1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO vệ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM sát xét xử vụ án HÌNH sự từ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM sát NHÂN dân TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

93 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 655,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự là hoạt động đặc thù riêng có của Viện kiểm sát theo dõi, giám sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa á

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ ./

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN LUẬN

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ ./

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN LUẬN

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG HÙNG HẢI

Thừa Thiên Huế- 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng

ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Tổng số vụ án của quá trình kiểm sát xét xử vụ án hình sự của tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Trị năm 2017 38 Biểu đồ 1.2 Tổng số bị can của quá trình kiểm sát xét xử vụ án hình sự của tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Trị năm 2017 39

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 4

6 Ý nghĩa và lý luận thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu của Luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 7

1.1 Về quyền con người và bảo vệ quyền con người 7

1.1.1 Quyền con người 7

1.1.2 Bảo vệ quyền con người 8

1.2 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 10

1.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 10

1.2.2 Nội dung bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 15

1.2.3 Hình thức bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 17

1.2.4 Đặc điểm bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hìnhsự 20 1.2.4.1 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hìnhsự là sự kiểm tra, giám sát của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước 20

1.2.4.2 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự là bảo vệ pháp luật nói chung và pháp luật về quyền con người nói riêng 21

1.2.4.3 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự được thực hiện trực tiếp, liên tục 24

1.2.4.4 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ ánhình sự nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những hành vi vi phạm quyền con người trong xét xử hình sự 26

Trang 7

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án

hình sự 32

1.3.1 Mức độ hoàn thiện pháp luật về quyền con người, pháp luật về tố tụng hình sự 32

1.3.2 Năng lực áp dụng pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng 33

1.3.3 Khả năng bảo vệ (tự bảo vệ) của bị can, bị cáo trong xét xử vụ án hình sự 34

Tóm tắt chương 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 38

2.1 Tình hình thụ lý, xét xử và đình chỉ của viện kiểm sát nhân dân Thừa Thiên Huế38 2.2 So sánh tổng số bị can trong các vụ thụ lý, xét xử và đình chỉ của viện kiểm sát nhân dân Thừa Thiên Huế 39

2.3 Kết quả bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự 40

2.3.1 Năng lực áp dụng pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng của Thừa Thiên Huế 40

2.3.2 Năng lực tự bảo vệ của bị can, bị cáo trong xét xử vụ án hình sự tại Thừa Thiên Huế 41

2.4 Đánh giá thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TT.Huế 42

2.4.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 42

2.4.2 Những hạn chế trong việc bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TT.Huế 45

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TT.Huế 46

Tóm tắt chương 2 48

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 49

3.1 Phương hướng bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự 49

3.1.1 Phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong tư pháp hình sự 49

Trang 8

3.1.2 Chủ động phòng ngừa, phát hiện, xử lí kịp thời các hành vi xâm hại quyền con

người trong quá trình xét xử vụ án hình sự 51

3.1.3 Đề cao việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự 53

3.2 Giải pháp bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 54 3.2.1 Giải pháp chung 54

3.2.1.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền con người, pháp luật tố tụng hình sự 54 3.2.1.2 Nâng cao năng lực, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự 56

3.2.2 Giải pháp riêng 65

3.2.2.1 Giải pháp cụ thể về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 65

3.2.2.2 Nâng cao trình độ năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ Kiểm sát viên 67

3.2.2.3 Đổi mới sự chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự 68

Tóm tắt chương 3 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Bảo vệ quyền con người là một trong những yêu cầu và mục đích của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, là nhiệm

vụ hàng đầu của nhà nước Quyền con người được nhà nước ghi nhận, tôn trọng

và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật

Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh

tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp

và pháp luật”

Nhìn một cách tổng thể, tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều có nghĩa vụ trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Trong đó, các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, cách thức khác nhau trong việc bảo vệ quyền con

người Điều 107 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1 Viện kiểm sát nhân dân

thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp .3 Viện kiểm sát nhân dân

có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh

và thống nhất” Triển khai thực hiện và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật

Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 được ban hành đã đề cao vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân

Những năm qua, cùng với các cơ quan nhà nước khác, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế bằng những hoạt động của mình đã tích cực tham gia phòng ngừa và đấu tranh chống các hành vi vi phạm quyền con người Trong số

đó, với chức năng, nhiệm vụ hiến định, nhìn chung, Viện kiểm sát tỉnh đã làm tốt chức năng kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, bảo vệ quyền con người của tất

cả các bên trong quá trình xét xử của Tòa án Bên cạnh đó, công tác kiểm sát xét

xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cũng còn những bất cập, hạn chế nhất định, chưa bảo đảm có hiệu quả quyền con người

Trang 11

trong kiểm sát xét xử án hình sự, trực tiếp tác động xấu đến quyền con người của các bên, ảnh hưởng đến nền công lý, gây dư luận xấu trong xã hội

Đây là vấn đề cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tạo cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ công lý, quyền con người

Do vậy, tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát

xét xử vụ án hình sự - từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế”

để nghiên cứu góp phần bảo vệ tốt hơn quyền con người là giá trị cao quý được cộng đồng quốc tế và các quốc gia tuyên bố bảo vệ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Về quyền con người và bảo vệ quyền con người, đã có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu

- Lã Khánh Tùng (chủ biên) đồng tác giả Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công

Giao (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, NXB Chính

trị quốc gia, Hà Nội; (2006), Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa Luật

- GS.TSKH Lê Văn Cảm (chủ biên) (2009), Hệ thống tư pháp hình sự trong

giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội

- Hội đồng Phối hợp Phổ biến Giáo dục pháp luật Trung ương (2013),

Quyền con người và chính sách pháp luật về quyền con người, Đặc san tuyên

truyền pháp luật số 06/2013

- TS Phạm Mạnh Hùng (2011), “Bảo vệ quyền con người qua hoạt động

thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát”, Tạp chí kiểm sát

- PGS.TS.Nguyễn Ngọc Chí (2007), “Bảo vệ quyền con người bằng pháp

Trang 12

- Lê Hữu Thể và các tác giả (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát

các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra

- Lại Văn Trình (2011), Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường

Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

- Trần Hoàng Nhung (2015), Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền

công dân của Viện kiểm sát nhân dân – Qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại

học Quốc gia Hà Nội

Một số bài viết của các tác giả được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành:

Chu Mạnh Hùng, “Các giải pháp đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư

pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học – trường Đại học Luật Hà Nội, số 6/2008;

Nguyễn Hòa Bình, "Một số định hướng nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLTTHS

đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", tạp chí Kiểm sát 16/2012 và tạp chí Kiểm

sát số 21/2012 Khuất Văn Nga (2005), Những chủ trương của Đảng và Nhà

nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểmsát nhân dân trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí kiểm sát, Hà Nội, 2005; Lê Cảm (2005), Bàn về

tổ chức quyền tư pháp - nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội; Đỗ Văn Đương (2006), Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, Tạp chí kiểm sát,

Hà Nội; Phạm Văn An (2011), Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát

xét xử hình sự tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số

7 tháng 4/2011; Phạm Văn An (2011), Một số kinh nghiệm trong công tác thực

hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách

tư pháp - Tạp chí Kiểm sát, số 10 tháng 5/2011; Trịnh Duy Tám (2006), Bàn về vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tạp chí

Nghề luật, số 4/2006

Qua nghiên cứu các công trình trên đây cho thấy rằng: nhiều công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò, các chức năng, nhiệm vụ của viện

Trang 13

kiểm sát trong bảo vệ quyền con người Có những nghiên cứu ban đầu về việc thực hiện nhiệm vụ, vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát ở những địa phương cụ thể Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống việc bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn các giải pháp bảo vệ quyền

con người trong hoạt động kiểm sát xét xử hình sự án hình sự ở Thừa Thiên Huế nói riêng và ở Việt Nam nói chung

+ Đưa ra những quan điểm và đề xuất những giải pháp bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn

đề lý luận và thực tiễn bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ

án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Xét xử hình sự có thể diễn ra qua các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, trong đó luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

+ Phạm vi không gian: Tỉnh Thừa Thiên Huế

+ Phạm vi thời gian: Từ 2014 đến 2017

Trang 14

- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương

pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

về bảo vệ quyền con người, về cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sử dụng phương pháp này nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến việc bảo vệ quyền con người thông qua công tác kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, các công trình nghiên cứu khoa học đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò bảo vệ quyền con người thông qua công tác kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và đánh giá, khái quát thành những luận điểm làm nền tảng lý luận cho luận văn

+ Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu ở chương 2 của luận văn Các số liệu thu thập, được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng về thành tựu, hạn chế của việc bảo vệ quyền con người của việc bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử án hình sự để trên cơ sở

đó đưa ra những giải pháp bảo vệ tốt hơn quyền con người trong kiểm sát xét xử

án hình sự

6 Ý nghĩa và lý luận thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận và pháp lý về bảo

vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức, trình độ lý luận và thực tiễn bảo

vệ quyền con người đối với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa

- Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho tổ chức, cá nhân nghiên cứu, học

Trang 15

tập, thực thi nhiệm vụ bảo vệ quyền con người

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm 3 Chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận về bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử

vụ án hình sự từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1.1 Về quyền con người và bảo vệ quyền con người

1.1.1 Quyền con người

Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất của nhân loại, song cũng là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người, tuy nhiên nó chỉ thực sự có ý nghiã và trở thành hiện thực khi nó đươc bảo đảm bằng pháp luật Quyền con người có những thuộc tính cơ bản sau đây:

- Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản

- Tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó Ví dụ, ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác Ngược lại, ở một số nước châu Á và châu Phi, do kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ thụ hưởng an sinh xã hội thấp hơn

- Tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc

tế, quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế quyền con người Ví dụ: phạm nhân bị giam

Trang 17

có một mức sống đảm bảo cho sự sống còn của cá nhân thì người đó sẽ ít chú ý

và không có điều kiện thực hiện các quyền dân chủ như quyền bầu cử hoặc quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội

Quyền con người được xác định theo các lĩnh vực chủ yếu sau đây:

- Nhóm các quyền dân sự, chính trị: Đây là các quyền quan trọng của con người, có liên quan đến sự tồn tại tự nhiên, tất yếu của con người trong xã hội, liên quan đến mối quan hệ tự nhiên giữa con người với một thể chế chính trị của xã hội đó, ví dụ như quyền sống, quyền tự do, quyền bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, bí mật thư tín, điện tín Các quyền này trực tiếp hoặc phần lớn liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự

- Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa : Đây là nhóm quyền theo quan điểm của các nước xã hội chủ nghĩa được coi là quan trọng nhất và nhóm các quyền này luôn gắn liền với một nhà nước cụ thể, được đảm bảo bởi nhà nước Các quyền này bao gồm: Quyền lao động, quyền học tập, quyền an sinh

xã hội, các quyền về văn hoá, sáng tạo và hưởng thụ các thành tựu của khoa học

kỹ thuật Ngoài các quyền nêu trên, theo quan điểm của cộng đồng quốc tế là quyền con người còn bao gồm các quyền của nhóm và quyền tập thể, như quyền phụ nữ, quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật, quyền phát triển , quyền sống trong hoà bình, trong môi trường trong lành

1.1.2 Bảo vệ quyền con người

Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm quyền con người, nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là:

Trang 18

tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụ hưởng các quyền con người

Nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba

Nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các quyền con người

Để thực hiện các nghĩa vụ về bảo đảm quyền con người, các nhà nước phải sử dụng pháp luật Là một phạm trù đa diện, xong quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người là bẩm sinh, vốn có song việc thực hiện các quyền vẫn cần có nhà nước và pháp luật Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà còn trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả các chủ thể trong xã hội Với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người cùng với quyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó luôn là đối tượng phản ánh của các hệ thống pháp luật Pháp luật xác lập và bảo vệ

sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt không thể thay thế trong việc bảo vệ các quyền con người Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Mặc dù quyền con người có tính "bẩm sinh" nhưng nó không thể thành hiện thực nếu không có pháp luật Trước hết, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quyền con người là nó ghi nhận, củng cố, hoàn thiện quyền con người Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận Thông qua pháp luật, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ Để bảo đảm quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền con người Quyền

Trang 19

con người được pháp luật xác lập sẽ không thể bị tước bỏ, hạn chế một cách tuỳ tiện vì được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của xã hội, nhà nước Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để bảo đảm thực hiện quyền con người Với những đặc điểm riêng của mình, pháp luật có tính bắt buộc cứng rắn bằng cách xác lập những điều cấm mà bất cứ ai cũng không được vi phạm Đồng thời, pháp luật được bảo đảm thi hành bằng bộ máy nhà nước cùng với sức mạnh (dư luận) xã hội Vì thế, các quy định của pháp luật về quyền con người còn được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước tránh mọi hành vi xâm hại Trên cơ sở của pháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân đều phải được xử lý nghiêm minh Bảo vệ quyền con người là một quá trình Nó phụ thuộc vào tổng thể nhiều điều kiện khác nhau (chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa, ) trong đó pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu

Để phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người thì phải thể chế hóa quyền con người thành các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật và phải có cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý cho thực hiện quyền con người Nói cách khác, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người chính là đảm bảo thực hiện quyền con người bằng pháp luật

1.2 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 1.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các

vụ án hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “bảo đảm” được hiểu là: “Làm cho chắc chắn được thực hiện, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” Theo Đại từ điển tiếng Việt, bảo vệ là: Giữ gìn, chống sự xâm phạm để khỏi bị hư hỏng, mất mát

Dùng lý lẽ để bênh vực, giữ vững ý kiến, quan điểm, học thuyết: bảo vệ chân lý, bảo vệ ý kiến

Pháp luật quốc tế chỉ ra rằng, bảo đảm quyền con người được cấu thành

Trang 20

từ ba nhiệm vụ là tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền con người và thực hiện quyền con người Theo đó, bảo vệ quyền con người là yếu tố của bảo đảm quyền con người, là phòng ngừa và chống lại mọi hành vi xâm hại quyền con người

Nghĩa vụ bảo vệ quyền con người trước hết đặt lên vai các nhà nước Hay nói cách khác, nhà nước là chủ thể hàng đầu có nghĩa vụ bảo vệ quyền con người trên tất cả các lĩnh vực Tố tụng hình sự dễ có nguy cơ xâm hại quyền con người Chính vì lẽ đó, pháp luật tố tụng hình sự đặt ra yêu cầu rất cao đối việc tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm tránh mọi hành vi làm tổn hại tới quyền con người, bảo vệ vững chắc quyền con người

- Về chủ thể có nghĩa vụ: Chủ thể chính trong hoạt động kiểm sát xét xử là Kiểm sát viên được quy định trong BLTTHS, Viện kiểm sát là cơ quan nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện những nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của các đối tượng cần bảo vệ trong xét xử hình sự theo các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan Với tính chất là cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xét xử các vụ án hình sự, hoạt động kiểm sát xét xử góp phần hết sức quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người của tất cả các đối tượng trong quá trình xét xử vụ án

- Về chủ thể được bảo vệ: theo luật quốc tế về quyền con người, việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự chủ yếu nhằm vào các đối tượng dễ bị tổn thương nhất, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam (trong giai đoạn điều tra), bị cáo, người làm chứng, người bị hại (trong giai đoạn xét xử), phạm nhân

(trong giai đoạn thi hành án) Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử

các vụ án hình sự là hoạt động đặc thù riêng có của Viện kiểm sát theo dõi, giám sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xét xử nhằm phòng ngừa, chống lại mọi hành vi xâm hại quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự

Trang 21

Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn theo Điều 267 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 19 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định pháp luật khác có liên quan

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của Tòa án: Kiểm sát viên phải kiểm sát

việc tuân theo pháp luật của Tòa án về các nội dung: Thẩm quyền xét xử; Thời hạn chuẩn bị xét xử; Việc ra quyết định, giao, gửi quyết định; Việc giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa; Việc triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa; Việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật và các việc khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Thực hiện nhiệm vụ này, Kiểm sát sát viên phải bảo đảm sao

cho quyền của các bên trong vụ án được bảo đảm, tránh bị xâm hại

Khi kiểm sát việc chuẩn bị xét xử của Tòa án, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp bảo vệ của Tòa án; phối hợp chặt chẽ với bộ phận, phòng kiểm sát tạm giữ, tạm giam, yêu cầu Tòa án gửi đầy đủ các quyết định

áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền con người của bị can, bị cáo Do vậy, Kiểm sát viên phải theo dõi, giám sát sát sao nhằm kịp thời phát hiện những sai sót trong việc áp dụng những biện pháp này để bảo đảm quyền con người của những người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Khi phát hiện có vi phạm pháp luật thì báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát kiến nghị, yêu cầu Tòa án khắc phục hoặc kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ,

quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ khi có quyết định đưa vụ án

ra xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 267 Bộ luật

Tố tụng hình sự

Trang 22

Trước khi mở phiên tòa, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử về việc: thực hiện các yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người tham gia tố tụng, người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng; thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín; thông báo cho những người tham gia tố tụng biết thời gian, địa điểm xét xử và các hoạt động

tố tụng khác

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét

xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên tòa, bảo đảm việc xét xử được công minh, đúng pháp luật Đây cũng là cách thức mà việc thực hiện nó bảo đảm cho quyền con người của các bên được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện trong xét xử Khi phát hiện

có vi phạm về thủ tục tố tụng thì kiến nghị, yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục kịp thời

Kiểm sát viên phải đề nghị tạm ngừng phiên tòa hoặc hoãn phiên tòa nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều

297 Bộ luật Tố tụng hình sự Trường hợp Kiểm sát viên đề nghị tạm ngừng hoặc hoãn phiên tòa mà Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử thì Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án Sau phiên tòa, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện kiểm sát xem xét, quyết định

Kiểm sát việc tuyên án: Khi chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác

của Hội đồng xét xử đọc bản án, Kiểm sát viên phải ghi lại những nhận định quan trọng và nội dung quyết định của bản án để làm căn cứ kiểm tra biên bản phiên tòa, bản án và chuẩn bị nội dungbáo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát kiến nghị,

kháng nghị nếu cần thiết

Ngay sau khi tuyên án, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc Hội đồng xét xử

Trang 23

trả tự do cho bị cáo hoặc bắt tạm giam bị cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (nếu có)

Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án: Kiểm sát viên phải kiểm sát

chặt chẽ việc giao bản án, quyết định của Tòa án và việc gửi hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm phát hiện những sai sót và vi phạm của Tòa án trong việc ra bản án, quyết định, kịp thời báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát ban hành kiến nghị, kháng nghị Kiểm sát viên kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án bằng phiếu kiểm sát bản án Kiểm sát viên chú ý kiểm sát việc giao cho Viện kiểm sát cùng cấp và gửi cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp

luật của Tòa án theo Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự

Về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng thủ tục rút gọn: trong

giai đoạn sơ thẩm được thực hiện theo Điều 462 và Điều 463 Bộ luật Tố tụng hình sự

Quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Chánh án Tòa án không còn đủ điều kiện thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát để kiến nghị với Chánh án Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và

áp dụng thủ tục chung để giải quyết vụ án

Nếu Chánh án Tòa án đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn không hủy

bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì Kiểm sát viên tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án theo quy định tại Chương XXXI Bộ luật

Tố tụng hình sự

Trường hợp vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn điều tra, truy tố nhưng đến giai đoạn xét xử, Chánh án Tòa án không tiếp tục áp dụng thủ tục rút gọn mà Kiểm sát viên thấy việc không áp dụng thủ tục rút gọn của Chánh án Tòa án là không đúng pháp luật thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát để kiến nghị với Chánh án Tòa án

Trang 24

1.2.2 Nội dung bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự

Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tộ, việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có các nhiệm vụ và quyền hạn: Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; Tham gia xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; Tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà

sơ thẩm, phúc thẩm; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án, biên bản phiên toà và quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật; Yêu cầu Toà án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; Ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các biện pháp sau đây

có thể được Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền con người, phát hiện, phòng ngừa và khắc phục những sai lầm trong giai đoạn xét xử, bảo vệ quyền

và lợi ích của bị cáo:

Trang 25

Trước khi xét xử, Viện kiểm sát có thể gặp bị cáo để hỏi cung đối với những trường hợp: Vụ án có bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, vụ án có bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, lời khai của các bị cáo trong vụ án có mâu thuẫn, bị cáo kêu oan hoặc những trường hợp Viện kiểm sát thấy cần thiết Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể tổ chức thực nghiệm

điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường diễn lại hành vi, tình huống

Trước khi mở phiên toà, nếu thấy việc truy tố không đúng, Viện kiểm sát

có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố Trường hợp rút toàn bộ quyết định truy tố thì đề nghị Toà án đình chỉ vụ án

Tại phiên toà, sau khi xét hỏi nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố thì Kiểm sát viên rút quyết định truy tố Trường hợp tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà

Kiểm sát viên kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử, thư ký Toà án và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà, nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công minh đúng pháp luật

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà trong các trường hợp: Bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng; Người bào chữa vắng mặt theo quy

định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS; người tham gia tố tụng khác vắng mặt sẽ

gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; Thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của BLTTHS

Viện kiểm sát kháng nghị bản án quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong các trường hợp có vi phạm pháp luật trong việc xét xử, trong đó, có trường hợp có căn cứ để xác định Bị cáo

Trang 26

không phạm tội hoặc bị Tòa án xử quá nặng, không tương xứng với tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đối với những vi phạm pháp luật của Tòa án chưa đến mức phải kháng nghị thì Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án có biện pháp khắc phục vi phạm

Như vậy, với những nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động truy tố, buộc tội người phạm tội, để Tòa án xét xử, kết tội, quyết định hình phạt Bằng cách đó góp phần phòng ngừa tội phạm và khôi phục các quyền và lợi ích của người bị hại, người có quyền, lợi ích có liên quan bị kẻ phạm tội xâm phạm Mặt khác, Hoạt động kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát còn bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án tuân thủ đúng quy định của pháp luật, khắc phục tình trạng xét xử oan người vô tội, quyết định hình phạt và các biện pháp

xử lý đối với bị cáo nặng hơn quy định của pháp luật hoặc áp dụng các biện pháp không được áp dụng đối với bị cáo; mọi hoạt động vi phạm pháp luật đều phải được xử lý kịp thời

1.2.3 Hình thức bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự

Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tộ, việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có các nhiệm vụ và quyền hạn: Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; tham gia xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; Tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà

Trang 27

sơ thẩm, phúc thẩm; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; Kiểm sát các bản án, biên bản phiên toà và quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật; Yêu cầu Toà án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; Ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các biện pháp sau đây

có thể được Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền con người, phát hiện, phòng ngừa và khắc phục những sai lầm trong giai đoạn xét xử, bảo vệ quyền

và lợi ích của bị cáo:

Trước khi xét xử, Viện kiểm sát có thể gặp bị cáo để hỏi cung đối với những trường hợp: Vụ án có bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, vụ án có bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, lời khai của các bị cáo trong vụ án có mâu thuẫn, bị cáo kêu oan hoặc những trường hợp Viện kiểm sát thấy cần thiết Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể tổ chức thực nghiệm

điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường diễn lại hành vi, tình huống

Trước khi mở phiên toà, nếu thấy việc truy tố không đúng, Viện kiểm sát có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố Trường hợp rút toàn bộ quyết định truy tố thì đề nghị Toà án đình chỉ vụ án

Tại phiên toà, sau khi xét hỏi nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố thì Kiểm sát viên rút quyết định truy tố Trường hợp tình

Trang 28

tiết mới đưa ra tại phiên toà có căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà

Kiểm sát viên kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử, thư ký Toà án và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà, nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công minh đúng pháp luật

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà trong các trường hợp: Bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng; người bào chữa vắng mặt theo quy

định tại Điều 75 BLTTHS; người tham gia tố tụng khác vắng mặt sẽ gây trở

ngại cho việc xét xử vụ án; thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của BLTTHS

Viện kiểm sát kháng nghị bản án quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong các trường hợp có vi phạm pháp luật trong việc xét xử, trong đó, có trường hợp có căn cứ để xác định Bị cáo không phạm tội hoặc bị Tòa án xử quá nặng, không tương xứng với tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đối với những vi phạm pháp luật của Tòa án chưa đến mức phải kháng nghị thì Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án có biện pháp khắc phục vi phạm

Như vậy, với những nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động truy tố, buộc tội người phạm tội, để Tòa án xét xử, kết tội, quyết định hình phạt Bằng cách đó góp phần phòng ngừa tội phạm và khôi phục các quyền và lợi ích của người bị hại, người có quyền, lợi ích có liên quan bị kẻ phạm tội xâm phạm Mặt khác, Hoạt động kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát còn bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án tuân thủ đúng quy định của pháp luật, khắc phục tình trạng xét xử oan người vô tội, quyết định hình phạt và các biện pháp

xử lý đối với bị cáo nặng hơn quy định của pháp luật hoặc áp dụng các biện

Trang 29

pháp không được áp dụng đối với bị cáo; mọi hoạt động vi phạm pháp luật đều phải được xử lý kịp thời

1.2.4 Đặc điểm bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hìnhsự

1.2.4.1 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hìnhsự là sự kiểm tra, giám sát của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước

Kiểm tra, giám sát trong hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự mang tính tất yếu do xu thế lạm quyền trở thành qui luật phổ biến của việc tổ chức, thực hiện quyền lực Nhà nước Bất kỳ ai khi có quyền lực , bất kỳ nơi nào có quyền lực thì đều có xu hướng mở rộng quyền và sử dụng quyền, lộng quyền, lạm quyền Xu hướng lạm quyền đó sẽ trở thành phổ biến, chuyên quyền nếu không có cơ chế giám sát quyền lực hiệu quả Vì vậy, việc kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lực Nhà nước được coi là vấn đề cơ bản, trọng yếu của nhà nước pháp quyền, là một trong những công cụ chính trị - pháp lý quan trọng để hạn chế việc lạm quyền Việc sử dụng không đúng quyền lực nhà nước gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho uy tín của Nhà nước trước nhân dân

Hạn chế sự lạm quyền chỉ có hiệu quả khi có cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp “xây dựng một cơ chế kiểm soát hợp lý, đầy đủ và có hiệu lực luôn là những bảo đảm cho quyền lực hoạt động hết công suất đồng thời tránh được tình trạng bộ máy quyền lực vận hành ngoài tầm kiểm soát của người chủ quyền lực dẫn đến quan liêu tha hóa quyền lực” Vị trí của giám sát và cơ chế kiểm tra giám sát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam được xuất phát từ hai yêu cầu chủ yếu sau:

- Yêu cầu của tính thống nhất về quyền lực

- Yêu cầu phân công quyền lực trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Khi đã có sự phân công quyền lực phải có sự theo dõi, kiểm tra bảo đảm cho các cơ quan thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ được phân công

Trang 30

trong việc thực hiện quyền lực

Kiểm sát xét xử giúp cho việc xét xử được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật Trong đó có việc phát hiện tất cả những hành

vi vi phạm pháp luật xâm hại quyền con người trong quá trình xét xử vụ án và

đề ra biện pháp khắc phục, phòng ngừa về sau

Hoạt động kiểm tra, giám sát việc bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước là hoạt động tất yếu trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm duy trì bản chất, định hướng chung của quyền lực Nhà nước và để bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả”

1.2.4.2 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình

sự là bảo vệ pháp luật nói chung và pháp luật về quyền con người nói riêng

Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tộ, việc xét

xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Kiểm sát viên có các nhiệm vụ, quyền hạn: Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; tham gia xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; Tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét

xử của Toà án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; Kiểm sát các bản án, biên bản phiên toà và quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; Kháng nghị

Trang 31

theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; Ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các biện pháp sau đây

có thể được Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền con người, phát hiện, phòng ngừa và khắc phục những sai lầm trong giai đoạn xét xử, bảo vệ quyền

và lợi ích của bị cáo:

Trước khi xét xử, Viện kiểm sát có thể gặp bị cáo để hỏi cung đối với những trường hợp: Vụ án có bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, vụ án có bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, lời khai của các bị cáo trong vụ án có mâu thu n, bị cáo kêu oan hoặc những trường hợp Viện kiểm sát thấy cần thiết Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể tổ chức thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường diễn lại hành vi, tình huống

Tại phiên toà, sau khi xét hỏi nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố thì Kiểm sát viên rút quyết định truy tố Trường hợp tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà

Như vậy, với những nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động kiểm sát quá trình xé xử, tranh tụng, kết tội, quyết định hình phạt tại phiên tòa Bằng cách đó góp phần phòng ngừa tội phạm và khôi phục các quyền và lợi ích của người bị hại, người có quyền, lợi ích có liên quan bị xâm hại và cả quyền con người của bị cáo Mặt khác, hoạt động kiểm sát xét xử của Viện

Trang 32

kiểm sát còn bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án tuân thủ đúng quy định của pháp luật, khắc phục tình trạng xét xử oan người vô tội, quyết định hình phạt và các biện pháp xử lý đối với bị cáo nặng hơn quy định của pháp luật hoặc áp dụng các biện pháp không được áp dụng đối với bị cáo; mọi hoạt động vi phạm pháp luật đều phải được xử lý kịp thời

Cơ chế kiểm tra, giám sát bằng hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự

là một bộ phận của cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong phạm vi, chức năng, quyền hạn được phân công hướng tới mục tiêu của kiểm sát xét xử vụ án hình sự là “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” Cơ chế kiểm tra, giám sát trong hoạt động kiểm sát xét xử

vụ án hình sự được hiểu là tập hợp những thành tố, hình thức các mối quan

hệ, thiết chế, tổ chức mà qua đó thực hiện việc xem xét, đánh giá, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự hướng tới việc bảo đảm tuân theo pháp luật, tôn trọng và bảo đảm quyền công dân Kiểm tra, giám sát hoạt động TTHS có mục đích:

- Bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật trong TTHS được chấp hành nghiêm chỉnh;

- Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự;

- Phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự;

- Góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS Cơ chế kiểm tra giám sát đối với hoạt động TTHS bao gồm nhiều thành tố, có những thành tố bên trong (kiểm tra giám sát của các cơ quan tiến hành tố tụng), những thành tố bên ngoài thuộc về nội bộ hệ thống cơ quan Nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu dân cử, các cơ

Trang 33

quan nhà nước khác) và giám sát xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận)

1.2.4.3 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình

sự được thực hiện trực tiếp, liên tục

Tố tụng hình sự là một quá trình, trong đó xét xử được thực hiện liên tục Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng giám sát hoạt động tư pháp , đảm bảo các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, không vi phạm quyền con người, không vi phạm pháp luật vì xét xử là hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình

sự thể hiện bản chất của nền tư pháp quốc gia nên việc bảo vệ quyền con người được thể hiện tập trung nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án

Pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người thông qua biện pháp trấn áp kịp thời, xử lý công minh theo đúng pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội xâm hại tới các quyền của công dân đảm bảo tất cả mọi tội phạm đều bị phát hiện và xử lý Đồng thời, pháp luật TTHS còn quy định chặt chẽ các trình tự, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng hình sự nhằm tôn trọng quyền con người, tránh sự lợi dụng của người và cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng Đây là hai định hướng, hai lĩnh vực của pháp luật TTHS trong việc bảo vệ quyền con người bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của nhà nước và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Hoạt động TTHS với các biện pháp cưỡng chế dễ trở thành mối đe dọa thực tế với quyền con người nếu vi phạm các quy định của luật về điều kiện, trình tự, thủ tục, căn cứ áp dụng Do vậy, kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nói riêng bảo đảm cho quyền con người của các bên được tôn trọng, bảo vệ và được thực hiện

Các nguyên tắc của luật TTHS phải bảo đảm để hoạt động xét xử khách quan, công bằng, công khai Điều 11 Công ước quốc tế về các quyền dân sự,

Trang 34

chính trị qui định: Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật tại một phiên tòa xét xử công khai nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất kỳ hành vi hoặc sự tắc trách nào mà không cấu thành tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay sự tắc trách đó Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được qui định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện mà luật quy định Những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS mang tính khách quan và việc tuân thủ qui luật khách quan trong hoạt động TTHS là tiền đề bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự, bảo đảm quyền con người của các chủ thể tham gia hoạt động TTHS Chính vì vậy, mọi hoạt động xét xử của Toà án muốn hướng tới việc bảo vệ quyền con người phải dựa trên những nguyên tắc TTHS với hai định hướng: (1) xử lý nhanh chóng, kịp thời đúng pháp luật đối với tội phạm xâm phạm quyền con người và (2) đảm bảo tính khách quan, công bằng, không làm ảnh hưởng tới quyền con người khi tiến hành hoạt động xét xử Ngoài những nguyên tắc cơ bản được áp dụng ở tất cả các giai đoạn TTHS, khi xét xử Tòa án còn áp dụng những nguyên tắc đặc thù qui định trong BLTTHS 2015, trong đó có nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục, Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của

họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyềnlợi của đương sự Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Ngoài ra, việc xét xử phải tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ Việc xét xử của tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp nội dung vụ án liên quan đến bí mật quốc gia hoặc xâm phạm nghiêm trọng

Trang 35

đến thuần phong mỹ tục hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ Những trường hợp này Tòa án sẽ xử kín nhưng khi tuyên án phải công khai Đảm bảo việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa Theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp thì tại phiên tòa phải thực hiện tranh tụng nhằm đảm bảo giải quyết vụ án khách quan, khắc phục tình trạng oan, sai Tòa án, Viện kiểm sát phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để bị cáo, người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bào chữa thực hiện quyền tranh tụng và tất cả các quyết định của Hội đồng xét xử phải dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Trên tinh thần đó, BLTTHS 2015 đã quy định

cụ thể trình tự, thủ tục phiên tòa đảm bảo cho việc tranh tụng giữa các bên trong vụ án hình sự Quy định về tranh tụng tại phiên tòa của BLTTHS 2015

là bước tiến quan trọng trong lộ trình cải cách tư pháp ở nước ta hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo vệ quyền con người

1.2.4.4 Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ ánhình sự nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những hành vi vi phạm quyền con người trong xét xử hình sự

Hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự gắn liền với bảo đảm quyền con người của bị can/ bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Tuy nhiên, để hạn chế việc vi phạm quyền con người thì yêu cầu kiểm sát hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử vụ án hình sự nói riêng cần được thực thi trong thực tiễn một cách đầy đủ

Đòi hỏi Tòa án (cơ quan thực hiện chức năng xét xử) cần có những phán quyết chính xác, công bằng, một mặt nhằm bảo vệ những giá trị cao quý nhất của xã hội tránh khỏi sự xâm phạm của các vi phạm pháp luật (và tội phạm) đi ngược lại lợi ích của xã hội Song mặt khác, phải đưa ra xử lý nghiêm minh và đúng pháp luật các hành vi vi phạm

Bảo đảm quyền con người bằng hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình

sự nhằm bảo đảm việc tuân theo pháp luật của Tòa án, hội đồng xét xử,

Trang 36

người tham gia tố tụng Pháp luật nói chung, pháp luật hình sự và tố tụng

hình sự nói riêng là công cụ bảo đảm quyền con người “Pháp luật công

cụ trước tiên bảo vệ quyền con người Pháp uật bảo vệ quyền con người bằng cách ghi nhận các quyền và đặt ra các thể chế pháp ý thực thi việc bảo vệ các quyền” Nó vừa là cơ sở pháp lý để các cơ quan tố tụng, người

tiến hành tố tụng áp dụng nhằm bảo đảm quyền con người, vừa là cơ sở để hạn chế lạm quyền, vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Đồng thời, nó còn là phương tiện để cơ quan, tổ chức được giao quyền kiểm sát, giám sát sử dụng để ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật, yêu cầu sửa chữa, khắc phục nhằm bảo đảm quyền con người đúng pháp luật Xét xử vụ án hình sự là một hoạt động chấp hành và áp dụng pháp luật để bảo vệ công

lý, bảo đảm quyền con người nhưng thực tiễn cho thấy ,không phải bao giờ hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án cũng đúng pháp luật và bảo đảm được quyền con người Do đó, cần thiết phải kiểm sát xét xử vừa để bảo đảm cho pháp luậ tđược chấp hành đúng, thống nhất, nghiêm minh vừa kịp thời vừa ngăn ngừa, hạn chế, loại trừ và sửa chữa được vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người

Bảo đảm quyền con người bằng hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự không làm mất đi tính độc lập xét xử của tòa án mà còn là thiết chế ngăn ngừa nguy cơ, phát hiện vi phạm độc lập xét xử của tòa án Hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước, vừa chấp hành pháp luật, vừa áp dụng pháp luật để kiểm tra lại toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố Do đó, việc để xảy ra sai lầm, thiếu sót trong xét xử có tác động đặc biệt lớn đến quyền con người Kiểm sát xét xử là kiểm sát hành vi và quyết định tố tụng khi áp dụng pháp luật có đúng pháp luật không, hoạt động kiểm sát phải tuân thủ pháp luật chặt chẽ vì khi kiểm sát, Kiểm sát viên sẽ sử dụng các quy định của pháp luật để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong xét xử Các quyền

Trang 37

hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát, chỉ mang tính “khuyến nghị ”, “yêu cầu”

không có ý nghĩa bắt buộc tòa án phải tuân theo (nếu không có căn cứ pháp luật hoặc trái pháp luật) Tức là, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát như yêu cầu khắc phục, sửa chữa vi phạm, kiến nghị hoặc kháng nghị sẽ được tòa án xem xét lại chứ không phải bắt buộc tòa án phải chấp hành như mệnh lệnh hành chính Tòa án và Hội đồng xét xử có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận nội dung kiểm sát, nếu có căn cứ pháp luật hoặc không có căn cứ pháp luật Có thể thấy rằng, Viện kiểm sát không thể can thiệp được vào hoạt động xét xử khi kiểm sát Xuất phát từ phạm vi, đối tượng kiểm sát xét xử – Viện kiểm sát chỉ kiểm sát Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng khi xét xử trên cơ sở pháp luật

(tính hợp pháp) “Viện kiểm sát không can thiệp về mặt nội dung ép buộc Tòa

án phải xét xử theo ý của Viện kiểm sát… Không chỉ riêng Tòa án, mà Viện kiểm sát cũng phải tuân theo quy định của pháp luật về hoạt động kiểm sát”

Quyền hạn kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát không thể trực tiếp làm thay đổi hành vi và quyết định của Hội đồng xét xử mà chỉ mang tính

“khuyến nghị” để tòa án xem xét lại Qua đó có thể thấy rằng, hoạt động kiểm sát xét xử của viện kiểm sát không những không thể làm thay đổi nguyên tắc độc lập xét xử, mà còn có ý nghĩa bảo đảm độc lập xét xử, loại trừ các nguy

cơ ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử Không thể cho rằng, sử dụng pháp luật để kiểm tra việc áp dụng pháp luật là vi phạm nguyên tắc độc lập khi kiểm sát xét xử được, vì độc lập xét xử phải trên cơ sở tuân theo pháp luật

và kiểm sát xét xử cũng phải tuân thủ pháp luật

Hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự có vai trò hỗ trợ tòa án trong công tác xét xử Bởi hoạt động kiểm sát xét xử có mục đích bảo đảm quyền con người thông qua việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử Đó là bảo đảm cho Tòa án xét xử có căn cứ và hợp pháp trong mỗi quyết định hoặc bản án đưa ra thi hành không gặp trở ngại khi chỉ thoả mãn tính có căn cứ nhưng lại vi phạm pháp luật về thủ tục tố tụng và ngược

Trang 38

lại Tất cả các phiên toà xét xử đều phải có mặt Kiểm sát viên vừa thực hiện chức năng công tố vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử hình sự Khi kiểm sát xét xử, Viện kiểm sát sẽ sử dụng nghiệp vụ kiểm sát đặc thù và kinh nghiệm kiểm sát do kế thừa từ yếu tố lịch sử Viện kiểm sát khi kiểm sát chỉ có quyền yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị, cho nên viện kiếm sát không can thiệp được hoạt động xét xử mà chỉ phát hiện vi phạm để Tòa án và Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận sửa chữa, khắc phục hoặc không chấp nhận Hoạt động kiểm sát có vai trò rất quan trọng để tòa án cùng cấp hoặc cấp dưới khắc phục, sửa chữa kịp thời thiếu sót, vi phạm pháp luật, qua đó quyền con người được bảo đảm Đồng thời qua các kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát mà tòa án cấp trên, các cơ quan giám sát khác

có thể nắm được những hạn chế trong xét xử, để có giải pháp khắc phục Thực tiễn cho thấy, Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền tự mình kiểm tra tất cả các bản án cấp sơ thẩm, tòa án cấp phúc thẩm chỉ kiểm tra, phát hiện vi phạm khi có kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu giao cho cấp giám đốc thẩm kiểm tra, giám sát (theo nguyên tắc giám đốc việc xét xử) cũng không khả thi vì giám đốc việc xét xử mang tính chất hành chính trong

tố tụng Sẽ có nhiều vấn đề cản trở việc kiểm tra, phát hiện vi phạm trong xét

xử, thậm chí ảnh hưởng đến độc lập xét xử vì cùng hệ thống sẽ có thể không khách quan, từ đó hạn chế hiệu quả Hoạt động kiểm sát xét xử do Viện kiểm sát tiến hành có điều kiện thuận lợi và khách quan để phát hiện vi phạm, ngăn ngừa được vi phạm pháp luật, bảo đảm quyền con người, tránh hiện tượng lạm dụng quyền lực khi xét xử các vụ án hình sự

Trong tố tụng hình sự quyền con người có tính chất đặc biệt, do đó cần phải có một thiết chế để kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm quyền con người theo đúng quy định của pháp luật Hoạt động tư pháp hình sự nói chung và hoạt động xét xử vụ án hình sự nói riêng là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước (thực hiện quyền tư

Trang 39

pháp), do vậy hoạt động này cũng phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau (trong đó có cơ chế tự kiểm tra từ bên trong của mỗi

hệ thống và cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống – đó là cơ chế kiểm sát của Viện kiểm sát) Hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động xem xét, đưa ra các phán quyết về các hành vi của con người, nên Tòa án thực thi thẩm quyền

tố tụng hình sự rất lớn, mỗi quyết định của Tòa án đều có tác động rất lớn đến quyền của con người như quyền sống, quyền tự do và sự tác động của mỗi phán quyết của tòa án không chỉ tác động đến những người tham gia tố tụng

mà còn cả với xã hội Nhằm bảo đảm quyền con người, khi xét xử vụ án hình

sự phải được kiểm sát chặt chẽ để ngăn ngừa, hạn chế hiện tượng lạm dụng quyền lực xâm phạm đến quyền con người Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc tổ chức quyền lực nhà nước không đặt ra vấn đề tạo thế cân bằng quyền lực trên cơ sở kiềm chế đối trọng mà xác định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan khi thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Viện kiểm sát được Quốc hội giao cho quyền kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử vụ án hình

sự nói riêng, nhằm kiểm sát hoạt động xét xử - một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước Hoạt động xét xử là hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước và

là hoạt động áp dụng pháp luật có tác động đặc biệt lớn đối với quyền con người Nếu sai sót, không tuân theo pháp luật, lạm dụng quyền lực trong xét

xử đều là vi phạm quyền con người Hoạt động xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật liên quan trực tiếp đến lợi ích thiết thân, quan trọng nhất đối với con người như quyền được pháp luật bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm và tài sản Do đó, cần phải duy trì cơ chế kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát

Bảo đảm quyền con người bằng hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự

là một hoạt động nghiệp vụ đặc thù, được tiến hành liên tục đối với các đối tượng bị kiểm sát Chú trọng đặc biệt tới việc bảo đảm quyền con người của bị

Trang 40

cáo và những người tham gia tố tụng khác khi xét xử hình sự Với hoạt động kiểm sát của mình, Viện kiểm sát sẽ bảo đảm cho các quyền con người của những người tham gia tố tụng trong vụ án được tòa án tuân thủ đúng pháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền con người của những người tham gia tố tụng được

xử lý kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật Để bảo đảm quyền con người của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự của tòa án, Hội đồng xét xử và cả những người tham gia tố tụng khác nhằm phát hiện các vi phạm pháp luật để yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị khắc phục, xử lý kịp thời Bảo đảm quyền con người của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác bằng hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự của VKSND chỉ trong phạm vi bảo đảm việc Tòa

án, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật tố tụng hình sự và việc giải quyết vấn đề dân sự hoặc án phí trong vụ án hình sự, còn về tội phạm và hình phạt thuộc phạm vi thực hành quyền Công tố Có nghĩa là, Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tòa án, hội đồng xét xử có tuân theo pháp luật tố tụng hình sự, có xâm phạm quyền con người của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hay không Như vậy, có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền con người bằng kiểm

sát xét xử vụ án hình sự như sau: “Bảo đảm quyền con người bằng kiểm sát

hoạt động xét xử vụ án hình sự của VKSND một hình thức giám sát quyền lực Nhà nước, được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm giám sát, kiểm tra việc tuân theo pháp luật cả về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng đối với hoạt động xét xử của những người tiến hành tố tụng của tòa án

và những người tham gia tố tụng khi xét xử vụ án hình sự”

Tóm lại, với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra, xét xử, giam giữ, thi hành án hình sự, Viện kiểm sát góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Các quyền năng và biện pháp mà Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền con người rất đa dạng, như: Yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều

Ngày đăng: 31/10/2020, 13:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w