Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong lĩnh vực này vẫn còn tồn tại những khoảng trống chưa đáp ứng được, nhiều vấn đề thực tiễn phát sinh vẫn chưa được điều chỉnh bằng pháp luật khám chữa bệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ THANH THÚY
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan các nội dung được trình bày trong Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi, được nghiên cứu và viết tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới Nội dung, số liệu trong Luận văn là chính xác, trung thực, tin cậy, phản ánh tính khách quan trong quá trình nghiên cứu
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2018
Học viên
Trần Thị Như Trang
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia và cơ sở học viện Hành chính khu vực miền Trung; cô chủ nhiệm lớp LH3.T2, bạn bè đồng môn và anh chị em đồng nghiệp Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành Luận văn này
Mặc dù đã có sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy, cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Học viên Trần Thị Như Trang
Trang 5MỤC LỤC Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯỢC KHÁM CHỮA BỆNH CỦA TRẺ EM 9
1.1 Khái quát về quyền khám chữa bệnh của trẻ em 9
1.1.1 Khái niệm trẻ em 9
1.1.2 Khái niệm quyền trẻ em 10
1.1.3 Khái niệm quyền được khám chữa bệnh của trẻ em 17
1.1.4 Đặc điểm quyền được khám chữa bệnh của trẻ em 18
1.2 Nội dung, ý nghĩa của quyền khám chữa bệnh của trẻ em 19
1.2.1 Nội dung quyền khám, chữa bệnh của trẻ em 19
1.2.2 Ý nghĩa quyền được khám chữa bệnh của trẻ em 22
1.3 Bảo đảm quyền được khám chữa bệnh của trẻ em 23
1.3.1 Bảo đảm về chính trị 23
1.3.2 Bảo đảm về kinh tế 27
1.3.3 Bảo đảm về pháp lý 27
1.3.4 Bảo đảm về nguồn nhân lực 42
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC KHÁM CHỮA BỆNH CỦA TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CU BA ĐỒNG HỚI 45
2.1 Khái quát về bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới và tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 45
Trang 62.1.1 Khái quát về bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 45
2.1.2 Khái quát về tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 47
2.2 Thực trạng khám, chữa bệnh của trẻ em và quyền được khám chữa bệnh của trẻ em tại bệnh viện hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới 55
2.2.1 Thực trạng khám, chữa bệnh của trẻ em 55
2.2.2 Đánh giá thực hiện quyền được khám, chữa bệnh của trẻ em tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới 57
2.3 Tính cấp thiết và quan điểm bảo đảm quyền khám, chữa bệnh của trẻ em 65
2.3.1 Tính cấp thiết của việc thúc đẩy quyền được khám chữa bệnh của trẻ em 65
2.3.2 Quan điểm thúc đẩy quyền được khám chữa bệnh của trẻ em 67
2.4 Giải pháp thúc đẩy quyền được khám chữa bệnh của trẻ em từ thực tiễn bệnh viện hữu nghị Việt Nam –CuBa Đồng Hới 69
2.4.1 Hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh cho trẻ em 69
2.4.2 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế 71
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7
DANH MỤC VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
BV, CS & GDTE Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục tre em HCĐB Hoàn cảnh đặc biệt
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Công suất giường bệnh 2014 – 6/ 2017 55
Bảng 2.2 Chỉ tiêu khám cho Trẻ em tại khoa Khám bệnh năm 2014 – 6/ 2017 566
Bảng 2.3 Chỉ tiêu điều trị ngoại trú cho Trẻ em năm 2014 – 6/ 2017 577
Bảng 2.4 Ý kiến thăm dò thái độ phục vụ năm 2014 - 2016 588
Bảng 2.5 Tổng kinh phí năm 2014 - 2016 60
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là nhóm xã hội đặc biệt dễ bị tổn thương, là chủ thể phải được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt theo luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Nhu cầu được bảo vệ đặc biệt đó đã được nêu rõ trong Tuyên bố Giơnevơ về quyền trẻ em 1924 và được công nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, cũng như trong nhiều văn kiện quốc tế liên quan tới bảo vệ trẻ em sau này Nguyên tắc thứ sáu trong Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959 đã ghi nhận: “Vì sự phát triển đầy đủ toàn diện về nhân cách trẻ em, cần có sự yêu thương và hiểu biết Ở bất cứ đâu có thể, trẻ cần được phải được lớn lên trong sự chăm sóc và với trách nhiệm của cha mẹ, và trong bất kỳ trường hợp nào, trẻ phải được chăm sóc trong bầu không khí yêu thương và an toàn về mặt vật chất và tinh thần Trẻ em trong thời kỳ được chăm sóc sẽ không bị tách khỏi mẹ của trẻ, trừ trường hợp đặc biệt Xã hội và chính quyền có nhiệm vụ chăm sóc đặc biệt cho trẻ không có gia đình và cho những trẻ không có những phương tiện hỗ trợ đầy đủ Nhà nước được yêu cầu hỗ trợ hoặc trả tiền cho việc giúp đỡ trẻ em”
Trẻ em là tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại, vì vậy, vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một quan tâm đặc biệt không chỉ bởi các Bệnh viện mà bởi cả cộng đồng quốc tế Tương lai của một quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại phụ thuộc nhiều vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Cho đến nay, các quyền của trẻ em nói chung, trong đó có quyền được khám chữa bệnh của trẻ em nói riêng đã được đề cập khá đầy đủ và
cụ thể trong các văn bản pháp luật quốc tế mà tiêu biểu là trong Công ước
Trang 102
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 Nguyên tắc bao trùm trong Công ước là
“Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt do còn non nớt về thể chất và trí tuệ” Nguyên tắc này bao gồm việc chăm sóc về y tế
Ở Việt Nam, được khám chữa bệnh của trẻ em đã được ghi nhận trong pháp luật từ lâu Hiến pháp và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em đều đã ghi nhận quyền này Đây là tiền đề để thực thi quyền quan trọng này của trẻ em trong thực tế Để thực hiện các cam kết quốc tế về quyền trẻ
em nói chung và quyền được khám chữa bệnh của trẻ em nói riêng, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng một khung pháp lý tương đối toàn diện về vấn
đề này Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong lĩnh vực này vẫn còn tồn tại những khoảng trống chưa đáp ứng được, nhiều vấn đề thực tiễn phát sinh vẫn chưa được điều chỉnh bằng pháp luật khám chữa bệnh Việt Nam cũng chưa có một cơ chế hữu hiệu cho việc bảo vệ quyền của trẻ em nói chung, quyền được khám chữa bệnh của trẻ em nói riêng Thực trạng đó đòi hỏi cần có những nghiên cứu chuyên sâu để tìm ra giải pháp cho vấn đề
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Quyền được khám chữa bệnh của trẻ em - từ thực tiễn Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam
- Cu Ba Đồng Hới” để thực hiện luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trẻ em là nhóm xã hội đặc biệt luôn nhận được sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, do đó từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền trẻ em ở Việt Nam, trong đó tiêu biểu như:
-“Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người” của Trung tâm nghiên cứu về quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2011(Nhà xuất bản Lao động - Xã hội)
Trang 113
Nội dung cuốn sách giới thiệu các tuyên ngôn, tuyên bố, các điều ước chủ yếu về nhân quyền được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua, trong đó
có các văn kiện về quyền trẻ em như Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm
1924, 1959 và Công ước về quyền trẻ em năm 1989…
- Giáo trình Lí luận và Pháp luật về Quyền con người của tập thể tác giả Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (NXB Đại học Quốc gia, năm 2011) Giáo trình này đề cập đến những vấn đề lý luận, pháp
lý và thực tiễn về các quyền và việc bảo vệ, thúc đẩy, các quyền con người,
cả ở phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế Giáo trình bao gồm các nội dung phân tích về quyền trẻ em như là quyền của một đề cập đến những vấn đề cơ bản như: Khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyền con người; lịch sử phát triển của tư tưởng về quyền con người; các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế về quyền con người; các cơ chế bảo vệ, thúc đẩy bảo về quyền con người
- Pháp luật Quốc gia và Quốc tế về bảo vệ quyền của nhóm xã hội dễ
bị tổn thương của nhóm tác giả Chu Hồng Thanh - Vũ Công Giao - Tường Duy Kiên Cuốn sách gồm 3 phần, phần I - Khái quát về vấn đề quyền con người, quan điểm và khuôn khổ pháp luật chung về bảo vệ quyền con người ở Việt Nam; phần II - Khuôn khổ các quyền con người cơ bản trong pháp luật Việt Nam và pháp luật Quốc tế; phần III - Quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong pháp luật quốc tế; phần VI - Bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp Cuốn sách đề cập đến một số quyền con người qui định trong Luật quốc tế, những cam kết và khuôn khổ pháp luật chung về bảo vệ quyền con người tại Việt Nam Đặc biệt đề cập sâu đến một số nhóm xã hội bị thiệt thòi bao gồm phụ nữ, trẻ em và người người sống chung với HIV/AIDS
Trang 124
- Tác giả Vũ Ngọc Bình với cuốn “Quyền trẻ em trong pháp luật quốc gia và quốc tế” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 1995 đã đề cập đến vấn đề quyền trẻ em trong hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam và quốc tế như Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình, Luật Quốc tịch, Bộ luật hình sự… và các văn bản quốc tế như: Công ước La Hay về bảo vệ trẻ
em, Công ước của Liên hợp quốc, Công ước của tổ chức lao động quốc tế
“Trẻ em gia đình xã hội”, tác giả Mai Quỳnh Nam (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2004; nội dung gồm ba phần: Phần I trẻ
em Việt Nam sự quan tâm của xã hội đối với việc chăm sóc và giáo dục trẻ
em Phần II cuốn sách trình bày về vai trò của gia đình trong việc chăm sóc
và giáo dục trẻ Phần III, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt - những khó khăn và giải pháp
“Quyền con người, quyền Công dân trong Hiến pháp Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Động, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2005, dày 253 trang, sách gồm 4 chương, có nội dung bao quát toàn diện về quyền con người, quyền công dân và vai trò của pháp luật đối với việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân ở nước ta
“Quyền trẻ em trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam” - tác giả Hoàng Công Phương chủ biên, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2003, nội dung cuốn sách nhằm nêu lên khái quát về các vấn đề quyền con người của phụ nữ và trẻ em trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam và quốc tế, đồng thời nhằm cung cấp thêm tài liệu tham khảo về vấn đề quyền con người nói chung, quyền phụ nữ và trẻ em nói riêng trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cho các cán bộ công tác trong lĩnh vực này, đặc biệt cho các đại biểu Quốc hội là những người hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực lập pháp
Trang 135
Luận án tiến sĩ Luật học năm 2014, “Quyền trẻ em trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” của tác giả Phan Thị Lan Phương, nội dung của Luận án đề cập đến quyền trẻ em một cách toàn diện trên bình diện các văn kiện pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, thông qua đó đưa ra những phân tích, đánh giá quy định pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em và các bảo đảm pháp lý trên các phương diện lập pháp, thực thi và kiểm soát, bảo vệ quyền trẻ em
Đề tài “Nghiên cứu vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam do UBBV&CSTE Việt Nam chủ trì, GS.TS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm
Báo cáo “Hoạt động tư vấn - xây dựng chương trình truyền thống - vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001-2005” do PLAN INTERNATIONAL HÀ NỘI tài trợ, Hà Nội , 2001 - Trịnh Hòa Bình và cộng sự thực hiện đã đánh giá nhận thức của người dân về Luật BV,CS&GDTE và một số quyền cơ bản của trẻ em trên 9 tỉnh/ thành phố
Từ đó xây dựng chương trình truyền thông - vận động trẻ em giai đoạn
2001 – 2005
Luận án tiến sĩ Luật học năm 2013, “Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Đặng Công Cường nội dung của Luận án phân tích và chứng minh các phương diện lý luận thể hiện vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người Trên cơ sở lý luận đã được chứng minh, luận án đánh giá thực trạng bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở các tiêu chí nhất định và đề xuất các một số các giải pháp khoa học nhằm nâng cao vai trò của tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam
“Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam”- Tác giả Hoàng Thế Liên, do Nhà xuất bản chính trị Quốc
Trang 146
gia, xuất bản năm 2000, sách dài 127 trang, nội dung của sách trình bày về những nguyên tắc cơ bản và quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam về quốc tịch và việc đăng ký hộ tịch liên quan đến trẻ em; đồng thời cũng chỉ
ra những hướng dẫn cụ thể về thủ tục, trình tự đăng kí khai sinh và đăng kí nuôi con nuôi; đăng kí nhận cha mẹ, con; đăng kí giám hộ, cải chính hộ tịch đối với trẻ em theo những quy định của các văn bản pháp luật hiện hành
Ngoài ra, còn một số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí và hội thảo khoa học trong nước và quốc tế
“Giám sát việc bảo vệ quyền trẻ em” - Tác giả Trương Thị Mai, tạp chí nghiên cứu lập pháp số 2/2005; “Một số suy nghĩ xung quanh sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em ở nước ta - Tác giả Hoàng Thị Kim Quế, tạp chí quản lý Nhà nước, số 6/2005; “Sự cần thiết và hướng hoàn thiện các quy định của luật hình sự về bảo vệ trẻ em” - Tác giả Nguyễn Văn Hương, tạp chí Luật học số 2/2005; “Hệ thống pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em - Chặng đường hình thành và phát triển”, tác giả Hoàng Thị Kim Quế, tạp chí nghiên cứu lập pháp số 6/2005; Tham luận “Bảo đảm quyền tham gia của trẻ em đối với hoạt động của cơ quan dân cử”, Tọa đàm khoa học “Vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương” Lưu Đức Quang - Trường Đại học Luật Tp
Hồ Chí Minh tổ chức ngày 04/12/2010; “Pháp luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong tiến trình hội nhập quốc tế vì mục tiêu phát triển bền vững”, tác giả Phan Thị Lan Phương, kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần IV tháng 11/2012
Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về quyền trẻ em nói chung được thực hiện ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện hành mới chỉ đề cập đến quyền trẻ em nói chung, chưa có nghiên cứu nào khảo sát một cách
Trang 157
toàn diện, chuyên sâu về quyền được khám chữa bệnh của trẻ em.Với nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp một phần khỏa lấp khoảng trống đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền được khám chữa bệnh của trẻ em, những thành tựu, hạn chế trong thực tiễn và những việc cần làm để bảo đảm tốt hơn quyền này của trẻ em
- từ thực tiễn Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu làm rõ những đặc trưng của Quyền được khám chữa bệnh của trẻ em trong mối quan hệ với các quyền khác của nhóm này, xác định những yêu cầu với việc bảo đảm quyền này của trẻ em
- Phân tích, đánh giá thực tiễn bảo đảm quyền được khám chữa bệnh của trẻ em - từ thực tiễn Bệnh viện hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế
- Đề xuất những khuyến nghị, giải pháp để bảo đảm hiệu quả quyền được khám chữa bệnh của trẻ em - từ thực tiễn Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới nói riêng và ở Việt Nam nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Quyền khám chữa bệnh của trẻ em
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 168
Về phạm vi không gian: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quyền được khám chữa bệnh của trẻ em - từ thực tiễn Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê… để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn Quyền được khám chữa bệnh của trẻ em, phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền này của trẻ em em ở Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, xác định những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, từ đó gợi mở một số giải pháp giúp bảo vệ quyền khám chữa bệnh của trẻ em
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền được khám chữa bệnh của trẻ em Chương 2: Thực trạng và giải pháp bảo đảm quyền được khám chữa bệnh của trẻ từ thực tiễn Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới
Trang 179
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯỢC KHÁM CHỮA BỆNH
CỦA TRẺ EM 1.1 Khái quát về quyền được khám chữa bệnh của trẻ em
1.1.1 Khái niệm trẻ em
Khái niệm trẻ em được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy theo góc
độ tiếp cận cụ thể của mỗi chuyên ngành khoa học Từ góc độ xã hội học, trẻ
em được xác định là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn, vì trẻ
em là những chủ thể còn non nớt, chưa trưởng thành như người lớn Dưới góc độ tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cách con người
Từ góc độ sinh học, trẻ em là con người ở giai đoạn phát triển từ khi còn trong trứng nước đến tuổi trưởng thành
Còn dưới góc độ pháp lý, trẻ em được xác định theo độ tuổi Ở mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực có quy định khác nhau về độ tuổi được coi là trẻ em, tuy nhiên theo khái niệm thống nhất về trẻ em mà đã được đề cập trong các văn kiện quốc tế như Tuyên bố Giơnevơ năm (1924) và Tuyên bố của LHQ
về quyền trẻ em (1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948), Công ước của LHQ về quyền trẻ em (1989) Theo Điều 1 Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới
18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sơm hơn” Lời nói đầu của Công ước về quyền trẻ em của LHQ nêu rằng, trẻ em là những chủ thể chưa trưởng thành, còn non nớt về mặt trí tuệ,
dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước và sau khi ra đời
Trang 1810
Theo Luật Trẻ em của Việt Nam năm 2016 quy định tại Điều 1: “Trẻ
em là người dưới 16 tuổi” Như vậy, trẻ em là người dưới 16 tuổi, chưa trưởng thành về thể chất, trí tuệ và tình thần cần Nhà nước, xã hội và gia đình quan tâm, chăm sóc và bảo vệ đặc biệt
1.1.2 Khái niệm quyền trẻ em
Quyền khám, chữa bệnh của trẻ em là một trong những nội dung của quyền trẻ em Vì vậy dưới góc độ lý luận cần làm rõ khái niệm và nội dung quyền trẻ em
Trong Bộ luật Nhân quyền quốc tế, quyền trẻ em được chế định chủ yếu trong Công ước về quyền trẻ em (CRC, năm 1989) và hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung CRC được thông qua năm 2000 (Nghị định thư
về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, Nghị định thư về sự tham gia của trẻ em trong xung đột vũ trang) Trong đó khái niệm “Trẻ em” được xác định là những người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, đây là một điều luật mở cho các quốc gia thành viên Theo đó, các quốc gia thành viên có thể quy định các quyền trẻ em được bắt đầu ngay khi mang thai hay sau khi ra đời; và về độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với quy định của CRC Nội dung quyền trẻ em trong CRC được phân thành
04 nhóm: a/ Nhóm quyền được sống hay được tồn tại (các Điều 5, 6, 24,
26, 27); b/ nhóm quyền được bảo vệ (các Điều 2, 7, 8, 9, 10, 11, 16, 19, 20,
21, 22, 23, 25, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40); c/ nhóm quyền được phát triển (các Điều 17, 18, 28, 29, 31, 32); d/ nhóm quyền được tham gia (các Điều 12, 13, 14, 15, 17, 30)
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990
Trang 1911
Ở Việt Nam, quyền trẻ em đã được hiến định từ Hiến pháp năm 1946 (trực tiếp là các Điều 14, 15 và được hàm chứa trong một số điều khác), và trong tất cả các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 (gồm cả lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2001), năm 2013 Quyền trẻ em cũng được thể chế hóa trong nhiều bộ luật và luật, mà tập trung là Luật trẻ em năm 2016, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Như vậy, xét từ góc độ pháp lý, trên cơ sở Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và theo quy định pháp luật Việt Nam về trẻ em; các quyền trẻ em bao gồm các nhóm sau:
(1) Nhóm quyền được sống còn: bao gồm quyền của trẻ em được sống và được đáp ứng những nhu cầu để tồn tại như: mức sống thích đáng, thể hiện ở có nơi ở, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe; quyền được khai sinh, quyền có họ tên Đây là nhóm quyền lớn nhất, bao gồm những quyền
cụ thể như sau:
Thứ nhất, mọi trẻ em khi sinh ra đều có quyền được khai sinh Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân Giấy khai sinh có giá trị toàn cầu Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân sau này mà có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh.Thông qua giấy khai sinh để xác định cơ sở các em được hoàn thành các thủ tục cần thiết để xác nhận sự bảo đảm các quyền khác của trẻ em như quyền được chăm sóc sức khỏe, được tiêm chủng miễn phí, được tham gia các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng và là căn cứ để xác định độ tuổi trẻ em được hưởng sự ưu tiên hay được miễn trách nhiệm pháp lý Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ em khi sinh ra có quyền được khai sinh”, ngoài ra Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm
1989 cũng khẳng định “Trẻ em phải được đăng ký ngày lập tức sinh ra” Quyền được khai sinh là điều kiện cần để khẳng định mỗi trẻ em sinh ra trở
Trang 20họ được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước Ở Việt Nam, quy định về vấn đề quốc tịch nói chung và của trẻ em nói riêng trong nhiều luật khác nhau Hiến pháp 2013 quy định tại Điều 17
“Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam; Bộ luật Dân sự 2005 quy định tại Điều 45 “Cá nhân có quyền có quốc tịch”, còn theo quy định của Luật Trẻ em 2016 “Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha,
mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật” ( Điều 13)
Thứ ba, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội
Thứ tư, quyền được sống chung với cha mẹ Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em Các trường hợp trẻ em buộc phải cách ly cha mẹ được pháp luật quy định, gồm:
- Cha và mẹ đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù
Trang 2113
- Cha mẹ bị Tòa án quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyết định không cho cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
- Trẻ em bị quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục… Thứ năm, quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể nhân phẩm và danh dự
Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật
Thứ sáu, quyền được chăm sóc sức khỏe
Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập
Đây cũng là cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận các quyền và bổn phận của trẻ em, đồng thời nảy sinh mối quan hệ ràng buộc giữa một bên là Nhà nước và một bên trẻ em là công dân của đất nước
(2) Nhóm quyền được phát triển, được hiểu là trẻ em được chăm sóc, dạy dỗ, tạo điều kiện để phát triển một cách lành mạnh, bao gồm những thứ trẻ em cần có để phát triển đầy đủ nhất như quyền giáo dục, trẻ em được học tập Đây là quyền vô cùng quan trọng đối với con người nói chung và đặc biệt là đối với trẻ em, bao gồm:
Thứ nhất, quyền học tập Ở Việt Nam, quyền này đã được Hiến pháp
2013 tại điều 39 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân”
Trang 22em theo học ở trình độ cao hơn
- Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em; chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và
xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiện cần thiết về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để bảo đảm chất lượng giáo dục
- Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, trợ cấp xã hội để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
Mọi trẻ em không phân biệt điều kiện, hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập và được nhà nước tạo điều kiện cho học tập Luật giáo dục đã khẳng định mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Dựa trên mục tiêu đó, trẻ em có quyền và được tạo điều kiện tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, toàn diện và có chất lượng để trở thành một thế hệ công dân mới có đức, có tài
Trang 23- Gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ
em được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao,
du lịch phù hợp với lứa tuổi
- Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quy hoạch, đầu tư xây dựng điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao cho trẻ em thuộc phạm vi địa phương Không được sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em
- Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ trẻ em vui chơi, giải trí
- Xuất bản phẩm, đồ chơi, chương trình phát thanh, truyền hình, nghệ thuật, điện ảnh nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em thì phải thông báo hoặc ghi rõ trẻ em ở lứa tuổi nào không được sử dụng
Thứ ba, Quyền phát triển tài năng, năng khiếu là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, điều này được thể hiện rõ trong các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam Trẻ em có quyền được phát triển năng khiếu Mọi năng khiếu của trẻ em đều được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, theo đó:
- Gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em
- Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em; tạo điều kiện cho nhà văn hoá thiếu nhi, nhà
Trang 24(3) Nhóm quyền sở hữu Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Tài sản riêng của trẻ em bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của trẻ em, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của trẻ em và thu nhập hợp pháp khác Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của trẻ em cũng là tài sản riêng của trẻ em Cha mẹ có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo quản lý, bảo vệ, định đoạt tài sản riêng của trẻ em và đảm bảo quyền dân sự của trẻ em về tài sản, theo đó:
- Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật
- Cha mẹ, người giám hộ hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật
- Trường hợp trẻ em gây ra thiệt hại cho người khác thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định
Trang 2517
1.1.3 Khái niệm quyền được khám chữa bệnh của trẻ em
Quyền được khám chữa bệnh nằm trong nội hàm của quyền được chăm sóc sức khỏe nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm
1948 (UDHR), theo đó, “mọi người có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình,
về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Mọi trẻ em, dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, điều phải được hưởng
sự bảo trợ như nhau ”
Quy định của Điều 25 UDHR sau đó được cụ thể hóa trong các Điều
7, 11, 12 ICESCR; Điều 10, 12, 14 CEDAW; Điều 24 CRC ; Điều 5 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Tuyên
bố Viên và chương trình Hành động thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai năm 1993 Ngoài ra, quyền này cũng được nghi nhận trong một số văn kiện khu vực về quyền con người, chẳng hạn như Hiến chương xã hội châu Âu năm 1961 sửa đổi (Điều 11); Hiến chương Châu phi về quyền con người và quyền các dân tộc năm 1981 (Điều 16)…
Theo Điều 12 ICSCR, mọi người có quyền được hưởng một tiêu chuẩn sức khỏe về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được Các quốc gia thành viên Công ước cần thi hành các biện pháp để thực hiện đầy
đủ quyền này, trong đó bao gồm những biện pháp cần thiết nhằm giảm bớt
tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em, cải thiện mọi mặt về vệ sinh môi trường và vệ sinh công nghiệp, ngăn ngừa và hạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, bệnh nghề nghiệp và các loại bệnh khác, và tạo các điều kiện để bảo đảm mọi dịch vụ và chăm sóc y tế khi đau yếu [2]
Trang 26đã được công nhận “Chữa bệnh” là việc sử dụng phương pháp chuyên môn
kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh “Người bệnh” là người sử dụng dịch vụ khám bệnh chữa bệnh “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” là cơ sở
cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
Từ những phân tích trên, Quyền được khám chữa bệnh của trẻ em là những dịch vụ đặc thù ưu tiên mà trẻ em được hưởng để được bảo đảm sức khỏe và sự phát triển về thể chất và tinh thần, cụ thể như các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh ưu tiên và miễn phí tại các cơ sở y tế công lập, được y tế cơ
sở quản lý sức khỏe, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch
1.1.4 Đặc điểm quyền được khám chữa bệnh của trẻ em
Quyền được khám chữa bệnh của trẻ em có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, quyền được khám chữa bệnh của trẻ em là một quyền con người cơ bản, không thể thiếu để thực hiện các quyền khác của trẻ em, để
có được sức khỏe tốt trẻ em phải thường xuyên được khám chữa bệnh và
Trang 2719
tiêm chủng định kỳ Để thực hiện quyền này cần thông qua nhiều cách tiếp cận bổ trợ như hệ thống luật pháp, nhận thức và chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
Thứ hai, quyền được khám chữa bệnh của trẻ em liên quan mật thiết đến các quyền khác như quyền được sống còn, quyền phát triển, quyền được vui chơi giải trí, quyền được nêu ý kiến…
Thứ ba, quyền được khám chữa bệnh là quyền được hưởng những tiêu chuẩn trong hoạt động khám chữa bệnh bao gồm quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế, quyền được lựa chọn trong khám bệnh, chữa bệnh
Thứ tư, quyền được khám chữa bệnh của trẻ em là những đặc quyền
tự nhiên mà trẻ em được thụ hưởng như quyền được hưởng các dịch vụ y
tế, được khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở công lập, trẻ em được y tế các cơ sở quản lý sức khỏe, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch
Thứ năm, quyền được khám chữa bệnh của trẻ em phụ thuộc vào khả năng sẵn có về chính sách khám chữa bệnh công, chính sách y tế quốc gia,
hệ thống pháp luật và sự hiểu biết, quan tâm của gia đình, xã hội đối với trẻ
em
1.2 Nội dung, ý nghĩa của quyền khám chữa bệnh của trẻ em
1.2.1 Nội dung quyền khám, chữa bệnh của trẻ em
Quyền khám, chữa bệnh của trẻ em nằm trong nội hàm quyền khám, chữa bệnh nói chung Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009, theo đó, quyền của người đến khám bệnh, chữa bệnh nói chung bao gồm:
Thứ nhất, quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh
Trang 28Thứ ba, quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh, chữa bệnh Không bị kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc bị ép buộc khám bệnh, chữa bệnh; Được tôn trọng về tuổi tác, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng; Không bị phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội (Điều 9)
Thứ tư, quyền được lựa chọn trong khám bệnh, chữa bệnh Được cung cấp thông tin, giải thích, tư vấn đầy đủ về tình trạng bệnh, kết quả, rủi
ro có thể xảy ra để lựa chọn phương pháp chẩn đoán và điều trị Chấp nhận hoặc từ chối tham gia nghiên cứu y sinh học về khám bệnh, chữa bệnh Được lựa chọn người đại diện để thực hiện và bảo vệ quyền, nghĩa vụ của mình trong khám bệnh, chữa bệnh (Điều 10)
Thứ năm, quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám bệnh, chữa bệnh Được cung cấp thông tin tóm tắt về hồ sơ bệnh án nếu có yêu cầu bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Được cung cấp thông tin về giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, giải thích chi tiết về các khoản chi trong hóa đơn thanh toán dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (Điều 11)
Trang 2921
Thứ sáu, quyền được từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Được từ chối xét nghiệm, sử dụng thuốc, áp dụng thủ thuật hoặc phương pháp điều trị nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc từ chối của mình Được ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi chưa kết thúc điều trị nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trái với quy định của người hành nghề (Điều 12)
Quyền khám chữa bệnh của trẻ em cũng thể hiện đầy đủ những nội dung quyền khám, chữa bệnh theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh Tuy nhiên theo Điều 13 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009: “Trường hợp người bệnh
bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa
đủ 18 tuổi thì người đại diện hợp pháp của người bệnh quyết định việc khám bệnh, chữa bệnh Trường hợp cấp cứu, để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người bệnh, nếu không có mặt người đại diện hợp pháp của người bệnh thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định việc khám bệnh, chữa bệnh” Như vậy,có những nội dung thực hiện những quyền khám, chữa bệnh của trẻ em do người đại diện hợp pháp quyết định Chính vì vậy việc đánh giá thực hiện những quyền khám bệnh, chữa bệnh của trẻ em do người đại diện hợp pháp đánh giá mới chính xác Bên cạnh
đó, theo Khoản 3, Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung 2014 về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế:
“…3 Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm: Trẻ em dưới 6 tuổi;” Như vậy, bên cạnh 6 nhóm nội dung quyền trên, trẻ em dưới 6 tuổi còn được quyền khám, chữa bệnh miễn phí
Trang 3022
1.2.2 Ý nghĩa quyền được khám chữa bệnh của trẻ em
Quyền được khám chữa bệnh của trẻ em có ý nghĩa đặc biệt với việc bảo đảm các quyền khác của trẻ em, trong đó đặc biệt là các quyền sống còn và phát triển
Đối với quyền được sống còn, việc khám chữa bệnh là không thể thiếu cho sự tồn tại của trẻ em Để có thể tồn tại và có sức khỏe tốt, trẻ em phải được tiêm chủng chống lại các dịch bệnh nguy hiểm, và phải được khám chữa bệnh kịp thời khi đau ốm Khám chữa bệnh định kỳ cũng giúp phát hiện các nguy cơ đe doạ với sức khoẻ của trẻ em, hoặc những trục trặc khiến cho trẻ em bị thấp còi hay mắc các bệnh hiểm nghèo trong tương lai,
Đánh gia đúng vai trò của sức khỏe con người nói chung và của trẻ
em nói riêng, trong quá trình đưa đất nước tiến lên công nghiệp hóa và hiện đại hóa Đảng và nhà nước đề ra mục tiêu tổng quát để phát triển sự nghiệp bảo vệ chăm sóc trẻ em, mà mục tiêu trọng tâm của hoạt động này là tập trung vào việc bảo đảm quyền được khám chữa bệnh cho trẻ em, để hướng tới mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong, nâng cao sức khỏe của trẻ, ngăn chặn các dịch bệnh, trẻ phải được tiêu chủng định kỳ
Trang 3123
Để đạt được những mục tiêu nhất quan trên Đảng và Nhà nước ta thực hiện mục tiêu nhất quán là đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển nhằm tạo cơ hội cho trẻ được hưởng các dịch vụ khám chữa bệnh ngày càng cao phù hợp với sự phát triển của xã hội
Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trẻ em và quan điểm này cần phải thể chế hóa bằng pháp luật, trong đó bao gồm các văn bản liên quan trực tiếp đến lĩnh vực khám chữa bệnh của trẻ; Hiến pháp, Luật BV, CS&GDTE, Luật khám bệnh, chữa bệnh
Vì vậy, việc Nhà nước đưa ra những quy định bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực khám chữa bệnh có ý nghĩa rất lớn đối với trẻ em, nếu như trẻ em không được bảo đảm các quyền trong lĩnh vực khám chữa bệnh thì sẽ dẫn đến các nguy cơ như tử vong, bệnh tật, mắc các bệnh truyền nhiễm, suy dinh dưỡng, thấp còi
1.3 Bảo đảm quyền được khám chữa bệnh của trẻ em
Trang 3224
Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với trẻ em Nhiều chủ trương, chính sách ra đời hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và đạo đức của trẻ em Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách ở tầm chiến lược để bảo vệ, chăm sóc trẻ em, trong đó đặc biệt chú trọng đến bảo vệ sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ em
Trong giai đoạn này, các chủ trương, chính sách về quyền trẻ em đã bắt đầu được quy định trong nhiều văn kiện của Đảng, trong đó đáng chú ý
là Chỉ thị số 197-CT/TW ngày 19/3/1960 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về công tác thiếu niên nhi đồng - chỉ thị chuyên đề đầu tiên của Đảng về một chính sách toàn diện đối với việc BV, CS&GDTE Chỉ thị này đã chỉ
ra ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giáo dục thiếu niên nhi đồng, mục đích giáo dục trẻ em, xác định bốn giải pháp cơ bản trong việc BV,CS&GD trẻ em (phải giáo dục cho các em có đạo đức, phẩm chất cao quý của giai cấp công nhân; luôn quan tâm đến việc học tập văn hoá của các em; hết sức chú trọng đến việc bồi dưỡng sức khoẻ cho các em; quan tâm tới việc tổ chức vui chơi và nghỉ ngơi cho các em), xây dựng tổ chức thiếu niên, nhi đồng thật tốt để giáo dục toàn thể trẻ em, tổ chức bộ máy làm công tác thiếu nhi và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thiếu niên nhi đồng
Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa
XI, một số vấn đề được đề cập đến chính sách phát triển xã hội liên quan đến bảo vệ chăm sóc trẻ em trong đó có vấn đề quyền khám chữa bệnh của trẻ em như sau:
- Về trợ giúp xã hội trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Tiếp tục
mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp, nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước
Trang 3325
Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người được hưởng trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển các mô hình khám chữa bệnh phù hợp với các nhóm trẻ khác nhau
- Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho trẻ em, đặc biệt là dịch vụ y tế, bảo đảm y tế tối thiểu, cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Đến năm 2020, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy
đủ, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân còn 10% Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế đối với trẻ em dân tộc thiêu số, vùng miền núi, phấn đấu đến năm 2020 trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế [46,tr.2]
Ngay sau khi thực hiện Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2001 - 2010, Nhà nước ta đã xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015, với mục tiêu nhằm tạo dựng được môi trường sống mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ, được chăm sóc về sức khỏe Ngày 05 tháng 11 năm 2012, Bộ Chính trị ra chỉ thị số 20-CT/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, trong đó nêu rõ: “Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [13] Để tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động, đồng thời rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng mở rộng
Trang 3426
chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em thuộc gia đình nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, gắn với Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020; Chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng trường học an toàn, thân thiện và xây dựng cộng đồng vững mạnh Chỉ thị số 20 cũng nêu rõ chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ cần xác định các mục tiêu chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là một trong những nội dung trọng tâm của mục tiêu xã hội Các địa phương phải từng bước bố trí tăng nguồn ngân sách cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; trong đó ưu tiên kinh phí đầu tư cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em các gia đình chính sách, gia đình nghèo và trẻ am có hoàn cảnh đặc biệt; Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường quản lý nhà nước, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp; tăng cường giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến trẻ em; phát hiện, ngăn chặn, lên án các hành vi phạm quyền trẻ em [13]
Qua những chính sách, chương trình, chiến lược nêu trên, có thể thấy rằng Đảng nhận thức rất rõ tầm quan trọng của công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung, khám chữa bệnh của trẻ em nói riêng, coi đó là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài Đây là tiền cơ sở về chính trị để tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hiểu biết, ý thức trách nhiệm, và tổ chức thực hiện công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em trong đó có lĩnh vực khám chữa bệnh trong thực tế
Trang 3527
1.3.2 Bảo đảm về kinh tế
Bảo đảm về kinh tế có vai trò quan trọng đến quyền khám, chữa bệnh của trẻ em Vì kinh tế là tiền đề quyền định đến nội dung, mức độ hưởng quyền Đối với những quốc gia phát triển có chính sách an ninh xã hội tốt như một số quốc gia ở Bắc Âu thì giáo dục và y tế là miễn phí cho người dân Một số quốc gia trẻ em được Nhà nước nuôi dưỡng đến năm 18 tuổi Để thực hiện những chính sách trên phải dựa trên tiềm lực kinh tế vững mạnh, ngân sách quốc gia cân đối được Những dịch vụ liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh có nhiều mức độ khác nhau và chi phí thường khá đắt đỏ Vì thế để bảo đảm quyền khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em phụ thuộc vào mức độ kinh tế của gia đình, trình độ phát triển kinh tế của đất nước và ngân sách của Nhà nước Nều gia đình kinh tế khá giả, trình độ phát triển đất nước tốt, ngân sách của Nhà nước dương thì quyền khám bệnh, chữa bệnh của trẻ em sẽ được quan tâm, đầu tư và ngược lại trẻ em là đối tượng yếm thế sẽ khó khăn trong việc đầu tư chăm sóc và bảo vệ Chính vì lẽ đó kinh tế là yếu tố quyết định đến quyền khám, chữa bệnh của trẻ em Không có tiền đề này thì quyền khám, chữa bệnh của trẻ em chỉ tồn tại mang tính hình thức và không được đảm bảo
1.3.3 Bảo đảm về pháp lý
Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời, dưới chế độ dân chủ nhân dân, truyền thống đó càng được nhân dân ta giữ gìn và phát huy, trở thành vấn đề có tính chiến lược, là mục tiêu quan trọng, nhất quán trong đường lối cách mạng Nhiều chủ trương, chính sách ra đời hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và đạo đức mà để đạt được mục tiêu đó chúng ta phải chú trọng đến quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trong đó cần quan tâm đến quyền được khám chữa bệnh của trẻ em Nhà
Trang 3628
nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách tầm chiến lược, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm tăng cường công tác khám chữa bệnh cho trẻ em
Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là vấn đề được đề cập từ rất sớm trong pháp luật nước ta Đặc biệt, từ khi tham gia Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1991) đến nay, Nhà nước ta đã tích cực xây dựng và củng cố hệ thống pháp luật về quyền trẻ em, trong đó có các văn bản và quy định pháp luật về quyền được khám chữa bệnh của trẻ em theo hướng hài hòa với pháp luật quốc tế và phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của nước
ta Đây là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm các quyền của trẻ em nói chung, quyền được khám chữa bệnh của trẻ em nói riêng ở nước ta
Dưới đây khái quát những bảo đảm về pháp luật với quyền của trẻ
em nói chung, quyền được khám chữa bệnh của trẻ em nói riêng ở nước ta
từ 1945 đến nay:
Giai đoạn 1945- 1975
Ngay sau khi nước nhà được thành lập, mặc dù phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, song Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng hệ thống pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ phục vụ quốc kế dân sinh, trong đó có vấn đề BV, CS&GDTE, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ trẻ
em, bao gồm quyền của trẻ em được khám chữa bệnh [15, tr.6]
Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã quy định những vấn đề cơ bản của chế độ, trong đó có các quyền cơ bản của công dân và trẻ em được hưởng các quyền đó Hiến pháp 1946 đã dành 2 điều quy định ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, thể hiện sự quan tâm đầy trách nhiệm của Nhà nước đối với trẻ em Điều 14 Hiến pháp quy định: “Trẻ em
Trang 37Giai đoạn 1979-1989
Sau ngày thống nhất đất nước, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, việc BV,CS&GD trẻ em luôn là mối quan tâm đặc biệt hàng đầu của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ của mỗi công dân, gia đình, nhà trường và toàn xã hội Trong tư tưởng và trong hành động của mỗi người, dù ở địa vị
xã hội nào cũng luôn thể hiện sự ưu tiên cho trẻ em, đó là tình cảm, là yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp phát triển đất nước
Hiến pháp năm 1980 đã quy định việc BV, CS&GD trẻ em gắn liền với bảo vệ phụ nữ, bảo vệ bà mẹ, đồng thời khẳng định trách nhiệm và nghĩa vụ của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ bà mẹ
và trẻ em: Điều 47 Hiến pháp năm 1980 nêu rõ: “…Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em; vận động sinh đẻ có kế hoạch” Điều 64 quy định:
“Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dậy con cái thành những công dân có ích cho xã hội Con cái có nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ Nhà nước
và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con” [33]
Trang 3830
Cũng trong giai đoạn này, nhiều văn bản chính sách BV,CS&GD trẻ
em được ban hành, cụ thể như Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 14/11/1979; Nghị định số 293-CP ngày 04/7/1981 của Hội đồng Chính phủ về việc thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em [27]; Chỉ thị số 102/CT ngày 27/4/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Quyết định số 259/CT ngày 25/9/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam; Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 và nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn thực hiện có liên quan của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương
Nội dung chính sách về trẻ em trong giai đoạn này hướng tới mục tiêu giáo dục trẻ em thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy và bảo đảm cho trẻ
em thực hiện các quyền về chăm sóc, nuôi dưỡng; bảo vệ sức khoẻ, được khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền; được học hết bậc phổ thông
cơ sở không phải trả tiền, được giúp đỡ về sách giáo khoa và đồ dùng học tập Các em có năng khiếu được Nhà nước tạo điều kiện để phát huy năng khiếu; được vui chơi giải trí lành mạnh; con các liệt sĩ, trẻ mồ côi không có người thân thích trông nom được Nhà nước và xã hội quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục Trẻ em tàn tật được chăm sóc, điều trị và được dạy những nghề thích hợp; được tôn trọng về nhân phẩm Đồng thời, chính sách
về trẻ em cũng quy định nhiệm vụ của gia đình, nhà nước và xã hội, bao gồm nhiệm vụ của cha mẹ, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường phổ thông, các đoàn thể nhân dân, các xí nghiệp, hợp tác xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh khác và nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước
Trang 39bộ quản lý, xây dựng và phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được xây dựng sau năm 1991 và vẫn đang được tiếp tục củng cố, nhờ đó, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, bao gồm bảo vệ sức khoẻ của trẻ em, tiếp tục có những chuyển biến tích cực
Nhà nước ta đã ban hành luật, chính sách, văn bản hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn, chương trình hành động, chương trình mục tiêu, các
dự án, xây dựng, tổ chức bộ máy, bố trí và đào tạo cán bộ quản lý, xây dựng và phát triển các tổ chức, dịch vụ liên quan đến quyền khám chữa bệnh của trẻ em Nhờ đó mà quyền được khám chữa bệnh của trẻ em có những chuyển biến tích cực
Trang 4032
Trong giai đoạn này, cùng với quá trình đổi mới, nhiều chính sách kinh tế - xã hội được ban hành, những biến đổi kinh tế - xã hội của đất nuớc và việc tham gia Công ước của Liên hơp quốc về quyền trẻ em, công tác BV, CS&GD trẻ em phát triển cả về nội dung, cách làm và tổ chức bộ máy thực hiện Nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ
em được xây dựng và sửa đổi, trong đó nổi bật là:
- Quyết định số 329/CT ngày 12/9/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc đổi tên Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam thành Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội Khóa VIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991
- Nghị định số 362/HĐBT ngày 06/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam [22]
- Nghị định số 374/HĐBT ngày 14/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật BV, CS&GD trẻ em [23]
- Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác BV, CS&GD trẻ em [7]
- Nghị định số 118/CP ngày 07/9/1994 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ