Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: - Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như khái niệm quyền con người, quyền con ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
DƯƠNG ĐỨC HẢI
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ HÌNH SỰ - TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI,
TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LƯƠNG THANH CƯỜNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ
từ Giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Lương Thanh Cường Các số liệu, nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn không trùng lặp với các công trình có liên quan đã được công bố
Thừa Thiên Huế, ngày …… tháng ……năm 2018
Học viên
Dương Đức Hải
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của quý thầy cô tại Học viện Hành chính Quốc gia Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô Khoa Nhà nước và Pháp luật, Khoa Sau đại học - Học viện Hành chính Quốc gia và quý thầy cô tham gia giảng dạy đã tận tình truyền đạt kiến thức, giúp đỡ em trong thời gian học tập Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lương Thanh Cường đã dành nhiều thời gian, công sức trong giảng dạy và hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn đến Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới và toàn thể cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình là nơi em công tác đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa học và luận văn Cuối cùng, em xin bày tỏ lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè là nguồn động viên lớn, tạo điều kiện và hết lòng chăm sóc, khuyến khích em tham gia học tập và nghiên cứu, để em có thể hoàn thành luận văn này Luận văn là thành quả sự nỗ lực của cá nhân tác giả trong thời gian qua Tuy nhiên, do kiến thức bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy cô và các bạn để Luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên Dương Đức Hải
Trang 5MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ HÌNH SỰ 8
1.1 Quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự 8
1.1.1 Quan niệm về quyền con người 8
1.1.2 Các quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự 14
1.2 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự 15
1.2.1 Khái niệm, nguyên tắc bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự 15
1.2.2 Trong hoạt động xét xử hình sự, chủ thể được bảo vệ quyền con người được xác định cụ thể 21
1.2.3 Trong xét xử hình sự, quyền của các chủ thể được quy định đầy đủ, cụ thể và được bảo vệ 23
1.2.4 Nội dung quy định pháp luật về bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự 26
1.3 Các yếu tố tác động đến bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự 29
1.3.1 Năng lực thực thi pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng hình sự 29
1.3.2 Ý thức pháp luật của các chủ thể trong xét xử hình sự 32
Trang 61.3.3 Điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ xét xử hình sự 33
1.3.4 Các yếu tố khác 34
Tóm tắt chương 1 35
Chương 2 BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ HÌNH SỰ Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH 37
2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới và xét xử hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới 37
2.1.1 Khái quát về Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới 37
2.1.2 Tổ chức bộ máy và nhân sự của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới 39
2.1.3 Xét xử hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới 41
2.2 Phân tích thực trạng bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới 44
2.2.1 Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án 44
2.2.2 Bảo đảm quyền con người trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 47
2.3 Đánh giá bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới 55
2.3.1 Kết quả đạt được 55
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 59
Tóm tắt chương 2 62
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ HÌNH SỰ- TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH 63
3.1 Phương hướng tăng cường bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự 63
3.1.1 Chú trọng bảo vệ những quyền cơ bản, quan trọng trong xét xử hình sự 63
3.1.2 Xác định trách nhiệm của các chủ thể trong tố tụng hình sự khi bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự 63
Trang 73.1.3 Nâng cao năng lực tự bảo vệ của các chủ thể trong tố tụng hình sự 64
3.2 Giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự 65
3.2.1 Những giải pháp chung 65
3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự 66
3.2.3 Triển khai thực hiện có chất lượng, hiệu quả hoạt động tranh tụng trong xét xử hình sự 68
3.2.4 Bảo đảm chất lượng, nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng hình sự 71
3.2.5 Chủ động phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm những vi phạm tố tụng hình sự 73
3.3 Các giải pháp khác 73
3.4 Những giải pháp riêng đối với Tòa án nhân dân TP Đồng Hới 74
Tóm tắt chương 3 77
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
UHDR Tuyên ngôn thế giới về quyền con người
VKSND
QCN
Viện kiểm sát nhân dân Quyền con người XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 9
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các vụ án hình sự đã đưa ra xét xử sơ thẩm tại Tóa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong 05 năm (2013 - 2017) 43 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ các vụ án hình sự trả hồ sơ điều tra bổ sung tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong 05 năm (2013 - 2017) 45 Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ các vụ án có người bào chữa tham gia tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong 05 năm (2013 - 2017) 50
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Con người là vốn quý của tự nhiên và của xã hội Bảo vệ quyền con người (QCN) là mục tiêu của các thiết chế Nhà nước dân chủ và tiến bộ Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển về mọi mặt Song song, với việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng chăm lo xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống pháp luật bảo đảm cho việc phát triển các quyền tự do dân chủ của công dân là những quan điểm
cơ bản được thể hiện trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta Trong việc thực hiện và hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã đặt “Con người” là trung tâm - chủ thể của chiến lược, quá trình phát triển
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” [56] Gần đây, thể chế hóa đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Chương về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đã được đưa lên vị trí thứ 2, chỉ sau Chương I
về “Chế độ chính trị” Quy định này phản ánh quyết tâm của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta trong thực hiện quyền con người, quyền công dân Bên cạnh
đó, Hiến pháp năm 2013 còn quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân
Việc bảo đảm thực hiện các quyền con người bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện quyền con người, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự Hoạt động tố tụng hình sự
Trang 11chính là công cụ sắc bén của Nhà nước và xã hội trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên, bảo đảm những giá trị vật chất, tinh thần chân chính của con người và xã hội Việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân bằng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực thi pháp luật có hiệu quả là hết sức quan trọng Bởi quyền con người trong tố tụng hình sự là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương, nhất
là các quyền an toàn về thân thể (quyền được sống, được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe…), danh dự và nhân phẩm của cá nhân Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân có vai trò chủ động trong việc bảo vệ, đảm bảo thực hiện quyền con người trong các hoạt động tố tụng hình sự Thực tiễn cho thấy, vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xét xử nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định Các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân về cơ bản đã được bảo vệ, đã hạn chế được tình trạng oan, sai Tuy nhiên, thực tế vẫn còn có nhiều trường hợp trong quá trình xét xử chưa bảo vệ thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, thậm chí là vi phạm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự Những vi phạm đó xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có những bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng, các quy định về chế độ trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với công dân… Có thể nói, vấn đề bảo vệ QCN đang là yêu cầu cấp thiết trên cả phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn Việc nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự từ thực tiễn tại đơn vị Tòa án nhân dân TP Đồng Hới nhằm đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân và đề xuất những giải pháp hoàn thiện bộ luật tố tụng hình sự, là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, Thẩm phán về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của mình trong việc thực
Trang 12hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công, nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Với lý do đó, học viên đã chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình”, làm đề tài Luận văn thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người và bảo vệ quyền con người như: “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” (Sách tham khảo), Nhà xuất bản chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2004, của TS Trần Quang Tiệp; “Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam” (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2005 của PGS TS Nguyễn Văn Động; “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Sách chuyên khảo), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 của PGS
TS Trần Ngọc Đường; …
Đối với lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu như: “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự
và pháp luật tố tụng hình sự”, Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội,
do GS TSKH Lê Văn Cảm; PGS TS Nguyễn Ngọc Chí và PGS TS Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì, năm 2006; Luận án tiến sĩ “Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam” của Nguyễn Huy Hoàng, Hà Nội, bảo vệ năm 2005; Luận án tiến sĩ “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của Lại Văn Trình,
TP Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2011; Luận văn thạc sĩ “Bảo vệ quyền con
Trang 13người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam”, của Nguyễn Thị Hạnh Quyên, Hà Nội, năm 2014…
Các bài viết khoa học đăng tải trên các báo pháp luật, tạp chí nghiên cứu khoa học như: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận cơ bản, của GS TS Lê Văn Cảm, Báo Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, Số 7/2010; Những vấn đề chung về bảo
vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, của
GS TSKH Lê Văn Cảm, Báo Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Số 6/2010; “Bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự”, của Thạc sĩ Đinh Thế Hưng, Viện Nhà nước và pháp luật – Viện khoa học xã hội Việt Nam, năm 2010; “Hiến pháp 2013 và việc hoàn thiện biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự”, của PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 30, số 3/2014…
Các công trình khoa học, bài viết nêu trên, các tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung hoặc quyền con người của một nhóm đối tượng nhất định (như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói chung hoặc người chưa thành niên là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) Trong Luận văn, bản thân tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con người tập trung vào giai đoạn xét xử vụ án hình sự nhằm đưa ra những đánh giá về thực trạng bảo vệ quyền con người của Tòa án nhân dân từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện nhằm phát huy vai trò của Tòa án, như là một cơ quan có trách nhiệm đảm bảo tối ưu quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự được thực hiện trên thực tế
và hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm phạm quyền con người trong giai đoạn xét xử, tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm Để thực hiện luận văn, tác giả đã lựa chọn, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
Trang 14Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như khái niệm quyền con người, quyền con người và bảo vệ quyền con người trong
tố tụng hình sự; những quy định của pháp luật tố tụng hình sự bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự; cơ sở xác định vai trò của Tòa án
và các điều kiện bảo vệ vai trò của Tòa án trong việc đảm bảo quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự
- Từ thực tiễn xét xử các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 2012 - 2017 để đánh giá, phân tích thực tiễn bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự, đánh giá vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ
án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Từ đó rút ra những hạn chế, bất cập của một số quy định pháp luật và hạn chế, bất cập trong thực tiễn hoạt động của Tòa án thực hiện vai trò bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự thời gian qua
- Đưa ra những khuyến nghị khoa học nhằm tăng cường bảo vệ quyền con người Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự, góp
Trang 15phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vai trò, trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự 2003 từ thực tiễn xét xử các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân
TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước
và pháp luật, về quyền con người, các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp thống kê, lôgic, phân tích, so sánh, tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn khai thác những thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm
6 Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
+ Luận văn đề cập một số vấn đề lý luận về quyền con người, bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, đặc biệt là luận giải vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự Làm rõ cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong việc bảo vệ
Trang 16quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự
+ Phân tích và đánh giá thực trạng, vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Thông qua đó, luận văn đưa ra được một số giải pháp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLTTHS và một số các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Kết quả nghiên cứu đề tài có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chuyên ngành luật, Học viên và những ai quan tâm đến lĩnh vực này
+ Luận văn có ý nghĩa đóng góp một cách nhìn đích thực về “Bảo vệ quyền con người” trong thực thi pháp luật cho các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung, cho ngành toà án nói riêng trong tiến hành tố tụng hình sự
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự Chương 2: Bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG XÉT XỬ HÌNH SỰ
1.1 Quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự
1.1.1 Quan niệm về quyền con người
Con người là vấn đề cơ bản nhất của mọi thời đại, cho nên quyền con người luôn luôn trở thành nội dung quan trọng thu hút được sự quan tâm cả về phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của mỗi quốc gia, của từng khu vực và mang tính toàn cầu Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay Đây là giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất
cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng đi tất yếu của xã hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo vệ để quyền con người được thực thi trên thực tế
Quan niệm về quyền con người đã được các nhà tư tưởng bàn đến từ thời cổ đại và không ngừng được phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con người, chủ nghĩa Mác đã xác định: “con người là “con người xã hội” “bản chất của con người trong tính hiện thực của nó là sự “tổng hoà các quan hệ xã hội”, cho nên quyền con người thể hiện sâu sắc giá trị các quan hệ xã hội và hiển nhiên mang bản chất đó Trên cơ sở các quan niệm về quyền con người năm 1776, lần đầu tiên quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc
Trang 18lập của Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền được bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” Năm 1791, trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, quyền con người từng bước được các quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của nước mình
Quyền con người (Human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Ở nước ta, vấn đề quyền con người đã được nghiên cứu và phản ánh một cách phong phú và đa dạng thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các văn bản pháp luật Theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: “Quyền con người là các quyền tất yếu
mà con người phải được hưởng và các quốc gia phải tôn trọng” Vì vậy, theo quan niệm chung hiện nay, “Quyền con người là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hoá bằng pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế” Quyền con người là giá trị thắng lợi chung của nhân loại, nhưng do điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội ở các châu lục, các khu vực, các quốc gia phát triển không giống nhau nên ở các quốc gia khác nhau thì năng lực và nhu cầu của mỗi thành viên xã hội sẽ không giống nhau mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nhất định mà thành viên đó sinh sống Cho nên, ở các quốc gia, quyền con người được thể hiện thành quyền công dân và được đảm bảo thực hiện bởi hệ thống pháp luật quốc gia đó Vì là một phạm trù đa diện, nên có nhiều quan điểm chia quyền con người thành những nhóm quyền cơ bản, chủ yếu theo các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người, phổ biến là các nhóm:
- Nhóm các quyền tự do dân chủ về chính trị, bao gồm: Quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; quyền bình đẳng
Trang 19nam nữ; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền tự
do tín ngưỡng
- Nhóm quyền về dân sự (quyền tự do cá nhân), bao gồm: Quyền tự do
đi lại và cư trú trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện báo, quyền khiếu nại, tố cáo
- Nhóm các quyền về kinh tế - xã hội, bao gồm: Quyền lao động; quyền
tự do kinh doanh; quyền sở hữu hợp pháp về thừa kế; quyền học tập;quyền nghiên cứu, phát minh, sáng chế; quyền được bảo vệ sức khoẻ; quyền được bảo vệ hôn nhân và gia đình; quyền trẻ em; quyền người già
Thế giới hiện đại với sự thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị- xã hội, cho nên quyền con người được phát triển không ngừng, phong phú hơn cả về nội dung lẫn hình thức Cho nên, trong quá trình phát triển của nhân loại, một số quyền con người mới được xuất hiện như:
* Quyền phát triển: Quyền phát triển được Uỷ ban liên Hợp Quốc chuẩn
bị từ năm 1981, được thông qua tại kỳ họp thứ 41 của Đại hội đồng liên hợp quốc ngày 4/12/1986 dưới hình thức Tuyên ngôn toàn cầu về phát triển Đó là quyền của các quốc gia, dân tộc đối với chủ quyền trên lãnh thổ của mình như:
- Quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị, kinh tế, quyền được trợ giúp về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
Trang 20- Quyền phát triển là sự hiện thực hoá quyền con người ở thế hệ thứ ba, khi mà nhiều quốc gia từng phải gánh chịu các hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh và đang gặp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế như đói nghèo, dốt nát, bệnh tật vì vậy họ có quyền được giúp đỡ về kinh tế, tài chính từ các quốc gia, tổ chức khác
* Quyền được sống trong hoà bình và môi trường trong sạch:
Ngày nay nhân loại đang đứng trước nhiều hiểm hoạ mang tính toàn cầu như hiểm hoạ chiến tranh hạt nhân, nạn khủng bố mang tính quốc tế, khủng hoảng nghiêm trọng về lương thực, thực phẩm, những cuộc xung đột về tôn giáo, chủng tộc, căn bệnh AIDS đến nay chưa có phương pháp cứu chữa thật
sự hiệu quả Thực trạng đó đã và đang đe doạ đến sự tồn tại và phát triển của loài người Do đó yêu cầu về quyền được sống trong một thế giới hoà bình, bền vững đang là vấn đề cấp bách thật sự của các quốc gia, khu vực và cộng đồng trên thế giới Chính vì thế, pháp luật quốc tế ngày càng quan tâm đến các vấn đề liên quan đến cuộc sống trong hoà bình của con người như vấn
đề giải trừ quân bị, loại trừ vũ khí hạt nhân, ngăn chặn khủng bố, ngăn chặn các cuộc xung đột, thành lập toà án quốc tế để xét xử tội diệt chủng, tội phạm chiến tranh và đến ngày 01/7/2002, Liên Hợp Quốc đã thành lập Toà án hình
sự quốc tế hoạt động một cách thường xuyên, độc lập với Liên Hợp Quốc Bên cạnh đó, do sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, loài người đang đứng trước nguy cơ suy thoái và ô nhiễm về môi trường ngày càng nặng nề Vì thế, hàng loạt các hội nghị quốc tế đã được tổ chức như: Năm 1972, Hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại Stôckhôn (Thuỵ Điển); năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường tại Brazin; năm 1993 Hội nghị về nhân quyền được tổ chức tại Viên; năm 1997 Hội nghị
về môi trường tại Tokyo , Hội nghị này đã xác định rõ: “Môi trường sinh
Trang 21thái đang là vấn đề thách đố toàn cầu ” Cho nên, để con người được sống trong môi trường trong sạch cần thiết phải đảm bảo:
1 Quyền được thông tin và nâng cao nhận thức của con người về môi trường
2 Quyền được tham gia hoạch định các chính sách và thể chế bảo vệ môi trường
3 Quyền được đền bù thiệt hại do sự huỷ hoại môi trường gây ra Đồng thời, các hội nghị cũng đề ra trách nhiệm quốc tế và trách nhiệm của các quốc gia trong việc xây dựng quy chế pháp lý và tổ chức thực hiện có hiệu quả vấn
đề môi trường Vì các mục tiêu của quyền phát triển và quyền được sống trong hoà bình và môi trường trong sạch, tháng 9/2003, Hội nghị thượng đỉnh địa cầu được tổ chức tại Johanneburg (Nam Phi) gồm hơn 100 nguyên thủ quốc gia tham gia với nội dung: Tìm biện pháp làm giảm nghèo đói trước thời điểm 2005 và giảm nhẹ thiệt hại môi trường
Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân Cách mạng tư sản thắng lợi, ách thống trị “Vương quyền”, “Thần quyền” của chế độ phong kiến và thế lực Nhà thờ bị lật đổ, cùng với sự ra đời của nhà nước tư sản, khái niệm QCN, khái niệm công dân, quyền công dân được ra đời Lúc này người dân trong một quốc gia được xác định là công dân trong xã hội công dân và được hưởng các quyền công dân do pháp luật quy định Vì thế, là sản phẩm của cách mạng tư sản, quyền công dân được xác định trong các văn bản pháp
lý quan trọng nhất của các nhà nước tư sản bấy giờ như: Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ năm 1976, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nước Pháp năm
1789, Luật về quyền công dân ở Anh v v Ngày nay, cùng với QCN, quyền công dân đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận trong bản Hiến
Trang 22pháp và hệ thống pháp luật của nhà nước mình và được đảm bảo thực hiện trong đời sống thực tiễn
Trong giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, quyền con người được định nghĩa là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [40] Tác giả có quan điểm đồng nhất với quan niệm về quyền con người nói trên
Trong các bản Hiến pháp nói chung, quyền con người được hiểu là quyền được áp dụng cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân cụ thể, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại Vì thế Hiến pháp ghi nhận các quyền được
áp dụng cho “mọi người” là quyền con người, ví dụ như quy định tại Điều 16,
19, 20, 21, 24, 30, 33 … của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm không đồng nhất QCN là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có và chỉ có ở người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại, được thể chế hoá trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Còn quyền công dân thực chất cũng là quyền con người được các quốc gia ghi nhận và bảo hộ bằng hệ thống pháp luật của quốc gia đối với công dân nước
đó, thể hiện mối liên hệ pháp lý giữa công dân với nhà nước đó Quyền công dân chính là sự thể chế hoá QCN để phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị,
xã hội của mỗi quốc gia Đồng thời, cũng không thể phân biệt đơn giản rằng, QCN là quyền tự nhiên do pháp luật quốc tế quy định, còn quyền công dân là quyền cá nhân do pháp luật quốc gia quy định Mà phải xác định rõ rằng, con người là một thể thống nhất, do đó QCN và quyền công dân cũng nằm trong một thể thống nhất Đây là vấn đề có tính xác định đến việc xây dựng các chế
Trang 23định pháp lý về QCN và quyền công dân trong hệ thống pháp luật của các quốc gia
Trong lịch sử xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của QCN và quyền công dân được gắn liền với thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội Nó phản ánh nhân loại đấu tranh tự giải phóng cho mình, làm chủ tự nhiên và làm chủ xã hội Vì thế nó luôn luôn được xác định là tiêu điểm của các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị và tư tưởng Ngày nay, QCN và quyền công dân đã trở thành tiêu chí cơ bản để đánh giá trình độ phát triển của một chế độ xã hội – về sự văn minh, nhân đạo hay kém văn minh, lạc hậu, đồng thời đó là cơ sở để các quốc gia, tổ chức thiết lập các quan hệ quốc tế, vì lợi ích của các bên và lợi ích của bộ phận và toàn cộng đồng nhân loại Cho nên, có thể nói QCN trong từng quốc gia là quyền công dân của chính quốc gia đó
1.1.2 Các quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
Nghiên cứu quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự không thể không đưa ra định nghĩa về nó Hiện nay, có một số khái niệm về quyền con người trong tố tụng hình sự đã được đưa ra nhưng chủ yếu là nhấn mạnh đến quyền của người bị buộc tội mà chưa chú ý đến quyền của những người khác tham gia tố tụng hình sự Bởi hoạt động xét xử hình sự có liên quan đến nhiều người, trong đó có quyền của những người tham gia tố tụng và cả quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng Do đó, quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự là những quyền thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo vệ thực hiện trên thực tế
Trang 24Quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong tố tụng hình sự Theo đó, quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự bao gồm những quyền tại Điều 10,
11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người: UHDR và Điều 14, 15 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: ICCPR: “Quyền được xét xử công bẳng bởi một thủ tục tố tụng hình sự; Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự phải trên cơ sở luật định; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét
xử quá mức chậm trễ; Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan, quyền không bị kết tội hai lần về cùng một hành vi…”[52]
Như vậy, quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo vệ việc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập khách quan đối với những người yếu thế (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động TTHS
1.2 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự
1.2.1 Khái niệm, nguyên tắc bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử
án hình sự
1.2.1.1 Khái niệm
Trang 25Nghiên cứu quyền con người trong tố tụng hình sự không thể không đưa
ra định nghĩa về nó Hiện nay, có một số khái niệm về quyền con người trong
tố tụng hình sự đã được đưa ra nhưng chủ yếu là nhấn mạnh đến quyền của người bị buộc tội mà chưa chú ý đến quyền của những người khác tham gia tố tụng hình sự: “Quyền con người trong tố tụng hình sự là những quyền thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình
sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo
vệ thực hiện trên thực tế” [54]
Bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án hình sự là những giải pháp mang tính phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền con người trong xét xử hình sự đồng thời phát hiện, xử lý các vi phạm đó Như vậy, bản chất của hoạt động bảo về quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự bao gồm 04 hoạt động chính đó là:
là Thẩm phán Trình tự tiến hành được thông qua theo trình tự của Tố tụng hình sự Trong quá trình tiến hành các hoạt động này, các cơ quan tiến hành
tố tụng và các cơ quan được Nhà nước giao thẩm quyền chủ yếu giải quyết hai nhóm quan hệ tố tụng cơ bản, là nhóm quan hệ được phát sinh do việc thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và các nhóm quan hệ
Trang 26khác được phát sinh do việc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ về tài sản, nhân thân hoặc do yêu cầu xác lập một quan hệ pháp lý liên quan đến hai lĩnh vực này Đối với nhóm quan hệ phát sinh do việc thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm, là nhóm quan hệ tố tụng được xác lập do yêu cầu của
xã hội, thuộc trách nhiệm của Nhà nước Trong đó, người phạm tội phải gánh chịu nghĩa vụ bằng việc chấp hành các hình phạt mà Toà án đã tuyên
Hình phạt là hậu quả của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn mức độ hình phạt chính là mức độ xã hội lên án đối với tính chất, mức độ, hậu quả mà người phạm tội đã gây ra cho xã hội Cho nên, trách nhiệm hình
sự chỉ áp dụng đối với người phạm tội mà không thể chuyển giao cho người khác được Còn đối với các nhóm quan hệ tố tụng khác chỉ được phát sinh do yêu cầu của người tham gia tố tụng Trong đó, các bên tham gia có toàn quyền quyết định đối với quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình (thông thường quyền của bên này được thực hiện bởi nghĩa vụ của bên kia và ngược lại) Còn cơ quan tiến hành tố tụng (Toà án) làm người trọng tài của Nhà nước đứng ra làm trung gian giải quyết các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng Vì thế, trong các quan hệ tố tụng này quyền và nghĩa vụ của các bên có thể được chuyển giao cho nhau hay người khác
Hoạt động tố tụng mà bản chất của quá trình này là xác định chân lý khách quan đối với sự việc đã xảy ra từ trước có liên quan trực tiếp đến quyền
và nghĩa vụ của con người, được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật tố tụng Đây là quá trình hoạt động khó khăn, phức tạp và nhạy cảm Trong đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện thẩm quyền của mình theo nguyên tắc “được làm những gì mà pháp luật cho phép” còn người tham gia
tố tụng “được làm những gì mà pháp luật không cấm” Trong quá trình này, theo quy định của pháp luật, các chủ thể được tiến hành thực hiện các quan hệ
tố tụng một cách công khai, trực tiếp, dân chủ nhằm giải quyết các vấn đề liên
Trang 27quan đến các hành vi, vi phạm pháp luật, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ
và các yêu cầu khác của những người tham gia tố tụng Thông qua đó, chân lý khách quan được xác lập đối với các quan hệ pháp luật bị vi phạm và bị tranh chấp đã xảy ra Cho nên, có thể nói rằng hoạt động xét xử hình sự được thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự quy định nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến QCN một cách khách quan có hiệu lực, hiệu quả cao nhất 1.2.1.2 Các đặc trưng cơ bản của bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự
Bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự là bảo vệ các quyền của những người tham gia hoạt động tố tụng hình sự tại phiên tòa, cụ thể là thông qua hoạt động xét xử, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì các quyền của bị cáo và các cá nhân có liên quan trong vụ án hình sự được bảo vệ
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những sửa đổi so với bộ luật Tố tụng hình sự 2003, không những quy định cụ thể, rõ ràng hơn mà còn mở rộng quyền của bị cáo giúp đảm bảo tính công bằng trong việc thực thi pháp luật hình sự
Trong hoạt động xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, trực tiếp là HĐXX, Kiểm sát viên trong phiên tòa hình sự cần bảo vệ toàn bộ các quyền đã được quy định rõ ở trên bằng các phương thức của tố tụng hình sự Đó là việc tiến hành xét xử minh bạch, tôn trọng và bảo
vệ các quyền của bị cáo được thực hiện đúng và đẩy đủ, bảo vệ các quyền đó không bị xâm phạm bởi các yếu tố khác
Theo quy định tại Bộ luật TTHS năm 2015 bị cáo có những quyền mới sau: Một là, quyền được “trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;”
Trang 28Hai là, quyền “đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;” Việc
đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa sẽ làm tăng tính chủ động cho bị cáo, giúp bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình được tốt hơn, việc hỏi cũng như đối chất trực tiếp tại phiên tòa sẽ là căn
cứ quan trọng làm cho việc xét xử được khách quan hơn cũng như tăng tính thuyết phục hơn
Ba là, quyền được “xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi,
bổ sung vào biên bản phiên tòa” Để tránh việc sai, cũng như thiếu sót trong quá trình ghi chép lại quá trình diễn ra phiên tòa thì bị cáo có quyền xem biên bản phiên tòa và yêu cầu ghi những sửa đổi bổ sung vào biên bản đó, điều này đồng nghĩa với việc bị cáo đồng ý với quá trình xét xử nếu không có những yêu cầu bổ sung hoặc thay đổi khác
Đồng thời, theo điểm o khoản 2 Điều 61 thì bị cáo còn có một số quyền khác theo quy định của Luật, những quyền này phải được các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác Đặc biệt, để cụ thể hóa quy định của BLTTHS 2015 ngày 28-7-2017, Chánh án TAND Tối cao đã ký ban hành Thông tư số 01 quy định về phòng
xử án với nội dung đáng chú ý là tại phiên tòa hình sự, luật sư, người bào chữa được bố trí chỗ ngồi ngang bằng với đại diện VKS Thông tư có hiệu lực
kể từ ngày 01-01-2018
Việc thay đổi bố trí chỗ ngồi cho đại diện VKS và Luật sư khi tham gia phiên tòa hình sự chỉ là một sự thay đổi về hình thức nhưng mang ý nghĩa lớn, bởi đó là biểu hiện của sự thay đổi trong chiến lược cải cách tư pháp Cụ thể,
đó là việc coi trọng sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Lấy việc tranh tụng tại phiên tòa là trọng tâm trong hoạt động xét xử
Trang 29Trước đây, mặc dù trong các văn bản tố tụng của chúng ta đã có quy định rất rõ về việc bình đẳng trong hoạt động buộc tội và gỡ tội, nhưng thực tế thì việc thực hiện nguyên tắc này còn hạn chế Điều này được phản ánh ngay
từ cách bố trí vị trí ngồi của bên buộc tội và gỡ tội (trong các phiên tòa các luật sư ngồi dưới đại diện viện kiểm sát một bậc)
Vị trí đứng của bị cáo cũng có sự thay đổi trong Thông tư số 01 nói trên, nếu như trước đây bị cáo sẽ phải đứng trước vành móng ngựa để khai báo thì nay sẽ không còn vành móng ngựa nữa, thay vào đó là bục khai báo Việc thay đổi này là phù hợp với các quy định của Hiến pháp, nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự đó là nguyên tắc suy đoán vô tội Theo đó, sẽ không ai bị coi là có tội, phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Điều này phù hợp với xu hướng chung của
Tố tụng hình sự thế giới, thể hiện tính nhân văn cũng như quyền con người trong hoạt động xét xử
Khi buộc bị cáo phải đứng trước vành móng ngựa như các phiên tòa trước đây, hình ảnh này tạo cảm giác bị cáo đang đứng sau những tấm song ngăn cách, cách ly khỏi xã hội Do vậy, bỏ vành móng ngựa, thay bằng bục khai báo là để cụ thể hóa một cách toàn diện nguyên tắc suy đoán vô tội trên thực tế
Bên cạnh đó, trong cách bài trí phiên tòa hình sự có thay đổi về vị trí ngồi của thư ký phiên tòa Thư ký phiên tòa sẽ ngồi ngang hàng và ở giữa đại diện viện kiểm sát và luật sư thay vì vị trí ngồi trước đây là phía bên tay trái của Hội đồng xét xử
Điều này sẽ tạo cảm nhận cho những người tham dự phiên tòa rằng, người thư ký của phiên tòa đúng là một chiếc cầu nối từ những người tham
Trang 30gia tố tụng, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan… tới Hội đồng xét xử
Có thể nói rằng, vị trí ngồi mới của thư ký phiên tòa là vị trí trung tâm của phòng xử và là một sự bố trí hợp lý, bởi lẽ nó phù hợp với chức năng của thư ký Vị trí ngồi mới này sẽ giúp cho công việc của thư ký được thực hiện thuận tiện hơn Theo đó, HĐXX ngồi trên bục cao nhất, phía trên là quốc huy
Vị trí của thư ký phiên tòa được bố trí dưới một cấp quay lưng vào HĐXX Đại diện VKS và người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, đương sự được bố trí đối diện, ngang bằng với nhau và ở dưới vị trí của thư ký phiên tòa Theo đánh giá, chỗ ngồi này thể hiện sự bình đẳng giữa các bên, qua đó bảo vệ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Một đặc trưng cơ bản khác của bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự đó là hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong việc bảo vệ các quyền của bị cáo, người tham gia tố tụng khác được thể hiện bằng các bản án, quyết định của Tòa án Một bản án, quyết định công bằng, khách quan, đúng quy định của pháp luật là kết qủa của việc chấp hành đúng các quy định của pháp luật, tuân thủ việc bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
1.2.2 Trong hoạt động xét xử hình sự, chủ thể được bảo vệ quyền con người được xác định cụ thể
Quyền con người trong tố tụng hình sự là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự Đây được coi là tiêu chuẩn
về nhân quyền trong tố tụng hình sự Theo đó, quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm những quyền được ghi rõ tại “Điều 10, 11 UHDR và Điều
14, 15 ICCPR”: Quyền được xét xử công bẳng bởi một thủ tục tố tụng hình sự; Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự
Trang 31do cá nhân khác Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự phải trên cơ sở luật định; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan, quyền không bị kết tội hai lần về cùng một hành vi…; Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử…
Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội – đối tượng quan trọng nhất cần bảo vệ trong trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, tham gia vào quá trình tố tụng hình sự không chỉ có những người bị buộc tội mà còn có nhiều người khác mà lâu nay khi nghiên cứu về quyền con người trong tố tụng hình sự, chúng ta hay ít chú ý đó là quyền của nạn nhân của tội phạm (người bị hại), quyền của người làm chứng và những người liên quan khác, quyền con người của những người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán Những người này họ cũng có quyền con người của họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng con đường tố tụng hình sự
Như vậy, trong hoạt động xét xử hình sự, chủ thể được bảo vệ con người được quy định cụ thể, đó là những người bị buộc tội (bao gồm cả người bị tạm giữ, tạm giam), nạn nhân của tội phạm (người bị hại), người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, người giám hộ, người đại diện hợp pháp và cả những người tiến hành tố tụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đều quy định khá rõ và chi tiết về các chủ thể được bảo vệ quyền con người, cụ thể tại Điều 55 BLTTHS năm 2015 quy định người tham gia tố tụng bao gồm: Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; người bị tố giác, kiến nghị khởi tố;
Trang 32người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Người bị bắt; Người bị tạm giữ; Bị can; Bị cáo; Bị hại; Nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Người làm chứng; Người chứng kiến; Người giám định; Người định giá tài sản; Người phiên dịch, người dịch thuật; Người bào chữa; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác Đối với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiền hành tố tụng được quy định rõ tại Điều 34 BLTTHS năm 2015, về nội dung cơ bản vẫn không thay đổi so với quy định tại BLTTHS năm 2003 1.2.3 Trong xét xử hình sự, quyền của các chủ thể được quy định đầy đủ,
cụ thể và được bảo vệ
Hoạt động xét xử hình sự, mà đặc trưng của nó là hoạt động tố tụng, bao gồm hoạt động của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Cơ quan thi hành án và hoạt động của các cơ quan được giao thẩm quyền Thông qua đó, nhằm xác định tính khách quan, toàn diện, đầy đủ đúng pháp luật, việc thực hiện tội phạm hoặc các quá trình khác để từ đó có sự phán quyết đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong hoạt động tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng được quy định đầy đủ, cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật
về tố tụng Trong đó, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép (quy định), còn người tham gia
tố tụng được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm
Một trong những đặc trưng quan trọng của hoạt động tố tụng là hoạt động chứng minh hành vi phạm tội Trong hoạt động này, bị can, bị cáo tìm mọi cách để bảo vệ các quyền có lợi nhất về cho mình, nhằm xác định mình
Trang 33không phạm tội Còn các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật, có nghĩa
vụ phải chứng minh sự khách quan của vụ án, toàn diện và đầy đủ về nội dung của sự việc xảy ra để có sự phán quyết đúng pháp luật, chứng minh đó
là hành vi phạm tội, đảm bảo cho việc xét xử chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các bên đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan) Vì thế các bên đương sự có trách nhiệm thu thập đầy đủ chứng cứ nhằm đảm bảo cho quá trình chứng minh của mình Mà như vậy, đối với các trường hợp chứng cứ của đương sự không đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến nghĩa vụ chứng minh
để bảo vệ các quyền lợi đang bị tranh chấp Còn những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm củng cố, đánh giá, xác định tính trung thực của các chứng
cứ mà các bên đương sự cung cấp để chứng minh sự thật khách quan nội dung
sự việc cần phải giải quyết nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên đương sự
Trong TTHS, trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Trong quá trình này, nghĩa vụ điều tra thu thập chứng cứ, củng cố chứng cứ để chứng minh sự thật khách quan của
vụ án thuộc về những người tiến hành tố tụng và những người khác liên quan theo quy định của pháp luật Còn đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo họ
có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình là vô tội
Hoạt động TTHS là một lĩnh vực khó khăn, phức tạp và nhạy cảm vì nó liên quan đến các quyền thiết thực nhất của con người trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội như quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do tài sản,
Trang 34quyền tự do cư trú…Vì vậy, trong quá trình chứng minh sự thật khách quan của vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do sự tác động trực tiếp hay gián tiếp của các yếu tố khách quan, chủ quan nên dễ bị ảnh hưởng đến tính trung thực khách quan trong các quyết định của mình, trong đó có các yếu tố cơ bản như: Do thiếu sự hợp tác của người tham gia tố tụng với người tiến hành tố tụng trong việc xác định sự thật khách quan của các chứng cứ, nhất là đối với các trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tìm cách tiêu huỷ, che giấu các chứng cứ liên quan đến vụ án, nên các quyết định của người tiến hành tố tụng không phản ánh được chính xác, toàn diện nội dung sự việc
Do sự tác động chi phối từ bên ngoài vào hoạt động tố tụng Sự chi phối, tác động này có thể do sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên đối với cấp dưới, của cơ quan tiến hành tố tụng đối với người tiến hành tố tụng hoặc cùng có thể từ phía những người quen biết, người thân của người tham gia tố tụng…nên các quyết định trong hoạt động này dễ thiếu sự khách quan, trung thực và đầy đủ Do một bộ phần những người tiến hành tố tụng bị hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về năng lực công tác, nên trong việc thực hiện chức năng thẩm quyền của mình, các quyết định của họ thiếu chính xác, không đúng pháp luật Do một số những người tiến hành tố tụng bị tha hoá
về phẩm chất đạo đức, lối sống, phẩm chất chính trị v v làm cho sự phán quyết của họ trong một số vụ án thiếu khách quan, toàn diện, đầy đủ và không đúng pháp luật
Như vậy, trong hoạt động tố tụng, quyền và nghĩa vụ pháp lý của người tham gia tố tụng được phán quyết bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Trong đó, mọi biểu hiện của sự chủ quan, thiếu đầy đủ, không trung thực…trong hoạt động tố tụng đều xuất phát từ việc thiếu tuân thủ pháp luật của người tiến hành tố tụng Đó chính là nguyên nhân của sự vi
Trang 35phạm QCN trong HĐTP Tóm lại, trong lĩnh vực xét xử hình sự, sự vi phạm QCN được thể hiện dưới nhiều hình thức nội dung, mức độ khác nhau, nhưng chủ yếu và nghiêm trọng nhất là do các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng gây ra Hầu hết các vi phạm QCN trong lĩnh vực này đều có nguyên nhân từ việc vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây ra Cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã không tạo mọi điều kiện để người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền của họ theo pháp luật quy định, từ đó đã vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, tước đi các quyền cơ bản mà họ được hưởng
1.2.4 Nội dung quy định pháp luật về bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự
Bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự là hoạt động tố tụng hình
sự của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) và người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm)
Thông qua việc áp dụng các quy định của pháp luật, hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trước hết sẽ bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trước sự xâm phạm của tội phạm Tuy nhiên xét ở một góc độ khác, tố tụng hình sự với tư cách là quá trình Nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ thực hiện tội phạm luôn thể hiện tính quyền lực với sức mạnh cưỡng chế Nhà nước, với sự thiếu bình đẳng về thế và lực của các bên tham gia quan hệ tố tụng hình sự, trong đó người bị buộc tội luôn bị yếu thế hơn Hoạt động này liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội Vì vậy, để đạt được mục đích của tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng hình sự của bất kỳ quốc gia
Trang 36nào cũng có quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân Hay nói cách khác, khả năng ảnh hưởng của hoạt động tố tụng hình sự tới các quyền con người của người bị tình nghi phạm tội là tất yếu Do đó, hoạt động tố tụng hình sự trong mọi quốc gia đều được xếp vào nhóm “nguy cơ cao” khi người
ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người Trong lĩnh vực này, quyền con người của những người bị tình nghi phạm tội dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương và hậu quả để lại cũng đặc biệt nghiêm trọng khi nó động chạm đến những quyền con người cơ bản như quyền sống; quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện Cho nên khi đánh giá, xem xét tình trạng vi phạm quyền con người của một quốc gia, người ta thường bắt đầu từ lĩnh vực tố tụng hình sự
Nội dung quy định về bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự đã được thể hiện trong Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập, phù hợp với tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đồng thời nâng cao bảo vệ quyền con người theo định hướng nhà nước pháp quyền XHCN BLHS năm 2015 bổ sung thêm 34 tội danh, thay hình phạt tù bằng hình phạt tiền đối với 10 tội danh, bỏ hình phạt tử hình đối với 7 tội danh… Với những nội dung sửa đổi, bổ sung tương đối toàn diện kể cả về kết cấu, bố cục, nội dung đã khắc phục phần lớn những bất cập trong BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 có rất nhiều điểm mới, sửa đổi, bổ sung một cách căn bản và toàn diện so với BLTTHS năm 2003 Trong đó, một điểm mới quan trọng là BLTTHS năm 2015 đã
Trang 37phân định mạch lạc, chính xác các giai đoạn tố tụng; quy định đầy đủ, cụ thể trình tự, thủ tục các hoạt động tố tụng trong mỗi giai đoạn
Theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực thi hành, trừ những quy định có lợi đối với người phạm tội
Trong những năm qua, hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS nhìn chung đã có những kết quả khả quan góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tồn tại, vi phạm trong việc bắt người, giam, giữ, khám xét ; vẫn còn tình trạng xét xử oan sai chưa đúng người, đúng tội Tình trạng đó trước hết sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người bị vi phạm, đặc biệt là những quyền lợi rất quan trọng và cơ bản Không những thế nó còn có thể tạo ra những bức xúc trong xã hội Một số phần tử phản động nhân cơ hội này, khoác thêm lớp áo “Nhân quyền” thổi phồng, xuyên tạc, hư cấu thêm sự việc để kích động, lôi kéo, kêu gọi nhân dân chống lại sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta Đây là những hậu quả rất nặng nề, khó khắc phục, có khi là không thể khắc phục Cho nên, bảo vệ quyền con người trong hoạt động TTHS cần được quan tâm ở mọi góc độ Việc ban hành các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi phải đi đôi với việc đảm bảo thực hiện các quy định đó trong thực tế Việc thực hiện các quy phạm pháp luật TTHS phụ thuộc vào các chủ thể tiến hành tố tụng trong đó Tòa án đóng vai trò trọng tâm Với hoạt động xét xử và bản án được thông qua tại phiên tòa, mọi nghi ngờ, mọi vấn đề sẽ được làm sáng rõ từ nội dung
vụ án cho đến hình phạt đối với bị cáo Nếu có một phiên tòa công bằng, mọi
Trang 38vi phạm quyền con người trong các giai đoạn trước đó (nếu có) sẽ được phán
xử và có những chế tài phù hợp Ngược lại, nếu phiên tòa đó không đảm bảo, thì sai lầm sẽ nối tiếp sai lầm và kết thúc bằng một sai lầm Hoặc nếu như những quá trình trước (khởi tố, điều tra, truy tố) dù tiến hành đúng nhưng đến giai đoạn xét xử lại làm sai thì vẫn cho ra một kết quả sai Do đó, ta có thể coi, Tòa án là cánh cửa cuối cùng, là cơ hội cuối cùng để quyền con người được đảm bảo
Từ những sự phân tích trên cho thấy quyền con người trong hoạt động TTHS cần phải được quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện, đặc biệt là tại giai đoạn xét xử Cùng với nó, cần phải nghiên cứu thêm về vai trò bảo vệ quyền con người của các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò của tòa
án
1.3 Các yếu tố tác động đến bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự 1.3.1 Năng lực thực thi pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng hình sự
Năng lực thực thi pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng là yếu
tố vô cùng quan trọng tác động trực tiếp đến bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự Đó là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Việc cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng áp dụng các quy định của pháp luật trong xét xử hình sự có vai trò quyết định đến việc bảo vệ hay không bảo vệ quyền con người, thậm chí là hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng bảo vệ tối đa hay chưa bảo vệ quyền con người Có nghĩa là, khi
cơ quan, người tiến hành tố tụng có năng lực, việc áp dụng và thực thi pháp luật đúng đắn thì quyền con người được bảo vệ và ngược lại, nếu cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng không có năng lực hoặc năng lực kém
Trang 39dễ dẫn đến những hành vi sai phạm trong việc áp dụng và thực thi pháp luật,
từ đó ảnh hưởng việc bảo vệ quyền con người
Thực tế chứng minh, hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật về bảo
vệ quyền con người trong xét xử vụ án hình sự của Toà án phụ thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố, những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau,
có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến bảo vệ quyền con người trong xét xử hình sự đó là: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Ngành Toà án mà trước hết là trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… là những người trực tiếp được giao nhiệm vụ xét xử, nhân danh Nhà nước để bảo vệ pháp luật Ở họ cần phải có những tố chất nghề nghiệp nhất định, họ vừa là người thay mặt cho quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử, vừa phải là công dân gương mẫu trong cuộc sống hằng ngày Với vị trí và trách nhiệm xã hội đặc biệt của mình, đòi hỏi họ phải có những tiêu chuẩn nhất định về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, đạo đức nghề nghiệp…
Chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia xét xử là sự tổng hợp chất lượng của từng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… tham gia xét xử được đánh giá thông qua các tiêu chuẩn về chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức; khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và theo quy định của ngành
Là người giữ vị trí quan trọng trong hoạt động xét xử tại Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải là những người am hiểu pháp luật, có trình độ chuyên môn và kỹ năng xét xử Như chúng ta đã biết, Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ
Trang 40án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án Xét xử là một công việc phức tạp, nó đòi hỏi người tham gia phải có trình độ am hiểu về pháp luật, có tinh thần trách nhiệm, có kỹ năng sống, có khả năng nắm bắt được diễn biến phức tạp của vấn đề Chính vì vậy, ngoài những tiêu chuẩn
“cứng” về điều kiện trở thành Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã được pháp luật qui định thì họ còn phải có những năng lực “đặc biệt” được hình thành thông qua quá trình giao tiếp xã hội, qua học tập Có thể kể đến một số kỹ năng cơ bản như:
- Nắm vững các quy định pháp luật thuộc lĩnh vực được phân công đảm nhiệm một cách chuyên sâu; thu nhận và xử lý thông tin để phục vụ việc thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
- Có khả năng phân tích, đánh giá một cách chính xác, toàn diện những tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ cho việc ra các quyết định, bản án phù hợp với thực tiễn
- Có khả năng lập luận, tranh luận, lấy lời khai với những người tham gia tố tụng; kịp thời xử lý các tình huống phát sinh tại phiên toà theo đúng quy định của pháp luật
Ngoài các điều kiện về chuyên môn, họ còn phải có trình độ lý luận chính trị, phải thường xuyên trau dồi đạo đức nghề nghiệp, coi đây là một yếu
tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến quá trình xét xử của Toà án nhân dân hiện nay Mặt khác, đây cũng là cơ sở quan trọng, mang tính pháp lý cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm và đào tạo cán bộ Đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ
tư pháp là tiêu chuẩn tối quan trọng, bởi vì hoạt động nghề nghiệp của họ mang tính đặc thù, có tác động trực tiếp đến đến danh dự, quyền tự do, tài sản,… của con người Những giá trị đạo đức của đội ngũ này được thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động nghề nghiệp và trong đời sống hàng ngày