1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CẢI CÁCH THỦ tục HÀNH CHÍNH tư PHÁP từ THỰC TIỄN tòa án NHÂN dân TỈNH QUẢNG BÌNH

142 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Luận văn thạc sĩ, Luận án tiến sỹ Luật học và các ngành liên quan như: - Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phan Đức Phương - Đại học Quốc gia Hà Nội 2007 về “Đổi mới tổ chức và h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ./ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THỊ THANH TÂM

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP-

TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ./ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THỊ THANH TÂM

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP-

TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học mang tính độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc xuất xứ

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2018

Học viên Trần Thị Thanh Tâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và tri ân sâu sắc đến TS Nguyễn Minh Sản

đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Lãnh đạo, các Giảng viên của Học viện Hành chính quốc gia và khoa Sau đại học đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi học tập, truyền thụ cho tôi những tri thức, nâng cao hiểu biết của tôi và cũng là nền tảng quan trọng để tôi vận dụng vào quá trình làm việc

Xin gửi lời tri ân đến bạn đọc, bạn học cùng chuyên ngành đã đóng góp

ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm cho tôi về lĩnh vực tôi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và trình độ chuyên môn nên Luận văn tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được

ý kiến phản hồi từ phía Giảng viên và bạn đọc Đó sẽ là những tri thức quý báu để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Học viên Trần Thị Thanh Tâm

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

MỞ ĐẦU 1Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

TƯ PHÁP - TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 91.1 Thủ tục hành chính tư pháp trong Toà án nhân dân 91.2 Cải cách thủ tục hành chính tư pháp trong Toà án nhân dân 171.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Toà án nhân dân cấp tỉnh 23Kết luận chương 1 31Chương 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP-TỪ THỰC TIỄNTÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH 322.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình và tổng quan về tình hình đơn vị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình 322.2 Tình hình cải cách thủ tục hành chính tư pháp từ thực tiễn Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình 392.3 Đánh giá thực trạng cải cách thủ tục hành chính tư pháp từ thực tiễn Toà

án nhân dân tỉnh Quảng Bình 51Kết luận chương 2 76

Trang 6

Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP - TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH 773.1 Quan điểm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tư pháp từ thực tiễn Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình 783.2 Giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình 83Kết luận chương 3 94KẾT LUẬN 96TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

HĐND: Hội đồng nhân dân

JUDGE: Dự án “Phát triển tư pháp và sự tham gia từ cơ sở” NNPQ XHCN: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

UBMTTQVN: Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1Sơ đồ mô tả cách sắp xếp các bộ phận của thủ tục hành chính theo thứ bậc hiệu lực các văn bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam 13

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Bình 38

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ quy trình thực hiện cơ chế “một cửa”tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình ……… 54 Biểu đồ 2.1.Số liệu cán bộ, công chức và các chức danh Thẩm phán của Toà

án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Bình tính đến năm 2017 39Biểu đồ 2.2 Số liệu các vụ án được thụ lý, giải quyết của Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Bình (từ năm 2005 - 2017) 43

Trang 9

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1 Trần Thị Thanh Tâm - Phòng Tổ chức cán bộ, thanh tra và Thi đua khen thưởng ,Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình (2017), “Mức độ hài lòng của người dân - Thước đo hiệu quả cải cách thủ tục hành chính tư pháp tại Toà án”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử ISSN: 2588 -1434, ngày 24/11/2017

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan HCNN nhằm mục đích thiết lập trật tự hoạt động QLNN trong mọi lĩnh vực Thủ tục hành chính là toàn bộ quy tắc, trình tự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, theo đó cơ quan HCNN, các tổ chức, cá nhân phải tuân theo trong khi giải quyết các công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa

cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và công dân Như vậy, TTHC là hình thức, gắn với nội dung thẩm quyền của cơ quan hành chính, chịu sự chi phối, quy định bởi thẩm quyền của cơ quan hành chính Việc rà soát cải cách TTHC trước hết phải rà soát thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực hiện của cơ quan hành chính để đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ cải cách TTHC cho phù hợp

Kết quả cải cách TTHC một mặt cần được đánh giá từ hai phía trong quan hệ song phương: từ phía người dân - nguồn gốc của quyền lực nhà nước

và từ phía Nhà nước - chủ thể đã cam kết nhận lấy sự ủy thác thực hiện quyền lực của nhân dân Mặt khác, kết quả cải cách TTHC được nhìn nhận từ nhiều góc độ - góc độ của các nhà hoạch định, thiết kế, thực hiện và góc độ của các nhà khoa học Điều mà chúng ta mong muốn, cũng là điều mà tổ chức và người dân chờ đợi, là đưa hai góc nhìn xích lại gần nhau để cùng nhìn về một hướng, trong đó, lấy sự hài lòng cùa người dân làm thước đo; lấy sự tinh giản

và hiệu quả của bộ máy nhà nước làm thành tựu

Trong lĩnh vực Tư pháp, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của

Bộ Chính trị (Sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW) đã xác định “Toà

án có vị trí trung tâm, xét xử là hoạt động trọng tâm” và đặt ra yêu cầu “đổi mới Thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án các cấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân tiếp cận công lý” Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, những

Trang 11

2

năm qua, công tác cải cách TTHCTP luôn được Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Bình xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Các đơn vị TAND hai cấp tỉnh đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động TTHCTP, đặc biệt là công tác hỗ trợ giải quyết, xét xử các loại án Chánh án TAND tối cao đã có chỉ thị yêu cầu các Tòa án “Đổi mới thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động của Tòa án các cấp nhằm công khai minh bạch các hoạt động của Tòa án và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi có công việc tại Tòa án”

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, của hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, việc đổi mới TTHCTP trong hoạt động của Tòa án các cấp nhằm công khai minh bạch các hoạt động của Tòa án và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi có công việc tại Tòa án vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; vẫn chưa xóa bỏ được về cơ bản các TTHCTP mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp; nhiều mẫu đơn, mẫu tờ khai sử dụng từ ngữ đa nghĩa khó hiểu, gây khó khăn trong việc kê khai, nhiều văn bản thiếu tính chặt chẽ, thường xuyên thay đổi, việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện đã gây nhiều khó khăn và tạo khe hở trong quản lý, điều hành Tình trạng một số cơ quan tư pháp dành thuận lợi về phía mình, đẩy khó khăn về phía người dân và doanh nghiệp trong khi giải quyết công việc xảy ra ở nhiều nơi Kết quả giải quyết hồ sơ HCTP trên một số lĩnh vực cho tổ chức và người dân đạt kết quả còn thấp so với yêu cầu, nhiều hồ sơ giải quyết chưa đúng hẹn v.v

Để tạo sự đổi mới thủ tục HCTP trong hoạt động của Tòa án các cấp nhằm công khai minh bạch các hoạt động của Tòa án và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi có công việc tại Tòa án đáp ứng yêu cầu xây dựng

Trang 12

3

NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân và cải cách TTHCTP đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình” là yêu cầu khách quan và tất yếu, cấp thiết cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến luận văn Tìm hiểu tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài “Cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình” cho thấy các nhà khoa học đã tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp độ khác nhau

Các Luận văn thạc sĩ, Luận án tiến sỹ Luật học và các ngành liên quan như:

- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phan Đức Phương - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007) về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp”;

- Luận văn thạc sĩ quản lý công của tác giả Nguyễn Tăng - Học viện hành chính quốc gia (2016) về“Cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban Nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị;

- Luận văn thạc sĩ Quản lý công của tác giả Lê Lâm Sơn - Học viện hành chính quốc gia (2017) về "Cải cách thủ tục hành chính tư pháp tại Toà

án nhân dân tỉnh Kiên Giang";

- Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Huy Liệu – Đại học Luật Hà Nội (2003) về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền”; …

Các Luận văn, Luận án đã bước đầu xây dựng cơ sở lý luận, phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động của bộ máy HCTP tại các cơ quan hành chính công; qua đó đánh giá về những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế,

Trang 13

4

yếu kém và nguyên nhân của thực trạng này; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của nền hành chính Việt Nam nói chung và các địa bàn nghiên cứu cụ thể nói riêng

Các tham luận hội thảo quốc gia và các đề tài nghiên cứu cấp bộ như:

- Kỷ yếu Hội Thảo “Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam - từ góc nhìn của các nhà khoa học” của Học viện hành chính quốc gia xuất bản năm 2011: Các bài viết cung cấp bức tranh tổng thể về cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam những năm qua, đặc biệt là qua 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 Các tác giả đã đi sâu phân tích theo năm nội dung lớn của cải cách hành chính

là cải cách thể chế hành chính nhà nước; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách công vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính Quán triệt chủ trương, quan điểm chỉ đạo, dựa vào thành tựu của hành chính học các ngành khoa học khác, các tác giả đã nhận diện thực trạng, nêu bật thành tựu, phát hiện vướng mắc, chỉ ra nguyên nhân, đúc kết kinh nghiệm nhằm kiến nghị theo hướng tiếp tục thực hiện tốt hơn cải cách nền HCNN trong thời gian tới

- Cuốn sách “Nội dung tóm tắt các đề tài nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ tư pháp (tập 1)” do nhà xuất bản Tư Pháp biên soạn năm 2017: Với việc giới thiệu tóm tắt các nội dung của các đề tài nghiên cứu khoa học pháp

lý cấp bộ đã cung cấp những thông tin khoa học có giá trị tham khảo về mặt

lý luận và thực tiễn cho công cuộc đổi mới và hoàn thiện các cơ quan tư pháp

Bên cạnh đó, các bài viết đăng trên các Cổng thông tin điện tử, Tạp chí chuyên ngành như:

- Bài “Một số nội dung về đổi mới thủ tục Hành chính tư pháp trong hoạt động của Tòa án nhân dân” (2012) của ThS Trương Hòa Bình, Phó Thủ

Trang 14

án nhân dân tối cao (Tạp chí Toà án nhân dân, số 19/2017)

- Bài “Tiếp tục đổi mới thủ tục hành chính tư pháp tại Toà án nhân dân” của Báo Công lý số 83 (1518) ngày 18/10/2017;

- Bài “Nâng cao chất lượng xét xử các vụ án trọng điểm, án phức tạp

mà dư luận quan tâm” (Bản tin tư pháp Quảng Bình số 71, 2016) và Bài

“Giải pháp phát huy vai trò của luật sư trong quá trình tranh tụng tại phiên Toà” (Bản tin tư pháp Quảng Bình 2017) của tác giả Ths Nguyễn Thanh Xuân – Thẩm phán cao cấp, Chánh án TAND tỉnh Quảng Bình;

- Đặc biệt là bài viết “Mức độ hài lòng của người dân - Thước đo hiệu quả cải cách thủ tục hành chính tư pháp tại Toà án” đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân điện tử (mã ISSN: 2588 -1434) ngày 26/02/2018 của tôi

Nhìn chung, các bài viết đã phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trước yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp; qua

đó đánh giá về những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế, yếu kém và những nguyên nhân của thực trạng này, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp

Tìm hiểu tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, sách chuyên khảo, luận án, bài viết trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về TTHC, cải cách TTHC trong hoạt động của các cơ quan hành chính công nói chung và nhận diện tổng quát thực trạng tổ chức hoạt động của Tòa

án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp nói riêng Qua đó, phát hiện

Trang 15

6

vướng mắc, chỉ ra nguyên nhân, đúc kết kinh nghiệm nhằm kiến nghị theo hướng tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính trên địa bàn nghiên cứu

Tuy vậy, cho đến nay việc nghiên cứu chuyên sâu vấn đề cải cách TTHCTP tại TAND ở Việt Nam thông qua việc đánh giá kết quả áp dụng mô hình thí điểm tại một số TAND thì vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về “Cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình” dưới góc độ ngành luật Hiến pháp và ngành luật Hành chính Với kết quả nghiên cứu của luận văn, tôi hy vọng sẽ góp phần khắc phục tình trạng nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích:

Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình để đưa ra quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm cải cách thủ tục hành chính tư pháp ở Tòa án nhân dân nói chung, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nói riêng

3.2 Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục đích trên đây, luận văn có những nhiệm vụ sau đây: Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận về cải cách thủ tục HCTP thông qua việc làm rõ khái niệm TTHC; TTHCTP; đặc điểm của TTHCTP; phân loại TTHCTP; vai trò của TTHCTP; trên cơ sở phân tích các quan niệm khác nhau

để rút ra khái niệm tổng quát nhất về cải cách TTHCTP; nội dung cải cách TTHCTP; các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách TTHCTP

Thứ hai, phân tích thực trạng cải cách TTHCTP tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, trên cơ sở đó đánh giá về những kết quả đạt được; chỉ ra

Trang 16

7

những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém này

Thứ ba, trên cơ sở hệ thống lý luận về cải cách TTHCTP và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng cải cách TTHCTP tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, luận văn đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cải cách TTHCTP tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nói chung, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và những vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, dưới góc độ tiếp cận của khoa học ngành luật Hiến pháp và ngành luật Hành chính, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, quy định của pháp luật liên quan đến cải cách thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động của Toà án nhân dân

Về cơ sở thực tiễn và thời gian nghiên cứu: luận văn đi sâu nghiên cứu việc cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình trong thời gian từ năm 2014 đến nay

5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cải cách TTHC, cải cách tư pháp nói chung

và cải cách thủ tục HCTP trong Toà án nhân dân nói riêng

Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong việc

Trang 17

8

tiếp cận nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và điều tra xã hội học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung quan trọng vào nguồn

lý luận ngành luật Hiến pháp và ngành luật Hành chính, góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về cải cách TTHC, cải cách TTHCTP; góp phần nâng cao nhận thức về cải cách TTHCTP

và vai trò cải cách TTHCTP trong thực thi công vụ và đời sống dân sự

Bên cạnh đó, luận văn có thể được tham khảo trong hoạch định chính sách đổi mới công tác cán bộ, công chức tiếp công dân; trong hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật tiếp công dân; trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật học, hành chính học và quản lý nhà nước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính tư pháp từ thực tiễn Toà án nhân dân cấp tỉnh;

Chương 2: Thực trạng cải cách thủ tục hành chính tư pháp từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình;

Chương 3: Quan điểm, giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tư pháp - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

Trang 18

9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP

TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

1.1 Thủ tục hành chính tư pháp trong Toà án nhân dân

1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính tư pháp

Tư pháp (theo tiếng Latinh cổ “Justitia” hay “Justition”) có nghĩa là

“công lý”, “công bằng”, “pháp chế”, đồng thời, dưới góc độ nghĩa hẹp trong phạm vi Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp thì nội dung bao gồm toàn

bộ các cơ quan Tòa án và thực hiện quyền xét xử của những cơ quan này Hiện nay, về khái niệm tư pháp, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống chính trị-pháp luật ở Việt Nam đang tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do GS Hoàng Phê chủ biên thì thuật ngữ “tư pháp” được hiểu là “Việc xét xử các hành vi phạm pháp và các vụ kiện tụng trong nhân dân (nói khái quát)” [8] Theo quan điểm của GS TS Nguyễn Đăng Dung và tập thể tác giả thì “Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật”. [9]

Trong khoa học pháp lý, tư pháp được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng

tư pháp được quan niệm như là một ý tưởng về một nền công lý, đòi hỏi việc giải quyết những tranh chấp xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng, bảo đảm lòng tin của nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp lý cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xã hội Nghĩa hẹp là xét xử các vụ án… đây là chức năng riêng của tòa án, nên thường gọi tư pháp - tòa án Tóm lại, tư pháp là

Trang 19

10

hoạt động bảo vệ pháp luật, bao gồm hoạt động xét xử, các hoạt động bổ trợ

tư pháp và những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử

Hành chính tư pháp được hiểu là những hoạt động của cơ quan HCNN có thẩm quyền trong lĩnh vực tư pháp nhằm mục đích phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phục vụ việc bảo đảm thực hiện và tôn trọng các quyền công dân, thực hiện tốt hoạt động bảo

vệ pháp luật

Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức Trình tự thực hiện là thứ

tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức[13]

Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thức nào về thủ tục HCTP Tuy nhiên, theo các văn bản hướng dẫn của TAND tối cao thì khái niệm “Thủ tục Hành chính tư pháp trong hoạt động của Toà án là các quy trình, thủ tục mang tính chất hành chính hỗ trợ cho hoạt động xét xử tại Toà án, giải quyết các yêu cầu của người dân trước và sau các phiên toà xét xử và các hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Toà án các cấp” Gồm: “các quy trình, thủ tục tiếp nhận và xử lý công văn, đơn khởi kiện, hồ sơ kháng cáo, kháng nghị, hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển đến, đơn khiếu nại quyết định

tố tụng, hành vi tố tụng, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; phân công giải quyết vụ án; cấp sao lục bản án, quyết định của Toà án; quản lý số lượng án thụ lý, giải quyết; tiếp công dân … ứng dụng công nghệ thông tin vào các mặt hoạt động; công khai minh bạch các hoạt động của Toà án …” [10]

1.1.2 Đặc điểm thủ tục hành chính tư pháp

Như đã phân tích ở trên, thủ tục HCTP là một bộ phận nằm trong tổng thể nội hàm của khái niệm TTHC nhưng thuộc lĩnh vực tư pháp, cho nên

Trang 20

11

trước hết thủ tục HCTP chứa đầy đủ các đặc điểm, yêu cầu của TTHC nói chung được quy định tại Điều 8 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính Phủ (Sau đây gọi tắt là Nghị định 63/2010/NĐ-CP), tuy nhiên bên cạnh đó, thủ tục HCTP còn chứa các đặc điểm của một văn bản pháp lý cá biệt Như sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền ban hành và hình thức pháp lý:

Cũng như các TTHC thông thường thì thủ tục HCTP phải được quy định trong các văn bản QPPL do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành (Chính phủ ban hành hoặc trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành; do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành) và được thể hiện dưới hình thức QPPL về thủ tục hành chính Thủ tục HCTP là

“cầu nối” để người dân, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định liên quan đến hoạt động tư pháp

Thứ hai, về chủ thể trong quan hệ giải quyết thủ tục HCTP:

Căn cứ dấu hiệu quyền lực thì chủ thể trong quan hệ giải quyết thủ tục HCTP gồm bên chủ thể giải quyết thủ tục HCTP và bên đối tượng tham gia thủ tục HCTP, cụ thể:

- Chủ thể (thực hiện) giải quyết TTHC nói chung là cơ quan, người có thẩm quyền được xác định trong các văn bản QPPL có quy định về TTHC Đây là các chủ thể bắt buộc trong quan hệ TTHC Có thể chia các chủ thể giải quyết TTHC thành hai nhóm sau đây:

(1) Cơ quan HCNN, CBCC nhà nước Đây là chủ thể chủ yếu có thẩm quyền trực tiếp giải quyết TTHC thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP

(2) Các tổ chức, người có thẩm quyền được pháp luật cho phép hoặc được Nhà nước giao quyền nhằm cung cấp một hoặc một số dịch vụ hành

Trang 21

12

chính công Ví dụ: Thủ tục công chứng (do các Văn phòng công chứng, công chứng viên thực hiện); thủ tục cấp chứng chỉ công bố hợp quy, hợp chuẩn (do doanh nghiệp hoặc đơn vị hành chính sự nghiệp công lập thực hiện)…

Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [10] Theo quy định này, Hiến pháp 2013 đã khẳng định chỉ có Tòa án nhân dân là

cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, có nghĩa là có chức năng xét xử các vụ án, giải quyết các tranh chấp theo thẩm quyền được luật định Ngoài Tòa án nhân dân, không có bất kỳ cơ quan nào khác được thực hiện quyền tư pháp hay được giao xét xử về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp trong xã hội Như vậy, chủ thể giải quyết thủ tục HCTP trong hoạt động của các Tòa

án bao gồm: người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án (bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký (sau đây gọi là người giữ chức danh tư pháp) [10]và các cán bộ, công chức đang công tác trong hệ thống Tòa án nhân dân

- Đối tượng tham gia TTHC, bao gồm các cá nhân (có thể là công dân Việt Nam; công dân nước ngoài…); tổ chức (Cơ quan nhà nước; các tổ chức không phải là cơ quan nhà nước được thành lập hợp pháp theo luật định; các

tổ chức nước ngoài được thành lập hợp pháp tại nước ngoài…) Cơ quan nhà nước là chủ thể tham gia TTHC trong trường hợp giải quyết các công việc liên quan đến quyền chủ thể, nghĩa vụ pháp lý như các tổ chức pháp nhân khác (ví dụ: thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thủ tục đăng ký, đăng kiểm xe ô tô…) Theo đó, đối tượng tham gia của các thủ tục HCTP trong hoạt động của Tòa án gồm: các bên đương sự và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xét xử các vụ án, giải quyết các tranh chấp tại Tòa án theo thẩm quyền được luật định (ví dụ như: tiếp công dân, hỗ trợ tư pháp, nhận đơn khởi kiện, phân công giải quyết án …)

Trang 22

13

Thứ ba, về yếu tố tạo thành:

Các bộ phận tạo thành TTHC là một trong các dấu hiệu quan trọng để nhận biết TTHC Cách sắp xếp, bố trí các bộ phận tạo thành của quy định TTHC phù hợp với tính thứ bậc hiệu lực của các văn bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam theo hình tháp:

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả cách sắp xếp các bộ phận của thủ tục hành chính theo thứ bậc hiệu lực các văn bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam

(Nguồn: tác giả) Theo sơ đồ trên có thể thấy rõ thứ bậc hiệu lực các văn bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam: cao nhất là Hiến pháp, sau Hiến pháp là Luật, sau Luật là Pháp lệnh, dưới Luật, Pháp lệnh là Nghị định của Chính phủ, dưới Nghị định của Chính phủ là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dưới Quyết định của Thủ tướng là thông tư, thông tư liên tịch của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ…

Cấu trúc bên trong của quy định TTHC phải tương ứng với thứ bậc hiệu lực của văn bản QPPL cũng như những yêu cầu của việc ủy quyền quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Theo đó, cũng như các TTHC thông thường thì thủ tục HCTP phải quy định rõ ràng, cụ thể, đáp ứng đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản gồm: Tên thủ tục HCTP; Trình tự thực hiện; Cách thức thực hiện; Hồ sơ; Thời hạn giải quyết; Đối tượng thực hiện; Cơ quan thực

HP

Luật Pháp lệnh

Nghị định của Chính phủ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Thông tư của Bộ trưởng, Thông tư liên tịch Quyết định (của UBND và tương đương) cấp tỉnh

Tên TT HC Tên, Hsơ, trình tự, yêu cầu điều kiện…

Cách thức,mẫu đơn,

Tờ khai

Trang 23

14

hiện; Kết quả thực hiện; Trường hợp thủ tục HCTP phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, mẫu kết quả thực hiện thủ tục, yêu cầu, điều kiện, phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai, mẫu kết quả thực hiện thủ tục HCTP, yêu cầu, điều kiện, phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục HCTP Đối với yêu cầu, điều kiện thể hiện dưới dạng quy chuẩn kỹ thuật phải được quy định trong văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ Tại Toà án thì các văn bản QPPL này thuộc thẩm quyền ban hành của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Thứ tư, thủ tục HCTP là văn bản quy phạm pháp luật

Thủ tục HCTP là một loại văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền (Tòa án nhân dân - cơ quan nhà nước được giao quyền) ban hành trên cơ sở pháp luật, theo trình tự, thủ tục luật định nhằm điều chỉnh cá biệt đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể trong những trường hợp cụ thể theo luật định và áp dụng một lần đối với cá nhân, tổ chức nhất định

Về cơ bản, đặc điểm chính của hoạt động tư pháp tại TAND là xoay quanh hoạt động xét xử và các hoạt động khác liên quan đến công tác xét xử Khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình TAND vừa đồng thời thực hiện công tác xét xử kèm theo đó TAND cũng phải thực hiện công tác HCTP

để hỗ trợ cho công tác xét xử Như vậy, khi muốn xét xử, giải quyết một vụ việc, bên cạnh việc các Tòa án phải thực hiện các thủ tục tố tụng theo luật định thì các Tòa án cũng phải thực hiện song song các thủ tục HCTP

Cần có sự phân biệt rõ ràng giữa thủ tục HCTP và thủ tục tố tụng tư pháp Điểm phân biệt rõ ràng nhất giữa hai loại thủ tục này chính là cơ sở pháp lý (hay là văn bản QPPL) quy định các thủ tục trên Theo đó, thủ tục tố tụng tư pháp là các thủ tục để giải quyết, xét xử một vụ án được quy định trong pháp luật tố tụng của Việt Nam mà cụ thể là được quy định trong các văn bản QPPL như Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Tố

Trang 24

15

tụng Hành chính, bao gồm các thủ tục: thụ lý vụ án, ra quyết định giải quyết

vụ án, ra quyết định đình chỉ vụ án, thủ tục mở phiên hòa giải tại TAND, thủ tục mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm hay thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm… Còn thủ tục HCTP là những thủ tục khác như: cấp sao lục bản án, phân công giải quyết vụ án, quản lý số lượng án thụ lý, tiếp công dân … Các thủ tục này tuy không được quy định trong pháp luật tố tụng, không được quy định chung thống nhất trong một văn bản QPPL nào mà nằm rải rác ở nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện khác nhau như: Nghị quyết số 49-NQ/TW của

Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Chỉ thị số 03/2016/CT-CA ngày 04/4/2016 của TANDTC “V/v tăng cường thực hiện cải cách TTHCTP tại TAND”… Đồng thời vẫn phải đảm bảo đúng về mặt thể thức của một văn bản hành chính thông thường được quy định tại: Nghị định

số 63/2010/NĐ-CP, Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội

vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính … Những thủ tục HCTP này liên quan mật thiết đến quá trình tiếp nhận và giải quyết xét xử các vụ việc tại TAND Thủ tục HCTP và thủ tục tố tụng tư pháp tuy có sự tách bạch rạch ròi nhưng luôn thống nhất và có mối quan hệ hỗ trợ mật thiết với nhau trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án

1.1.3 Phân loại thủ tục hành chính tư pháp

Hiện nay, thủ tục HCTP được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Căn cứ lĩnh vực áp dụng có thể phân thành các loại thủ tục HCTP như sau:

Thứ nhất, thủ tục HCTP liên hệ là trình tự, thủ tục chủ thể giải quyết thủ tục HCTP thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật Thủ tục HCTP liên hệ rất đa dạng, thủ tục này bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực quản lý, điều hành hỗ trợ hoạt động xét xử: nhận đơn khởi kiện, nhận đơn khiếu nại, hỗ trợ người dân thực hiện các thủ tục HCTP (tiếp công dân)

Trang 25

1.1.4 Vai trò của thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động Tòa án

Các thủ tục HCTP nằm trong hoạt động chung của Tòa án và có vai trò quan trọng trong việc bổ trợ cho các hoạt động tố tụng và hoạt động quản lý, điều hành thông suốt và trôi chảy Công tác HCTP tại TAND tuy không phải

là hoạt động chính yếu của TAND nhưng lại là một công tác vô cùng quan trọng, hỗ trợ và liên quan mật thiết với công tác xét xử của TAND

Khẳng định như vậy bởi vì trước khi TAND tiến hành các thủ tục tố tụng tư pháp để xét xử một vụ việc mà đầu tiên đó là quyết định thụ lý giải quyết một vụ việc thì trước đó TAND đã phải tiến hành một chuỗi các thủ tục HCTP như tiếp nhận đơn, giấy tờ hay tiếp công dân… sau khi thực hiện các công tác này để có đủ căn cứ và đủ điều kiện thụ lý mới có thể thực hiện các thủ tục tố tụng tư pháp Như vậy, công tác HCTP là tiền đề cho công tác xét

xử tại TAND Bên cạnh đó, trong suốt quá trình TAND tiến hành xét xử, giải quyết một vụ việc theo thủ tục tố tụng thì luôn phải kết hợp song song với các thủ tục HCTP Hay nói cách khác, các thủ tục HCTP vừa là tiền đề vừa hỗ trợ đắc lực cho các thủ tục tố tụng tư pháp Chẳng hạn, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, công tác HCTP hỗ trợ cho quá trình trên là Chánh án phải phân công các công việc và nhiệm vụ xét xử cho các Thẩm phán hay sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì việc lên lịch xét xử chính là công tác thực hiện các thủ tục HCTP hỗ trợ của giai đoạn này… Như vậy, việc thực hiện các thủ tục HCTP tại TAND là một công tác vô cùng quan trọng, hỗ trợ cho công tác xét xử của TAND, liên quan mật thiết với công tác xét xử cũng như suốt quá trình TAND giải quyết một vụ việc

Trang 26

17

1.2 Cải cách thủ tục hành chính tư pháp trong Toà án nhân dân

1.2.1 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính tư pháp

Đến nay, khái niệm cải cách thủ tục HCTP chưa có trong hệ thống thuật ngữ pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, có thể xem xét về khái niệm này dưới góc độ sau:

Theo Từ điển Tiếng Việt, cải cách là “sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới” [22] Theo nghĩa chung nhất, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định

Cải cách hành chính, theo đó, được hiểu là những thay đổi có tính hệ thống, lâu dài và có mục đích nhằm làm cho hệ thống HCNN hoạt động tốt hơn, thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội của mình Như vậy, cải cách hành chính nhằm thay đổi và làm hợp lý hóa bộ máy hành chính, với mục đích tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước

Cải cách thủ tục hành chính là cải cách các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền của các cơ quan HCNN, người có thẩm quyền; cải cách các quy định và cải cách việc thực hiện các loại TTHC

Thủ tục HCTP như đã phân tích ở trên chính là các quy trình, thủ tục mang tính chất hành chính hỗ trợ cho hoạt động xét xử tại Toà án và các hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Toà án nhân dân các cấp

Từ các lý luận trên, có thể đưa ra khái niệm cải cách thủ tục hành chính tư pháp là quá trình tiến hành sửa đổi các trình tự, thủ tục trong quản lý công tác xét xử và các hoạt động liên quan đến xét xử sao cho phù hợp với tình hình mới của hệ thống tư pháp nói riêng và phù hợp với công cuộc cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay của đất nước ta nói chung Cụ thể hơn, cải cách thủ tục HCTP tại TAND là cải cách hệ thống quản lý công tác xét xử và các hoạt động liên quan đến xét xử mà trọng tâm là công tác tiếp

Trang 27

18

dân, tiếp nhận và xem xét đơn khởi kiện, các hoạt động tiền tố tụng, thụ lý các loại vụ, việc tại TAND và phân công thẩm phán xét xử

1.2.2 Nội dung cải cách thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án nhân dân

Chỉ thị số 03/2016/CT-CA ngày 04/4/2016 của Chánh án TAND tối cao“V/v tăng cường thực hiện cải cách thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án nhân dân” đã nêu rõ nội dung cải cách thủ tục HCTP tại TAND tập trung thực hiện tốt các công việc cơ bản sau:

Thứ nhất, trên cơ sở các mô hình cải cách thủ tục HCTP đã được tổng kết (mô hình JUDGE), từng bước xây dựng mô hình, tổ chức, chức năng nhiệm vụ của bộ phận hành chính tư pháp (Tổ Hành chính tư pháp hay bộ phận “một cửa”) tại từng cấp Tòa án và đăng tải trên cổng thông tin điện tử của hệ thống TAND để lấy ý kiến của các Tòa án trước khi ứng dụng mô hình thống nhất

Thứ hai, các Tòa án cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng từng quy trình

xử lý công việc đảm bảo đơn giản, tiện ích, khâu trước phải là tiền đề để chuẩn bị cho khâu sau; rút ngắn, đơn giản hóa các bước, thủ tục để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi có việc liên hệ với Tòa án Trước mắt cần rà soát các thủ tục HCTP hiện hành để hủy bỏ các thủ tục không còn phù hợp và tiến tới xây dựng Bộ tiêu chí về thủ tục HCTP trong TAND

Thứ ba, trên cơ sở các mô hình tổ chức bộ phận HCTP và quy trình xử

lý công việc đã được xác định cần tiến hành tổ chức sắp xếp cán bộ phù hợp, đồng thời xây dựng các phần mềm ứng dụng tin học thực hiện thống nhất trong các Tòa án, nhằm nâng cao hiệu quả của từng bộ phận, từng hoạt động

Thứ tư, cùng với việc chú trọng tăng cường cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng các phần mềm ứng dụng thì cần chú ý tập trung đầu tư xây dựng các trang thông tin điện tử, các “ki ốt” điện tử cho các Tòa án thường xuyên cập nhật, công bố công khai các thủ tục HCTP để mọi cá nhân

Trang 28

19

và tổ chức biết Thiết lập các đầu mối, địa chỉ, đường dây nóng để người dân liên hệ, truy cập tìm hiểu thông tin về quá trình giải quyết công việc của mình tại tất cả các Tòa án, đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin, kiến nghị, phản ánh về các vấn đề có liên quan đến hoạt động của Tòa án Khẩn trương hoàn thành việc xây dựng đề án Tòa án điện tử, trên cơ sở đó có kế hoạch tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mà đề án đưa ra để có thể tiến tới triển khai Tòa án điện tử trước năm 2020

Vụ Pháp chế và quản lý khoa học nghiên cứu, hướng dẫn quy định tại Điều 190, Điều 191 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Điều 119 Luật Tố tụng hành chính về việc gửi và nhận đơn trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử; trên cơ sở đó triển khai thực hiện thí điểm việc này tại một số Tòa án có đủ điều kiện

Cục Kế hoạch Tài chính bố trí kinh phí trong kế hoạch trung hạn để phục vụ việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các Tòa án Bên cạnh đó, các Tòa án cũng cần chủ động báo cáo cấp ủy địa phương để hỗ trợ các nguồn lực cho Tòa án triển khai việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin

Thứ năm, thường xuyên quan tâm, làm tốt công tác giáo dục chính trị

tư tưởng và đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức Tòa án nói chung, đội ngũ cán bộ làm công tác HCTP nói riêng nhằm nâng cao tinh thần, ý thức phục vụ nhân dân trong quá trình thi hành công vụ; trong đó, cần đặc biệt quan tâm việc tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quyết định của Chánh án TAND tối cao về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Tòa án và Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của TAND tối cao quy định

xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND Cụ thể là:

- Luôn vui vẻ, cởi mở, hòa nhã, nhiệt tình, trung thực, thận trọng, công tâm, khách quan, đảm bảo tính công khai, dân chủ trong quá trình tiếp xúc với

Trang 29

- Tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân để

họ thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo luật định Học viện Tòa án xây dựng giáo trình môn học cải cách thủ tục HCTP, tư cách, tác phong, thái độ ứng xử của người cán bộ Tòa án khi tiếp công dân và thi hành công vụ

Thứ sáu, xây dựng và thực hiện thống nhất hệ thống chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với CBCC thực hiện hoạt động HCTP tại các Tòa án Nâng cao trình độ tin học, thường xuyên tập huấn sử dụng các phần mềm ứng dụng và kỹ năng vận hành thành thạo các phương tiện điện tử cho các CBCC Tòa án, nhằm chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực để thực hiện chủ trương tin học hóa và vận hành có hiệu quả “mô hình Tòa án điện tử” trong tương lai

Thứ bảy, tăng cường phối hợp với các bộ, ngành liên quan để học hỏi kinh nghiệm về cải cách thủ tục HCTP; làm tốt công tác hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ các nguồn lực và kinh nghiệm của các nước trong cải cách HCTP

Thứ tám, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và nhân rộng các bài học kinh nghiệm tốt trong thực hiện cải cách thủ tục HCTP; việc đánh giá hiệu quả cải cách HCTP phải thông qua việc lượng hóa các quy trình, thủ tục giải quyết từng loại công việc Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện cải cách thủ tục HCTP; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong triển khai thực hiện nhiệm vụ

Trang 30

và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân Thủ tục HCTP là một bộ phận pháp luật hành chính, do đó nắm vững và thực hiện các quy định về thủ tục HCTP sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình cải cách nền

tư pháp và xây dựng NNPQ XHCN Thủ tục HCTP là phương tiện chuyển tải chính sách, pháp luật Nhà nước, là cầu nối giữa Toà án với người dân Thủ tục HCTP không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của các đơn vị Toà án,

mà còn liên quan đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Các quyền và nghĩa vụ của công dân tại Toà án được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản đều phải thông qua thủ tục HCTP do Toà án các cấp trực tiếp giải quyết hoặc uỷ quyền giải quyết Cũng cần nhấn mạnh rằng thủ tục HCTP có ý nghĩa như một công cụ điều hành cần thiết không thể tách rời khỏi hoạt động tư pháp trong hệ thống TAND Chính vì vậy, cải cách thủ tục HCTP trở thành nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong hoạt động của

hệ thống TAND Như vậy, có thể khẳng định rằng thủ tục HCTP là chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan Toà án với nhân dân và các tổ chức, có khả năng làm bền chặt mối quan hệ đó, làm cho nhà nước ta thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, làm cho Tòa án thực sự “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”

Cải cách thủ tục HCTP không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà quan trọng hơn

là ý nghĩa chính trị, xã hội, góp phần tích cực xây dựng bộ máy TAND các

Trang 31

22

cấp trong sạch, vững mạnh, đáp ứng lòng tin của nhân dân Cải cách thủ tục HCTP thực chất là cắt bỏ những quyền lực gây nên cản trở, nhũng nhiễu nhằm hướng tới mục tiêu là xây dựng hệ thống Tòa án công khai minh bạch,

vô tư, công bằng, hiệu quả, xây dựng hình ảnh “Tòa án thân thiện, gần dân”

“Đổi mới thủ tục HCTP nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý…” [13], giúp người dân dễ dàng thực hiện các quyền và nghĩa

vụ do pháp luật quy định Cải cách thủ tục HCTP có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nền công vụ tư pháp nói chung và quản lý trong hoạt động Toà án nói riêng: thủ tục HCTP đảm bảo cho các quyết định HCTP được thi hành Nếu không thực hiện các thủ tục HCTP cần thiết thì một quyết định HCTP sẽ không được đưa vào thực hiện hoặc bị hạn chế tác dụng Thủ tục HCTP đảm bảo cho việc thi hành quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp Hiến, hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực hiện các quyết định HCTP tạo ra Khi thủ tục HCTP được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý, sẽ tạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản

lý, đem lại hiệu quả thiết thực cho hoạt động quản lý trong TAND, giảm sự phiền hà, chống được tệ quan liêu, tham nhũng, củng cố được mối quan hệ giữa Toà án và nhân dân Nếu thủ tục HCTP được tiến hành cải cách một cách phù hợp theo hướng thuận tiện, đơn giản hóa và dễ thực hiện thì sẽ góp phần rất lớn vào việc thống nhất quản lý hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của TAND Tránh tình trạng gây khó khăn cho người dân và làm mất nhiều thời gian của họ khi có yêu cầu liên quan đến Tòa án Ngược lại, nếu các thủ tục này rườm rà, phức tạp không chỉ gây ra tổn phí về sức người (kể cả của các cán bộ, công chức đang làm việc tại các Tòa án cũng như những người dân khi đến làm việc tại cơ quan này), sức của (ngân sách nhà nước cho hoạt động của TAND cũng như chi phí, thời gian của người dân

Trang 32

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách thủ tục hành chính tư pháp từ thực tiễn Toà án nhân dân cấp tỉnh

Việc thực hiện cải cách thủ tục HCTP là một quá trình qua nhiều thời gian khác nhau, đòi hỏi huy động tổng thể mọi yếu tố, nguồn lực nhằm đáp ứng sự đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN

Việc nhận thức rõ nguồn gốc sự tác động và huy động các đối tượng, yếu tố tác động của thủ tục HCTP tham gia sẽ hạn chế những yếu tố tác động tiêu cực, đồng thời phát huy tối đa sự tác động của các yếu tố tích cực, bổ sung thêm nguồn lực vào việc chung tay xây dựng bộ tiêu chí về thủ tục HCTP đồng bộ, thống nhất Để nhấn mạnh cho tầm quan trọng của yếu tố huy động mọi lực lượng tham gia vào cải cách TTHC, tại khóa tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC do Cục Kiểm soát TTHC Văn phòng Chính phủ tổ chức vào

Trang 33

24

năm 2011Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đưa ra thông điệp:

‘Huy động toàn xã hội chung tay tham gia vào quá trình kiểm soát TTHC để thực hiện tốt mục tiêu cải cách TTHC, đảm bảo nguyên tắc chỉ ban hành và duy trì các TTHC thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và có chi phí tuân thủ thấp nhất” Về cơ bản, các yếu tố sau đóng vai trò quan trọng tác động đến hoạt động cải cách thủ tục HCTP:

1.3.1 Yếu tố chủ quan (yếu tố bên trong:)

Thứ nhất, năng lực nhận thức của chủ thể thủ tục hành chính tư pháp: Thủ tục HCTP sẽ không được thực hiện nếu không có các chủ thể tiến hành Nói cách khác thủ tục HCTP chỉ là những quy định trên giấy tờ khi không có chủ thể tham gia hay chủ thể thực hiện Vì vậy, các chủ thể tham gia và thực hiện vào quá trình cải cách được nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng của quá trình cải cách thủ tục HCTP trong hệ thống TAND thì sẽ có thái độ tích cực làm thúc đẩy quá trình cải cách nhanh chóng đạt được mục đích đặt

ra Các nhóm chủ thể xác định được vai trò, vị trí, trách nhiệm và quyền lợi của mình khi tham gia thủ tục HCTP sẽ làm cho quá trình giải quyết trở nên hiệu quả và dễ dàng hơn

Trước hết là yêu cầu nhận thức đầy đủ của lãnh đạo Tòa án các cấp về

ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động HCTP để có kế hoạch, giải pháp cụ thể chỉ đạo, lãnh đạo đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác và hoạt động HCTP thuộc thẩm quyền quản lý Quá trình thực hiện cải cách sẽ không thể đạt được mục tiêu nếu chỉ có cơ quan hay đơn vị quy định ban hành thủ tục HCTP hay cán bộ công chức thực hiện hay chủ thể tham gia thủ tục HCTP mà không đề cập đến người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị liên quan

Trên thực tế, việc nâng cao ý thức phục vụ và chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ công chức làm công tác HCTP là yếu tố quyết định Bởi vì, đội ngũ cán bộ, công chức này đóng vai trò quan trọng trong nền hành chính

Trang 34

Thứ hai, hệ thống các quy định về thủ tục hành chính tư pháp, gồm:

Hệ thống cơ chế chính sách, văn bản pháp luật về thủ tục HCTP và các hoạt động của Tổ hành chính tư pháp (bộ phận “một cửa”) hay Bộ tiêu chí về thủ tục HCTP Hiện nay, các văn bản tố tụng chỉ chuyên biệt về hoạt động tố tụng mà không quy định cụ thể đối với hoạt động HCTP; điều này dẫn đến việc nhầm lẫn giữa hoạt động tố tụng và hoạt động HCTP của Tòa án Một số thủ tục HCTP trong quan hệ với cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động tố tụng thụ lý, giải quyết, xét xử các vụ án và việc phân công, phân định trách nhiệm giữa các bộ phận, cá nhân trong hoạt động tố tụng và hoạt động HCTP của Tòa án chưa được rõ ràng Mặt khác, mô hình tổ chức bộ máy và quy trình thực hiện hoạt động HCTP tại Tòa án các cấp hiện nay chưa

Trang 35

26

được tổ chức thống nhất, có nơi giao cho Văn phòng Tòa án thực hiện, có nơi giao cho các Tòa chuyên trách thực hiện Do vậy, cần có quy định rõ ràng, cụ thể về hoạt động HCTP trong Tòa án

Thứ ba, hệ thống cơ sở vật chất bao gồm từ trụ sở làm việc, máy móc thiết bị, mạng internet, máy vi tính, máy chủ và các chương trình quản lý hồ

sơ công việc, quy chế văn hóa công sở….Trang thiết bị và môi trường làm việc để tiến hành các hoạt động HCTP tại Tòa án các cấp cần được đầu tư hiện đại, khoa học Đề án Tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống TAND hiện nay đang được tích cực triển khai với 2 dự án đang được tiến hành ứng dụng có hiệu quả gồm dự án xây dựng hệ thống giao ban trực tuyến và dự án xây dựng trung tâm dữ liệu và hệ thống phần mềm quản lý các loại vụ án…

1.3.2 Yếu tố khách quan (yếu tố bên ngoài)

Thứ nhất, vai trò của chủ thể tham gia (người dân và các tổ chức khi có công việc yêu cầu Toà án giải quyết): Trong hoạt động cải cách thủ tục HCTP, mọi sự quan tâm thường hướng về vai trò chủ thể của đội ngũ cán bộ, công chức Tuy nhiên, trong thực tế, bộ phận người dân (bao gồm cả các tổ chức của họ) cũng đồng thời là những chủ thể tham gia, đã và đang có những đóng góp tích cực cho tiến trình cải cách thủ tục HCTP trên nhiều phương diện Với tư cách là chủ thể của các quan hệ kinh tế - xã hội, người dân là chủ thể tham gia của quá trình cải cách vì họ thường là đối tượng đầu tiên phát hiện ra những lỗ hổng của pháp luật Người dân có vai trò trong việc đưa ra những đề xuất nhằm lấp các lỗ hổng trong hệ thống pháp luật và tạo sức ép làm thay đổi các quyết định quản lý hành chính cứng nhắc, sai lầm Thông qua tác động này, người dân thúc đẩy xác lập cơ chế hành chính hợp pháp - pháp lý - chuyên nghiệp, tạo môi trường cho việc thực hiện các giao dịch của

họ gắn với nền tảng đạo đức liên đới dựa vào tính trung thực, sự tin tưởng lẫn

Trang 36

27

nhau của các bên tham gia (do có được sự đảm bảo từ phía quản lý nhà nước)

và loại bỏ cơ chế bạo lực trực tiếp, ngoài pháp luật Khi đó, hệ thống cán bộ, công chức HCTP tại Tòa án tiến sát yêu cầu: có năng lực phục vụ công, lương tâm, đạo đức nghề nghiệp và quyền lợi chung chi phối Hơn thế nữa, vì khi là đối tượng quản lý của bộ máy HCTP, người dân và các tổ chức của họ khi tham gia vào các hoạt động cải cách thủ tục HCTP sẽ nhìn thấy rõ là cần tổ chức các thể chế nhà nước và xã hội sao cho có thể tính được một cách thực tiễn những tiêu cực trong ứng xử của các đơn vị Tòa án – Chủ thể quản lý của hoạt động HCTP; đồng nghĩa với việc phải xây dựng các định chế phù hợp để bảo vệ công dân, các tổ chức của họ và thúc đẩy mạnh mẽ đối với các tổ chức chưa sẵn sàng sửa đổi chức năng của mình phải thay đổi Với nhiều dịch vụ, người dân có thể giúp cho việc đánh giá tính phù hợp của các dịch vụ với nhu cầu của họ (vì không thể xác định cụ thể một tổ hợp thực tế các dịch vụ ngay

từ đầu do các đặc trưng văn hóa, xã hội từng địa phương) đồng thời giám sát

có hiệu quả hoạt động của Tòa án Thực tế trong giai đoạn cải cách vừa qua, những tác động của người dân từ việc rất nhỏ như góp ý cho bộ phận “một cửa” - Tổ Hành chính tư pháp ở Tòa án các cấp đã làm thay đổi cung cách phục vụ người dân của các đơn vị Tòa án

Có thể nói việc đánh giá dựa trên cơ sở mức độ hài lòng của người dân

là thước đo hiệu quả cải cách thủ tục HCTP Đây là bước ngoặt quan trọng trong việc cải cách thủ tục HCTP, vì người dân là đối tượng mục tiêu chính

để nền hành chính công phục vụ, mức độ hài lòng của người dân khi có việc yêu cầu Tòa án giải quyết được lấy làm gốc của vấn đề Đo lường mức độ hài lòng của người dân là việc thu nhận ý kiến, coi trọng việc đánh giá và đóng góp của người dân về việc cải cách thủ tục HCTP, về sự phục vụ của cán bộ Tòa án đối với người dân Tuy nhiên, cách đánh giá đo lường như thế nào để khâu quan trọng này trở thành một việc làm không chạy theo hình thức, theo

Trang 38

29

Thứ hai, truyền thông và sự tham gia của các nguồn lực xã hội: Truyền thông (từ Latin nghĩa là “chia sẻ”) là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất Có thể khái quát truyền thông là quá trình trao đổi thông tin hay tương tác thông tin giữa mọi người với nhau nhằm mục đích hiểu biết tuỳ theo nhiều lĩnh vực Từ trước đến nay, truyền thông là một trong những công cụ hữu hiệu nhất trong việc nâng cao nhận thức toàn xã hội, bao gồm cả trong và ngoài bộ máy HCTP Việc huy động đối tượng chịu ảnh hưởng cùng tham gia vào quá trình cải cách thủ tục HCTP nếu thiếu truyền thông thì nhận thức của các đối tượng sẽ không đầy

đủ, thiếu đồng bộ, do đó sẽ thiếu sót hoặc hành vi không đúng Hoạt động tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng là con đường ngắn nhất để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, đem lại lợi ích cho nhân dân, cho cộng đồng

Công tác tuyên truyền về cải cách thủ tục HCTP, trong đó nhấn mạnh

và làm rõ vai trò của cả hai bộ phận chủ thể (CBCC và người dân) Mở rộng hoạt động trao đổi thông tin, nhận xét, đánh giá, phê phán, bình luận, đối thoại, đề xuất, kiến nghị về các vấn đề của người dân khi có công việc liên quan đến Tòa án, giúp phát huy tiềm năng sáng tạo, tính tích cực, chủ động của con người Khi đó, sự tham gia của nhân dân vào các quá trình cải cách, sáng tạo sẽ ngày càng có hiệu quả cao hơn Tham khảo ý kiến công chúng có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức từ đơn giản là truyền tải thông tin đến việc trao cho người dân quyền kiểm soát các quyết định cuối cùng, hoặc chọn lọc ý kiến đóng góp của công chúng qua các cuộc đối thoại, ví dụ như: thực hiện công khai bản án trên trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân, thường xuyên tổ chức các phiên toà lưu động để tuyên truyền phổ biến pháp

Trang 39

30

luật trong quần chúng nhân dân là biện pháp truyền thông đưa lại hiệu quả cao Cần làm rõ trách nhiệm cung cấp thông tin, trách nhiệm giám sát tuân thủ và các chế tài xử phạt trong trường hợp không cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật Việc khắc phục các rào cản văn hóa, nâng cao nhận thức của các Tòa án - cơ quan công quyền thực hiện quyền tư pháp và cán bộ, công chức nhà nước về trách nhiệm phải cung cấp thông tin cho công chúng;

về phía người dân, doanh nghiệp và các tổ chức cũng phải ý thức được rằng, thông tin mà các cơ quan công quyền đang nắm giữ chính là tài sản của họ đã tin tưởng ủy thác

Thứ ba, các nguồn lực tài chính huy động từ bên ngoài: để đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phương tiện làm việc hiện đại, khoa học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác HCTP cho Tòa án nói chung và đối với từng cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống Tòa án nói riêng cần được quan tâm đúng mức đáp ứng kịp thời các yêu cầu thiết yếu để hoạt động HCTP hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Trang 40

31

Kết luận chương 1

Vấn đề cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam vốn đã được bàn luận nhiều trong suốt thời gian qua Tuy nhiên, cải cách thủ tục HCTP trong các hoạt động của TAND là vấn đề hoàn toàn mới và được xã hội rất quan tâm Bởi hệ thống các thủ tục HCTP thuộc phạm vi hoạt động của Toà án đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị xã hội

Cải cách thủ tục HCTP có vai trò quan trọng tạo ra bước đột phá trong cải cách nền hành chính tư pháp, thúc đẩy các nội dung còn lại của cải cách hành chính nhà nước và đặc biệt là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Toà án – cơ quan công quyền thực hiện quyền tư pháp và nhân dân Chính vì thế, việc tìm hiểu cơ sở lý luận về cải cách thủ tục HCTP góp phần quan trọng trong triển khai thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nội dung, nguyên tắc khi đưa vào áp dụng tại các cơ quan Toà án Xét dưới góc

độ nội dung, phương pháp tiến hành cũng như mục đích và kết quả thì cải cách thủ tục HCTP là quá trình rà soát, đánh giá để loại bỏ những bước, thủ tục bất hợp lý, không cần thiết, đơn giản hóa thủ tục HCTP, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các thủ tục hành chính mới theo quy định, công khai minh bạch thủ tục hành chính tại Toà án Cải cách thủ tục HCTP chịu sự tác động của các yếu tố về thể chế hành chính nhà nước, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức, cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin; mức độ tham gia giám sát của người dân

Trên cơ sở phân tích lý luận về cải cách thủ tục HCTP là tiền đề cơ bản

để tôi đi sâu nghiên cứu nội dung “Thực trạng cải cách thủ tục hành chính tư pháp từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình” trong chương 2

Ngày đăng: 31/10/2020, 12:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w