1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO vệ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM sát xét xử vụ án HÌNH sự từ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM sát NHÂN dân TỈNH QUẢNG NGÃI

96 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 692,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì các văn bản tố tụng hình có quan điểm cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năn

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG THANH THU

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ -

TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ – NĂM 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ ./

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG THANH THU

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ -

TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

MÃ SỐ: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TƯỜNG DUY KIÊN

THỪA THIÊN HUẾ – NĂM 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ ./

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự - Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi”

là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, được sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Tường Duy Kiên Các số liệu sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu trong Luận văn hoàn toàn trung thực

và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học Viên

Hoàng Thanh Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc gửi đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Tường Duy Kiên với sự hướng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm của thầy đã quan tâm, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn Thạc sĩ với đề tài: “Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự - Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi”

Tác giả chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ở Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để tác giả hoàn thành tốt khoá học và nghiên cứu để hoàn thiện

đề tài luận văn của mình

Xin chân thành cảm ơn cán bộ, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, cán bộ, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ, lãnh đạo cơ quan Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đức Phổ và các bạn học viên khoá học LH3-T6 đã quan tâm giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè là những người luôn ủng hộ và động viên tác giả trong quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học Viên

Hoàng Thanh Thu

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH 6

1.1 Nhận thức về bảo vệ quyền con người trong hoạt động kiểm sát xét xử 6

1.2 Các phương thức bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự 20

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI 30

2.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ngãi, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi 30

2.2 Thực trạng bảo vệ quyền con người trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2015 đến nay 39

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI 63

3.1 Giải pháp chung 63

3.2 Giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò bảo vệ quyền con người trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi 81

Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số vụ, bị cáo Viện kiểm sát kiểm sát xét xử theo thủ tục sơ thẩm 51 Bảng 2.2 Số vụ và bị cáo Viện kiểm sát kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc thẩm 54

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Bảo vệ quyền con người, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện là mục tiêu cơ bản của Đảng và Nhà nước ta Trong quan

hệ hợp tác quốc tế, quyền con người và bảo vệ quyền con người có vai trò hết sức quan trọng Quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; quyền được tôn trọng nhân cách, được xã hội thừa nhận, tôn vinh và pháp luật bảo vệ là những quyền cơ bản của con người

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm đến quyền con người Đảng coi đây là một trong nội dung quan trọng để tiếp tục phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra sức bật mới cho sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Xác định nhiệm vụ xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp,

tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; trong đó, quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước về việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam là phải bảo đảm bằng Hiến pháp và phải được bảo vệ một cách hiệu quả, thống nhất, toàn diện và trên thực tế qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm

2013, quyền con người, quyền công dân đã trở thành một nội dung quan trọng, xuyên suốt Đây là cơ sở để các cấp, các ngành, các cơ quan, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

Trước đây, quyền con người, quyền công dân bị xem nhẹ, từ khi nước

nhà được độc lập, tại Bản Tuyên ngôn độc lập, Người khẳng định: “Ai sinh ra cũng có quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc” Từ tư tưởng

của Người, Hiến pháp năm 1946 và nhất là Hiến pháp năm 2013 khẳng định

và đề cao quyền con người, quyền công dân Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng luôn quan tâm đến vấn đề này

Trong thời gian qua, các cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp chặt chẽ, giải quyết hiệu quả nhiều vụ án lớn, được dư luận xã hội quan tâm, đồng tình ủng hộ; kịp thời xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Qua đó, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, một số vấn đề chưa thống nhất trong chỉ đạo, điều hành cũng như những khó khăn, vướng mắc, tồn tại khi đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự, nhất là trong quá trình xét xử tại Tòa án Qua quá trình học tập, nghiên cứu về Luật Hành chính và Luật Hiến pháp, bản thân nhận thấy cần nghiên cứu chuyên sâu, nhất là trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang tích cực hoàn thiện bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, trong đó có những bộ luật cơ bản nhằm bảo vệ quyền con người Mặt khác, thực tiễn bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự thời gian qua còn hạn chế, quyền con người có lúc chưa được phát

huy Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự - Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung, quyền con người trong hoạt động TTHS được nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu và nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều gốc độ khác nhau Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực trên như sau:

Trang 10

Về Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia năm 2006 “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” do TSKH.PGS Lê Văn Cảm, TX Nguyễn Ngọc Chi, TS Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì; Chuyên khảo “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Trần

Quang Tiệp, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004; bài báo

“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người” của PGS.TS Tường Duy Kiên, được công bố trên Tạp Chí Nghề nghiệp

năm 2004

Cấp độ luận văn thạc sĩ có các đề tài: “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự” của tác giả Lương Đức Dương (luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015); “Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự góp phần bảo vệ các quyền con người” của tác giả Trần

Văn Hội (luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm

2012); “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự” của tác

giả Ngô Thị Thanh (luận văn Thạc sĩ Luật học Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013)

Dưới góc độ khoa học, các công trình nói trên là hết sức có giá trị đối với những người đã và đang nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung, bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực hình sự nói riêng Tuy nhiên, đến nay đề tài: “Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự - Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi” là công trình nghiên cứu đầu tiên mang tính toàn diện đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Trang 11

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự; qua đó đánh giá kết quả đạt được, nêu những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân Từ đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao vai trò bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự - Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến

- Nhiệm vụ:

Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

Thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình

sự - Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả việc bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về bảo vệ quyền con người, thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Nghiên cứu thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét

xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian

03 năm (từ năm 2015 đến năm 2017) Tuy nhiên, trong giới hạn cho phép, luận văn nghiên cứu bảo vệ quyền con người đối với bị cáo

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận:

Trang 12

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền con người

- Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích; phương pháp đối chiếu, thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân

- Đánh giá sự phù hợp của các quy định pháp luật về bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được viết thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận bảo vệ quyền con người trong hoạt động

kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh

- Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong hoạt động kiểm

sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

- Chương 3: Giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong kiểm

sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

Trang 13

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1.1 Nhận thức về bảo vệ quyền con người trong hoạt động kiểm sát xét

xử

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền con người, bảo vệ quyền con người

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người, bảo vệ quyền con người

Quyền con người là khả năng của con người được đảm bảo về mặt pháp luật để sử dụng và chi phối các giá trị xã hội mang lại về vật chất, văn hóa, tinh thần trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình trên cơ sở pháp luật

Quyền con người là khái niệm mang tính phổ biến chung trong lịch sử pháp luật của nhân loại, là kết quả của quá trình đấu tranh, phát triển lâu dài của tất cả các dân tộc Tư tưởng này được thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong bản tuyên ngôn độc lập nước ta, được đọc vào ngày 02 tháng 9 năm 1945

trước toàn thế giới: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền

ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Đất nước ta đã trải qua lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước cùng với các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Trong mỗi giai đoạn lịch sử, các bản Hiến pháp trên đã ghi dấu lại sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người Trên cơ sở nhận thức pháp lý ngày càng sâu sắc và thực hiện công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, Hiến pháp 2013 khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất

Trang 14

Mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp 2013 là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm quyền công dân, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong tư duy lý luận của

Đảng và Nhà nước ta, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ Tất cả quyền Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

Để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 xác định rõ ba bộ phận của quyền lực nhà nước, trong đó Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp; TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Hiến pháp năm 2013 mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định mạnh mẽ chủ quyền nhân dân Những nội dung này tạo nền tảng vững chắc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân ở nước ta; thúc đẩy việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nhà nước pháp quyền phải là Nhà nước mà trong đó các quyền con người được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ

Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất của nhân loại,

có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người

Trang 15

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào; là xử

sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo,…

Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền con người được đặt trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội Bởi lẻ quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời là một khái niệm có tính lịch sử, hình thành trong một cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung những nội dung mới qua các thời đại khác nhau

Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người cho rằng: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”

[54,tr.11]

Ở nước ta, TS Trần Quang Tiệp cho rằng: “Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [30, tr.14]

Do đó, hai quan điểm trên nhấn mạnh đến yếu tố lịch sử, tự nhiên và xã hội của quyền con người, quan tâm đến pháp luật – một công cụ để bảo đảm quyền con người Mỗi quan điểm đều có khía cạnh khác nhau và có tính hợp

lý của nó Vì vậy, một số đặc trưng cơ bản của quyền con người như sau:

Một là, quyền con người mang tính lịch sử-xã hội, gắn bó chặt chẽ đối với mỗi con người cả ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ xã hội

Hai là, quyền con người là những giá trị mang tính đa quốc gia, được sự quan tâm của toàn nhân loại và mỗi cá nhân trong xã hội, luôn phổ biến, hữu hiệu và được thừa nhận chung, được thực hiện và bảo đảm ở mọi nơi

Ba là, quyền con người vừa mang tính chất tự nhiên vừa mang tính xã hội Do đó, quyền con người được thể chế hóa thành các quy định pháp luật,

Trang 16

ghi nhận nó thành các quyền, bảo đảm thực thi, bảo vệ quyền đó nếu bị vi phạm Có thể nói rằng, thông qua pháp luật và thiết chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện nó thì những giá trị quyền con người mang tính chất tự nhiên

và xã hội mới đạt hiệu quả

Tóm lại, quyền con người là một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ

cá nhân nào, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân là trách nhiệm của Nhà nước

và trách nhiệm của công dân Nhà nước ban hành luật và các quy định để công dân có cơ sở pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Hiến pháp năm 2013 khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng nhất nhằm nâng cao nhận thức quyền con người trên toàn xã hội

Một là, tính phổ biến: Quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, độ tuổi hay thành phần xuất thân Mặc dù ở chế độ xã hội nào thì con người cũng được công nhận và được hưởng những quyền tự do cơ bản

Hai là, tính không thể chuyển nhượng: Quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan hay quan chức nhà nước, trừ những trường hợp đặc biệt Mọi giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác

Theo quan niệm của nước ta, quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Tuy nhiên, quyền con người chỉ có thể bị hạn chế theo quy

Trang 17

định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Phạm vi thực hiện quyền con người được xác định bằng pháp luật của Nhà nước

Ba là, tính không thể phân chia: Các quyền con người đều có vai trò quan trọng như nhau Về nguyên tắc không có quyền nào được xem là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người Xét về lĩnh vực điều chỉnh, có thể phân chia quyền con người thành các nhóm: quyền chính trị, nhóm quyền dân sự và nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Các nhóm quyền này phản ánh những nhu cầu khác nhau của con người, việc phân chia hệ thống các quyền con người thành ba nhóm phải được thực hiện trên

cơ sở tuân thủ tính không thể tách rời được và sự phụ thuộc tương hỗ giữa tất

cả các quyền con người Việc bảo đảm các giá trị, mục tiêu về kinh tế và đời sống xã hội không được phép làm thiệt hại các quyền dân sự và các quyền chính trị

Bốn là, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Các quyền con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện tốt quyền này là cơ sở để thực hiện quyền kia và nếu có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền còn lại Quyền con người là những giá trị xã hội, thuộc về mỗi cá nhân con người riêng lẻ (bình đẳng không có nghĩa là cào bằng, mỗi người mức độ quan trọng khác nhau); gắn với bản chất của Nhà nước; phản ánh sự phát triển

và mang đặc điểm của xã hội; thể hiện truyền thống và văn hóa dân tộc

1.1.1.2 Đặc điểm bảo vệ quyền con người trong hoạt động kiểm sát xét xử

Việc bảo vệ quyền con người của VKS trong giai đoạn xét xử được thực hiện theo quy định Điều 267 BLTTHS năm 2015, Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là sử dụng tất cả những

Trang 18

quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm mọi hành

vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội trong các giai đoạn xét xử

Bảo vệ quyền con người thông qua KSXX vụ án hình sự nhằm bảo đảm

việc tuân theo pháp luật của TA, HĐXX, người tham gia tố tụng “Pháp luật

là công cụ trước tiên bảo vệ quyền con người Pháp luật bảo vệ quyền con người bằng cách ghi nhận các quyền và đặt ra các thể chế pháp lý thực thi việc bảo vệ các quyền” [4, tr.46] Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan tố tụng,

người tiến hành tố tụng bảo đảm quyền con người, vừa là cơ sở để hạn chế lạm quyền, vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Đồng thời, nó là phương diện

để cơ quan được giao quyền kiểm tra, giám sát sử dụng để phòng ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật, yêu cầu sửa chữa, khắc phục nhằm bảo vệ quyền con người theo đúng quy định pháp luật

Xét xử vụ án hình sự là hoạt động chấp hành và áp dụng pháp luật để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người nhưng thực tiễn cho thấy hoạt động xét xử của TA đôi khi chưa đúng pháp luật và quyền con người có lúc chưa được bảo đảm Vì vậy, KSXX vụ án hình sự nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm, thống nhất và kịp thời hạn chế, sửa chữa vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền con người

Quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm điển hình trong BLTTHS ở nước ta khi đề cập đến chức năng của VKS Trong khoa học TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố có

ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, việc giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định vai trò, vị trí của VKS nói riêng và các cơ quan tư pháp nói chung

Từ trước đến nay, có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều quan điểm khác

Trang 19

nhau về quyền công tố:

Quan điểm thứ nhất: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS

mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

với nhau

Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các

cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố,

KSV và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình pháp đối với người phạm tội Theo quan điểm này, không chỉ có VKS, CQĐT mà cả

TA, Cơ quan thi hành án hình sự đều là chủ thể thực hành quyền công tố

Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của Nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa án xét xử vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật Sự can thiệp của Nhà nước vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước phải đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực công Quyền công tố là quyền lực công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường Tòa án, vì thế quyền công tố thường gắn liền với quyền tài phán của Tòa án [33] Theo quan điểm này, phạm vi hoạt động của quyền

công tố khá rộng, không phù hợp với thực tiễn là phải coi trọng quyền quyết định và tự định đoạt của công dân trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động Thời gian gần đây, các công trình nghiên cứu về quyền công tố, quy định tại BLTTHS năm 2003 và đặc biệt là BLTTHS năm 2015 tiếp cận gần hơn, rõ ràng và chính xác với quan niệm chung về quyền công tố Với quan điểm của

Tiến sĩ Lê Hữu Thể: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện

Trang 20

việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là VKS), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án

để xét xử bằng bản cáo trạng và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa Vì vậy quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự với đối tượng tội phạm và người phạm tội [26 ,tr.40]

- Lý luận về thực hành quyền công tố

Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa

thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKS tại

Điều 138 Tại thời điểm đó, thuật ngữ này cũng được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1980 Như vậy, trong hoạt

động của VKSND, bên cạnh khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “thực hành quyền công tố” Quy định này cũng được

nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992 và năm 2013 Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì các văn bản tố tụng hình

có quan điểm cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử” Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội [32]

Trang 21

- Bản chất thực hành quyền công tố

Về bản chất, thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (Khoản 1 Điều

3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014)

Kiểm sát các hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014)

Không có cơ quan nào có thể thay thế VKS thực hành quyền công tố vì các lý do sau đây: VKS là cơ quan duy nhất về mặt pháp lý có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, VKS phải đảm bảo đủ các căn cứ để truy tố bị can; Khi có đủ các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần thiết phải xử lý người phạm tội trước pháp luật, VKS quyết định truy tố bị can ra Tòa Tại phiên tòa, VKS có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố, buộc tội bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật Bản án kết tội của Tòa án chính là việc chấp nhận lời buộc tội của VKS đối với người phạm tội

VKS thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội

Trang 22

phạm; thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

Quyền con người trong TTHS do pháp luật TTHS quy định trên cơ sở phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, gồm các nhóm quyền về tính mạng, sức khỏe, danh sự, uy tín, nhân phẩm, tài sản,…và các nhóm quyền được xét xử bởi TA độc lập, bình đẳng và đúng pháp luật Mục đích bảo vệ quyền của mọi người trong xã hội trước hành vi phạm tội và bảo đảm quyền của những người tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS

1.1.1.3 Khái niệm xét xử, kiểm sát xét xử vụ án hình sự

Xét xử là hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự, để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn xét xử của TA nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp hình sự của Nhà nước nói chung, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội

Vụ án hình sự là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong BLHS, được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS Người vi phạm pháp luật đã bị khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các quy định của BLTTHS là can án hình sự sẽ bị áp dụng một số biện pháp do luật quy định: phải khai cung, phải có mặt vào thời gian do các cơ quan tiến hành tố tụng - cơ quan điều tra, VKS, TA quy định Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết

vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Trang 23

Kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự là chức năng hiến định của Viện kiểm sát (Điều 107 Hiến pháp năm 2013) có nội dung giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình

sự, nhằm đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

TTHS là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư

và cuối cùng, trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự Xét xử là chức năng quan trọng nhất của TA nói riêng và của toàn bộ quá trình TTHS nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định

để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT và VKS thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang TA

Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội, không làm oan người vô tội, pháp nhân thương mại vô tội; Kiểm sát việc xét

xử là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của TA, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xét xử, bảo đảm việc xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật

Bảo vệ quyền con người là việc nhà nước, thông qua pháp luật, ghi nhận

và quy định các biện pháp ngăn ngừa và xử lý những hành vi vi phạm các quyền con người bằng bộ máy cưỡng chế của mình Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ quyền con người trên tất cả các lĩnh vực Đối với hoạt động TTHS là hoạt động có nguy cơ xâm hại quyền con người Chính vì vậy, pháp luật TTHS đặt ra yêu cầu đối với việc tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người

Trang 24

Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Bảo đảm thực hiện, bảo vệ quyền con người theo

Hiến pháp và pháp luật không chỉ thể hiện trong các quy định của Hiến pháp

và pháp luật về nội dung các quyền con người, quyền công dân mà cả quy định về thực hiện, kiểm soát việc thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các quy định về quyền con người trong thực tiễn

Bảo đảm thực hiện quyền con người là một chuỗi các hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; thể chế hóa thành pháp luật, thực thi chính sách, pháp luật, xử lý các vi phạm chính sách, pháp luật trên các mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp ở tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm ổn định chính trị; phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, hoạt động đối ngoại với tư cách là các điều kiện bảo đảm thực hiện việc bảo vệ quyền con người

VKSND là cơ quan tư pháp, có vị trí tương đối độc lập trong bộ máy nhà nước, là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhân danh nhà nước thực hiện bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp là một trong những vấn đề luôn được Nhà nước quan tâm Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư pháp là cơ quan trọng yếu của chính quyền, góp phần thực hiện chế

độ chính trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ; cán bộ tư pháp phải chí công vô tư; phải công bằng, liêm khiết, trong sạch,

Trang 25

gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân Tư tưởng đó xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển nền tư pháp ở nước ta

Trong thời kỳ đổi mới, cải cách tư pháp được xác định là một bộ phận quan trọng trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta, Nghị

quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 Mục tiêu cải cách tư pháp mà Nghị quyết 49 đề ra là xây dựng nền tư

pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người

Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự bao gồm: Bảo đảm quyền con người của bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người phiên dịch; người giám định; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự Vì một trong những nhiệm vụ quan trọng của pháp luật TTHS là vừa bảo đảm quyền con người trước hành vi phạm tội và tội phạm, đồng thời khi tiến hành tố tụng các cơ quan, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm được quyền con người của những người tham gia tố tụng, nhất

là bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan đến

vụ án Quyền con người của những người tham gia tố tụng là quyền được quy định trong BLTTHS

Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, VKS thực hiện và áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm những bản án, quyết định của TA có đủ căn cứ và hợp pháp, loại trừ mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự

KSXX vụ án hình sự là tổng hợp các quyền năng pháp lý của VKS có nội dung là kiểm tra, giám sát hoạt động tuân theo pháp luật của tất cả các chủ

Trang 26

thể tham gia hoạt động TTHS theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm nhằm bảo đảm cho việc xét xử của TA đúng quy định pháp luật

Đối tượng của KSXX các vụ án hình sự là việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của TA theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm và việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng

Hoạt động KSXX sơ thẩm hình sự là sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử của HĐXX sơ thẩm và những người tham gia tố tụng xét xử; bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định; đối tượng của KSXX hình

sự phúc thẩm và những người tham gia tố tụng Tất cả những chủ thể này khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự đều phải tuân theo và thực hiện những quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hình sự và sự tuân thủ pháp luật của họ là đối tượng của hoạt động KSXX hình sự sơ thẩm, phúc thẩm

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn theo Điều 266 BLTTHS, Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định pháp luật khác có liên quan

Khi thực hành quyền công tố theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: Kháng nghị bản án, quyết định của TA đã

có hiệu lực pháp luật trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; Xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật; Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị; Trình bày kháng nghị của VKS; phát biểu quan điểm của VKS về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án; Tranh tụng tại phiên tòa

Vai trò của VKS với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo

Trang 27

vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật

1.2 Các phương thức bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử vụ

án hình sự

1.2.1 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử

VKS có nhiệm vụ, quyền hạn theo Điều 267 BLTTHS, Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và các quy định pháp luật khác có liên quan

Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của TA; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật tố tụng; Kiểm sát bản án, quyết định, văn bản tố tụng khác của TA; Yêu cầu TA đang quản lý hồ sơ vụ án hình sự chuyển hồ sơ để xem xét, quyết định việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; Kháng nghị bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng; Kiến nghị, yêu cầu TA, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS; kiến nghị TA khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng; Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý; Thực hiện các

Trang 28

nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của BLTTHS, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định pháp luật khác có liên quan

Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và các chủ thể khác có liên quan; Kiểm sát quyết định, văn bản tố tụng khác của TA; Kiến nghị, yêu cầu TA, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS; kiến nghị TA khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng

Quyền con người, quyền công dân là một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu Hiến pháp năm 2013 ra đời khẳng định cơ

sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Xác định các quyền, trách nhiệm và nghĩa

vụ của các thiết chế, đặc biệt là Nhà nước trong việc thiết lập, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy

định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” Đây là chức năng đặc thù của VKS mà các cơ quan khác không thể

thay thế nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội được phát hiện,

Trang 29

khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, đúng pháp luật Không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội Không để ai bị khởi

tố, bắt giữ, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS được quy định tại khoản

1 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 : “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”

Bảo vệ quyền con người tại giai đoạn KSXX vụ án hình sự là công tác kiểm tra, giám sát của nhà nước, thể hiện tính quyền lực nhà nước Nếu không

có cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực một cách hiệu quả thì có thể xảy ra lạm quyền Bởi lẻ, nếu ai đó có quyền lực, được nhà nước trao quyền thì có thể sẽ mở rộng quyền, sử dụng quyền, lộng quyền Vì vậy, việc kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lực nhà nước được coi là nội dung cơ bản, quan trọng của nhà nước pháp quyền, là một trong những công cụ chính trị-pháp lý

để hạn chế việc lạm quyền Khi có sự phân công quyền lực cần phải có sự kiểm tra, giám sát để bảo đảm cho các cơ quan thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được phân công trong quá trình thực hiện quyền lực

KSXX là kiểm sát hành vi và quyết định tố tụng khi áp dụng pháp luật, hoạt động kiểm sát phải tuân thủ pháp luật chặt chẽ, KSV sử dụng các quy định của pháp luật để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong

Trang 30

xét xử Các quyền hạn của VKS chỉ mang tính “khuyến nghị”, “yêu cầu”

không có ý nghĩa bắt buộc TA phải tuân theo (nếu không có căn cứ hoặc trái pháp luật) Xuất phát từ phạm vi, đối tượng KSXX, VKS chỉ kiểm sát HĐXX,

người tham gia tố tụng khi xét xử trên cơ sở pháp luật (tính hợp pháp): “Viện kiểm sát không can thiệp về mặt nội dung là ép buộc Tòa án phải xét xử theo

ý của Viện kiểm sát Không chỉ riêng Tòa án, mà Viện kiểm sát cũng phải tuân theo quy định của pháp luật về hoạt động kiểm sát” [7, tr.23]

Hoạt động KSXX vụ án hình sự có vai trò hỗ trợ TA trong công tác xét

xử Vì hoạt động KSXX có mục đích bảo đảm quyền con người thông qua việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử, bảo đảm cho TA xét xử có căn cứ và đúng pháp luật Tất cả các phiên tòa xét xử đều phải có mặt KSV để thực hiện chức năng công tố và thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử hình sự Hoạt động KSXX do VKS tiến hành tạo điều kiện thuận lợi và khách quan để kịp thời phát hiện vi phạm, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền con người

Hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước Do đó hoạt động này phải có sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau Hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động xem xét, đưa ra các phán quyết về hành vi của con người nên mỗi quyết định của TA có tác động rất lớn đến quyền con người, những người tham gia tố tụng và toàn xã hội Bảo đảm quyền con người bằng hoạt động KSXX vụ án hình sự là hoạt động nghiệp vụ đặc thù Đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ quyền con người của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khi xét xử vụ án hình sự

Để bảo vệ quyền con người của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự của TA, HĐXX

và những người tham gia tố tụng nhằm kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật để yêu cầu kiến nghị hoặc kháng nghị khắc phục

Trang 31

Tóm lại, bảo vệ quyền con người thông qua KSXX vụ án hình sự của VKS là một hình thức giám sát quyền lực nhà nước, trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật cả về hành vi

tố tụng, quyết định tố tụng đối với hoạt động xét xử của những người tiến hành tố tụng, của TA và những người tham gia tố tụng khi xét xử vụ án hình

sự nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

1.2.2 Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án

Khi thực hành quyền công tố và KSXX các vụ án hình sự, KSV có các nhiệm vụ, quyền hạn: Đọc cáo trạng, trình bày ý kiến bổ sung (nếu có); tham gia xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TA; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án, biên bản phiên tòa và quyền định của TA theo quy định của pháp luật; yêu cầu TA cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hoặc quyết định của TA theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

VKS bảo vệ quyền con người, kịp thời ngăn ngừa, khắc phục sai lầm trong hoạt động KSXX vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho

bị cáo theo quy định của pháp luật TTHS:

Trước khi xét xử, Kiểm sát viên VKS có thể gặp bị cáo đối với những trường hợp: Vụ án có bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm

Trang 32

về tâm thần, vụ án có bị cáo mà KSV đề nghị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, lời khai của các bị cáo trong vụ án có mâu thuẫn, bị cáo kêu oan hoặc một số trường hợp mà kiểm sát viên VKS thấy cần thiết

Sau khi xét hỏi, nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy

tố thì kiểm sát viên rút quyết định Trường hợp tình tiết mới đưa ra tại phiên tòa có căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa

VKS thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó KSXX vụ án hình sự là một hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử và hoạt động KSXX có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKS có phạm vi liên quan đến tội phạm và hình phạt, đảm bảo cho TA xét xử đúng quy định của BLHS (nội dung), KSXX là hoạt động liên quan đến bảo đảm TA xét xử tuân thủ quy định của BLTTHS (hình thức)

Lãnh đạo VKS chú trọng quán triệt, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác kiểm sát bản án, quyết định của TA, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, xem đây là một trong những khâu công tác kiểm sát cơ bản, quan trọng

Đối với những bản án, quyết định TA gửi chậm (trường hợp này thường

có vấn đề áp dụng không đúng quy định pháp luật), VKS theo dõi chặt chẽ thời gian gửi bản án, quyết định, thường xuyên trao đổi, nhắc nhở TA cùng cấp gửi đúng thời gian quy định Trường hợp TA gửi chậm dẫn đến việc kháng nghị phúc thẩm của VKS bị trễ phải kiến nghị khắc phục vi phạm Trường hợp thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của TA phát hiện

Trang 33

những vi phạm nhưng hết thời hạn kháng nghị thì phải báo cáo cấp trên xem xét

1.2.3 Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật

Bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân của bị cáo, tại phiên toà, sau khi xét hỏi nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy

tố thì KSV rút quyết định truy tố Trường hợp tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên toà

Kiểm sát viên kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của HĐXX, thư ký TA và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà, nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử công minh đúng pháp luật

Pháp luật TTHS có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người thông qua biện pháp trấn áp kịp thời, xử lý công minh theo đúng pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội xâm hại đến các quyền của công dân, đảm bảo tất cả mọi tội phạm đều bị phát hiện và xử lý Pháp luật TTHS quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hình sự nhằm tôn trọng quyền con người, tránh sự lợi dụng của cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng Do vậy, KSXX vụ án hình sự bảo đảm quyền con người của các bên được tôn trọng, bảo vệ và được thực hiện

Các nguyên tắc của BLTTHS bảo đảm để hoạt động xét xử khách quan, công bằng, công khai Những nguyên tắc cơ bản của Luật mang tính khách quan và việc tuân thủ quy luật khách quan trong hoạt động TTHS là tiền đề

Trang 34

bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự, bảo đảm quyền con người của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng hình sự Chính vì vậy, mọi hoạt động xét xử của TA phải dựa trên nguyên tắc: xử lý nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật đối với tội phạm xâm phạm quyền con người và đảm bảo tính khách quan, công bằng Việc xét xử của TA được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp nội dung vụ án liên quan đến bí mật quốc gia hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến thuần phong mỹ tục hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ, trường hợp này TA sẽ xử kín nhưng khi tuyên án phải công khai

Hoạt động KSXX vụ án hình sự gắn liền với bảo vệ quyền con người của

bị can/bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Tuy nhiên, để hạn chế việc vi phạm quyền con người thì yêu cầu hoạt động xét xử vụ án hình sự cần được thực thi trong thực tiễn một cách đầy đủ Do vậy, cơ quan thực hiện chức năng xét xử phải có những phán quyết chính xác, công bằng, đúng quy định của pháp luật

Quyền con người có vị trí, vai trò quan trọng trong TTHS Vì vậy cần phải có một thiết chế để kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người theo đúng quy định của pháp luật Hoạt động xét xử vụ

án hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, do đó cần phải có sự kiểm tra, giám sát

1.2.4 Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị

Hoạt động xét xử vụ án hình sự là nhân danh quyền lực Nhà nước vừa chấp hành pháp luật, vừa áp dụng pháp luật để kiểm tra lại toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố VKS có quyền kháng nghị bản án, quyết định của TA nếu có căn cứ pháp luật Đồng thời, hoạt động KSXX của VKS không những làm

Trang 35

thay đổi nguyên tắc độc lập xét xử mà còn có ý nghĩa bảo đảm độc lập xét xử, bởi lẽ độc lập xét xử phải trên cơ sở tuân theo pháp luật

Trong giai đoạn xét xử, VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét

xử sơ thẩm, phúc thẩm hình sự, nếu thấy việc kết tội bị cáo hoặc áp dụng hình phạt của TA có sai lầm nghiêm trọng, không đúng pháp luật thì VKS có quyền kháng nghị, yêu cầu TA cấp trên xét xử lại vụ án, bảo đảm việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội

1.2.5 Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng

về thủ tục tố tụng

Hoạt động KSXX vụ án hình sự là hỗ trợ TA trong công tác xét xử Vì hoạt động KSXX với mục đích bảo vệ quyền con người thông qua việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình xét xử, bảo đảm TA xét

xử có căn cứ, hợp pháp trong quyết định, bản án đưa ra thi hành Các phiên tòa xét xử đều phải có mặt KSV, vừa thực hiện chức năng công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật VKS có quyền yêu cầu kiến nghị hoặc kháng nghị Hoạt động kiểm sát có vai trò rất quan trọng để TA cùng cấp hoặc cấp dưới khắc phục, sửa chữa thiếu sót kịp thời nhằm bảo vệ quyền con người Hoạt động KSXX do VKS tiến hành là cơ sở, điều kiện khách quan để kịp thời phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền con người, hạn chế lạm dụng quyền lực khi xét xử vụ án hình sự

Viện kiểm sát kháng nghị bản án quyết định của TA theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong các trường hợp có vi phạm pháp luật trong việc xét xử, trong đó, có trường hợp có căn cứ để xác định bị cáo không phạm tội hoặc bị TA xử quá nặng, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đối với những vi phạm pháp luật

Trang 36

của TA chưa đến mức phải kháng nghị thì VKS kiến nghị với TA có biện pháp khắc phục vi phạm

Tiểu kết chương 1

Việc nghiên cứu cơ sở lý luận bảo vệ quyền con người trong hoạt động KSXX vụ án hình sự của VKSND cấp tỉnh là vấn đề quan trọng, cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Luận văn nêu các khái niệm quyền con người, bảo vệ quyền con người

và bảo vệ quyền con người thông qua KSXX vụ án hình sự Bên cạnh đó, nêu

sự cần thiết nâng cao chất lượng hoạt động KSXX Phân tích làm rõ đặc điểm bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án hình sự; nêu đặc điểm bảo vệ quyền con người trong giai đọan KSXX hình sự khác với giai đoạn giải quyết nguồn tin; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử

Đồng thời nêu vai trò của VKSND cấp tỉnh trong bảo vệ quyền con người tại giai đoạn KSXX vụ án hình sự; nội dung bảo vệ quyền con người trong hoạt động KSXX vụ án hình sự Đây là tiền đề để tập trung nghiên cứu thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua KSXX vụ án hình sự của VKSND Qua đó, nêu những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế của hoạt động KSXX vụ án hình sự của VKSND

Trang 37

Chương 2:

THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ngãi, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi có 14 đơn vị hành chính, gồm: Thành phố Quảng Ngãi và

13 huyện: Lý Sơn, Bình Sơn, Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Tây, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Minh Long, Mộ Đức, Đức Phổ, Ba Tơ, Tây Trà

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 45.386 tỷ đồng, tăng 1,3%

so với năm 2016, bằng 101,6% kế hoạch Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch

vụ tiêu dùng ước đạt 46,205,8 tỷ đồng, tăng 11,0% so với năm 2016, đạt 100,7% kế hoạch Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 14.517,4 tỷ đồng, tăng 5,0% so với năm 2016 và vượt 5,1% kế hoạch Tăng cường hoàn thiện các văn bản pháp quy, chỉ đạo thực hiện nông thôn mới Bố trí kế hoạch vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 264,28 tỷ đồng Đến cuối năm 2017, có 18 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt kế hoạch; lũy kế đạt 42 xã; bình quân đạt 12 tiêu chí/xã, tăng 1,53 tiêu chí/xã so với cuối năm 2016 Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai Từ đầu năm đến nay, tiếp nhận giải quyết 70.573/71.837 hồ sơ (đạt 98,24%) liên quan đến lĩnh vực đất đai; xử lý 501/528 hồ sơ của tổ chức, doanh nghiệp Công tác quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường đã đạt một số kết quả Triển khai các chương trình nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục; mạng lưới trường, lớp học tiếp tục được hoàn thiện Cuối năm 2017, tăng 07 trường Mầm non, 04 trường Tiểu học, 06 trường THCS và 02 trường THPT đạt

Trang 38

chuẩn quốc gia Có 184/184 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi; duy trì 1000% huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS Công tác thẩm định, kiểm tra,

rà soát văn bản quy phạm thực hiện chặt chẽ, bảo đảm đúng trình tự, thủ tục

Rà soát, tổng hợp 485 thủ tục hành chính cấp tỉnh đề xuất đưa vào giải quyết tại Trung tâm hành chính công của tỉnh Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật được duy trì thường xuyên, bằng nhiều hình thức Trợ giúp pháp lý cho 508 vụ việc; tổ chức 57 đợt trợ giúp pháp lý lưu động về các địa phương Quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, ổn định Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu trọng điểm, tăng cường công tác bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển; tổ chức tốt công tác đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn các ngày lễ, kỷ niệm, các sự kiện quan tọng của tỉnh Tuyển quân năm 2017 đạt 100% chỉ tiêu

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, VKSND tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, nguyên tắc độc lập không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào khác ở địa phương

Cơ quan VKSND được tổ chức từ Trung ương đến địa phương (cấp huyện) gồm: VKSNDTC, các VKSND cấp cao, các VKSND cấp tỉnh, các VKSND cấp huyện và các VKS quân sự

Từ năm 1976 đến năm 1989, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh hiện nay thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghĩa Bình Ngày 04/7/1989 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi được thành lập trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình (thành hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định), Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 83/QĐ-VKS thành lập Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

VKSND cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong hệ thống VKSND, đây là

Trang 39

cấp giải quyết phần lớn các vụ án mà VKS thụ lý Những năm qua, VKSND tỉnh từng bước củng cố, tăng cường và ngày càng hoàn thiện về cơ cấu tổ chức Về cơ bản, VKSND tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng được yêu cầu của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việc phân công chỉ đạo, điều hành công việc của VKSND tỉnh Quảng Ngãi dựa trên nguyên tắc tập trung thống nhất dưới sự lãnh đạo và điều hành của

Viện trưởng

Cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành gồm: VKSND tỉnh và VKSND 14 huyện, thành phố; Tổng số cán bộ toàn ngành là 196 đồng chí, trong đó, có 01 đồng chí là KSV cao cấp, 50 đồng chí là KSV trung cấp, 96 đồng chí là KSV

sơ cấp, kiểm tra viên 34 người , chuyên viên và cán sự 47 người Số cán bộ, công chức có trình độ thạc sỹ chiếm 2,5%; có 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có trình độ cử nhân luật trở lên

Trải qua hơn 29 năm qua, Ban cán sự Đảng, lãnh đạo VKSND tỉnh Quảng Ngãi luôn là hạt nhân lãnh đạo ngành kiểm sát nhân dân tỉnh vượt qua những thách thức, từng bước trưởng thành và phát triển Trong mỗi giai đoạn phát triển của đơn vị, VKS hai cấp ngày càng được kiện toàn và củng cố; đội ngũ cán bộ, KSV có lập trường chính trị vững vàng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức trong sáng theo lời dạy của Bác

Hồ: Mỗi cán bộ kiểm sát phải: “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” Công tác xây dựng ngành ngày càng có nhiều chuyển biến

tích cực, như: đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành; công tác thanh tra được tăng cường; công tác thi đua, khen thưởng đạt chất lượng, đúng thành tích, không chạy theo số lượng; chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin được nâng cao; công tác cán bộ có nhiều đổi mới, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong toàn ngành

Trang 40

Trên cơ sở biên chế được phân bổ, VKSND tỉnh được tổ chức thành 11 phòng với chức năng, nhiệm vụ như sau:

Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự về an ninh, ma túy, trật tự xã hội (Phòng 1): Giúp Viện trưởng VKSND tỉnh tổ chức thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các tội phạm về an ninh, ma túy và trật tự xã

hội (theo Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 344/QĐ-VKS-P1 ngày 30/3/2016 của Viện trưởng VKSND tỉnh Quảng Ngãi)

Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án kinh tế, chức vụ, tham nhũng, xâm phạm sở hữu (Phòng 3): Giúp Viện trưởng VKSND tỉnh tổ chức thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công

tố, kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm án hình sự về kinh tế, tham nhũng, chức

vụ, xâm phạm sở hữu (theo Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 343/QĐ-VKS-P3 ngày 30/3/2016 của Viện trưởng VKSND tỉnh Quảng Ngãi)

Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm (Phòng 7): Giúp Viện trưởng VKSND tỉnh tổ chức thực hiện nhiện vụ thực hành quyền công tố, KSXX phúc thẩm án hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự có kháng cáo, kháng nghị do Tòa án nhân dân

tỉnh Quảng Ngãi thụ lý xét xử (theo Quy chế ban hành kèm theo Quyết định

số 300/QĐ-VKS-P7 ngày 16/3/2016 của Viện trưởng VKSND tỉnh Quảng Ngãi)

Phòng Kiểm sát việc tạm giữ, tam giam và thi hành án hình sự (Phòng 8): Giúp Viện trưởng VKSND tỉnh tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tạm giữ, tam giam và thi hành án hình sự nhằm đảm bảo chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù được thực hiện nghiêm

chỉnh, đúng theo quy định của pháp luật (theo Quy chế ban hành kèm theo

Ngày đăng: 31/10/2020, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Trần Văn Hội (2012) “Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự góp phần bảo vệ các quyền con người” Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật-Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự góp phần bảo vệ các quyền con người”
17. Ngô Thị Thanh (2013) “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự” Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật-Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
20. Nguyễn Hòa Bình (2015), “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, Tạp chí kiểm sát số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Năm: 2015
21. Lương Đức Dương (2015) “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự” Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự”
27. Đào Thị Hải Yến (2016) “Bảo đảm quyền con người thông qua cơ chế bồi thường Nhà nước cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật-Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người thông qua cơ chế bồi thường Nhà nước cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự”
30. Hoàng Trung Hải “Pháp luật về Quyền con người”, Tạp chí 01-2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về Quyền con người”
18. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Khác
22. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015) các bài nói, viết của lãnh đạo Đảng và Nhà nước về Viện kiểm sát nhân dân tối cao Khác
23. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015) tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động Khác
24. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2015), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2015 Khác
25. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2016) Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 10/7/2015 về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự Khác
26. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2016), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2016 Khác
28. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2017), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2017 Khác
29. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2017) Quyết định số 505/QĐ- VKSTC ngày 18/12/2017 Quyết định ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w