Cụ thể là cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh cơ cấu lại công nghiệp, tạo nền tảng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ; p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Thừa Thiên Huế, ngày 27 tháng 12 năm 2017
Học viên
Hạ Huy Tiến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công tại Học viện Hành chính Quốc gia; bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tác giả nhận được sự hướng dẫn, giảng dạy, động viên và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
Thầy giáo hướng dẫn TS Hoàng Sỹ Kim, Học viện Hành chính Quốc gia,
Quý thầy giáo, cô giáo - Học viện Hành chính Quốc gia,
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp tại cơ quan
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Hạ Huy Tiến
Trang 5MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP 8
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 8
1.1.2 Khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn 10
1.1.3 Các loại cơ cấu kinh tế 11
1.3 Sự cần thiết, các yếu tố ảnh hưởng và vai trò của quản lý nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 14
1.3.1 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 14
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 16
1.3.3 Vai trò của nhà nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế 22
1.4 Nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 25
1.4.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành 25
1.4.2 Chuyển dịch cơ cấu vùng 26
1.4.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động 27
1.4.4 Chuyển dịch cơ cấu đầu tư 31
1.4.5 Chuyển dịch cơ cấu kỹ thuật 32
Trang 61.5 Kinh nghiệm nước ngoài và một số địa phương trong nước về chuyển
dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 33
1.5.1 Kinh nghiệm nước ngoài 33
1.5.2 Kinh nghiệm trong nước 38
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI 42
2.1 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội, tự nhiên có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Trà Bồng 42
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 42
2.1.2 Các đặc điểm kinh tế - xã hội 43
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Trà Bồng 51
2.2.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn 51
2.2.2 Cơ cấu lao động 54
2.3 Tác động của chính quyền tỉnh đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện 56
2.3.1 Hỗ trợ thêm đường giao thông, hệ thống điện, cấp nước 56
2.3.2 Hỗ trợ sản xuất 57
2.3.3 Hỗ trợ hộ gia đình, cá nhân, nhóm hộ thực hiện các mô hình, dự án phát triển sản xuất thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 57
2.3.4 Hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình trong hàng rào 58
2.4 Đánh giá kết quả chuyển dịch ngành nông nghiệp ở địa phương 59
2.4.1 Kết quả đạt được 59
2.4.2 Những hạn chế 63
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 65
Trang 72.4.4 Những vấn đề đặt ra trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Trà Bồng
66
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP HUYỆN TRÀ BỒNG 69
3.1 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Trà Bồng đến năm 2020 69
3.1.1 Căn cứ và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế 69
3.1.2 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp ở huyện Trà Bồng trong thời gian tới 77
3.2 Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững 80
3.2.1 Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển vùng 80
3.2.2 Mở rộng thị trường để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 81
3.2.3 Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn về kinh tế và xã hội tạo tiền đề, cơ sở để chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 82
3.2.4 Cơ cấu và quy hoạch nhu cầu sử dụng đất đến năm 2020 87
3.2.5 Huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn 88
3.2.6 Giải pháp về kinh tế - tổ chức 90
3.2.7 Chính sách kinh tế - xã hội 96
3.2.8 Nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương 104
Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CAC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kinh tế hàng hóa Kinh tế nhà nước Kinh tế - xã hội Lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất
Xã hội chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa Sản xuất kinh doanh
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Chuyển biến về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động 28Bảng 2: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (%) 29Bảng 2.1- Hiện trạng dân số: 44Bảng 2.2- Thống kê các trạm biến áp 48Bảng2.3 Số lượng gia súc gia cầm qua các năm 52
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân từ trước đến nay luôn là vấn đề có tầm chiến lược luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Như trong diễn văn khai mạc Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương (khóa X) của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh có đoạn: “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là nhiệm vụ chiến lược của Đảng ta" Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định phát triển triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu để ổn định đời sống nhân dân, tạo điều kiện,
cơ sở cho việc phát triển triển KT-XH và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Chính vì vậy, tại Đại hội lần thứ XII của Đảng, xác định nhiệm vụ trong 5 năm tới là: "Tiếp tục thực hiện đồng bộ hiệu quả Đề án tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực"[6, tr.88-89,281] Cụ thể là cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh cơ cấu lại công nghiệp, tạo nền tảng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ; phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển đảo; phát triển các vùng và khu kinh tế, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng; đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp
Kinh tế nông thôn nước ta có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là khu vực chiếm 72% dân số và 56,8% lao động của cả nước Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa, xây dựng nông thôn mới là phù hợp với mục tiêu nâng cao thu nhập bình quân đầu người, ổn định đời sống phát triển kinh tế cho người dân trên địa bàn xã; phù hợp với yêu cầu của thị trường cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm, nâng cao hiệu quả trong quá trình hội nhập khu vực
Kinh tế nông thôn huyện Trà Bồng, chủ yếu là nông, lâm nghiệp Mặc dù trong những năm qua địa phương đã đạt được những thành tựu quan trọng về kinh
tế, văn hóa, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn…, góp phần ổn định và từng bước
Trang 112
cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, nếu so với các địa phương khác của tỉnh Quảng Ngãi thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện còn chậm; nhiều tiềm năng, thế mạnh về kinh tế nông, lâm nghiệp của địa phương chưa được khai thác đầy đủ và có hiệu quả
Do vậy, chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng phát triển có hiệu quả; đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất nông sản tập trung gắn với công nghiệp chế biến nông, thủy sản, khai thác lợi thế sinh thái đặc thù của tỉnh để tạo ra khối lượng ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao; gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại là yêu cầu cấp bách của huyện Trà Bồng hiện nay
Đề tài: “Quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần nâng cao đời sống kinh tế, là vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho sự phát triển nhanh và bền vững ở địa phương
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng là vấn đề được Chính phủ của tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Ở Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “…cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới”[7], thì vấn đề nói trên đã trở thành sự quan tâm của cả nước, các tổ chức, cá nhân, của Đảng và Chính quyền các cấp Có thể nêu một số Dự án đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết trên các sách, báo, tạp chí như:
- Đề tài KX08 “Phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn” - Hội thảo khoa học về “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam” vào 2 ngày 22 và 23/11/1994, do Ủy ban kế hoạch Nhà nước và trường Đại học kinh tế Quốc dân phối hợp tổ chức Có 38 bài viết gửi đến hội nghị và được biên soạn thành kỹ yếu
Trang 123
khoa học: “Những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam” năm 1995 Các đề tài, Hội thảo khoa học và các bài viết đi sâu phân tích tình hình kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam một cách toàn diện và tổng thể, đề ra giải pháp để phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam
- “Mấy vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng” của Bạch Hồng Việt, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 4/1995 Tác giả đi sâu phân tích tình hình kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng, so sánh lợi thế và tiềm năng hiện có của vùng, đề xuất giải pháp chuyển dịch
cơ cấu kinh tế vùng cho phù hợp với sự phát triển
- “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - Lý luận và thực tiễn” do PGS.TS
Lê Đình Thắng chủ biên, Nxb nông nghiệp, Hà Nội 1998 Tác giả đi sâu phân tích tình hình kinh tế nông thôn Việt Nam, so sánh các lợi thế tiềm năng của từng vùng
và các giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Nông thôn Việt Nam
- Chuyển dịch cơ cấu sản xuất và lao động ở nông thôn miền Đông Nam Bộ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh (1997) Do TS Hồ Trọng Viện chủ nhiệm đề tài Tác giả đi sâu phân tích tình hình sản xuất và lao động ở Nông thôn miền Đông Nam Bộ, đề xuất giải pháp chuyển dịch cơ cấu sản xuất và lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Nguyễn Thị Hiền (1996): Những yêu cầu đặt ra cho việc tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tạp chí Thông tin lý luận Số 2, Hà Nội Tác giả nêu quan điểm của mình về tình hình kinh tế nông thôn và những yêu cầu đặt ra cho việc tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
- Trần Ngọc Hiên (1998): Đặc điểm kinh tế - xã hội nông thôn nước ta trên con đường phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tác giả đánh giá tình hình kinh tế, xã hội, đi sâu phân tích trình độ lao động nông thôn trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Tạp chí Nghiên cứu lý luận Số 4, Hà Nội - Lê Quốc Khách (2000): Các giải pháp phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp nông thôn, Báo Nhân dân số 29 -
Trang 134
- Nguyễn Đình Long (1995): Thị trường - yếu tố quyết định tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 5, Hà Nội Tác giả phân tích tố thị trường trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
- Phạm Xuân Nam (chủ biên): Phát triển nông thôn Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội 1997 Tác giả nêu quan điểm cá nhân, đánh giá thực trạng nông thôn Việt Nam, đề xuất các giải pháp cần thiết để phát triển kinh tế nông thôn
- Luận văn thạc sĩ của Phạm Ngọc Dũng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở vùng đồng bằng Sông Hồng, thực trạng về giải pháp - 2001 Tác giả nêu vai trò tác động của quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
công Lê Quốc Sử: Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong “Thời đại kinh tế tri thức”, Nxb Thống kê, Hà Nội 2001 Tác gải phân tích, đánh giá sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phạm Hùng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn miền Đông Nam bộ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nxb Nông nghiệp Hà Nội 2002 Tác giả nêu vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nông thôn miền Đông Nam Bộ
- TS Hoàng Sỹ Kim, Ths Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên“Một số vấn đề cơ bản về nông nghiệp, nông thôn và nông dân” Nxb Lao động 2013
Những công trình, tác phẩm, bài viết của các nhà khoa học được đăng tải trên
đã đề cập, nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau; phân tích một cách sâu sắc về lý luận và thực tiễn trên các mặt: khái niệm, đặc điểm, tính quy luật của xu hướng chuyển dịch và những giải pháp để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện có hệ thống
về thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp ở địa bàn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 143.2 Nhiệm vụ
+ Nghiên cứu lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở địa bàn huyện Trà Bồng
+ Đánh giá tình hình phát triển kinh tế và thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp huyện Trà Bồng từ năm 2012-2016
+ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp ở địa phương và tìm nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong quá trình chuyển dịch ngành nông nghiệp trong thời gian qua
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch ngành nông nghiệp ở huyện Trà Bồng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Trà Bồng từ 2011 đến 2016, từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Trà Bồng từ 2017 đến 2020
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 156
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình và các công trình, bài viết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận Luận văn cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn mới phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
Các thông tin thu thập được có từ hệ thống cơ sở dữ liệu của Uỷ ban nhân dân các xã ở huyện Trà Bồng, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Chi Cục thống kê huyện Trà Bồng
- Phương pháp thống kê, mô tả, phân tích, tổng hợp
Dựa trên các thông tin, số liệu mới nhất mà Luận văn có thể thu thập được từ các nguồn thông tin đáng tin cậy (từ các cơ quan thống kê, các cuộc điều tra), phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp được sử dụng để phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên các số liệu thu thập được
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã tổng quan được những lý luận cơ bản liên quan đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và chuyển dịch ngành nông nghiệp
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chính sách quản lý nhà nước về kinh tế gắn với một địa bàn cụ thể, luận văn đã cung cấp thông tin về kết quả, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong chính sách quản lý nhà nước về chuyển dịch ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Trà Bồng; qua đó đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo là nguồn thông tin cho những nghiên cứu tiếp theo, là căn cứ để vận dụng vào thực tiễn thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Trà Bồng trong thời gian tới
Trang 167
- Nâng cao nhận thức của toàn xã hội nói chung, huyện Trà Bồng nói riêng
về tầm quan trọng của sự chuyển dịch ngành nông nghiệp đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn kết cấu gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
Chương III: Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 178
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu; địa bàn nông thôn Việt Nam là nơi sinh sống, hoạt động của 72% dân cư cả nước Nông thôn là nơi cung cấp nông sản cho xã hội, là thị trường tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ, đồng thời là nơi cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho công nghiệp và dịch vụ
Nông thôn càng phát triển, cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần khu vực nông thôn được cải thiện sẽ tạo điều kiện quan trọng để thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị ngày 10/11/1998 đã khẳng định: “Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, tăng khối lượng sản phẩm hàng hoá, nhất là nông, lâm, thủy sản qua chế biến, tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn”[1] Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, trước hết phải nhận thức được những lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông thôn 1.1 Cơ cấu kinh tế và vai trò của cơ cấu kinh tế đối với phát triển KT-XH 1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển nền kinh tế có hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia Muốn đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý xét trên góc độ các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế
Các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế phải được thể hiện cả về số lượng cũng như về chất lượng và được xác định trong những giai đoạn nhất định, phù hợp với những đặc điểm tự nhiên, KT-XH cụ thể của mỗi quốc gia (vùng, hoặc địa phương) qua từng thời kỳ
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến, mà luôn vận động chuyển dịch cần thiết, thích hợp với những biến động của điều kiện tự nhiên, KT-
Trang 189
XH Do đó, sự duy trì quá lâu hoặc thay đổi quá nhanh chóng của cơ cấu kinh tế mà không tính đến sự phù hợp với những biến đổi của tự nhiên, KT-XH đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế Vì vậy, việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế
Cơ cấu kinh tế trong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển đổi, sự vận động và phát triển của LLSX xã hội, các mục tiêu KT-XH sẽ đạt được như thế nào Nói cách khác cơ cấu kinh tế biến đổi chính là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội, cơ cấu kinh tế phản ánh mối quan hệ LLSX và QHSX của nền kinh tế
Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu (hay cấu trúc) của nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội Các
bộ phận đó gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ
tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KT-XH nhất định nhằm đạt hiệu quả KT-
XH cao.[13, tr.5]
Khái niệm cơ cấu kinh tế như nêu trên là khoa học tương đối toàn diện, đầy
đủ các bộ phận cấu thành, các mối quan hệ khắng khít giữa các bộ phận cấu thành Như vậy, cơ cấu kinh tế vừa mang tính khách quan, vừa mang tính lịch sử xã hội, đồng thời luôn vận động và phát triển không ngừng, gắn với sự phân công lao động, hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế Ta có thể hiểu trực diện hơn, cơ cấu kinh tế là: mối quan hệ và tỷ lệ giữa các ngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP), mối quan hệ giữa các vùng kinh tế, giữa các thành phần kinh tế
Từ đó có thể hiểu chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng tương đối của các ngành, các bộ phận của mỗi ngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP),
sự thay đổi vị trí, vai trò của các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế trong nền kinh
tế quốc dân Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là việc thay đổi cấu trúc nội tại và mối
Trang 1910
quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế có hướng đến mục tiêu đã xác định
1.1.2 Khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về LLSX và QHSX, về cơ chế kinh tế… vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn
Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật; kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ… trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Xét về mặt KT-XH, kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: KTNN, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân… Xét về mặt không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các vùng như: vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên cánh cây màu, vùng trồng cây ăn quả…
Nói cách khác: kinh tế nông thôn là một phức hợp những nhân tố cấu thành LLSX và QHSX trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến phục vụ cho nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch
vụ trên địa bàn nông thôn Tất cả các ngành đó đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng, lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Từ đó có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế nông thôn là quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn nông thôn có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển trong điều kiện tự nhiên KT-XH, trong một thời gian nhất định ở nông thôn.[8, tr.491-492]
Cơ cấu kinh tế đó được thể hiện cả về mặt chất và mặt số lượng Cơ cấu kinh
tế nông thôn có vai trò to lớn, ảnh hưởng chi phối đến đời sống vật chất và tinh thần
ở nông thôn Như vậy, giữa các bộ phận của cơ cấu kinh tế nông thôn có mối quan
hệ chặt chẽ không tách rời theo những tỷ lệ về lượng cũng như về chất Cơ cấu kinh
Trang 2011
tế nông thôn tồn tại khách quan nhưng không bất biến, mà luôn biến đổi thích ứng với sự phát triển của LLSX và phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ Việc xác lập cơ cấu kinh tế nông thôn chính là giải quyết mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố của LLSX và QHSX, giữa tự nhiên với con người trong khu vực nông thôn theo thời gian và những điều kiện KT-XH cụ thể
Qua phân tích cơ cấu kinh tế nông thôn như trên, ta thấy rằng: chuyển dịch
cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cấu trúc nội tại và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn Trên thực tế chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng tương đối của các ngành, các bộ phận của mỗi ngành, sự thay đổi vị trí, vai trò của các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế nông thôn Cơ cấu kinh tế nông thôn là một
bộ phận cấu thành quan trọng trong cơ cấu kinh tế quốc dân, do đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia
1.1.3 Các loại cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế
1.1.3.1 Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành là quan hệ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành Cơ cấu ngành là bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung và tỉ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, về cơ bản hệ thống phân ngành kinh tế được sử dụng trên thế giới
là hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts - SNA) được áp dụng đối với nền kinh tế thị trường Trước đây còn có hệ thống sản xuất vật chất (Material Production System - MPS) được áp dụng đối với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Trang 2112
Theo hệ thống tài khoản quốc gia, nền kinh tế thường được phân thành ba nhóm ngành (hay khu vực) là: Khu vực I gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (đối với nhiều nước khác là các ngành khai thác trực tiếp tài nguyên thiên nhiên); Khu vực II gồm công nghiệp và xây dựng (đối với nhiều nước khác là các ngành chế biến); Khu vực III là dịch vụ
Ba khu vực này bao gồm 21 ngành cấp 1 Các ngành cấp 1 lại đuợc chia nhỏ thành các ngành cấp 2 Các ngành cấp 2 lại được phân nhỏ thành các ngành sản phẩm Có nhiều mức phân ngành khác nhau, tùy theo mức độ gộp hay chi tiết hóa đến chừng nào mà có được tập hợp các ngành tương ứng Đối với nước ta, theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, nền kinh tế nước ta được chia thành 21 ngành kinh tế cấp 1; 88 ngành kinh tế cấp 2; 242 ngành kinh tế cấp 3; 437 ngành kinh tế cấp 4 và 642 ngành kinh tế cấp 5
Đối với nền kinh tế quốc dân chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa là sự vận động và biến đổi của các ngành kinh tế thuộc khu vực I, II, III theo chiều hướng tăng tỉ lệ các ngành khu vực II và III, giảm tỉ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
1.1.3.2 Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế gắn với các loại hình sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Tùy theo phương thức sản xuất mà có các thành phần kinh tế chiếm địa vị chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại Nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần gồm kinh tế nhà nước, kinh
tế ngoài nhà nước (tập thể, tư nhân, cá thể) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế được xác định với vai trò khác nhau, trong đó lấy kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể làm nền tảng
Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Thành phần kinh tế này bao trùm các ngành kinh tế then chốt gắn liền với việc quản lí tài nguyên của đất nước, với an ninh quốc phòng và các lĩnh vực quan trọng khác
Trang 221.1.3.3 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ
Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ (vùng kinh tế) phản ánh sự phân công lao động
xã hội về mặt không gian địa lí Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách sát thực và phù hợp với đặc điểm của từng vùng nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng
và toàn lãnh thổ
Cơ cấu lãnh thổ là tương quan tỉ lệ giữa các vùng trong phạm vi quốc gia được sắp xếp một cách tự phát hay tự giác có chủ định Trong một quốc gia có nhiều vùng lãnh thổ, các vùng này phải được bố trí, quan hệ với nhau theo một tỉ lệ nào đó để tạo điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng nói riêng và của cả nước nói chung
Cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần và theo lãnh thổ là sự biểu hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng
có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo lãnh thổ là cơ sở cho các ngành, các thành phần kinh tế phân bố hợp lí các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đối và đạt hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần kinh
tế của một nền kinh tế
Trang 2314
1.2 Vai trò của cơ cấu ngành nông nghiệp trong phát triển KT-XH
Cơ cấu kinh tế là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển kinh tế các nước Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phát triển thì phải hợp lý, tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đặt ra của thời đại không một nền kinh tế nào chỉ dựa vào nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ Cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép khai thông tạo động lực cho việc khai thác có hiệu quả nguồn lực trong ngoài nước
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất sao cho thích nghi với quá trình phát triển là điểm mấu chốt, có tính chất quyết định Vấn đề đặt ra là chuyển dịch như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu
Việc hình thành cơ cấu kinh tế được diễn ra theo hai quá trình tự phát và có
kế hoạch Ngày nay để thực hiện được mục tiêu tổng quát trong phát triển kinh tế, chính phủ các nước chủ động xác định cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển của mình, giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế luôn là trọng tâm của việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế các nước
1.3 Sự cần thiết, các yếu tố ảnh hưởng và vai trò của quản lý nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
1.3.1 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên nền tảng cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dụng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu
cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn Như vậy, chuyển dịch cơ cấu thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế, đó là cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng - lãnh thổ kinh tế Nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế
- xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển
- Quy luật phổ biến trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chịu tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
Trang 24- Nhà nước với tư cách là chủ thể kinh tế, can thiệp vào nền kinh tế thông qua pháp luật, kế hoạch, chính sách và các đòn bẩy kinh tế nhằm đạt được mục tiêu
Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên nhanh chóng, còn tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống mặc dù số lượng tuyệt đối vẫn tăng lên không ngừng
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra yêu cầu cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đảng ta đã xác định “công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế – xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghiệp, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao”[5] Đối với nước ta,
đó là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất của chế độ mới
Do vậy, để sử dụng sức lao động một cách phổ biến với công nghệ hiện đại
Trang 2516
nhằm khai thác tối đa nguồn lực của đất nước, không ngừng tăng năng xuất lao động, làm nền cho kinh tế tăng trưởng nhanh, đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Hơn nữa, theo kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển hiện nay cho
ta bài học kinh nghiệm về công nghiệp hoá, đó là phải điều chỉnh lại cơ cấu của nền kinh tế
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Quá trình hình thành và phát triển của cơ cấu kinh tế chịu sự tác động chi phối của nhiều nhân tố khác nhau, điều kiện tự nhiên và KT-XH có vai trò vào tác động to lớn đến việc hình thành và phát triển của cơ cấu kinh tế Do vậy, việc nghiên cứu vai trò và tác động của từng nhân tố có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm phát huy những nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố kìm hãm để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng tiến bộ hơn
- Một là yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết, hệ sinh thái, nước, đất đai, rừng, biển, tài nguyên khoáng sản khác… có ảnh hưởng đến sự hình thành vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế trên địa bàn Sự tác động và ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên tới nội dung của cơ cấu kinh tế trên địa bàn xã không giống nhau Trong các nội dung của cơ cấu kinh tế, thì cơ cấu các ngành và cơ cấu vùng chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tự nhiên, còn cơ cấu thành phần kinh tế thường chịu ít hơn
Các yếu tố đất đai, thời tiết, khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự phát triển của nông nghiệp Bởi vì nông - lâm - thuỷ sản là ngành sản xuất mà đối tượng của nó là thế giới sinh vật, qua đó sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển triển của các ngành khác trong cơ cấu kinh tế
Xu hướng phát triển vùng kinh tế hiện nay là đi sâu vào chuyên môn hoá, tập trung sản xuất nông - lâm - thủy sản để từng bước hình thành các vùng trọng điểm SXHH nông - lâm - thủy sản quy mô lớn có hiệu quả kinh tế cao, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển công nghiệp và dịch vụ trên từng địa bàn theo hướng chuyên
Trang 26Như vậy, trong nền kinh tế hàng hóa, yếu tố thị trường có vai trò quyết định tới sự phát triển triển kinh tế, sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và
cơ cấu kinh tế trên địa bàn xã nói riêng C.Mác chỉ rõ: “Khi thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi rộng ra thì quy mô sản xuất cũng tăng lên và sự phân công trong sản xuất cũng biến đổi theo”[2, tr.54] Trong nền sản xuất hàng hóa, người ta chỉ sản xuất và đem ra thị trường bán những sản phẩm mà họ cảm thấy chúng đem lại lợi nhuận thoả đáng Do vậy, thông qua quan hệ cung - cầu trên thị trường, mà tín hiệu của nó chính là giá cả thị trường sẽ tác động đến người sản xuất nên mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất
Xã hội càng phát triển triển, nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng cao
và đa dạng, nó đòi hỏi thị trường phải đáp ứng cho được nhu cầu đó Điều này quy định sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp với xu hướng biến động và phát triển của nhu cầu thị trường Ngoài nhu cầu về lương thực, thì các nhu cầu về thịt, cá, trứng, sữa, rau quả, thức uống… có xu hướng tăng lên, sẽ tác động đến cơ cấu cây trồng (tăng sản lượng lương thực phục vụ chăn nuôi, tăng trồng cây màu lương thực như: khoai lang, đậu nành, bắp…, phát triển các vườn cây
Trang 27Như vậy, bản thân thị trường cũng chứa đựng những mặt tích cực, lẫn tiêu cực và đồng thời tác động đến sản xuất, ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế Để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả, cần phát huy tối đa mặt tích cực của thị trường, đồng thời tìm ra những giải pháp hữu hiệu ổn định sản xuất, hạn chế tối đa mặt tiêu cực của nó, làm được điều đó sản xuất sẽ ổn định và kinh tế không ngừng phát triển
+ Yếu tố khoa học và công nghệ
Ngày nay khoa học và công nghệ trở thành LLSX trực tiếp, nó có vai trò to lớn đối với sự biến đổi của cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nói riêng, đặc biệt là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việc phát triển khoa học và công nghệ cùng với khả năng ứng dụng chúng vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm thay đổi chất lượng, năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nhờ ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học trong sản xuất như tạo ra giống cây, con mới, công nghệ chế biến vào bảo quản nông sản hàng hoá… sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất, thực hiện phân công lại lao động xã hội, tạo thêm nhiều ngành nghề mới, giải quyết việc làm
+ Yếu tố con người (lực lượng lao động)
Nguồn lao động là một bộ phận của dân số, trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm Đây là yếu tố quyết định trong việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, nhưng sự hình thành và biến đổi nhanh hay chậm, hợp lý hay không hợp lý lại do tác động của con người Chính con người tạo
Trang 2819
ra những điều kiện cần thiết thúc đẩy sự hoàn thiện và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế trên địa bàn Do vậy, cơ cấu kinh tế hoàn thiện đến đâu,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hay chậm phụ thuộc vào trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn kỹ thuật của con người
Ở những vùng người lao động có trình độ tay nghề cao, có trình độ canh tác cao hơn thì sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn
và đặc biệt nó sẽ có điều kiện thuận lợi cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Ngoài ra mật độ dân số và số lượng lao động của từng vùng nhiều hay ít cũng ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế Những vùng có mật độ lao động cao sẽ tạo điều kiện để lựa chọn các ngành sản xuất đòi hỏi nhiều lao động Nếu mật độ dân
số, mật độ lao động quá cao đòi hỏi cơ cấu kinh tế phải chuyển đổi nhanh nhằm giải quyết việc làm và khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực khác
Ngược lại, ở những vùng mật độ lao động thấp thì thường chọn những ngành đòi hỏi sử dụng ít lao động Ngoài ra, phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc cũng là yếu tố có ảnh hưởng nhất định đến cơ cấu kinh tế Những nơi có tập quán canh tác lạc hậu (tập quán du canh, du cư; tập quán sản xuất độc canh, nhờ nước trời…) chắc chắn sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất sẽ chậm chạp và gặp khó khăn Ngược lại, ở những nơi có tập quán truyền thống sản xuất tiến bộ thì việc chuyển đổi kinh tế sẽ thuận lợi, dễ dàng và nhanh chống hơn
+ Yếu tố vốn đầu tư và kết cấu hạ tầng
Nếu như con người là yếu tố quyết định, thì vốn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế Trong quá trình chuyển đổi,
cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch theo hướng: phát triển ngành nông nghiệp hiện đại, các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày một tăng lên Việc phát triển và mở rộng các ngành mới đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư khá lớn và sử dụng có hiệu quả cao
Nguồn vốn nhà nước đầu tư để phát triển KT-XH, nguồn tín dụng giành cho phát triển sản xuất nông nghiệp và ngành nghề mới ở là cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lẽ hiện nay thu nhập của cư dân còn thấp, chưa đủ sức tích lũy
Trang 2920
để tự đầu tư cho sự phát triển, mà rất cần sự giúp đỡ của nhà nước Tuy nhiên, nguồn vốn tự tích lũy từ nội bộ ngành nông nghiệp, cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Các công trình hạ tầng chủ yếu: hệ thống đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống dịch vụ, hệ thống các công trình giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, nhà ở của dân cư, kết cấu hạ tầng để phát triển công nghiệp nông thôn Kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng rất lớn tới
sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, chi phối trình
độ kỹ thuật và công nghệ,… do đó nó là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng và chi phối sự hình thành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế
+ Tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
Sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế Bởi lẽ phát triển các khu công nghiệp và đô thị sẽ làm tăng nhu cầu và làm nẩy sinh những nhu cầu mới về các loại sản phẩm, dịch vụ kéo theo sự phân bố lại sản xuất để đáp ứng nhu cầu cung cấp sản phẩm cho sản xuất và đời sống ở đô thị Đây là yếu tố kích thích phát triển nông nghiệp đa dạng và các ngành nghề mới
Chẳng hạn ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi khối lượng nguyên liệu lớn, hay tốc độ xây dựng đô thị sẽ tác động làm phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng (gạch, ngói, cát, đá…) Từ đó kéo theo ngành vận tải, thương nghiệp, dịch
vụ khác cũng phát triển, làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ
Mặt khác, sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị tạo ra khả năng cung cấp
kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến, cùng với đội ngũ trí thức, các chuyên gia kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư ngày càng dồi dào cho khu vực kinh tế, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nhanh hơn và hoàn thiện hơn
+ Bối cảnh quốc tế
Thời đại ngày nay, toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, nó lôi cuốn hầu hết tất cả các nước, nó buộc các nước có nấc thang kinh tế khác nhau phải mở cửa thị trường, tham gia hội nhập Toàn cầu hoá bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của
Trang 3021
LLSX, đặc biệt là sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,
đã tạo bước ngoặt trong sự phát triển LLSX, làm cho phân công lao động xã hội đã vượt biên giới quốc gia, hình thành phân công lao động quốc tế
Toàn cầu hoá, thực chất và trước hết là toàn cầu hoá về kinh tế, nó mở ra cho các quốc gia cơ hội có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài
để tăng tốc cho sự phát triển kinh tế của đất nước Do vậy, hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực là một giải pháp thông minh của các quốc gia, để tham gia vào sự hợp tác và phân công lao động quốc tế, nhằm khai thác tốt các tiềm năng và lợi thế so sánh của đất nước, đồng thời có thể khai thác nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tốt của các nước tiên tiến để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và có hiệu quả
+ Sự tham gia của nhà nước
Nhà nước thông qua chính sách kinh tế vĩ mô của mình tác động vào nền kinh tế, tạo điều kiện để các quy luật của thị trường phát huy tối đa mặt tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, nhằm tạo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao Để đạt được mục tiêu trên, một trong những tác động quan trọng của chính sách kinh tế là tác động vào cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nói riêng, nếu chỉ có sự tác động của các quy luật thị trường thì cơ cấu kinh tế chỉ hình thành và biến đổi một cách tự phát, làm lãng phí việc sử dụng các nguồn lực Do vậy, để cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng về sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhà nước buộc phải can thiệp vào thông qua việc ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đẩy việc hình thành cơ cấu kinh tế một cách hợp lý và có hiệu quả
Các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triển nông nghiệp và kinh tế, cùng với hệ thống pháp luật kinh tế, sẽ tạo môi trường kinh tế thuận lợi và kích thích lợi ích kinh tế để các chủ thể SXKD theo định hướng của nhà nước Hệ thống chính sách kinh tế như: chính sách đất đai, chính sách về vốn tín dụng, chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách khuyến nông, chính sách tiêu thụ sản phẩm, chính sách xoá đói, giảm nghèo… nếu ban hành kịp thời, đồng bộ và phù hợp với
Trang 31ưu tiên hợp lý, mà còn phụ thuộc rất lớn vào những điều kiện tự nhiên và đặc điểm KT-XH của từng vùng
1.3.3 Vai trò của nhà nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ trong nền kinh tế Mối quan hệ này biểu hiện ở các tỷ lệ về lượng giữa các bộ phận trong hệ thống, cũng như tác động qua lại về chất giữa chúng
Quản lý nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình Nhà nước xây dựng và vận hành cơ chế quản lý kinh
tế phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan để tác động vào hệ thống kinh tế làm biến đổi về lượng, thay đổi mối quan hệ
về chất của các bộ phận hợp thành hệ thống kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá
Tuy nhiên, một hệ thống thị trường hoàn chỉnh và đồng bộ lại không phải là
có sẵn và Nhà nước buộc phải tham gia vào việc hình thành, phát triển, hoàn thiện đồng bộ các loại thị trường Như vậy, vai trò của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trước hết chính là vài trò làm “bà đỡ” cho thị trường hình thành
và phát triển Những thành tựu phát triển kinh tế kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế trong những năm vừa qua là một minh chứng rõ nét nhất về vai trò của Nhà nước ta trong việc phát triển nền kinh tế thị trường Vai trò “bà đỡ” cho thị trường ra đời và phát triển của Nhà nước thể hiện ở các nhiệm vụ sau:
- Nhà nước phải sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật để cho thị trường phát triển, xoá bỏ các luật lệ, quy định gây cản trở hoạt động của thị trường, xây dựng hệ thống luật pháp phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường
Trang 3223
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa hệ thống pháp luật vào cuộc sống; quản lý xã hội, quản lý kinh tế bằng pháp luật; nâng cao năng lực điều hành, ổn định kinh tế vĩ mô
-Với tư cách là một chủ thể kinh tế lớn, là một nhà đầu tư và là hộ tiêu dùng lớn nhất quốc gia, các hoạt động đầu tư, chi tiêu của Nhà nước nếu tuân thủ các quy luật của thị trường sẽ góp phần làm lành mạnh, minh bạch các hoạt động kinh tế, đồng thời hướng các chủ thể khác như hộ gia đình, doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường
-Với tư cách là người quản lý toàn bộ đất đai, nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia, Nhà nước cần phải quản lý, phân bổ nguồn lực này một cách hợp lý theo nguyên tắc thị trường; hình thành và hoàn thiện thị trường đất đai, một yếu tố sản xuất không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường
- Doanh nghiệp nhà nước hiện đang nắm giữ một tỷ trọng lớn trong nền kinh
tế cả về giá trị trong GDP, số vốn, và những ngành kinh tế then chốt của quốc gia
Do vậy, không thể phát triển nhanh nền kinh tế thị trường nếu các doanh nghiệp nhà nước này không được quản lý, vận hành theo cơ chế thị trường Nhà nước phải tiến hành đổi mới tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhà nước, để hệ thống doanh nghiệp này hoạt động trong một sân chơi chung với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường Cải cách doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường
ở nước ta
Có thể thấy vai trò của quản lý nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trước hết đó là việc xoá bỏ các rào cản, tạo điều kiện cho thị trường phát triển Nhà nước định hướng bằng chiến lược, qui hoạch, kế hoạch Đây có thể coi là vai trò quan trọng nhất của quản lý nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, không phải chủ thể kinh tế nào cũng luôn có khả năng nắm bắt và hành động theo các quy luật kinh tế thị trường Trước hết, đó là khó khăn trong việc
Trang 3324
tiếp cận và khả năng phân tích thông tin; sau đó là các điều kiện để thực hiện các quyết định kinh doanh khi đã nắm chắc được cơ hội Đây là lý do khách quan cần có vai trò của Nhà nước trong việc định hướng, hỗ trợ, điều tiết các chủ thể kinh tế trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế bền vững
Nhà nước định hướng, hỗ trợ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội Điều tiết, định hướng các hoạt động của các chủ thể kinh tế thông qua chính sách thuế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư…
Hỗ trợ các chủ thể kinh tế trong việc tiếp cận thông tin, phân tích xu hướng, nhu cầu của thị trường; trực tiếp hỗ trợ về vốn, dịch vụ khoa học, kỹ thuật, xúc tiến thương mại, hỗ trợ các hoạt động xuất khẩu…
Trực tiếp hỗ trợ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế như: hệ thống giao thông, thuỷ lợi, cung cấp điện, nước sạch… là một điều kiện quan trọng hàng đầu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá Đây là những hoạt động đầu
tư đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, nhưng lại rất khó thu lợi nhuận trực tiếp, do vậy mặc
dù đã có nhiều giải pháp thu hút vốn đầu tư tư nhân, nhưng cho đến nay và cả trong tương lai, Nhà nước vẫn là người đầu tư chính vào lĩnh vực này
Đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực như : nghiên cứu khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhà nước kiểm soát, hạn chế những mặt trái của cơ chế thị trường, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững Có thể thấy rõ, vai trò này của Nhà nước qua một số nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Bảo vệ môi trường sinh thái Các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế đều tìm cách tối đa hoá lợi nhuận của mình Tuy nhiên, trong chi phí của họ không bao gồm những thiệt hại về môi trường mà các hoạt động sản xuất của họ gây ra cho xã hội
Do vậy, để bảo vệ môi trường, đảm bảo hiệu quả xét trên góc độ toàn xã hội đạt mức cao nhất thì Nhà nước phải có những biện pháp phù hợp để bảo vệ môi trường
Trang 34+ Ban hành các chính sách xã hội, phát triển kinh tế ở những vùng khó khăn
Cơ chế thị trường bao giờ cũng khuyến khích các chủ thể kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở những khu vực thành thị có điều kiện thuận lợi Điều này tất yếu sẽ dẫn tới sự phát triển không đồng đều giữa các vùng trong nước, nới rộng khoảng cách phát triển giữa thành thị với nông thôn đặc biệt là vùng núi, vùng sâu, vùng xa Sự bất bình đẳng này về lâu dài sẽ ảnh hưởng không tốt tới sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Để giải quyết vấn đề này, ngoài công cụ chính sách để khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào những địa bàn khó khăn, thì Nhà nước phải bằng thực lực kinh tế của mình tiến hành đầu tư, phát triển kinh
tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân ở những vùng này
Do đó, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá, Nhà nước phải chủ động phát triển, sử dụng cơ chế thị trường như một công cụ chủ yếu, hữu hiệu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đồng thời luôn có giải pháp hạn chế, sửa chữa các khuyết tật thị trường, cũng như định hướng, kiểm soát nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các công cụ điều hành kinh tế vĩ
mô Những điều này khẳng định vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định của quản
lý nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta
1.4 Nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
1.4.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành
Xét toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quá trình phát triển của ngành nông nghiệp
đã dẫn đến chuyển dịch cơ cầu sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy sự ra đời và phát triển các ngành khác, đồng thời đây cũng là quá trình hội nhập của ngành nông
Trang 3526
nghiệp vào toàn bộ nền kinh tế thông qua các quan hệ thị trường Nội dung cơ bản của chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là quá trình chuyển đổi nền nông nghiệp từ tự túc, tự cấp sang nền SXHH, tức sang sản xuất chuyên canh gắn với nhu cầu của thị trường Quá trình này được chia thành ba giai đoạn sau:
+ Giai đoạn một: Đó là nông nghiệp sinh tồn, quy mô nhỏ của nông dân chiếm ưu thế Cơ cấu nông nghiệp có tính thuần nông với mục tiêu sản xuất tự cung, tự cấp mà chủ yếu là sản xuất lương thực
+ Giai đoạn hai: Đặc trưng của giai đoạn này là quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, nghĩa là ngoài sản xuất lương thực còn phát triển các cây trồng khác và chăn nuôi Một yếu tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
là việc áp dụng công nghệ mới của nông dân đã xuất hiện
+ Giai đoạn ba: Đặc trưng chủ yếu của nền nông nghiệp trong giai đoạn này
là nền nông nghiệp thương mại, chuyên môn hoá với quy mô sản xuất lớn, với các trang trại chuyên môn hoá cao Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với sự chuyển dịch của cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mà điểm bắt đầu là từ sự chuyển dịch của cơ cấu sản xuất nông nghiệp với ba giai đoạn như trên
Ba giai đoạn trên gắn liền với sự phát triển của ngành công nghiệp và quá trình CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân
1.4.2 Chuyển dịch cơ cấu vùng
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra theo quy luật là tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm xuống và tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp tăng lên trong cơ cấu Chính sự phát triển ngày càng đa dạng hoá trong sản xuất nông nghiệp
là cơ sở thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khi năng suất lao động trong ngành nông nghiệp tăng lên, ngoài hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, con người đã tìm kiếm và làm thêm nhiều công việc khác như phát triển nghề thủ công và đến một trình độ nhất định đã tách thành một ngành sản xuất độc lập (tiền thân của công nghiệp nông thôn ngày nay)
Quá trình phát triển của nông nghiệp và công nghiệp, đòi hỏi phải có sự trao đổi lẫn nhau, do đó có một bộ phận dân cư tách khỏi sản xuất chuyển sang lĩnh vực
Trang 3627
lưu thông trao đổi hàng hoá và hình thành ngành thương mại - dịch vụ ở trên địa bàn Như vậy, quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành phi nông nghiệp ở trên địa bàn Đó cũng chính là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời cũng là quá trình CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng: sự phát triển của nông nghiệp chỉ là tiền đề, điều kiện ban đầu cho sự phát triển các ngành phi nông nghiệp, bởi sự phát triển của các ngành phi nông nghiệp còn phụ thuộc và chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như: tính đặc thù của địa phương, điều kiện tự nhiên, KT-XH khác chi phối
Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ hơn, đòi hỏi phải có nhân tố chủ quan của con người tác động vào các nhân tố khách quan đó (cải biến điều kiện tự nhiên, KT-XH) Phát triển các ngành phi nông nghiệp đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng thu nhập, tạo việc làm cho lao động Điều này càng có ý nghĩa hơn với điều kiện của Việt Nam khi bình quân đất nông nghiệp thấp, lao động dư thừa nhiều, công nghiệp đô thị chưa phát triển… Thực tế cho thấy: Việc phát triển các ngành nghề ở địa phương như là một giải pháp hữu hiệu, ngăn chặn làn sóng di cư lao động ra thành thị Song vấn đề cơ bản là cần phải xem xét kỷ khi lựa chọn phương án phát triển các ngành phi nông nghiệp, trong đó có công nghiệp nông thôn phải hết sức thận trọng, nhằm đảm bảo phát triển hài hoà giữa ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái, đó cũng chính là sự phát triển bền vững mà mỗi quốc gia đang hướng tới
1.4.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động
Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, chiếm trên 54% dân số cả nước với 46,6 triệu lao động, nhiều người khi tham gia vào thị trường lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo nhưng kỹ năng còn hạn chế Cơ cấu lao động đang còn bộc lộ nhiều lao động bất hợp lý Cùng với đó là các hạn chế về tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật của người lao động… Tất cả các yếu tố đó khiến thị trường
Trang 3728
lao động tiếp tục phải tiếp nhận một nguồn nhân lực số lượng lớn, chất lượng bất cập Thực tế này đã làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là những ngành công nghiệp kỹ thuật cao, như cơ khí, điện tử…
Trong những năm vừa qua, lao động nước ta đã có sự chuyển dịch đáng kể Những chuyển dịch lớn và chủ yếu là: lao động làm việc trong nông nghiệp giảm, lao động làm việc trong công nghiệp, dịch vụ tăng lên, trình độ văn hóa chuyên môn, kỹ thuật của người lao động tăng lên, dân số và lao động thành thị ngày càng tăng; số người có việc làm ngày càng tăng, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn ngày càng tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ngày càng giảm; cơ cấu lao động bước đầu đã có sự phân bố và chuyển dịch hợp lý lao động giữa các vùng
Bảng 1: Chuyển biến về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Mục tiêu
Trang 38Hai là, số người không có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng giảm, số người qua đào tạo ngày càng tăng
Bảng 2: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (%)
Công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có
Trang 3930
vùng lãnh thổ, có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng Vùng có tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo cao nhất là Đông Nam bộ (37,4%), tiếp đến là đồng bằng Sông Hồng (34,4%), thấp nhất là vùng Tây Bắc (13,5%)
Ba là, dân số và lao động ở thành thị ngày càng tăng Cùng với sự nghiệp CNH - HĐH, đô thị hóa, dân số và lao động ở thành thị ngày càng tăng Nếu như năm 1999, dân số cả nước là 76.327.000 người, trong đó thành thị chiếm 23,5% Năm 2015, dân số cả nước đã tăng lên 83,1 triệu người, trong đó thành thị chiếm 26,95% Xét về cơ cấu của lực lượng lao động theo vùng nông thôn và thành thị cũng có sự chuyển dịch đáng kể Năm 2004, lực lượng lao động ở thành thị là 34.907.000 người, chiếm 18,52% trong tổng số lực lượng lao động Đến 2015, trong tổng số lực lượng lao động cả nước là 44.385.000 người, lao động thành thị chiếm 24,94% và nông thôn chiếm 75,1%
Bốn là, số người có việc làm ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ngày càng giảm Chuyển biến quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu lao động là số người có việc làm ngày càng tăng nhờ nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành, nhiều cấp cùng giải quyết việc làm, bằng những hình thức phong phú và cụ thể Cùng với hiện trạng trên, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ngày càng giảm Nếu như tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị trong giai đoạn 1996-1999 tăng liên tục từ 5,88% lên 7,4% thì trong giai đoạn 2010 - 2015 lại có xu hướng giảm xuống từ 6,42% đến 5,3% Điều đáng quan tâm là tỷ lệ thất nghiệp trong giới trẻ (15 - 24 tuổi) vẫn còn khá cao…
Năm là, lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng, lao động nông nghiệp ngày càng giảm Số người làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân có sự thay đổi đáng kể từ những năm gần đây khi thực hiện CNH-HĐH đất nước Cụ thể là năm 2011, số người làm việc trong các ngành lâm, nông nghiệp chiếm 67,2%, công nghiệp xây dựng chiếm 12,6%, dịch vụ chiếm 20,2% Đến năm
2015 đã tăng lao động công nghiệp xây dựng lên 17,88%, dịch vụ lên 25,33% và nông, lâm nghiệp giảm xuống còn 56,79% Tuy nhiên, đến năm 2015 vẫn còn nhiều vùng có cơ cấu lao động theo ngành nông, lâm nghiệp còn cao như: Tây Bắc
Trang 402015 chiếm 88,26% Lao động làm việc ở khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
đã tăng từ 0,38% năm 1997 lên 1,12% năm 2012 và 1,58% năm 2015
Bảy là, lực lượng lao động đã có sự chuyển dịch giữa 8 vùng lãnh thổ Năm
2015, theo 8 vùng lãnh thổ, đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long là
2 vùng có lực lượng lao động đồng đều chiếm 21,4% lực lượng lao động cả nước; thấp nhất là các vùng Tây Bắc (3,16%), tiếp đến là Tây Nguyên (5,6%), Duyên Hải Nam Trung bộ (8,26%) Lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ đang có xu hướng tăng lực lượng lao động của vùng Đông Nam bộ (vùng này, tăng từ 15,12% năm
2014 lên 15,28% lực lượng lao động cả nước năm 2015) và giảm lực lượng lao động ở các vùng Bắc Trung bộ (từ 12,06% năm 2004 xuống còn 12,02% năm 2015)
và đồng bằng Sông Hồng trong tổng số lực lượng lao động cả nước (từ 22,47% năm
2014 xuống còn 22,41% năm 2015)
1.4.4 Chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Về tổ chức sản xuất phải theo hướng ngành chuyên sâu Chẳng hạn, trong sản xuất nông nghiệp, sau khi tách thành trồng trọt và chăn nuôi thì hướng hoàn thiện của ngành sản xuất nông nghiệp là ngành trồng trọt giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu, còn ngành chăn nuôi tăng dần tỷ trọng, nhưng theo quy luật thì số tuyệt đối của ngành trồng trọt lẫn ngành chăn nuôi đều phải tăng Sự phát triển tiếp theo là việc thay đổi cơ cấu cụ thể trong từng ngành
Trong ngành nông nghiệp ngoài trồng cây lương thực, thực phẩm sẽ xuất hiện thêm những cây trồng phù hợp với điều kiện từng vùng để đáp ứng nhu cầu