1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT về bầu cử tại THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

107 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Huế là thành phố duy nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế có mật độ dân số đông, thành phần đa dạng, là địa phương tập trung toàn bộ các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh; nơi tập trung công

Trang 1

\ Ftc d.4t94 006E

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ./ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HÒA

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ

TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ./ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HÒA

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ

TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 08 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HUỲNH VĂN THỚI

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực

hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn và sự hướng

dẫn tận tình của PGS.TS Huỳnh Văn Thới

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thừa Thiên Huế, ngày 15 tháng 9 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Hòa

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Huỳnh Văn Thới đã tận tình hướng dẫn bản thân tôi nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn này

Trong quá trình thực hiện, luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự chia sẻ và góp ý của quý thầy, cô giáo và người đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên Nguyễn Thị Hòa

Trang 5

MỤC LỤC Trang bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ 7

1.1 Khái quát thực hiện pháp luật về bầu cử 7

1.1.1.Khái niệm thực hiện pháp luật về bầu cử 7

1.1.2 Nguyên tắc thực hiện pháp luật về bầu cử 9

1.1.3 Vai trò thực hiện pháp luật về bầu cử 12

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về bầu cử 13

1.2.1 Chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện pháp luật về bầu cử 13

1.2.2 Lập kế hoạch thực hiện luật về bầu cử 15

1.2.3 Tổ chức bộ máy, nhân sự thực hiện pháp luật về bầu cử 16

1.2.4 Bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bầu cử. 18

1.2.5 Giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bầu cử; giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử 21

1.2.6 Tổng kết thực hiện pháp luật về bầu cử 24

1.3 Kinh nghiệm đúc kết thực hiện pháp luật về bầu cử 27

1.3.1 Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bầu cử ở một số nước 27

1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bầu cử ở một số địa phương 30

1.3.3 Kinh nghiệm đúc kết cho công tác thực hiện pháp luật ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 38

Tiểu kết chương 1 40

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ

TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 41

2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội tác động đến thực hiện pháp luật về bầu cử của thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. 41

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội 41

2.1.2 Điều kiện chính trị- hành chính 42

2.2 Tình hình thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 42

2.2.1 Về chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện pháp luật về bầu cử 42

2.2.2 Về lâp kế hoạch thực hiện pháp luật về bầu cử 44

2.2.3 Về tổ chưc bộ máy, nhân sự thực hiện pháp luật về bầu cử 60

2.2.4 Về bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bầu cử 62

2.2.5 Về hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bầu cử; giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử. 64

2.2.6 Về tổng kết thực hiện pháp luât về bầu cử 66

2.3 Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 67

2.3.1 Kết quả đạt được 67

2.3.2 Hạn chế, thiếu sót 69

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế thiếu sót 71

Tiểu kết chương 2 72

Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 73

3.1 Quan điểm hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế 73

Trang 7

3.2 Giải pháp hoàn thiện thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế,

tỉnh Thừa Thiên Huế 76

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong công tác thực hiện pháp luật về bầu cử 76

3.2.2 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bầu cử, nâng cao nhận thức và ý thức của người dân về bầu cử 78

3.2.3 Tăng cường vận động, hướng dẫn 80

3.2.4 Tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực Tổ bầu cử 83

3.2.5 Tăng cường giám sát, kiểm tra đối với hoạt động bầu cử 83

3.2.6 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thống kê, tổng hợp kết quả bầu cử nhằm đảm bảo tính khoa học, nhanh và chính xác 86

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HĐBC Hội đồng bầu cử

HĐND Hội đồng nhân dân

Luật Bầu cử Luật Bầu cử đại biều Quốc hội và đại biểu Hội

đồng nhân dân năm 2015 MTTQVN Mặt trận tổ quốc Việt Nam

UBBC Ủy ban bầu cử

UBND Ủy ban nhân dân

UBTVQH Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Bầu cử là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước nói chung và cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương ở nước Việt Nam ta nói riêng

Thực hiện pháp luật về bầu cử không những liên quan đến quyền và nghĩa

vụ của mỗi công dân mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý

Tổng kết, đánh giá nhiều cuộc bầu cử của đất nước đã diễn ra thành công tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, phát huy tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch trong từng bước triển khai thực hiện Các cuộc bầu cử diễn ra trong tình hình an ninh ổn định, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm Kết quả bầu cử cơ bản bảo đảm mục tiêu kế hoạch

đề ra, tỷ lệ đại biểu là phụ nữ, là người dân tộc thiểu số, đại biểu trẻ tuổi, có trình độ trên đại học cao nhiệm kỳ sau cao hơn so với nhiệm kỳ trước, phản ánh được tính đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân Tuy vậy, thực tiễn công tác tổ chức triển khai thực hiện bầu cử ở một số nơi trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế

Thành phố Huế là thành phố duy nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế có mật

độ dân số đông, thành phần đa dạng, là địa phương tập trung toàn bộ các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh; nơi tập trung công tác của phần lớn các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND nên công tác thực hiện pháp luật về bầu cử đóng

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong thời gian qua, một số công trình nghiên cứu khoa học về bầu cử

đã được công bố như:

- Luận án tiến sĩ Luật học “Chế độ bầu cử ở nước ta - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Vũ Văn Nhiêm Đại học quốc gia Hà Nội, 2009 Tác giả đã nêu và phân tích cơ sở lý luận về chế độ bầu cử trong xã hội dân chủ nói chung và ở Việt Nam nói riêng.Thực tiễn tổ chúc thực hiện chế độ bầu cử

ở Việt Nam Tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm đổi mới chế độ bầu cử để phát huy dân chủ

- Luận văn thạc sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về bầu cử những vấn

đề lý luận và thực tiễn” của Trần Diệu Hương Đại học quốc gia Hà Nội, 2013 Tác giả đã phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chế độ bầu cử, nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về chế độ bầu cử của Việt Nam về những bất cập, tồn tại và nguyên nhân Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục tồn tại và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 11

3

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thực hiện pháp luật bầu cử HĐND cấp

xã qua thực tiễn tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” của Trần Thị Thu Hà Viện Nhà nước và pháp luật, 2010 Tác giả nêu, phân tích và đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trong quá trình trình thực thi pháp luật bầu cử đại biểu HĐND cấp

xã nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu HĐND cấp

Bên cạnh nhưng công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, nhiều vấn đề liên quan đến họat động bầu cử cũng được đề cập trong một số bài tham luận, bài viết đăng tải trên một số báo, tạp chí, các trang thông tin điện tử của Quốc Hội, HĐND một số tỉnh và một số báo cáo, tài liệu nghiên cứu về hoạt động bầu cử cụ thể như:

- Bài viết “Một số vấn đề về thể chế bầu cử ở nước ta hiện nay” PGS.TS Nguyễn Thị Tâm, bài được đăng tải trên trang Web lyluanchinhtri.vn;

- Bài viết “Quá trình hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam” PGS,

TS Nguyễn Quốc Sửu, bài được đăng tải trên trang Web tapchicongsan.org.vn;

- Bài viết “Quốc Hội nước ta qua các kỳ bầu cử” theo quochoi.vn, bài được đăng tải trên trang Web btgcp.gov.vn;

- Bài viết “Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở nước ta hiện nay” PGS.TS Vũ Văn Phúc, bài được đăng tải trên trang Web tapchicongsan.gov.vn;

- Bài viết “Vai trò của MTTQVN trong bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND” ThS Nguyễn Thanh Bình, bài được đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2016;

Trang 12

Hiện tại, học viên chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ cả về mặt lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn nghiên cứu những vấn

đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế trong nhiệm kỳ 2016-2021 để từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về bầu cử nói chung và trên địa bàn thành phố Huế nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về bầu cử, luận văn phân tích thực trạng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu là:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận, pháp lý về bầu cử;

- Phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện pháp về bầu cử trên địa bàn thành phố Huế trong thời gian qua;

- Đề ra giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bầu cử trong những nhiệm kỳ tiếp theo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp nghiên cứu văn bản: Được sử dụng để thu thập, phân tích

và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện của Đảng, văn bản Luật, văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, các thống kê của các cơ quan, đơn vị liên quan trực tiếp hoăc gián tiếp đến việc thực hiện pháp luật về bầu cử

Phương pháp thống kê, thu thập thông tin: tiến hành nghiên cứu báo cáo của các cơ quan, đơn vị về tình hình tổ chức triển khai thực hiện, tổng kết công tác bầu cử; trên cơ sở đó tổng hợp, so sánh thực trạng thực hiện giữa các

cơ quan, đơn vị trên các mặt nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu

Phương pháp phân tích, đánh giá: Đề tài tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử để từ đó chỉ ra được những mặt

Trang 14

6

mạnh, mặt yếu trong thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, từ đó làm cơ sở cho những đề xuất, giải pháp ở Chương 3

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về bầu cử và thực hiện pháp luật về bầu cử, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử của thành phố Huế, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bầu cử ở thành phố Huế

Luận văn có tính thời sự khi đóng góp ý kiến, giúp cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử trong nhiệm kỳ tới đạt hiệu quả hơn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong thực tế thực hiện pháp luật về bầu cử ở thành phố Huế trong nhiệm kỳ tới hoặc sẽ là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm, nghiên cứu pháp luật về bầu cử

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về bầu cử Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 15

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ 1.1 Khái quát thực hiện pháp luật về bầu cử

1.1.1.Khái niệm thực hiện pháp luật về bầu cử

Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử

Pháp luật bầu cử giống như các chế định pháp luật khác, không chỉ chứa đựng các quy phạm pháp luật về quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tham gia các mối quan hệ bầu cử mà còn chứa đựng các quy phạm có tính thủ tục, quy định trình tự bầu cử và xác định kết quả bầu cử [14, tr 340]

Thực tế cho thấy, pháp luật về bầu cử đã được hình thành kể từ bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946) của nước Việt Nam ra đời, đến các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đã tiếp tục ghi nhận

và phát triển quyền bầu cử, ứng cử với tư cách là quyền chính trị cơ bản của công dân

Có thể thấy rằng các quy phạm pháp luật về bầu cử được chia thành 3 nhóm sau:

Nhóm thứ nhất quy định chung về bầu cử, bao gồm các quy phạm pháp luật xác định nguyên tắc bầu cử; tuổi ứng cử và tuổi bầu cử; tiêu chuẩn của người ứng cử; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử, ngày bầu cử và kinh phí tổ chức bầu cử

Nhóm thứ hai quy định nội dung của cuộc bầu cử Nhóm này bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc tổ chức và trình tự tiến hành bầu cử;

cụ thể hoá các nguyên tắc bầu cử; quy định về quy trình bầu cử từ việc xác định ngày bầu cử, phương thức tổ chức đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu, tổ

Trang 16

8

chức phụ trách bầu cử, lập danh sách cử tri, danh sách ứng cử viên, hiệp thương, tổ chức tuyên truyền, vận động bầu cử, trình tự bỏ phiếu, kiểm phiếu

và xác định kết quả bầu cử, bầu cử bổ sung và tổng kết bầu cử

Nhóm thứ ba là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật bầu cử

Từ phân tích trên, có thể định nghĩa: Pháp luật về bầu cử là tổng thể các quy phạm pháp luật thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quyền và nghĩa vụ của công dân, do cơ quan nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử

Thực hiện pháp luật là bước tiếp theo sau khi văn bản pháp luật được ban hành để đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật cử trở thành hiện thực đi vào cuộc sống

Để tổ chức thực hiện các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ

xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu

cử và xác định kết quả bầu cử, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các quy định đó nhằm mục đích làm cho những quy định này đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động bầu cử Thực hiện pháp luật về bầu cử là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về bầu cử đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp trong mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử khi tham gia quan hệ pháp luật về bầu cử

Thực hiện pháp luật về bầu cử có những đặc điểm sau đây:

Trang 17

Thứ ba, quá trình thực hiện pháp luật về bầu cử được bảo đảm bằng cả

hệ thống chính trị

Thứ tư, thời gian thực hiện được ấn định cụ thể

Thứ năm, thực hiện pháp luật về bầu cử để củng cố và hoàn thiện cơ quan quyền lực nhà nước

1.1.2 Nguyên tắc thực hiện pháp luật về bầu cử

- Nguyên tắc thực hiện công khai, dân chủ:

Điều 13, Điều 26 Luật Bầu cử quy định, trong quá trình thực hiện pháp luật về bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành

- Nguyên tắc lập danh sách cử tri:

Điều 29, Luật Bầu cử quy định, mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri, trừ các trường hợp đang

bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú Cử

Trang 18

10

tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến UBND cấp xã xuất trình

Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú) hoặc bầu đại biểu Quốc hội

và đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện (nêu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú) Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

- Nguyên tắc vận động bầu cử:

Điều 63 Luật Bầu cử quy định việc vận động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu HĐND ở đơn vị bầu cử nào thì thực hiện vận động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó Các tổ chức phụ trách bầu

cử và thành viên của các tổ chức này không được vận động cho người ứng cử

- Nguyên tắc bỏ phiếu:

Điều 69 Luật Bầu cử quy định mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi cấp HĐND Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ

Trang 19

11

phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc

cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ

sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử Khi

cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu

- Nguyên tắc xác định người trúng cử:

Điều 78 Luật Bầu cử quy định kết quả bầu cử được tính, trên số phiếu bầu hợp lệ và chỉ được công nhận khi đã có quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri tại đơn vị bầu cử tham gia bầu cử, trừ trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai Người trúng cử phải là người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ Trường hợp số người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ nhiều hơn số lượng đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu thì những

Trang 20

12

người trúng cử là những người có số phiếu bầu cao hơn Trường hợp cuối danh sách trúng cử có nhiều người được số phiếu bầu bằng và nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử

1.1.3 Vai trò thực hiện pháp luật về bầu cử

Thực hiện pháp luật về bầu cử là một tiến trình không những liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức

và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý Có thể nói, thực hiện pháp luật về bầu cử có vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng và phát triển cơ quan quyền lực nhà nước, đồng thời là phương thức thể hiện quyền lực của nhân dân

- Thực hiện pháp luật về bầu cử là phương thức tiếp tục xây dựng, củng

cố và hoàn thiện cơ quan quyền lực nhà nước

Thông qua các cuộc bầu cử, nhân dân trực tiếp lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng là đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND Chính vì vậy, bầu cử

ở nước ta luôn là một sự kiện chính trị trọng đại Mỗi cuộc bầu cử là một đợt sinh hoạt chính trị toàn dân, ngày hội lớn của dân tộc

Trải qua 14 lần bầu cử, qua mỗi lần bầu chúng ta càng thấy Nhà nước pháp quyền của chúng ta là một bước phát triển Bởi, qua thực tiễn thi hành pháp luật về bầu cử chúng ta rút ra được những hạn chế, bất cập, từ đó kịp thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, HĐND các cấp Khi các quy định về bầu cử được quy chi tiết, cụ thể phù hợp với Hiến pháp và thực tiễn thì việc thi hành pháp luật về bầu cử được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhân dân

Trang 21

13

thực hiện thuận lợi và nghiêm túc, thể hiện tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch từ đó Nhân dân ta tìm ra được những cá nhân thực sự vì dân, có uy tín, trình độ, đạo đức, năng lực để giao đảm nhận các vị trí quan trọng trong trong

bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương Từ đó Nhà nước ta ngày một phát triển, vững mạnh

- Thực hiện pháp luật về bầu cử là phương thức để nhân dân thực hiện quyền lực của của mình

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND

Như vậy, quyền lực của Nhân dân đã được Hiến pháp ghi nhận Làm sao

để đảm bảo cho nhân dân thực hiện được quyền của mình một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất? Pháp luật về bầu cử ra đời đã trả lời cho câu hỏi này Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ

xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu

cử và xác định kết quả bầu cử Đây là một biện pháp bảo đảm cho nhân dân thực hiện đày đủ và trọn vẹn nhất quyền lực của mình

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về bầu cử

1.2.1 Chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện pháp luật về bầu cử

Trước kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, UBTVQH thành lập HĐBC để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức bầu cử trong cả nước HĐBC có từ mười lăm đến hai mươi mốt người gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và các uỷ viên là đại diện

Trang 22

14

UBTVQH, Chính phủ, Uỷ ban trung ương MTTQ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan HĐBC được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND, từ việc chuẩn bị danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội; quy định mẫu thẻ cử tri và phiếu bầu

cử, tổng kết kết quả bầu cử; tổ chức chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, vận động bầu cử, công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử

HĐBC quốc gia, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam, các bộ ngành có liên quan ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến cơ sở Các cấp ủy Đảng, MTTQ, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở các địa phương tiến hành các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử ở địa phương Các tổ chức phụ trách bầu cử đã được thành lập theo đúng quy trình

và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật [7, tr 2] Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan, các

tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương đã ban hành các kế hoạch triển khai cụ thể để thi hành pháp luật về bầu cử

Theo chỉ đạo và hướng dẫn của HĐBC quốc gia về công tác bầu cử, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm tham mưu, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp ban hành các văn bản hướng dẫn về bầu cử, thực hiện công tác bầu cử; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện bảo đảm đúng các quy định về bầu cử

Bộ Trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện các nội dung công tác bầu cử; tổng hợp và biên soạn tài liệu tập huấn nghiệp vụ bầu cử Qua các hội nghị tập huấn, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan ở Trung ương trực tiếp hướng dẫn,

Trang 23

15

trả lời những kiến nghị của địa phương hoặc tiếp thu để báo cáo các cơ quan

có thẩm quyền xem xét, ban hành văn bản hướng dẫn bổ sung

Tổ chức các hội nghị giao ban công tác bầu cử tại 3 khu vực Bắc - Trung - Nam, với sự tham gia của UBBC cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã của

63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để kịp thời đánh giá tình hình triển khai công tác bầu cử của các địa phương theo kế hoạch của HĐBC cử quốc gia; hướng dẫn, giải quyết các vấn đề vướng mắc, khó khăn phát sinh và đề xuất, kiến nghị của địa phương; đồng thời, tổng hợp báo cáo HĐBC quốc gia xem xét, có văn bản hướng dẫn bổ sung về công tác bầu cử [8, tr 2]

Trên cơ sở đó, tại địa phương các cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai tập huấn nghiệp vụ bầu cử theo quy định cho toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ thực hiện công tác bầu cử, nhằm đảm bảo thực hiện công tác bầu củ được thống nhất và đúng quy định

1.2.2 Lập kế hoạch thực hiện luật về bầu cử

Việc lập kế hoạch thực hiện pháp luật về bầu cử được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhân dân thực hiện theo quy định Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm các nội dung sau:

1) Công bố ngày bầu cử;

2) Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử;

3) Về tổ chức các hội nghị triển khai công tác bầu cử, hội nghị giới thiệu người ứng cử, hội nghị hiệp thương và hội nghị cử tri;

4) Công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử;

5) Công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong bầu cử;

6) Lập và niêm yết danh sách cử tri, người ứng cử;

7) Tổ chức ngày bầu cử;

8) Công bố kết quả bầu cử

Trang 24

- Ở địa phương:

UBBC ở tỉnh có từ hai mươi mốt đến ba mươi mốt thành viên gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan

UBBC ở huyện có từ mười một đến mười lăm thành viên; UBBC ở xã có

từ chín đến mười một thành viên Thành viên UBBC ở huyện, ở xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan (Điều 22 Luật Bầu cử)

Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh có từ mười một đến mười ba thành viên Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp huyện có từ chín đến mười một thành viên Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp xã có từ bảy đến chín thành viên Ban bầu cử gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và các Ủy viên (Điều 24 Luật Bầu cử)

Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ

Trang 25

17

chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì UBND huyện sau khi thống nhất với Thường trực HĐND và Ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được thành lập một Tổ bầu cử có từ năm đến chín thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì UBND cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực HĐND, Ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri

ở địa phương, đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó (Điều 25 Luật Bầu cử)

Theo Điều 4 Thông tư 02/2016/TT-BNV ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch UBBC cấp tỉnh, Chủ tịch UBBC cấp huyện, Chủ tịch UBBC cấp xã; Trưởng ban Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Trưởng ban Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và Tổ trưởng Tổ bầu

cử (sau đây gọi chung là người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử) chịu trách nhiệm phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng thành viên tổ chức phụ trách bầu cử cấp mình từ giai đoạn chuẩn bị, triển khai, tổ chức ngày bầu cử, các công việc tiến hành sau ngày bầu cử cho đến khi kết thúc cuộc bầu cử Trong đó, phân công một thành viên chịu trách nhiệm tổng hợp chung công

Trang 26

18

tác bầu cử của UBBC và của Ban bầu cử Căn cứ điều kiện cụ thể, các tổ chức phụ trách bầu cử có thể trưng tập cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức xã hội giúp việc cho tổ chức phụ trách bầu cử theo quyết định của người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử [11, tr 3]

1.2.4 Bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bầu cử

- Điều kiện về chính trị :

Tính phù hợp về chính trị khi thực hiện pháp luật về bầu cử là yêu cầu bắt buộc phải hiện thực hóa được đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là định hướng chủ yếu để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thể chế hóa thành pháp luật

Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tố quan trọng nhất, hạt nhân lãnh đạo của cả hệ thống chính trị Vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội đã được quy định tại Hiến pháp, được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh cách mạng

và quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Để thực hiện các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND thành công, cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về công tác bầu cử, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ; phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên

Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã xác định: “Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng

Trang 27

19

viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”

Chính vì những lý do nêu trên, đối với cuộc bầu cử gần đây nhất - cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, ngày 04/01/2016, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 51-CT/TW yêu cầu các cấp

ủy, các tổ chức Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những yêu cầu nhiệm vụ trước, trong và sau bầu cử Trong đó, phải có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử; bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự là ngày hội của toàn dân Lãnh đạo tốt công tác nhân sự, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ; gắn kết quả nhân sự của đại hội Đảng các cấp và quy hoạch cán bộ với công tác chuẩn bị nhân sự để giới thiệu những người tiêu biểu, có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, có năng lực, điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện

cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ; đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết nghiêm trọng

Bộ Chính trị cũng yêu cầu các cấp ủy Đảng, các tổ chức Đảng phải lãnh đạo bầu đủ số lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp, đặc biệt coi trọng chất lượng đại biểu Đồng thời, bảo đảm cơ cấu hợp lý về số đại biểu là người đang công tác ở cơ quan Đảng, nhà nước, lực lượng vũ trang, Mặt trận

Trang 28

20

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, giảm hợp lý số đại biểu công tác tại cơ quan hành chính; tăng số lượng đại biểu chuyên trách; bảo đảm tỷ lệ người ứng cử là phụ nữ, người dân tộc thiểu số theo đúng quy định của Luật Bầu cử;

có tỷ lệ hợp lý đại biểu các tôn giáo, đại biểu tái cử, đại biểu trẻ tuổi, đại biểu

là các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân, đại diện các hiệp hội, nghiệp đoàn về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh

Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử và việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải bảo đảm theo đúng quy trình pháp luật quy định và hướng dẫn của các cơ quan Trung ương có thẩm quyền Lãnh đạo tốt việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác bầu cử; bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng

cử, bầu cử theo quy định của pháp luật

Bộ Chính trị yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, đề cao trách nhiệm, tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bầu cử

- Điều kiện pháp lý:

Luật bầu cử là đạo luật quan trọng quy định về quyền bầu cử, ứng cử là một trong các quyền chính trị cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp để công dân thực hiện đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử của mình; Luật Bầu cử bảo đảm phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn về kinh tế - xã hội của đất nước

Trên cơ sở Luật bầu cử, công tác chuẩn bị các điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ cuộc bầu cử được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ tại Thông tư số 02/2016/TT-BNV như: khắc con dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử, in ấn tài liệu, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền bầu cử, hòm phiếu, phiếu bầu, chuẩn bị địa điểm, phòng bỏ phiếu được hướng dẫn một

Trang 29

21

cách cụ thể, đảm bảo điều kiện, phương tiện vật chất, kỹ thuật cho ngày bầu cử

- Điều kiện kinh phí:

Luật bầu cử quy định kinh phí tổ chức bầu cử do ngân sách nhà nước cấp Nhằm bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bầu

cử, Bộ Trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 06/2016/TT-BTC ngày 14/01/2016 hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bầu cử ĐBQH khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-

2021

Theo đó, cùng với số kinh phí phục vụ bầu cử do ngân sách Trung ương đảm bảo, căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, yêu cầu công việc và khả năng ngân sách địa phương, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp xem xét, quyết định bổ sung kinh phí

từ ngân sách địa phương để phục vụ cho công tác bầu cử tại địa phương Kinh phí phục vụ cho công tác bầu cử phải được các cơ quan, đơn vị quản lý chặt chẽ, chi tiêu theo đúng chế độ, đúng mục đích, có hiệu quả; sử dụng các phương tiện phục vụ các cuộc bầu cử trước đây hiện còn sử dụng được, huy động các phương tiện đang được trang bị ở các cơ quan, đơn vị để phục vụ cho nhiệm vụ bầu cử đảm bảo tiết kiệm chi cho ngân sách nhà nước

1.2.5 Giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bầu cử; giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử

- Tổ chức hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bầu cử: Hoạt động UBTVQH:

Thực hiện khoản 3 Điều 4 Luật bầu cử về thực hiện việc tổ chức giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, ngày 05/03/2016, UBTVQH ban hành Kế hoạch số 1054/KH-UBTVQH13 về giám

Trang 30

22

sát, kiểm tra công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-202 để tổ chức giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm

Hoạt động của MTTQ Việt Nam:

Để triển khai hoạt động tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội

và đại biểu HĐND các cấp của MTTQ Việt Nam theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 Luật bầu cử, nhằm đảm bảo cuộc bầu cư có được tổ chức dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, bầu được những đại biểu đủ tiêu chuẩn, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân hay không, ngày 16/02/2016, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành văn bản số 35/HD-MTTW-BTT về hướng dẫn công tác giám sát của MTTQ Việt Nam đối với hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử; giám sát việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND và thủ tục, hồ sơ ứng cử; giám sát việc tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử; giám sát việc lập danh sách cử tri và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về danh sách

cử tri; giám sát việc niêm yết danh sách những người ứng cử; việc xóa tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp; giám sát việc tiếp xúc giữa cử tri với người ứng cử vận động bầu cử; giám sát việc vận động bầu cử bằng phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền

về bầu cử; giám sát trình tự bầu cử, thể thức bỏ phiếu trong ngày bầu cử Hoạt động của Thường trực HĐND, UBND các cấp:

Đối với Thường trực HĐND, UBND các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và thực hiện công tác bầu cử theo quy định của Luật bầu cử và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

Trang 31

23

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử:

Về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, khiếu nại về danh sách cử tri; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử theo quy định tại Điều 61; giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử theo quy định tại Điều 87 Luật bầu cử

Đối với việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, UBBC ở tỉnh, HĐBC quốc gia

do các cơ quan này giải quyết Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, UBBC thì có quyền khiếu nại đến HĐBC quốc gia Quyết định của HĐBC quốc gia là quyết định cuối cùng

Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu HĐND, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu HĐND ở cấp nào thì được gửi đến Ban bầu cử đại biểu HĐND ở cấp đó Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì

có quyền khiếu nại đến UBBC ở cấp tương ứng Quyết định của UBBC là quyết định cuối cùng

Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, HĐBC quốc gia, UBBC, Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử

Để hạn chế việc khiếu nại, tố cáo tập trung vào ngày diễn ra sự kiện quan trọng của đất nước, Thanh tra Chính phủ cũng đã ban hành Kế hoạch số 564/KH-TTCP ngày 24/3/2016 về kiểm tra, theo dõi, đôn đốc công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và Kế hoạch số 634/KH-TTCP ngày 30/3/2016 về phối hợp tổ chức tiếp công dân, đảm bảo an ninh trật tự phục vụ cuộc bầu cử

Trang 32

24

- Xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử:

Điều 95, Luật Bầu cử quy định người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử

mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

1.2.6 Tổng kết thực hiện pháp luật về bầu cử

Tổng kết công tác bầu cử được quy định từ Điều 83, 84, 85, 86, 87 và Điều 88 Luật Bầu cử Theo đó:

Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của các Ban bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), UBBC ở tỉnh, lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các nội dung sau đây: Số lượng đơn vị bầu cử; Số lượng người ứng cử; Tổng số cử tri của địa phương; Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của địa phương; Số phiếu hợp lệ; Số phiếu không hợp lệ; Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử; Những khiếu nại, tố cáo do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết; Những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết; Những khiếu nại, tố cáo do UBBC

ở tỉnh đã giải quyết; Những khiếu nại, tố cáo và kiến nghị chuyển đến HĐBC quốc gia Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được lập thành bốn bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử Biên bản được gửi đến HĐBC quốc gia, UBTVQH, Ủy ban trung ương MTTQVN, Ủy ban MTTQVN cấp tỉnh chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử

Trang 33

25

- Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội:

Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, UBBC ở tỉnh và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu

cử quốc gia lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội có các nội dung sau đây; Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu; Tổng số người ứng cử; Tổng số cử tri trong cả nước; Tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri trong cả nước; Số phiếu hợp lệ; Số phiếu không hợp lệ; Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử; Những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết; Những khiếu nại, tố cáo do Hội đồng bầu cử quốc gia đã giải quyết

Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch HĐBC quốc gia Biên bản được gửi đến UBTVQH, Chính phủ, Ủy ban trung ương MTTQVN và trình Quốc hội khóa mới

- Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu HĐND:

Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), UBBC lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu HĐND mà mình chịu trách nhiệm tổ chức Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu HĐND có các nội dung sau đây: tổng số đại biểu HĐND được bầu của đơn vị hành chính; tổng số người ứng cử; tổng số

cử tri của đơn vị hành chính; tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị hành chính; số phiếu hợp lệ; số phiếu không hợp lệ;

số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử; những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do UBBC đã giải quyết

- Công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử:

Trang 34

26

HĐBC quốc gia căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 20 ngày sau ngày bầu cử

UBBC căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử

và danh sách những người trúng cử đại biểu HĐND ở cấp mình chậm nhất là

10 ngày sau ngày bầu cử

- Giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử:

Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội phải được gửi đến HĐBC quốc gia chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu HĐND phải được gửi đến UBBC chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu HĐND HĐBC quốc gia có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại UBBC có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu

cử đại biểu HĐND trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại của HĐBC quốc gia, UBBC là quyết định cuối cùng

- Xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND:

Căn cứ vào kết quả tổng kết bầu cử đại biểu Quốc hội, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến người trúng cử đại biểu Quốc hội, HĐBC quốc gia tiến hành xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội, cấp giấy chứng nhận đại biểu Quốc hội khóa mới cho người trúng cử và báo cáo Quốc hội khóa mới về kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội tại kỳ họp đầu tiên

Căn cứ vào kết quả tổng kết bầu cử đại biểu HĐND, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến người trúng cử đại biểu HĐND, UBBC tiến

Trang 35

27

hành xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu HĐND cấp mà mình chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử, cấp giấy chứng nhận đại biểu HĐND khóa mới cho người trúng cử và báo cáo HĐND khóa mới về kết quả xác nhận tư cách đại biểu HĐND tại kỳ họp đầu tiên

1.3 Kinh nghiệm đúc kết thực hiện pháp luật về bầu cử

1.3.1 Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bầu cử ở một số nước

Pháp luật về bầu cử của các quốc gia là sự thể chế hoá các quy định về chế độ bầu cử của mỗi nước Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử Theo báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về hình thức văn bản QPPL về bầu cử và mô hình cơ quan phụ trách bầu cử quốc gia thì có nhiều quốc gia chỉ có một luật bầu cử chung như Hàn Quốc, Nhật bản, Phần Lan, Đức Có nhiều quốc gia có nhiều luật luật bầu cử như: Luật bầu cử thượng viện, Luật bầu cử hạ viện, Luật bầu cử cơ quan đại diện cấp tỉnh, Luật bầu cử

cơ quan đại diện cấp xã như Campuchia, Luật bầu cử liên bang, Luật bầu cử riêng của các bang như Canada

Trong khuôn khổ đề tài luận văn, việc nghiên cứu tập trung vào văn bản pháp luật và cơ quan phụ trách bầu cử của các nước có những điểm tương đồng với Việt Nam như Hàn quốc và Nhật bản

- Tổng quan pháp luật về bầu cử ở Hàn Quốc:

Tại Hàn Quốc, các hoạt động về bầu cử được điều chỉnh bởi Hiến pháp

và chủ yếu bởi Luật Bầu cử chức vụ công Bên cạnh đó, một số luật như: Luật

về xuất nhập cảnh và Tư cách pháp lý của người Hàn Quốc ở nước ngoài (trong đó có điều chỉnh một số trường hợp người Hàn Quốc tại nước ngoài tham gia bầu cử), Luật Đảng phái chính trị (trong đó có điều chỉnh một số hoạt động đối với Đảng phái chính trị khi tham gia tranh cử) v.v… cũng điều

Trang 36

28

chỉnh một phần đối với hoạt động bầu cử Hiện nay, hoạt động bầu cử tại Hàn Quốc được điều chỉnh bởi Luật Bầu cử chức vụ công số 10303 ban hành ngày

17 tháng 3 năm 2010 Luật gồm 14 Chương và 279 điều Theo đó, “Luật này

áp dụng đối với các cuộc bầu cử Tổng thống, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử các thành viên Hội đồng địa phương và người đứng đầu chính quyền địa phương”(Điều 2) Như vậy, hoạt động bầu cử tại Hàn Quốc được điều chỉnh chung bởi một luật tại cả cấp trung ương lẫn địa phương

Theo Điều 114 của Hiến pháp Hàn Quốc, UBBC quốc gia là một cơ quan hiến định độc lập UBBC quốc gia là cơ quan quản lý các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý của quốc gia nhằm tạo sự công bằng và xử lý với các vấn đề hành chính liên quan đến các đảng chính trị và các quỹ chính trị Nhiệm kỳ và quyền hạn của mỗi Ủy viên bầu cử được đảm bảo đúng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để bảo đảm thực hiện công bằng các nhiệm vụ mà không chịu ảnh hưởng của bất kỳ sự can thiệp bên ngoài nào

UBBC Quốc gia có các nhiệm vụ và trách nhiệm sau đây: quản lý các cuộc bầu cử; quản lý các cuộc bỏ phiếu; giám sát nghĩa vụ, trách nhiệm của các đảng phái chính trị trong công tác bầu cử; quản lý các vấn đề về bầu cử trong việc quản lý các quỹ chính trị; thực hiện các hoạt động nhằm thúc đẩy

sự công bằng, minh bạch trong bầu cử; tuyên truyền, giáo dục về nền bầu cử dân chủ cho công chúng; Trao đổi và hợp tác quốc tế; nghiên cứu về bầu cử

và hệ thống chính trị [5- tr 16, 41,44]

- Tổng quan pháp luật về bầu cử ở Nhật Bản:

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Luật Bầu cử các cơ quan nhà nước của Nhật Bản quy định chi tiết về các cuộc bầu cử toàn quốc và địa phương Trước đây, có nhiều luật quy định về bầu cử (như Luật bầu cử Hạ viện, Luật bầu cử thượng viện, Luật bầu cử chính quyền địa phương…), nhưng từ năm 1950 các luật này được hợp nhất thành Luật Bầu cử các cơ

Trang 37

29

quan nhà nước

Luật Bầu cử các cơ quan nhà nước quy định các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp liên quan đến bầu cử cho cả bầu cử ở cấp độ quốc gia và địa phương

Hiến pháp Nhật quy định chính thể dân chủ đại nghị và đảm bảo bầu cử phổ thông, công bằng và bỏ phiếu kín Đây là những nguyên tắc cơ bản của

hệ thống bầu cử, được áp dụng cho các cuộc bầu cử Quốc hội, các hội đồng địa phương và những người đứng đầu chính quyền thành phố Bầu cử phổ thông đảm bảo quyền bầu cử của tất cả người dân Nhật từ 20 tuổi trở lên

Ở Nhật bản có ba loại bầu cử, gồm tổng tuyển cử bầu ra Hạ viện, được tổ chức 4 năm một lần (trừ trường hợp hạ viện bị giải tán sớm hơn), tiếp đến là bầu cử Thượng viện được tổ chức 3 năm một lần để chọn ra một nửa số thành viên của Thượng viện và bầu cử ở địa phương được tổ chức 4 năm một lần tại các quận, thành phố và làng xã Các cuộc bầu cử được giám sát bởi các UBBC dưới sự chỉ đạo chung của Hội đồng Quản lý Bầu cử Trung ương (Hội đồng Quản lý Bầu cử của Trung ương là một cơ quan thuộc Bộ Nội vụ và Truyền thông)

Nhiệm vụ của Hội đồng Quản lý Bầu cử Trung ương là phụ trách việc bầu cử hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ theo quy định của hệ thống bầu cử của Nhật Bản Hội đồng Quản lý Bầu cử Trung ương là cơ quan độc lập, gồm có

5 thành viên được bổ nhiệm bởi Thủ tướng trên cơ sở tiến cử của Quốc hội Nhiệm kì của các thành viên là 3 năm

Các Ủy ban Quản lý bầu cử cấp tỉnh: có trách nhiệm phụ trách việc bầu

cử hạ nghị sĩ theo hình thức bầu cử đa số một đại diện và bầu cử các thượng nghị sĩ từ các đơn vị bầu cử, thống đốc từ các tỉnh và các thành viên của hội đồng địa phương cấp tỉnh Các ủy ban quản lý bầu cử cấp tỉnh gồm có 4 thành viên được chọn bởi các hội đồng cấp tỉnh Nhiệm kì của các thành viên Hội

Trang 38

30

đồng này là 4 năm

Ủy ban Quản lý bầu cử cấp thành phố, thị xã (thành phố, thị trấn và làng)

có trách nhiệm quản lý các cuộc bầu cử các lãnh đạo của địa bàn cấp thành phố, thị xã và các thành viên của Hội đồng thành thị Ủy ban gồm có 4 người

và được Hội đồng thành thị lựa chọn với nhiệm kì 4 năm

Thêm vào đó, các ủy ban quản lý bầu cử còn được thành lập ở một số khu vực đặc biệt tại các khu vực hành chính của 12 thành phố trong Tokyo để thực hiện các chức năng được giao phó [5- tr18,61]

1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bầu cử ở một số địa phương

* Thực hiện pháp luật về bầu cử ở Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình:

Theo Báo cáo số 55/BC-UBBC ngày 07/6/2016 về kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình thì tình hình tổ chức triển khai, thực hiện pháp luật về bầu cử qua những nội dung sau:

- Tình hình tổ chức triển khai thực hiện:

Thực hiện Chỉ thị số 51-CT/TW ngày 04/01/2016 của Bộ Chính, Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Hới đã ban hành Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 29/02/2016 để lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 Đã tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh để triển khai công tác bầu cử; quyết định thành lập Ban chỉ đạo bầu cử gồm 14 đồng chí, giới thiệu nhân sự UBBC tỉnh gồm 15 đồng chí

Đã chỉ đạo Uỷ ban bầu cử Thành phố xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử đảm bảo tiến độ thời gian theo luật định

+ Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, xác định và ấn định số đơn vị bầu cử, số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp

Trang 39

31

+ Việc tuyên truyền, vận động trong nhân dân về cuộc bầu cử; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo đối với cuộc bầu cử; công tác hiệp thương; việc tập huấn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử cho các thành viên tổ chức phụ trách bầu cử

+ Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo: Chấp hành nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo, đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình công tác bầu cử theo các nội dung quy định của Sở Nội vụ, UBBCtỉnh…đảm bảo theo hướng dẫn của cấp trên

+ Tổ chức các hội nghị như: Hội nghị cán bộ cốt cán thành phố; Hội nghị tập huấn nghiệp vụ bầu cử; Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất; Hội nghị hiệp thương lần thứ hai; Hội nghị hiệp thương lần thứ ba;Hội nghị tổ chức lấy

ý kiến cử tri nơi cư trú, nơi công tác

+ Việc lập và niêm yết danh sách cử tri, danh sách người ứng cử, tổ chức tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử của những người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp theo đúng thời gian quy định

+ Công tác giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến cuộc bầu cử: Sau khi tiếp nhận đơn thư có liên quan đến các ứng cử viên xã phường: 16 đơn Đã thực hiện chuyển đơn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định

+ Công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được chú trọng Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội thời gian trước, trong và sau ngày bầu cử trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định; không khí vui tươi, lành mạnh, an toàn Công an thành phố, Ban chỉ huy Quân sự thành phố, lực lượng dân phòng các địa phương đã triển khai tốt kế hoạch bảo vệ cuộc bầu cử

Trang 40

32

- Về kinh phí và cơ sở vật chất - kỹ thuật cho cuộc bầu cử:

Các tài liệu liên quan đến công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2016-2021 đã phát hành đầy đủ đến các địa phương, cơ quan, đơn vị thành phố và tại Hội nghị tập huấn nghiệp vụ bầu cử Các loại văn bản, biểu mẫu; danh sách, tiểu sử tóm tắt của các ứng cử viên; phiếu bầu đã được chuyển về các địa phương, tổ bầu cử đầy đủ và được bảo

bỏ phiếu nào phải tiến hành bầu cử thêm; Không có đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu bị hủy kết quả bầu cử do vi phạm pháp luật nghiêm trọng

- Bài học kinh nghiệm:

Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo kịp thời có hiệu quả của UBND tỉnh, Sở Nội vụ

và của Thường vụ thành uỷ, Ban chỉ đạo Bầu cử thành phố; sự chủ động, tích cực, cố gắng vượt qua khó khăn của các cấp, các ngành, các địa phương, các

tổ chức bầu cử từ thành phố đến các xã phường Sau 4 tháng tích cực chuẩn

bị, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn thành phố thành công tốt đẹp; đảm bảo dân chủ, bình đẳng, đúng luật định, an toàn, tiết kiệm, đáp ứng được lòng mong đợi của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thành phố, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị dân chủ rộng rãi, là ngày hội lớn của toàn dân

Ngày đăng: 31/10/2020, 12:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w