Tuy vậy, việc GDQCN cho sinh viên các trường đại học, các cơ sở đào tạo…ở nước ta nói chung, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, vẫn còn nhiều hạn chế, thậm chí ma
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ XUÂN THÁI
GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ XUÂN THÁI
GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Hành chính Quốc gia
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Hành chính Quốc gia xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2018
Học viên
Lê Xuân Thái
Trang 4MỤC LỤC Trang bìa
Lời cam đoan
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ECOSOC Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hiệp quốc
GDQCN Giáo dục quyền con người
ICCPR Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị
ICESCR Công ước Quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
KT-XH Kinh tế - xã hội
NNPQ XHCN Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật
TKGDQCN Thập kỷ giáo dục quyền con người
UDHR Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng sinh viên đại học chính quy của các trường đại học ở tỉnh Quảng Ngãi 52 Bảng 2.2 Tỷ lệ nam/nữ sinh viên đại học chính quy của các trường đại học ở tỉnh Quảng Ngãi 52 Bảng 2.3 Thành phần và tỷ lệ phạm tội ở tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2014 -
2017 54 Bảng 2.4 Số lượng các vụ vi phạm pháp luật của sinh viên các trường đại học
ở tỉnh Quảng Ngãi 55 Bảng 2.5 Số lượng đội ngũ giảng viên luật và lý luận chính trị của các trường đại học ở tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2015 đến năm 2017 56 Bảng 2.6 Thống kê trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên luật và lý luận chính trị các trường đại học ở tỉnh Quảng Ngãi năm 2017 57 Bảng 2.7 Tương quan giữa số lượng đội ngũ giảng viên luật - lý luận chính trị với số lượng sinh viên đại học hệ chính quy 58 Bảng 2.8 Thống kê các học phần có nội dung giảng dạy về quyền con người đối với sinh viên ngành luật kinh tế 59 Bảng 2.9 Thống kê các học phần liên quan đến quyền con người trong chương trình đào tạo chính khóa của các trường đại học ở Quảng Ngãi không chuyên luật 64
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một giá trị cơ bản và quan trọng của nhân loại Đó
là thành quả của sự phát triển lịch sử và là đặc trưng của xã hội văn minh Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, vì thế đòi hỏi của tuân thủ pháp luật, đó là mọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của mọi người và được bảo đảm, bảo vệ khi thực hiện các quyền con người
Quyền con người được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế, từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã trở thành một hệ thống, các tiêu chuẩn pháp luật chung của các quốc gia trong việc thực hiện các quyền con người trên thực tế
Ở Việt Nam, kể từ khi giành độc lập năm 1945, thông qua bản Tuyên ngôn độc lập của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, ngày 02/09/1945 là một văn kiện có tính lịch sử trên phương diện quốc tế về quyền con người Trên cơ sở đó, quyền con người đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung và Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ
6, Quốc hội khóa XIII Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã đưa chương quyền con người lên một vị trí quan trọng (chương 2, từ điều 14 đến điều 49) với 36/120 điều có nhấn mạnh và khẳng định quyền con người
Để thực hiện đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục quốc dân Nhà nước đã có nhiều chương trình, kế hoạch, đề án nhất là trong việc nâng cao nhận thức quyền của người dân Ngày 05/09/2017 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân (Quyết định số 1309/QĐ-TTg) như: “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức của người học, của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục về tầm quan trọng, ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân, tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác, ý thức về trách
Trang 8nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và xã hội, góp phần phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững của đất nước”[34]
Quyền con người là những quyền mặc định, đã là con người thì ai cũng như ai, nhưng hiểu biết về quyền con người thì không phải ai cũng giống nhau Vì thế giáo dục quyền con người nói chung, cho một đối tượng cụ thể là sinh viên, những chủ nhân tương lai của đất nước lại càng đặc biệt quan trọng
Trên thực tế hiện nay, quyền con người đã được giảng dạy thông qua trong nhiều môn học (học phần) ở nhiều cấp học tại Việt Nam Tuy vậy, việc GDQCN cho sinh viên các trường đại học, các cơ sở đào tạo…ở nước ta nói chung, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, vẫn còn nhiều hạn chế, thậm chí mang tính hình thức, việc truyền tải nội dung về quyền con người của nhiều cơ sở giáo dục đại học, thực sự cũng chưa cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết, để người học có thể tự đề kháng với những thông tin chưa chuẩn xác, ngày càng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng Mặt khác, việc GDQCN cho sinh viên ở Quảng Ngãi cũng là yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng dạy và học, chú trọng rèn luyện đạo đức, giáo dục pháp luật để góp phần tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển KT-XH, đóng góp vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH của đất nước
Với lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp - Luật Hành chính của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn
Liên quan tới đề tài nghiên cứu của luận văn đã có nhiều công trình khoa học được công bố cả trên phương diện quốc tế và trong nước, có thể kể tới những công trình khoa học đặc sắc sau:
Hội đồng Anh (2000), “Giảng dạy nhân quyền”, công trình này đề cập đến một số nội dung lồng ghép GDNQ với giáo dục pháp luật cho các đối
Trang 9tượng khác nhau trong xã hội
Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc (2003), “Sử dụng ABC: giảng dạy
về quyền con người, các hoạt động thực tiễn cho các trường phổ thông (cấp I
và cấp II)”, tài liệu này đã đề cập đến các nội dung giáo dục những kiến thức
cơ bản, sơ khai về nhân quyền cho học sinh cấp tiểu học và những hiểu biết ở mức bảo vệ nhân quyền cho học sinh cấp trung học cơ sở
TS Nguyễn Thị Phượng (2009), “Bảo đảm thực hiện quyền công dân của chính quyền địa phương”, Nxb Chính trị - Hành chính, 2009 Đây là sách chuyên khảo với những nội dung liên quan đến giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến quyền công dân ở Việt Nam trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
TS Nguyễn Quốc Sửu (2011),“Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã phân tích tương đối toàn diện, có hệ thống về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
GS.TS Võ Khánh Vinh (2011), “Giáo dục quyền con người - Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế, văn hóa và xã hội”, Nxb Khoa học Xã hội và Giáo trình “Quyền con người”, Nxb Khoa học Xã hội,
2015 Đây là những công trình có giá trị cả về lý luận và thực tiễn đề cập đến những vấn đề chung nhất của GDQCN ở Việt Nam hiện nay
Trần Ngọc Đường (2011), “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội Công trình khoa học này đã trình bày hệ thống quan niệm về quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam thông qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992
GS.TS Nguyễn Đăng Dung, PGS.TS Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên - 2015), “Lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb Chính trị quốc gia Đây là giáo trình chuyên khảo giảng dạy cho sinh
Trang 10viên trong các trường đại học ở Việt Nam, giáo trình đã trình bày có hệ thống các nội dung về lý luận và pháp luật về quyền con người
TS Nguyễn Văn Hiển (2014), “Quyền con người trong Hiến pháp
2013, quan điểm mới cách tiếp cận mới và các quy định mới”, Nxb Chính trị Quốc gia; TS Nguyễn Minh Tuấn (2015), “Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” Nxb Hồng Đức; PGS.TS Trịnh Quốc Toản, PGS.TS Vũ Công Giao (đồng chủ biên- 2017), “Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp 2013”, Nxb Lý luận chính trị; PGS.TS Lê Thị Hoài Thu (2013), “Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội; “Nghiên cứu giảng dạy về quyền con người” (số 3, 2009), chuyên đề thông tin quyền con người; Ths Nguyễn Văn Tuấn (2010), “Giáo dục quyền con người - Lý luận, thực tiễn quốc tế và Việt Nam” (đề tài khoa học cấp Đại học Quốc Gia Hà Nội) Đây là những giáo trình chuyên khảo và các đề tài khoa học đề cập đến quyền con người, GDQCN và các khía cạnh khác của GDQCN cho các đối tượng trong xã hội
Về các luận án, luận văn đã bảo vệ liên quan đến quyền con người và GDQCN ở Việt Nam hiện nay gồm có:
Luận án tiến sĩ triết học “Giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay” của Đỗ Thành Đô (2016) Luận án đã đề cập đến những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ nước ta
Luận văn thạc sĩ luật học “Giáo dục quyền con người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Ngọc Hưng (2014); Luận văn thạc sĩ luật học “Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay” của Hoàng Ngọc Long (2016); Luận văn thạc sĩ luật học “Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị Thu Thủy (2013); Luận văn thạc sĩ luật học “Giáo dục về quyền con người, quyền công
Trang 11dân ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Hữu Trí (2001); Luận văn thạc sĩ luật học “Quyền con người và Giáo dục về quyền con người ở Việt Nam hiện nay” của Thế Ngọc Mai (2014) Đây là những công trình đã được bảo vệ đề cập đến những nội dung cơ bản về quyền con người, quyền công dân và GDQCN cho các đối tượng khác nhau trong xã hội nói chung, GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam nói riêng
Tóm lại, những công trình trên đã đề cập tương đối đầy đủ về các đặc điểm và những yếu tố tác động đến GDQCN cho sinh viên các trường đại học
ở tỉnh Quảng Ngãi; thực trạng và những nhóm giải pháp nhằm nâng cao hoạt động GDQCN cho các đối tượng xã hội trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng đã ít nhiều được các tác giả đề cập đến Tất cả các công trình trên đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp cho chúng tôi tham khảo trong quá trình triển khai làm rõ những nhiệm vụ chính của luận văn là: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung nhất về GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam nói chung, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng; Phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua; Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoạt động GDQCN cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu luận văn là đưa ra được một cái nhìn có tính hệ thống, khoa học, sâu sắc, toàn diện về GDQCN và định hướng cụ thể chương trình GDQCN, cho nhóm đối tượng là thế hệ sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Trên cơ sở đó tìm ra và đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm triển khai thực hiện hiệu quả hoạt động GDQCN cho sinh viên các trường đại học - từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trang 123.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung nhất về GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam nói chung, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoạt động GDQCN cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được xác định là GDQCN nói chung và GDQCN cho sinh viên đại học hệ chính quy trong các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu về GDQCN cho sinh viên hệ đại học hệ chính quy của các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm: Trường Đại học Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Phạm Văn Đồng, Phân hiệu Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh tại Quảng Ngãi
Về thời gian nghiên cứu: luận văn thực hiện khảo sát thực tế và số liệu liên quan ở 3 trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2014 đến 2017
Về không gian nghiên cứu: luận văn nghiên cứu việc hoạt động GDQCN cho sinh viên đại học chính quy trong các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn sử dụng các quan điểm, phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
Trang 13sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay nói riêng, để nghiên cứu vấn đề GDQCN
và GDQCN cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Luận văn tiếp tục kế thừa những kết quả, quan điểm của các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra Đề tài luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến là:
- Phương pháp lôgíc và lịch sử: phương pháp này được sử dụng trong luận văn để nhằm phân tích, luận giải làm rõ khái niệm, nội dung, cấu trúc, chức năng của quyền con người; vị trí, nhiệm vụ của hoạt động GDQCN ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng nhằm chỉ ra những nét đặc thù về đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học nói chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, làm rõ những yếu tố tác động đến đối với hoạt động GDQCN cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng nhằm phân tích, đánh giá giúp cho luận văn làm rõ được các nội dung của đối tượng nghiên cứu; phương pháp tổng hợp sẽ giúp khái quát lại được các vấn đề đã phân tích trước đó, từ đó xây dựng các kết luận của quá trình nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu khoa học khác: được sử dụng trong quá trình điều tra, khảo sát thực trạng về hoạt động GDQCN trong các trường đại học tại Quảng Ngãi và giúp cho đề tài làm rõ được thực trạng và nguyên nhân của thực trạng GDQCN cho sinh viên thời gian qua, đồng thời còn là cơ sở để
đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GDQCN cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới
Trang 146 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sâu sắc thêm lý luận về nhà nước và pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin; chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, về GDQCN nói chung và GDQCN cho sinh viên bậc đại học nói riêng, trước yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn khi được công bố sẽ là nguồn tài liệu cho các cơ quan quản lý giáo dục, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và đội ngũ giảng viên trong nghiên cứu phục vụ công tác giảng dạy, quản lý và là tài liệu tham khảo khi học tập về quyền con người và GDQCN trên địa bàn tỉnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1 Nhận thức về giáo dục quyền con người cho sinh viên
1.1.1 Quyền con người
1.1.1.1 Khái niệm quyền con người
Thuật ngữ “quyền con người” được đề cập rất thông dụng trong thực tiễn, nhưng nội hàm khái niệm “quyền con người” vẫn chưa có sự thống nhất Cho đến nay, qua các tài liệu đã công bố trong nước và ngoài nước, có thể khẳng định rằng, chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh nào về quyền con người Theo định nghĩa trong “Đại từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, quyền con người chính là “nhân quyền”[47] Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như John Locke (1632 - 1704), JeanJacques Rousseau (1712 - 1778)…và sau này Karl Marx (1818 - 1883), Friedrich Engels (1820 - 1895) và V.I Lênin (1870 - 1924), cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này, giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác Nhìn lại quá khứ và hiện tại, quyền con người thường được nhìn nhận theo các khuynh hướng khác nhau, trong đó chủ yếu theo bốn khuynh hướng là: tự nhiên, thực định, kinh tế và quan niệm
Vậy, định nghĩa về quyền con người thường được nhìn nhận theo các khuynh hướng nào? Theo các tài liệu của Liên Hợp quốc “từ trước đến nay có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người”[49]
Định nghĩa thứ nhất, coi quyền con người là quyền “tự nhiên”, “trời phú” đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479 - 381
Trang 16tr.CN) đã cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là “ý trời” Theo đó, mỗi người đều có quyền tham gia công việc nhà nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội Ở Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học cũng có những tư tưởng tương tự
Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng Nó là
tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng Vì thế, không chỉ trong quá khứ mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định
Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách
là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên Nhưng nhược điểm của nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do
đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người
Định nghĩa thứ hai, theo khuynh hướng “thực định” trái với khuynh hướng quyền tự nhiên, khuynh hướng không để ý đến mặt pháp luật và Nhà nước của quyền con người, khuynh hướng thực định lại coi quyền con người
là tất cả những gì mà Nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cá nhân Chỉ những gì pháp luật cho phép tự do làm hay không làm thì mới là quyền con người, và chỉ được coi là quyền con người khi một hành vi hay một yêu cầu của cá nhân là hợp pháp
Khuynh hướng thực định có điểm hợp lý là đã gắn quyền con người với pháp luật, với ý chí Nhà nước mà điều này thì không thể bỏ qua được, vì quyền con người tất nhiên phải tồn tại dưới hình thức pháp luật
Nhưng nó cũng có nhược điểm ở chỗ, chỉ coi ý chí Nhà nước là nguồn gốc của quyền con người, coi trọng tính hợp pháp của quyền con người, song lại không để ý đến tính hợp lý của nó, cái mà nhờ đó ngay cả những đòi hỏi, những nhu cầu hợp lý cho cuộc sống con người trong xã hội, nhưng chưa
Trang 17được pháp luật ghi nhận cũng phải được coi là quyền con người Do đó, không thể coi quyền con người chỉ là cái được phép làm, được hưởng theo pháp luật, mà còn cả cái đáng được làm, đáng được hưởng, có thể không phù hợp tại thời điểm này nhưng có thể phù hợp thời điểm khác, hay nói cách khác những cái chưa được pháp luật khẳng định, nhưng sẽ phải khẳng định
Định nghĩa thứ ba, theo khuynh hướng “kinh tế” coi quyền con người
là những quyền nảy sinh từ nhu cầu của sản xuất, kinh doanh Nói cách khác, khuynh hướng này coi nguồn gốc của quyền con người là kinh tế Không phải
“trời phú” tự nhiên, cũng không phải do Nhà nước ban phát, mà chính đời sống kinh tế của con người trao cho con người các quyền Tác giả Từ Sùng
Ôn (Giáo sư Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc) trong bài báo “Về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhân quyền” đã viết: “nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện kinh tế xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định”[35]
Khuynh hướng kinh tế có điểm hợp lý ở chỗ, nó cho thấy nguồn gốc của quyền con người là bản thân đời sống xã hội của con người Nó tước bỏ cái vỏ
“thần thánh”, “tự nhiên”[28,tr.10], không giải thích được quyền con người, trả quyền con người về với đời sống thực tại của con người Theo khuynh hướng này, có thể đi đến quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề quyền con người Nó cũng cho thấy tính giai cấp trong những đòi hỏi về quyền con người
Song, sẽ là không đầy đủ nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế Bởi lẽ, quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, đời sống tinh thần, tình cảm của con người mà những điểm này nằm ngoài phạm trù kinh tế
Định nghĩa thứ tư, theo khuynh hướng “quan niệm” cho rằng quyền con người là tất cả những gì mà cá nhân con người cho là cần thiết và có giá trị đối với cuộc sống con người, tức là quyền lợi, nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con người
Trang 18Quyền con người là vấn đề phức tạp, chưa có sự thống nhất chung, chứa đựng những mặt đối lập, mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo đức và tôn giáo, đạo lý và luật pháp Nó cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại
Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có nhiều định nghĩa về quyền con người,
do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu ra Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau Có một số định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về quyền con người như Trung tâm Nghiên cứu quyền con người, tổ chức đầu tiên chuyên nghiên cứu về quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về quyền con người như: “Quyền con người là khả năng thực hiện các đặc quyền
tự nhiên và khách quan của con người, với tư cách là con người và với tư cách
là thành viên của xã hội, được bảo đảm bằng hệ thống chính sách, pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế về các giá trị con người trong các quan hệ vật chất, văn hóa, tinh thần, các nhu cầu tự do và phát triển”[37] Nói cách khác, quyền con người đóng vai trò “là cơ sở để xác định tính điều chỉnh
tự định đoạt của con người, khả năng độc lập của con người trong việc giải quyết các nhu cầu cá nhân”[22,tr.21]
Tóm lại, quyền con người qua phân tích các quan điểm trên đây là một vấn đề rộng lớn, phức tạp, nên luôn có nhiều cách hiểu khác nhau từ khái niệm, tính chất, bản chất, các thuộc tính, nội dung đến cách thức thực hiện quyền con người Kế thừa những điểm hợp lý của các học giả trong nước và quốc tế như đã phân tích ở trên, theo chúng tôi có thể hiểu về khái niệm quyền con người như sau: “Quyền con người là tổng hợp các giá trị chung của nhân loại, bao gồm các quyền dân sự - chính trị, quyền kinh tế - xã hội - văn hóa, quyền tập thể - phát triển, quyền pháp lý, được pháp luật quốc gia bảo vệ và phù hợp với các công ước, pháp luật quốc tế về quyền con người”
Trang 191.1.1.2 Phân loại quyền con người
Hiện nay, có rất nhiều cách phân loại quyền con người nhưng chủ yếu
là theo lĩnh vực, trong các lĩnh vực của đời sống, quyền con người được phân thành ba nhóm chính “Việc phân loại này chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và thực thi, chứ không nhằm xếp loại theo thứ tự ưu tiên hay tầm quan trọng của các quyền con người”[13, tr.61] Việc phân loại như vậy, cho phép nhìn nhận
rõ hơn đặc điểm, tính chất và những yêu cầu đặc thù trong việc bảo đảm mỗi loại quyền con người
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, quyền con người được phân thành các nhóm:
Thứ nhất, các nhóm quyền con người trong lĩnh vực dân sự - chính trị Bao gồm các quyền cá nhân trong lĩnh vực dân sự, chính trị, các quyền bình đẳng và tự do cá nhân Chúng giải quyết những vấn đề liên quan đến tự
do và sự tham gia vào đời sống chính trị của cá nhân Nhóm quyền này mang đậm chủ nghĩa cá nhân và được xây dựng để bảo vệ cá nhân khỏi sự xâm hại của nhà nước
- Quyền dân sự: là đảm bảo tối thiểu toàn vẹn về thể chất và tinh thần của cá nhân, như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm, các quyền về tài sản, quyền tự do đi lại, các quyền tự do cơ bản; quyền được bảo đảm an ninh cá nhân; quyền bình đẳng ngoài ra, cho phép
họ có nhận thức và niềm tin của riêng mình Ví dụ: quyền bình đẳng và tự do, quyền thực hành tôn giáo hoặc bày tỏ ý kiến và quyền không bị tra tấn hoặc sát hại
- Quyền chính trị: là cần thiết để tham gia vào đời sống cộng đồng và
xã hội gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý xã hội, tự do lập hội và tham gia hội họp, bày tỏ quan điểm và quyền tiếp cận thông tin
Thứ hai, nhóm quyền con người trong lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa Nhóm quyền này, được thiết kế nhằm đảm bảo sự bình đẳng về điều
Trang 20kiện và đối xử đối với con người Cá nhân không trực tiếp sở hữu quyền mà nội dung của quyền là những bổn phận tích cực nhà nước phải tôn trọng và thực hiện Ví dụ: người dân có quyền được tiếp cận giáo dục, quyền này được thực hiện thông qua việc nhà nước xây dựng các cơ sở giáo dục và tạo điều kiện để người dân tiếp cận chúng
- Quyền kinh tế: được coi là bao gồm nhóm quyền đối với lao động việc làm, quyền được hưởng mức sống thỏa đáng, quyền tự do kinh doanh, quyền có nhà ở và quyền được trợ cấp lúc về già hoặc khuyết tật Nhóm quyền kinh tế phản ánh sự thật rằng cần thiết phải có một số mức đảm bảo vật chất tối thiểu cho nhân phẩm con người, cũng như việc thiếu một việc làm ý nghĩa hay nhà ở có thể là sự hạ thấp tâm lý của họ
- Quyền xã hội: là những quyền cần thiết để cá nhân tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội, được bao gồm như quyền được giáo dục và quyền gây dựng - duy trì một gia đình, quyền vui chơi giải trí, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền riêng tư, quyền tự do không bị phân biệt đối xử, quyền được hưởng an sinh xã hội (quyền được hỗ trợ và bảo vệ của người cao tuổi là vô cùng cần thiết trong bất kỳ hệ thống an sinh xã hội nào)
- Quyền văn hóa: liên quan tới lối sống văn hóa của một cộng đồng và thường ít được chú ý hơn nhiều loại quyền khác, bao gồm quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng và hưởng thụ đời sống văn hóa; quyền được giáo dục Tuy nhiên, nhiều quyền khác tuy không chính thức được xếp vào quyền văn hóa, song vẫn rất cần thiết cho các cộng đồng thiểu
số trong một xã hội để bảo tồn sự khác biệt văn hóa của họ Ví dụ như quyền không bị phân biệt đối xử và quyền được pháp luật bảo hộ bình đẳng
Thứ ba, nhóm quyền tập thể - phát triển
Nhóm quyền tập thể - phát triển gồm quyền dân tộc cơ bản, tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc và quốc gia, quyền phát triển, quyền thông tin, quyền được sống trong hòa bình, quyền sống trong môi trường lành mạnh…
Trang 21Cơ sở hình thành quyền con người trong nhóm quyền này là sự liên đới, và những quyền này bao quát quyền tập thể của một xã hội hoặc một dân tộc, như quyền phát triển bền vững, quyền sống trong hòa bình hoặc quyền sống trong một môi trường lành mạnh, trong sạch
Nhiều quyền tập thể đã được ghi nhận, đặc biệt là trong Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền của các dân tộc Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền cũng bao gồm quyền tự quyết và quyền phát triển, được hệ thống hóa trong Tuyên bố chung năm 1968 của LHQ “Nhóm nhân quyền tập thể, phát triển được thể hiện rộng rãi trong nhiều văn bản “luật mềm” cấp tiến, như Tuyên bố Rio năm 1992 về Môi trường và Phát triển; và Dự thảo Tuyên
bố năm 1994 về Dân tộc Bản địa”[46]
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của sinh viên các trường đại học
1.1.2.1 Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ “sinh viên” được bắt nguồn từ một từ gốc Latinh là
“Students” với nghĩa là người làm việc, học tập, tìm hiểu, khai thác tri thức (Từ điển Bách khoa thư - tiếng Nga) Vì vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì
“sinh viên là những người đang theo học trong các trường đại học và các cơ
sở đào tạo trong hệ thống giáo dục của một quốc gia nhất định”
Khái niệm “sinh viên đại học” hiện nay có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau, cụ thể là:
- Quan niệm thứ nhất: “Sinh viên đại học là người đang học ở trường đại học” Trên thực tế, không ít người hiện nay tiếp cận khái niệm sinh viên theo nghĩa này Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này là trường đại học chỉ là một trong những cơ sở giáo dục đại học Ngoài học ở trường đại học, sinh viên còn có thể học ở các cơ sở giáo dục khác như đại học quốc gia, đại học trực thuộc các bộ, ngành, đại học trực thuộc tỉnh, trường cao đẳng, trung tâm, học viện, phân viện, cơ sở đào tạo liên thông, liên kết Ngoài ra, học sinh các lớp chuyên, học sinh dự bị đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng
Trang 22có thể học ở trường đại học nhưng không phải là sinh viên
- Quan niệm thứ hai: “Sinh viên đại học là người học chương trình đại học”, thực tế, quan niệm này cũng chỉ đúng một phần, vì những người học ở các trường cao đẳng, học chương trình, nội dung đào tạo thấp hơn so với chương trình, nội dung đào tạo đại học thì vẫn được gọi là sinh viên
- Quan niệm thứ ba: “Sinh viên đại học là người học ở bậc đại học” Thực tế cho thấy, cao đẳng và đại học cùng bậc nhưng khác trình độ Ví dụ:
về trình độ cao đẳng thấp hơn đại học; tương tự như cấp 1, cấp 2, cấp 3 cùng bậc phổ thông nhưng về trình độ thì cấp 1 phải thấp hơn cấp 2…Theo đó, tất
cả những ai đang học ở bậc đại học, bất kể chính quy hay không chính quy, tuổi nhỏ hay lớn, đang học ở các cơ sở giáo dục đại học thì đều được coi là sinh viên (định nghĩa sinh viên trong Từ điển tiếng Việt 2010, Hoàng Phê chủ biên) Vì vậy quan điểm này mặc dù chưa được chọn vẹn, nhưng cũng tương đối đầy đủ và có thể chấp nhận được
- Quan niệm thứ tư: “Sinh viên đại học là người được đào tạo theo chương trình cao đẳng hoặc đại học”, quan điểm này giúp ta nhận diện được sinh viên học chương trình đào tạo bậc đại học và bậc cao đẳng, giúp phân biệt sinh viên với học viên bậc cao học (thạc sĩ) và nghiên cứu sinh (tiến sĩ)
Tóm lại, mỗi quan điểm vừa có hạn chế và những yếu tố hợp lý, kế thừa các quan điểm trên đây, chúng tôi khái quát về khái niệm sinh viên đại học ở Việt Nam như sau: “Sinh viên đại học là một nhóm đối tượng đang theo học ở các trường đại học, các cơ sở đào tạo ở Việt Nam Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện, chuẩn bị gia nhập đội ngũ trí thức, lao động kỹ thuật cao của đất nước”
1.1.2.2 Đặc điểm của sinh viên
Thứ nhất, sinh viên đại học trước hết là những người có tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25; dễ thay đổi; ưa các hoạt động giao tiếp; là những
Trang 23người dễ tiếp thu tri thức mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo…
Thứ hai, về môi trường sống, sinh viên đại học thường theo học tập trung tại các đô thị lớn, tập trung đông người, sinh viên thường sinh hoạt tập trung trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, độ tuổi, tâm lý và tính cách
Thứ ba, sinh viên đại học là những người mang nặng tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ
Thứ tư, sinh viên đại học mang tính năng động: Nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, doanh nghiệp ), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty, doanh nghiệp ngay khi đang còn là sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện trong nhà trường và ngoài nhà trường ) Nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường đại học hoặc học hai chuyên ngành khác nhau
Thứ năm, sinh viên còn thể hiện rõ bản tính của họ là lý tưởng, đó là sự lựa chọn tương lai cho mình khi họ lựa chọn ngành nghề học tập và chí hướng theo đuổi các công việc khác trong nhà trường như tham gia phong trào thanh niên, phong trào xã hội khác do họ tổ chức hoặc do nhà trường phát động Vì vậy, một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không? Có thể khẳng định là có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính ý thức hệ gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền
Trang 24với quyền và lợi ích cá nhân
- Thứ sáu, tính liên kết (tính nhóm) của sinh viên: Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong sinh viên trước xu hướng toàn cầu hóa (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này), đang hướng mạnh đến tính cộng đồng
- Thứ bảy, tính cá nhân chủ nghĩa của sinh viên: Trào lưu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là sinh viên Họ tự
ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có
sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự hy sinh và quan tâm đến người khác thấp đi dưới góc độ kinh tế và đã xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận sinh viên, đang có xu hướng gia tăng
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường đại học
1.1.3.1 Khái niệm giáo dục và giáo dục quyền con người cho sinh viên đại học
Về khái niệm giáo dục
Để làm rõ khái niệm GDQCN trước hết cần phải xuất phát từ việc làm
rõ khái niệm giáo dục Vậy giáo dục là gì?
Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự ảnh hưởng tác động của những điều kiện khách quan đã và đang tồn tại xung quanh đối tượng giáo dục như môi trường sống, chế độ xã hội, truyền thống văn hóa, xã hội, tập quán, phong tục, trình độ phát triển kinh tế, nền văn minh của nhân loại và sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của bản thân con người đối với đối tượng giáo dục
Trang 25Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch cụ thể của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được những kết quả nhất định trong việc truyền bá những kinh nghiệm, kiến thức trong quá trình đấu tranh và sản xuất, truyền bá những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy mà thế hệ trước đã tích lũy được cho thế hệ sau
Từ quan niệm trên đây về giáo dục chính là cơ sở lý luận giúp cho chúng ta đi sâu làm rõ khái niệm GDQCN và GDQCN cho sinh viên đại học
Về khái niệm giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường đại học
Thuật ngữ “Giáo dục quyền con người” có nhiều cách tiếp cận khác nhau và chưa có sự thống nhất trong điều kiện của Việt Nam
Trong các công trình khoa học, tài liệu nghiên cứu, khái niệm GDQCN được hiểu ở các khía cạnh sau:
Theo nghĩa rộng, GDQCN cho sinh viên đại học là tổng thể tất cả các khâu của quá trình GDQCN; sự ảnh hưởng tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hình thành nên tri thức về quyền con người, tình cảm pháp luật và các hành vi tôn trọng đảm bảo thực hiện quyền con người cho đối tượng là sinh viên đang học tập trong các trường đại học
Theo nghĩa hẹp, GDQCN cho sinh viên đại học là hoạt động tương tác giữa chủ thể GDQCN với đối tượng GDQCN dưới các hình thức chủ yếu là giảng dạy những nội dung của quyền con người trong chương trình chính khóa, chương trình ngoại khóa và lồng ghép vào các hoạt động phong trào, đoàn thể trong các trường đại học để chuyển tải các nội dung của GDQCN cho sinh viên
Như vậy, GDQCN cho sinh viên đại học hiện nay ngoài việc cung cấp những kiến thức hiểu biết về quyền con người, cần thiết các chủ thể GDQCN còn phải chú trọng trang bị cho họ những kiến thức hiểu biết pháp luật chuyên sâu về quyền con người gắn với ngành nghề đào tạo và chuyên môn Đây là
Trang 26sự khác biệt cơ bản giữa GDQCN cho sinh viên đại học với GDQCN cho các đối tượng khác trong xã hội
Mặt khác, sinh viên trong các trường đại học hiện nay khác nhau về ngành, chuyên ngành đào tạo; thời gian, khối lượng, chương trình, mục tiêu, yêu cầu của các ngành, chuyên ngành đào tạo cũng khác nhau Vì vậy, GDQCN cho sinh viên cần phù hợp, tương thích với yêu cầu về kiến thức, mục tiêu của từng ngành, từng trường đại học, từng cơ sở đào tạo và phù hợp với đặc điểm của sinh viên Điều này đòi hỏi phải tìm ra cách tiếp cận GDQCN phù hợp với sinh viên trên tất cả các khía cạnh khác nhau, từ nội dung chương trình, phương pháp đến hình thức giáo dục Do đó, không được đồng nhất nội dung, chương trình GDQCN cho sinh viên chuyên luật với chương trình GDQCN cho sinh viên không chuyên luật
Từ những phân tích trên, có thể hiểu GDQCN cho sinh viên đại học như sau: “Giáo dục quyền con người cho sinh viên đại học là hoạt động đào tạo, giảng dạy có định hướng, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức cho mỗi sinh viên về tầm quan trọng, ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân, tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác, ý thức về trách nhiệm, nghĩa
vụ của công dân đối với nhà nước và xã hội, phù hợp với các yêu cầu, các chuẩn mực từ các công ước, pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia và tương lai tiến bộ của nhân loại về quyền con người”
1.1.3.2 Đặc điểm giáo dục quyền con người cho sinh viên đại học GDQCN cho sinh viên đại học khác với các hoạt động giáo dục khác ở những đặc điểm sau:
GDQCN cho sinh viên đại học trước hết phải đạt mục đích truyền tải những tri thức cơ bản về quyền con người cho sinh viên Đây là hoạt động giáo dục mang tính hướng đích, nhằm hình thành tri thức tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với mong muốn, với yêu cầu, quy định của mỗi quốc gia
Trang 27dân tộc, của nhân loại, của thế giới về quyền con người
GDQCN cho sinh viên đại học phải chứa đựng nội dung giáo dục riêng Đây là sự tác động có định hướng với nội dung cơ bản là sự truyền bá tri thức của nhân loại, của dân tộc, những quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người, trong đó, các công ước, pháp luật quốc tế về quyền con người, những quy định của Hiến pháp, pháp luật quốc gia là cực kỳ quan trọng, mang tính cơ bản, nền tảng trong hoạt động GDQCN cho sinh viên
Xét trên các yếu tố chủ thể, đối tượng, phương pháp GDQCN cũng chứa đựng những nét đặc thù riêng biệt Nó là cả quá trình tác động thường xuyên, liên tục, trên nhiều cấp độ, đối với từng đối tượng sinh viên, người học, là quá trình lâu dài, chứ không phải chỉ là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo dục là đã hoàn tất việc giáo dục Vì vậy, đây là quá trình kết nối, tác động hỗ trợ qua lại giữa gia đình, nhà trường, xã hội, bạn bè, các tổ chức tập thể lao động, tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể xã hội, nhóm xã hội, tổ chức tôn giáo, các sắc tộc, các dân tộc, các quốc gia và tổ chức LHQ
Như vậy, để có một nền giáo dục tốt cho các thế hệ trẻ hiện nay cũng như trong tương lai, việc GDQCN cho sinh viên là một quá trình nhằm truyền đạt các kiến thức, các kỹ năng để người học có những hiểu biết về quyền con người, những giá trị phẩm giá, bình đẳng, tin cậy lẫn nhau, sự tôn trọng và hiểu biết về quyền của người khác, tôn trọng pháp luật để từ đó thúc đẩy mọi người tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội và cùng nhau xây dựng một
“nền văn hóa nhân quyền”[19] chung của nhân loại
Từ những đặc điểm trên cho thấy, việc GDQCN cho sinh viên không chỉ đơn thuần cung cấp các kiến thức cơ bản cho sinh viên biết về quyền của mình và các cơ chế để bảo vệ quyền, mà còn nhằm tới mục đích truyền đạt các kỹ năng quan trọng, để sinh viên không chỉ hiểu biết mà còn có hành động tích cực để thực hiện các quyền của mình và tôn trọng quyền của người khác, từ đó thúc đẩy và góp phần bảo vệ các quyền con người ở Việt Nam
Trang 28Một là: Đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy quyền con người cho sinh viên trong các trường đại học được xác định là những người đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào công tác GDQCN cho sinh viên Đó là những nhà giáo, giảng viên, cán bộ, viên chức, mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia thực hiện các mục đích, mục tiêu của GDQCN cho đối tượng tiếp nhận GDQCN Như vậy, chủ thể GDQCN cho sinh viên chính là những nhà giáo, giảng viên trực tiếp giảng dạy, truyền đạt các kiến thức về quyền con người cho sinh viên trong các trường đại học Hai là: Chủ thể của GDQCN cho sinh viên còn bao gồm các cơ sở giáo dục đại học với hệ thống cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, cán bộ với hoạt động quản lý và sự vận hành của nó Các cơ sở giáo dục đại học là nơi tổ chức các hoạt động GDQCN cho sinh viên như: chuẩn bị các điều kiện vật chất, các phương tiện giảng dạy xây dựng, ban hành, quản lý nội dung, chương trình GDQCN như chương trình khung, giáo trình, tài liệu tham khảo, chuyên khảo tuyển dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, giảng viên thực hiện kế hoạch tuyển sinh và quản lý quá trình đào tạo, triển khai quá trình giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và công nhận tốt nghiệp cho sinh viên, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động phong trào kết hợp với giáo dục chính khóa
1.2.2 Đối tượng
Đối tượng giáo dục quyền con người cho sinh viên là những sinh viên chịu sự tác động của chủ thể GDQCN, trực tiếp tham gia quá trình GDQCN
Trang 29để tiếp thu, tiếp nhận, hấp thụ những thông tin, vốn tri thức, hiểu biết quyền con người, pháp luật về quyền con người phục vụ cho công tác chuyên môn sau khi tốt nghiệp ra trường Sinh viên trong các trường đại học hiện nay đa dạng về ngành, nghề đào tạo, đa dạng về cấp học, bậc học, đa dạng về trình
độ đào tạo Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi xác định đối tượng của giáo dục quyền con người là những sinh viên đại học hệ chính quy đang học tập trong các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 1.2.3 Nội dung
Các yếu tố cấu thành nội dung giáo dục về quyền con người nói chung mang nghĩa rộng, bao gồm các hoạt động nghiên cứu về các giá trị của quyền con người, các nhóm quyền con người, các khái niệm, đặc điểm, tính chất, các kiến thức, kỹ năng thực hành quyền con người, các hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật về quyền con người đến mọi cá nhân trong xã hội, nhằm đạt được mục đích của GDQCN, không phân biệt người học là ai và khi xây dựng nội dung GDQCN cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định
Ngoài ra, việc xác định nội dung GDQCN trong các trường đại học là yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình GDQCN Nội dung GDQCN dựa trên
cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của từng đối tượng cụ thể và xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ, mục đích của dạng giáo dục này Phạm vi của dạng giáo dục này là rất rộng, có những đặc điểm đặc thù riêng không đồng nhất, không lẫn với các nội dung giáo dục khác, nhưng nó có thể lồng ghép, đan xen với nội dung giáo dục khác như giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật cho sinh viên
Theo tác giả Nguyễn Hữu Trí, nội dung GDQCN được chia thành ba cấp độ khác nhau như sau:
- Yêu cầu tối thiểu về nội dung GDQCN Cấp độ này bao gồm những nội dung tối thiểu nhất, phổ thông nhất về quyền con người, phù hợp với đối tượng là quảng đại quần chúng nhân dân, nhằm giúp họ hình thành những tri thức tối thiểu, hình thành tình cảm, thói quen đơn giản trong việc thực hiện
Trang 30quyền con người
- Yêu cầu riêng về GDQCN theo nhu cầu về ngành, nghề, địa vị xã hội, giới, nhóm xã hội như ngành luật Nội dung GDQCN ở cấp độ này thường có tính tổng hợp, hệ thống, nền tảng, bao gồm: hệ thống các khái niệm, phạm trù
cơ bản của quyền con người; những tri thức về quyền con người được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, quốc tế
- Yêu cầu giáo dục có tính chuyên ngành về quyền con người Đây là cấp độ cao nhất của GDQCN, bao gồm những tri thức mang tính chuyên sâu
về quyền con người, những vấn đề mang tính chất kỹ năng, kỹ xảo, thao tác nghề nghiệp về quyền con người Nội dung giáo dục ở cấp độ này chủ yếu dành cho các đối tượng trở thành chuyên gia nghiên cứu, giảng dạy ở cấp đại học và trên đại học, các chuyên gia hoạt động trong các tổ chức quốc gia, pháp luật quốc tế [39]
1.2.4 Hình thức và phương pháp
1.2.4.1 Hình thức
Theo giáo dục học, hình thức giáo dục được hiểu là cách thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh nội dung giáo dục và đạt mục đích giáo dục Ở khía cạnh này, GDQCN cũng giống như các dạng giáo dục khác, do đó, cũng là những phương thức chuyển tải và tiếp nhận kiến thức về quyền con người nhằm đạt được mục tiêu
và nhiệm vụ giáo dục quyền con người
Hình thức GDQCN là các dạng hoạt động cụ thể, có tổ chức, phối hợp giữa các chủ thể GDQCN và đối tượng GDQCN Hình thức GDQCN rất đa dạng và phong phú GDQCN có thể dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp; qua tranh ảnh, lời nói; qua phương pháp nêu gương, lên lớp, thảo luận, tham gia các hoạt động thực hành, thực tế, tự học và tham gia các hoạt động khác
do giảng viên, giáo viên quy định GDQCN cho sinh viên cũng có thể được thực hiện một cách chính thức hoặc không chính thức Giáo dục chính thức
Trang 31(chính khóa) được kéo dài từ giáo dục mẫu giáo qua bậc tiểu học, trung học
cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học
Giáo dục không chính thức (ngoại khóa) bao gồm những hoạt động giáo dục được tổ chức và thường là bên ngoài hệ thống giáo dục chính thức
Nó được thiết kế cho những nhóm học cụ thể với những mục tiêu học cụ thể như: Giáo dục không chính thức bao gồm GDQCN cho sinh viên, thanh niên
và các đối tượng khác trong xã hội có thể chia hình thức GDQCN thành hai loại sau:
- Các hình thức GDQCN mang tính phổ biến, truyền thống như phổ biến, nói chuyện về quyền con người tại các buổi học tập, bồi dưỡng, hội nghị, cuộc họp, hội thảo, câu lạc bộ về quyền con người; các lớp giảng chuyên đề cho các đối tượng chuyên biệt, các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, GDQCN qua sinh hoạt văn hóa cộng đồng, hội đoàn thể học sinh, sinh viên, thanh niên, hội quần chúng…qua các phương tiện thông tin đại chúng;
tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài quyền con người, thông tin cổ động, dạy và học về quyền con người
- Các hình thức GDQCN cho các đối tượng học đặc thù Đây là các hoạt động định hướng GDQCN thông qua các hoạt động hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp của các
cơ quan Nhà nước, như Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Công an và các hội đoàn thể đặc thù khác
1.2.4.2 Phương pháp
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “me todos”, có nghĩa là con đường “cách thức tự vận động bên trong nội dung, nó gắn với hoạt động của con người, giúp con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu đã đề ra”[38] Phương pháp tạo nên hiệu quả của quá trình GDQCN, vì vậy, việc lựa chọn phương pháp luôn được đặt lên hàng đầu
Trang 32trong khi thiết kế, xây dựng nội dung triển khai một bài giảng cụ thể Phương pháp bao giờ cũng xuất phát từ một mục đích nhất định, nội dung giáo dục nhất định Mục đích, nội dung GDQCN quy định phương pháp nhưng bản thân phương pháp có tác dụng trở lại mục đích, nội dung, làm cho nội dung ngày càng hoàn thiện, làm cho mục đích đạt được ngày càng cao Phương pháp GDQCN có mối quan hệ qua lại mật thiết với các nhân tố khác của quá trình giáo dục mà trước hết là hình thức giáo dục Phương pháp giáo dục và hình thức giáo dục là hai khái niệm độc lập, không đồng nhất, nhưng lại có mối quan hệ mất thiết với nhau Mỗi hình thức giáo dục nhất định luôn luôn gắn với những phương pháp giáo dục nhất định, đặc thù của hình thức đó Ngược lại, phương pháp giáo dục tác động trở lại làm cho hình thức giáo dục phát triển ngày càng hoàn thiện hơn
Do đó, không có một phương pháp GDQCN nào là tối ưu hay toàn diện, mỗi phương pháp đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm riêng nên người giảng dạy phải biết lựa chọn để phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của từng phương pháp
Một phương pháp GDQCN được coi là hợp lý và hiệu quả khi đáp ứng được các yếu tố sau:
Một là, phương pháp giáo dục phải có mục tiêu giáo dục cho các đối tượng học rõ ràng; tạo ra khả năng cao nhất để thực hiện mục tiêu giáo dục, đặc biệt hơn là nhiệm vụ GDQCN cho các đối tượng học; chuyền tải các kiến thức, nhận thức, kỹ năng tiếp nhận thông tin về quyền con người của người học Hai là, phương pháp giáo dục phải phù hợp với nội dung GDQCN cụ thể, đặc thù của từng bài học và phù hợp với từng vấn đề cụ thể, từng giai đoạn cụ thể trong chương trình học, giờ học
Ba là, phương pháp giáo dục phải phù hợp với các ngành học, môn học, năng lực học, trình độ, sở thích, hứng thú, kinh nghiệm của người giảng dạy, người học và các điều kiện giáo dục khác
Trang 33Xuất phát từ những yếu tố trên, việc lựa chọn phương pháp GDQCN phải căn cứ vào: mục tiêu và nội dung GDQCN cho từng ngành học, môn học (học phần/môn học, chương, mục, bài học, giáo trình, tập bài giảng có từng nội dung cụ thể trong các giai đoạn triển khai giờ học trên lớp ), nguyên tắc GDQCN cho từng ngành học, chuyên ngành học, môn học, đặc điểm tâm sinh
lý, khả năng tiếp thu, trình độ, hứng thú của người học và trình độ chuyên môn, kiến thức, năng lực sư phạm của người giảng dạy Để phát huy hết ưu điểm của các phương pháp GDQCN “người dạy cần kết hợp, xen kẽ nhiều phương pháp nhằm lấy ưu điểm của phương pháp này, khắc phục nhược điểm của phương pháp kia, tạo ra sự linh hoạt, đa dạng trong một giờ học”[28] 1.2.5 Tổ chức thực hiện
Hiện nay, việc tổ chức thực hiện đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân là yêu cầu cấp thiết Ngày 05/09/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1309/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Nội dung đề án đang được triển khai thực hiện, từng bước hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam về GDQCN Chính phủ giao cho Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cùng phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ sở đào tạo, các trường đại học…tổ chức thực hiện cụ thể như sau:
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì:
+ Về nội dung, tiến độ triển khai, theo dõi, giám sát thực hiện Đề án Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thành lập Ban điều hành
Đề án gồm đại diện các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và
Xã hội, Tư pháp, Tài chính, Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Văn phòng Ban Chỉ đạo Nhân quyền của Chính phủ và một số cơ quan, đơn vị có liên quan, trong đó Trưởng Ban điều hành Đề án là Giám đốc Học viện Chính trị
Trang 34quốc gia Hồ Chí Minh; Ban điều hành Đề án có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch
và tổ chức thực hiện Đề án; tiến hành tổ chức kiểm tra, tổng hợp tình hình, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Đề án; Trưởng Ban điều hành Đề án quyết định việc thành lập Tổ thư ký Đề án và quy định lề lối làm việc của Ban điều hành, Tổ thư ký;
+ Chủ trì, tổ chức triển khai một số đề tài nghiên cứu chuyên sâu về nội dung và phương pháp giáo dục quyền con người; tổ chức biên soạn tài liệu truyền thông, sách hướng dẫn giảng dạy, các tài liệu tham khảo về giáo dục quyền con người; hỗ trợ các cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong toàn quốc củng cố hoàn thiện hệ thống thư viện;
+ Phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp biên soạn giáo trình dùng chung về quyền con người sử dụng trong các
cơ sở đào tạo khối ngành chuyên luật, hành chính và nội chính;
+ Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội biên soạn tài liệu bồi dưỡng, tập huấn giáo viên và giảng viên;
+ Xây dựng trang thông tin về giáo dục quyền con người trên cổng thông tin điện tử của Học viện và hướng dẫn sử dụng trong toàn quốc;
+ Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng dự toán kinh phí và bảo đảm hiệu quả sử dụng kinh phí của Đề án theo quy định hiện hành;
+ Tổ chức quản lý, tổng kết, nghiệm thu kết quả chung của Đề án; báo cáo quá trình triển khai và thực hiện Đề án theo quy định
- Bộ Giáo dục và Đào tạo:
+ Chủ trì, phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức việc rà soát, hoàn thiện chương trình giáo dục, giáo trình, sách giáo khoa
và tài liệu ở các cấp học trong chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục đại học;
Trang 35+ Phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn tài liệu bồi dưỡng giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên các cấp;
+ Chủ trì, phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quyền con người cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục theo sự phân công của Ban điều hành Đề án;
+ Xây dựng trang thông tin phổ biến, giáo dục quyền con người trong nhà trường trên cổng thông tin điện tử của Bộ và hướng dẫn sử dụng trong toàn ngành;
+ Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục quyền con người trong các cấp học, ngành học;
+ Chỉ đạo các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục trực thuộc
tổ chức công tác phổ biến, giáo dục quyền con người theo đúng nội dung, kế hoạch của Đề án;
Như vậy, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cần phố hợp với các cơ quan chủ quản được nêu ở trên, thực hiện việc cử giảng viên, cán
bộ quản lí giáo dục…cho đi tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về quyền con người, bảo đảm cho việc GDQCN cho sinh viên trong thời gian tới
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường đại học
1.3.1 Nội dung giáo dục quyền con người cho sinh viên
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong những năm vừa qua gặp nhiều khó khăn và trở ngại Vì vậy, ngày 05/9/2017 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án (Quyết định 1309/QĐ-TTg) đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân là một bước tiến mới Việc xây dựng hoàn thiện nội dung QCN đưa vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo
Trang 36dục Ở đây, tôi xin đề cập đến nội dung GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, được chia làm hai phần nội dung cơ bản
và nội dung chuyên sâu như sau:
Thứ nhất, về nội dung cơ bản được tích hợp, lồng ghép trong các học phần/môn học liên quan đến quyền con người đưa vào giảng dạy cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật (khối tự nhiên và xã hội, khối kinh tế, kỹ thuật ); cần thiết phải đưa vào chương trình học những nội dung sau: “a) Khái niệm, nguồn gốc, bản chất và tính chất của quyền con người, quyền công dân; b) Nội hàm của các quyền con người được quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và các công ước quốc tế khác; c) Các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 và các luật chuyên ngành; bảo vệ, bảo đảm quyền của các nhóm dễ tổn thương trong
xã hội; d) Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN; đ) Trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể (nhà nước, tổ chức, cá nhân) trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; e) Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân”[34]
Ngoài ra, cần giảng dạy cho sinh viên những kiến thức chung về Hiến pháp, trong đó có các chế định quan trọng liên quan tới quyền con người: pháp luật dân sự, hành chính, kinh tế, đất đai, lao động, kinh tế, bình đẳng giới, an sinh xã hội…; Các điều ước quốc tế liên quan tới quyền con người mà Nhà nước là thành viên tham gia ký kết hoặc thỏa thuận hợp tác; Ý thức tôn trọng
và chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền con người trong thực hiện pháp luật;
cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người và của công dân; trình
tự thủ tục liên quan tới quyền con người, ví dụ trình tự thủ tục về cấp sổ đỏ; cách thức cập nhật VBQPPL, đặc biệt là thông tin liên quan tới hoạt động giải quyết các yêu cầu về quyền và nghĩa vụ công dân của chính quyền
Trang 37Thứ hai, đưa vào chương trình giảng dạy nội dung chuyên sâu cho một
số trường đại học, cơ sơ đào tạo có các ngành, chuyên ngành đào tạo luật, hành chính, an ninh, quốc phòng, quan hệ quốc tế ngoài các nội dung cơ bản nêu ở phần thứ nhất mục 1.3.1 còn bổ sung những nội dung chuyên sâu, phù hợp về: “a) Cơ chế quốc tế, khu vực và mô hình cơ quan quốc gia về quyền con người ở một số nước trên thế giới và cơ chế bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam; b) Chức năng, nhiệm vụ, quy trình nghiệp vụ bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân (gắn với đặc thù đối tượng đào tạo của từng trường); c) Các vấn đề liên quan đến cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo
vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; d) Các biện pháp phòng, chống oan, sai và trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động công vụ - Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam; đ) Những vấn đề cơ bản của Luật nhân đạo quốc tế, Luật hình sự quốc tế và Luật quốc tế về chống khủng bố”[34]
Như vậy, các trường đại học, các cơ sở đào tạo có thể làm căn cứ và phối hợp với các cơ quan chức năng được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện ở (mục 1.2.5 chương 1) tham gia nghiên cứu, áp dụng viết giáo trình, sách, tài liệu, tích hợp, lồng ghép nội dung phù hợp vào chương trình giảng dạy cho sinh viên
1.3.2 Hình thức giáo dục quyền con người cho sinh viên
Các yếu tố ảnh hưởng đến hình thức GDQCN cho sinh viên các trường đại học trong những năm vừa qua, phần nào đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến những vấn đề cấp thiết như:
Hình thức GDQCN cho sinh viên là cách thức tổ chức hoạt động GDQCN, cách thức tiến hành một hoạt động cụ thể để đạt được mục đích hình thành ở đối tượng tình cảm, đạo đức, tri thức và hành vi pháp lý, hành vi xử
Trang 38sự về quyền con người phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật về quyền con người chưa được phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chủ quản và các
cơ sở giáo dục
Xét theo quan điểm triết học về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức GDQCN cho sinh viên giữ vai trò hỗ trợ hoặc tác động trở lại đối với kết quả chung của hoạt động GDQCN Nếu nội dung quyền con người phù hợp, thiết thực, dễ hiểu, gần gũi, thái độ tôn trọng, chia sẻ, biết bảo vệ quyền con người…nhưng nếu hình thức tổ chức mờ nhạt, thiếu sáng tạo, xa rời thực tiễn thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả GDQCN cho sinh viên
Vì lẽ đó, GDQCN cho sinh viên, cho các đối tượng học luôn được cả xã hội (Nhà nước, các tổ chức, cơ quan, hội đoàn thể, công dân ) quan tâm ở cả nội dung và hình thức giáo dục, truyền tải kiến thức, thông tin pháp lý về quyền con người để sinh viên và các đối tượng học khác được tác động, hình thành được thói quen, tình cảm, đạo đức, tôn trọng nhân phẩm, các quyền tự
do của người khác, tôn trọng pháp luật và có hành vi xử sự phù hợp, có ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật Ngoài ra, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hình thức GDQCN cho sinh viên như:
- Tuyên truyền miệng về quyền con người là một hình thức tuyên truyền mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực quyền con người trong đó chủ yếu là các văn bản pháp luật về quyền con người, các nhóm quyền con người nhằm nâng cao nhận thức pháp luật về quyền con người, các nhóm quyền con người
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua hệ thống truyền thanh
cơ sở, báo in, báo hình
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua việc biên soạn, phát hành tài liệu pháp luật về quyền con người, các nhóm quyền con người, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi sinh viên đối với các quyền con người
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua hoạt động GDQCN
Trang 39trong nhà trường, GDQCN là sự tác động có định hướng có tổ chức nhằm hình thành tri thức, đạo đức, tình cảm và hành vi phù hợp với quy định của pháp luật, pháp luật về quyền con người làm cho mỗi sinh viên tự giác tuân thủ nội quy, quy chế trong nhà trường, trong học tập, chấp hành pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật
Đó là một trong các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hình thức GDQCN được thực hiện thông qua việc dạy và học về quyền con người trong các nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần hình thành và bồi dưỡng ý thức, trách nhiệm và nghĩa vụ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua tủ sách pháp luật về quyền con người là công cụ hữu hiệu để thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu, đọc các sách, tài liệu về quyền con người, pháp luật về quyền con người, người đọc tập hợp nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng các quy định của pháp luật về quyền con người vào thực tế một cách đầy đủ, có hệ thống, chính xác
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu về quyền con người, pháp luật về quyền con người là một trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người, là cầu nối chuyển tải những nội dung quyền con người, pháp luật về quyền con người vào cuộc
Trang 40sống, là hình thức sinh hoạt văn hoá pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua các loại hình tư vấn về quyền con người, pháp luật quyền con người, trợ giúp pháp lý
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua hoạt động hòa giải ở
cơ sở, là việc các tổ viên hoà giải bằng hoạt động hòa giải của mình cung cấp các kiến thức pháp luật về quyền con người, bồi dưỡng tình cảm pháp luật về quyền con người cho các bên tranh chấp và những người khác trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích hình thành cho sinh viên sự hiểu biết pháp luật
về quyền con người, ý thức tôn trọng quyền con người và thói quen hành động tôn trọng nhân phẩm, quyền của người khác, giúp cho sinh viên hiểm và tránh được các thình thức vi phạm về sau
- Hình thức giáo dục quyền con người thông qua các loại hình văn hóa, văn nghệ là đưa tinh thần một quy phạm pháp luật về quyền con người vào đời sống xã hội bằng ngôn ngữ riêng của một loại hình văn hoá, văn nghệ nào
đó như kịch, lễ hội, áp phích, băng rôn
- Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến hình thức giáo dục quyền con người như:
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến hình thức GDQCN mang tính truyền thống đã được sử dụng thường xuyên, rộng rãi trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người, trên thực tế, có một số hình thức phổ biến, giáo dục quyền con người khác xuất hiện những năm gần đây do yêu cầu thực tiễn của công tác phổ biến, giáo dục quyền con người giai đoạn hiện nay như: Báo điện tử, trang thông tin điện tử, mạng Internet, phát thanh có hình phần nào
đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến các hình thức GDQCN cho sinh viên, các đối tượng học
1.3.3 Phương pháp giáo dục quyền con người cho sinh viên
Các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp GDQCN cho sinh viên trong các trường đại học có thể đến từ nhiều phương pháp khác nhau, có thể kể đến các