏi tạo đường
hầm, sau đó luồn dây dẫn qua sỏi lên NQ
trên sỏi
4.4.Thời gian tán sỏi và thời
gian hậu phẫu:
- Thời gian tán sỏi: Nhanh nhất:
15 phút, lâu nhất: 69 phút TB: 35.29 ±
11.98 phút
- Thời gian hậu phẫu: Ngày điều
trị hậu phẫu trung bình: 5,28 ± 2,15 ngày
32/39 BN (82,05%) có thời gian hậu phẫu
≤ 6 ngày
4.5.Những khó khăn và thất bại:
thất bại:1/42 (2,4%) do sỏi cao, không đặt
được dây dẫn qua sỏi và không tiếp cận được sỏi, sỏi di chuyển lên bể thận trong quá trình bơm nước phải chuyển nội soi sau phúc mạc lấy sỏi
4.6.Vấn đề đặt sonde JJ sau tán sỏi: Trong 39 BN (41vị trí sỏi, 40 NQ)
được tán sỏi thành công, chúng tôi đặt sonde JJ sau tán cho 40/40 NQ( 100%)
5 Đánh giá kết quả: Tỷ lệ tán
sỏi thành công: 41/42 viên sỏi (97,6%)
Tỉ lệ sạch sỏi ngay sau tán sỏi 92,7% Có
3 trường hợp(7,3%) còn sỏi vụn d < 3mm
6 Các tai biến và biến chứng sớm:
- Tai biến: không.
- Biến chứng sớm: 40 BN với 41
lần tán sỏi thành công, hậu phẫu: 2 BN sốt cao (5,0%), tiểu máu (0,0%) và 2 BN đau quặn thận (5,0%)
7 Mức độ cải thiện hình thái và chức năng của thận bên có sỏi NQ sau
1 tháng trên siêu âm và UIV:
Bảng 4 Mức độ ứ nước trước và sau tán sỏi của thận bệnh lý trên siêu âm
Mức độ ứ nước Trước mổ ( n=41) Sau mổ (n=39) P
< 0.001
Không ứ nước 0 0 31 79,49
Trang 7Với 41 thận được khảo sát trước tán sỏi Loại trừ 1 trường hợp tán sỏi thất bại,
38 BN tái khám sau 1 tháng với 39 thận được khảo sát (1 BN tán sỏi 2 bên một thì) cho thấy: Tỉ lệ thận ứ nước trước tán sỏi 100% giảm còn 20,51% sau tán sỏi
Bảng 5 Phân tiết thuốc của thận trước và sau mổ trên UIV
< 0.001
Chức năng của thận trên UIV
được cải thiện rõ với 55,9 % chậm phân
tiết và không phân tiết trước mổ giảm
xuống còn 10,8 % chậm phân tiết và
không có trường hợp nào không phân tiết
sau mổ
BÀN LUẬN
- Phương pháp điều trị sỏi niệu
quản bằng tán sỏi nội soi niệu quản
ngược dòng sử dụng nguồn năng lượng
laser Holmium YAG: Với tỷ lệ thành
công trong nghiên cứu của chúng tôi là
97,6 % chung cho tất cả vị trí sỏi NQ đã
góp phần cùng với các báo cáo của các
tác giả trong nước khẳng định thêm cùng
y văn thế giới , đây là một phương pháp
điều trị sỏi niệu quản an toàn và hiệu quả
cao
- Vấn đề Polype niệu quản:
Đây là hiện tượng phì đại lớp thượng mô
niệu mạc tại chỗ bị kích thích bởi viêm nhiễm và xơ hóa do sỏi gây ra, là tổn thương lành tính Khi polyp che khuất sỏi hoàn toàn nếu không giải quyết tốt vấn
đề polyp mà tán sỏi, nguy cơ tổn thương
NQ cao ( rách niêm mạc NQ, chảy máu từ chân polyp ), chạy sỏi…Để giải quyết vấn
đề polyp che khuất sỏi NQ, Các tác giả như Sofer, Devarajan, Fried cho rằng việc tán sỏi NQ nội soi ngược dòng với nguồn laser Holmium YAG tỏ ra hiệu quả hơn cả
so với các dạng năng lượng tán sỏi khác
vì Holmium:YAG laser được hấp thu bởi nước hiện diện bên trong tế bào nên có thể làm bốc hơi tế bào Vì vậy trong quá trình tiếp cận sỏi có thể dùng laser Holmium: YAG để đốt các polyp niệu mạc bám quanh sỏi, giúp bộc lộ phẫu trường tán sỏi
rõ ràng hơn Chúng tôi gặp 5/42 vị trí sỏi
có polyp (12%) [2],[12],[19]
- Sỏi khảm và tỉ lệ đặt được dây
Trang 8dẫn đường lúc ban đầu qua sỏi: chúng tôi
gặp 10/42 (23,8%) trường hợp sỏi khảm,
trong đó có 3 trường hợp(7,1%) vừa sỏi
khảm vừa có tăng sinh niêm mạc dạng
polyp, đây là một vấn đề khá phức tạp cho
nội soi tán sỏi Sỏi khảm là tình trạng sỏi
dính chặt vào niêm mạc NQ gây khó khăn
khi đưa dây dẫn, rọ bắt sỏi hay các dụng
cụ gắp sỏi qua nó Chúng tôi chỉ đặt được
dây dẫn đường lúc ban đầu lên phía trên
sỏi là 4/10 (40%) trường hợp; các trường
hợp còn lại, không đặt được dây dẫn qua
sỏi, chúng tôi dùng máy soi đưa từ từ để
tiếp cận, đốt polyp nếu có và tán vỡ một
phần sỏi rồi luồn dây dẫn qua sỏi ngay
sau đó
Kỹ thuật tán sỏi nội soi sỏi NQ
khảm là: tán sỏi tại chỗ, không cần làm
bong hòn sỏi ra khỏi thành NQ Khi tán
sỏi vỡ một phần và có sự thông thương
giữa bên trên và bên dưới sỏi thì đẩy dây
dẫn đường vượt qua sỏi và để lại tại chỗ
trong NQ, có tác dụng giúp định vị trong
lúc thao tác [15] Sau đó rút máy soi ra
ngoài và đặt lại máy soi vào trong NQ,
lần đặt máy này dễ dàng hơn so với lần
đầu, máy được đặt vào NQ ở bên ngoài
dây dẫn đường Để dây dẫn đường bên
ngoài máy soi NQ giúp cho có sẵn một
kênh thao tác trong máy soi NQ, dùng để
đặt rọ bắt sỏi Dùng cần tán sỏi tán vỡ sỏi,
nếu sỏi vẫn còn khảm vào thành NQ thì
có thể tán sỏi mà không cần dùng dụng cụ
bắt sỏi, thỉnh thoảng có thể làm bong các
sỏi vụn bằng đầu máy tán sỏi.Theo chúng
tôi, cần tuân thủ kỹ thuật tán sỏi đó là trước khi tán sỏi phải nhìn thấy rõ hòn sỏi Những trường hợp sỏi NQ khảm có tăng sinh niêm mạc dạng polyp, che kín không còn nhìn thấy sỏi sẽ rất dễ gây ra tai biến trong khi tán Nguồn năng lượng Laser tỏ
rõ ưu thế, có thể đốt teo các sang thương dạng polyp, giúp quan sát được sỏi trong quá trình tán sỏi, hạn chế tai biến có thể
có mà nguồn năng lượng xung hơi không làm được Theo Mostafa Khalil (2013), Scott V Wiener (2012), tán sỏi NQ khảm bằng năng lượng Laser còn có ưu điểm
là tạo ra các mảnh sỏi vụn có kích thước nhỏ hơn và sỏi không di chuyển lên thận [18],[22]
- Vai trò sonde JJ sau tán sỏi niệu quản nội soi: là vấn đề mà các nhà niệu khoa rất quan tâm và có nhiều ý kiến khác nhau Hiện nay, vấn đề này cũng bắt
đầu có sự hướng dẫn rõ ràng về việc có hay không đặt sonde JJ sau tán sỏi Do những ảnh hưởng theo hướng tiêu cực do sonde JJ gây ra cho bệnh nhân trong thời gian mang JJ mà nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đề cập, cũng như sự ảnh hưởng về việc mất thời gian và tài chính khi phải tái khám để rút sonde JJ Vì vậy các tác giả khuyến cáo chỉ nên đặt sonde sau tán sỏi nội soi khi có một trong những vấn đề sau: có sỏi thận phía trên sỏi NQ được tán có nguy cơ rơi xuống làm tắc nghẽn đường niệu, tán sỏi NQ 2 bên cùng lúc, thời gian tán sỏi kéo dài ( trên 45 phút ), tổn thương niêm mạc niệu quản nhiều
Trang 9gây phù nề, tổn thương lỗ NQ ( toác,
rách), mức độ ứ dịch của thận trên sỏi ít
[4],[7],[11] Với 40 niệu quản được tán
sỏi chúng tôi đều đặt thông JJ (100%), vì
ít nhiều thì miệng niệu quản và niêm mạc
niệu quản cũng có tổn thương ở các mức
độ khác nhau trong quá trình đặt máy và
tán sỏi Hơn nữa, tâm lý phẫu thuật viên
còn e ngại về việc không đặt JJ, chúng
tôi cố gắng khắc phục vấn đề này trong
nghiên cứu
- Thời gian tán sỏi
Thời gian tán sỏi được tính từ lúc đặt máy soi đến lúc kết thúc phẫu thuật
Do vậy, thời gian tán sỏi phụ thuộc nhiều yếu tố như giới tính, vị trí sỏi trên NQ, số lượng sỏi phải tán, các bất thường cũng như các tổn thương khác của niệu quản kèm theo và sự thuần thục của phẫu thuật viên
Thời gian tán sỏi trung bình của chúng tôi 35,29 ± 11,8 phút; nhanh nhất:
15 phút, lâu nhất: 69 phút Thời gian tán sỏi sử dụng năng lượng Laser của một số tác giả:
Bảng 4.1: Thời gian tán sỏi bằng Laser của một số tác giả
- Tai biến, biến chứng:
Tai biến: Chúng tôi không gặp
trường hợp nào thủng hoặc đứt NQ, BQ
hay niệu đạo Có 1 trường hợp (2,4%) sỏi
di chuyển lên thận do ở đoạn khúc nối
bể thận niệu quản, NQ ngay phía trên sỏi
giãn to và sát với bể thận, trong quá trình
bơm nước đặt máy để tiếp cận sỏi, sỏi di
chuyển lên thận Dương Văn Trung có tỷ
lệ sỏi di chuyển lên thận một phần hoặc
hoàn toàn là 1,73% [16] Đỗ Ngọc thế, Trần Các (2012), thực hiện tán sỏi NQ nội soi, năng lượng Laser cho 107 BN, có 8,4% sỏi di chuyển lên thận, chuyển mổ
mở 2,8% [14] Một số tác giả vẫn cố gắng soi lên bể thận, bắt sỏi trong rọ và tán sỏi Chúng tôi không chủ trương thực hiện mà lựa chọn chuyển phương pháp vì máy soi bán cứng 9.5F có thể bị gãy, hoặc thủng đứt niệu quản trong quá trình thao tác, đó
Trang 10là tai biến hết sức nặng nề Một số tác giả
đặt thông JJ theo dõi và tán sỏi thì 2 sau
1-2 tuần vì lúc này sỏi có thể di chuyển
xuống thấp hơn và niệu quản dưới sỏi
cũng rộng hơn nên dễ thao tác hơn [16]
Đối với những cơ sở có trang bị máy soi
niệu quản mềm thì chỉ định sử dụng máy
soi mềm cho những trường hợp sỏi cao là
hoàn toàn thỏa đáng
Biến chứng hậu phẫu: Trong 39
bệnh nhân tán sỏi thành công, có hai BN
bị sốt cao sau mổ (5%), cấy nước tiểu và
cấy máu đều âm tính, điều trị bằng kháng
sinh, kháng viêm, diễn biến ổn định 2
BN (5%) có cơn đau quặn thận, chúng tôi
cho dùng thuốc giảm đau, kháng viêm,
giãn cơ trơn, BN ổn định Các trường hợp
nước tiểu sau mổ hồng nhạt và diễn biến
trong dần sau 1-2 ngày chúng tôi không
cho đó là biến chứng Dương Văn Trung
và Nguyễn Thành Đức có 1 BN bị nhiễm
khuẩn huyết [6],[16] Perez Castro E,
Osther PJ và cộng sự (2014), nghiên cứu
lâm sàng toàn cầu từ 2010 - 2012 đã có
9681 BN sỏi NQ được tán sỏi qua nội soi,
tỉ lệ biến chứng chung: 3,8 - 7,7%, biến
chứng chảy máu là 5,3% [20]
KẾT LUẬN
- Điều trị sỏi niệu quản bằng
phương phán nội soi tán sỏi ngược dòng
là an toàn và hiệu quả cao, tỷ lệ tai biến và
biến chứng thấp
- Nguồn năng lượng Laser
Holmium YAG tán vụn sỏi, tỷ lệ sạch sỏi cao và có thể xử lý tốt các tổn thương khác của niệu quản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đỗ Tuấn Anh, Nguyễn Tuấn Đạt, Trần Đức, Trần Các (2010), “ Kết quả điều trị nội soi tán sỏi niệu quản 2 bên một thì bằng xung hơi tại Bệnh viện TƯQĐ 108, Y học Việt nam tháng 11, số 2, tr 27-31
2 Nguyễn Vũ Khải Ca, Hoàng Long và cs (2012), “ Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi Holmium laser tại bệnh viện Việt Đức”, Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 16, Phụ bản số 3,
tr 331-334
3 Trương Văn Cẩn, Lê Đình Khánh
và cs(2012), “ Đánh giá kết quả điều trị hẹp đường niệu trên bằng Laser qua nội soi niệu quản ngược dòng”, Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 16, Phụ bản số 3, tr 274-277
4 Nguyễn Tân Cương (2010), “ Kết quả tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng bằng siêu âm”,Y học TP Hồ Chí Minh, Tập
14, Phụ bản số 1, tr 108-111
5 Nguyễn Văn Trí Dũng, Vũ Hồng Thịnh (2011), “ So sánh hai phương pháp tán sỏi niệu quản ngược dòng bằng siêu âm và Laser”, Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 15, Phụ bản số 3, tr 151-155
6 Nguyễn Thành Đức và cs (2010),
“ 297 trường hợp nội soi tán sỏi niệu quản tại bệnh viện 175”, Tạp chí y dược học quân sự,
tr 86-88
7 Trần Văn Hinh (2011), “ Chiến lược điều trị sỏi niệu’, Tài liệu tập huấn