Khái niệm và sự cần thiết của hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế Chính sách thơng mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, biện pháp và các công cụ mà các quốc gia sử dụng
Trang 1Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
1.1 Khái niệm và sự cần thiết của hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Chính sách thơng mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, biện pháp và các công cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động ngoại thơng phù hợp với các lợi thế quốc gia nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho nớc mình Khi tham gia
th-ơng mại quốc tế, mỗi nớc vừa phát huy đợc những thế mạnh của mình vừa tận dụng những lợi ích mà hoạt động ngoại thơng đem lại Nhng mặt khác cũng sẽ bộc lộ những mặt yếu kém của nền kinh tế quốc gia đó Do vậy, các quốc gia phải sử dụng một hệ thống các công cụ để điều chỉnh hoạt động ngoại thơng Trong đó phải kể đến việc sử dụng hàng rào phi thuế quan – một công cụ đợc coi là linh hoạt có tác động nhanh, mạnh trớc những tình thế khẩn cấp Sử dụng hàng rào phi thuế quan sao cho hợp lý và hiệu quả sẽ bảo vệ thị trờng nội địa mỗi nớc tránh đợc tác động tiêu cực của hàng hoá ngoại nhập
1.1.1 Khái niệm và phân loại hàng rào phi thuế quan
a Khái niệm
Hiện nay, trên thế giới cha có một khái niệm thống nhất nào về hàng rào phi thuế quan (Non-Tariff Trade Barriers- NTBs) Mỗi một tổ chức, quốc gia lại có quan niệm khác nhau về hàng rào phi thuế quan
Tổ chức Thơng mại Thế giới - WTO quan niệm rằng: “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thơng mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”[16, tr - 13] Theo đó, WTO đã đa ra định nghĩa biện pháp phi thuế quan nh sau: “Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hởng đến sự luân chuyển hàng hoá giữa các n-ớc”[16, tr 13]
Trong khi đó, Phòng Thơng Mại Mỹ (USTR) lại quan niệm: Bảo hộ phi thuế quan là tất cả những quy định đợc ban hành dới dạng văn bản luật hoặc những quy
định, chính sách hoặc các biện pháp khác của nhà nớc, ngoài các biện pháp thuế quan với mục đích bảo vệ hàng sản xuất trong nớc khỏi sự cạnh tranh của hàng ngoại nhập
và thúc đẩy phát triển sản xuất một số ngành kinh tế trọng điểm và kích thích xuất khẩu hoặc vì các mục tiêu kinh tế xã hội khác.[ 15, 19, 21]
Năm 1995, theo nghiên cứu của Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dơng (PECC) đã nhận xét: “ Hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can thiệp vào thơng mại, bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nớc” [ 16, tr 11]
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OEDC) năm 1997 cũng đa ra một định nghĩa khác: “ Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể đợc các quốc gia sử dụng, thông thờng dựa trên cơ sở lựa chọn, nhằm hạn chế nhập khẩu” [ 16, tr 11]
ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế thờng sử dụng khái niệm về hàng rào phi thuế quan của Bộ Thơng Mại: “Ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hởng đến mức
độ và phơng hớng nhập khẩu đợc gọi là các hàng rào phi thuế quan” [4,tr 293]
Trang 2Tóm lại, khái niệm hàng rào phi thuế quan rất phong phú, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu hay mục đích áp dụng mà ngời ta sử dụng khái niệm cho phù hợp
b Phân loại
Có nhiều cách phân loại hàng rào phi thuế quan Chẳng hạn, trong cuốn “Cạnh
tranh trong thơng mại quốc tế ” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, toàn bộ hệ thống
hàng rào phi thuế quan trên thế giới nhìn chung có thể chia thành 5 nhóm sau:
Nhóm1: Những việc Chính phủ thờng tham gia để hạn chế thơng mại
Nhóm 2: Các biện pháp hạn chế nhập khẩu có tính chất hành chính và do hải quan thực hiện
Nhóm 3: Hàng rào có tính chất kỹ thuật đối với thơng mại
Nhóm 4: Hạn chế đặc thù, nh hạn chế cấp phép nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, quy chế về giá trong nớc
Nhóm 5: Lệ phí nhập khẩu, nh tiền ký quỹ, thuế điều tiết nhập khẩu, hạn chế cho vay có tính chất phân biệt đối xử
Hoặc trong cuốn sách “Thơng mại quốc tế và an ninh lơng thực” của Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia năm 2001, hàng rào phi thuế quan đợc phân loại nh sau:
- Hạn ngạch (quota) tức hạn chế số lợng một mặt hàng nhất định có thể cho phép nhập (có khi chỉ quy định đối với một nớc nào đó, chẳng hạn xe ô tô của Nhật bán sang Mỹ)
- Quy định tiêu chuẩn hoặc dán nhãn trên mặt hàng mà nhà sản xuất n ớc ngoài không có tập quán làm nh vậy
- Các chính sách yêu cầu công chức phải mua sắm hàng nội
- Các chiến dịch vận động dân chúng tiêu dùng hàng trong nớc
Bên cạng đó, Bộ Thơng mại Việt Nam cũng đã phân loại hàng rào phi thuế quan bằng cách liệt kê một số các nhóm hàng rào phi thuế quan chính nh sau:
- Các biện pháp hạn chế định lợng (nh cấm, hạn ngạch, giấy phép);
- Các biện pháp quản lý giá (nh trị giá tính thuế quan tối thiểu, giá nhập khẩu tối
đa, phí thay đổi, phụ thu);
- Các biện pháp quản lý đầu mối (nh đầu mối xuất khẩu, nhập khẩu);
- Các biện pháp kỹ thuật (nh quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục xác định sự phù hợp, yêu cầu về nhãn mác, kiểm dịch động thực vật);
- Các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời (tự vệ, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, biện pháp chống bán phá giá);
- Các biện pháp liên quan tới đầu t (thuế suất thuế nhập khẩu phụ thuộc tỷ lệ nội
địa hóa, hạn chế tiếp cận ngoại tệ, yêu cầu xuất khẩu, u đãi gắn với thành tích xuất khẩu);
- Các biện pháp khác (tem thuế, biểu thuế nhập khẩu hay thay đổi, yêu cầu đảm bảo thanh toán, yêu cầu kết hối, thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, mua sắm chính phủ, quy tắc xuất xứ)
1.1.2 Sự cần thiết của bảo hộ phi thuế quan trong xu thế toàn cầu hoá
Trang 3 Bảo hộ phi thuế là cần thiết trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Thực tiễn hoạt động thơng mại quốc tế cho thấy: nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nớc là cần thiết trong bất cứ giai đoạn nào, thời kỳ nào, ngay cả với các quốc gia hùng mạnh nh Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU Ngay từ thời Chủ nghĩa trọng thơng, vai trò của Nhà nớc đã đợc đề cao thông qua việc việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan nh quản lý lợng vàng, ban hành các quy định nhằm khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu Trong suốt những thế kỷ qua, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp thuế quan tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc, các quốc gia cũng áp dụng nhiều biện pháp bảo hộ phi thuế nh hạn chế nhập khẩu, quản lý ngoại hối để bảo vệ sản xuất trong nớc
Bắt đầu từ giữa thế kỷ 20, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa lan nhanh, các quốc gia đều thấy đợc lợi ích và tầm quan trọng của xu thế này và hầu nh đều chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Hàng loạt các tổ chức kinh tế quốc tế ra đời nh Cộng đồng kinh
tế chung Châu Âu (EU), Tổ chức thơng mại thế giới (WTO), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN Trong đó, WTO là tổ chức có quy mô lớn nhất, có tầm ảnh hởng rộng nhất WTO khuyến khích tự do hóa thơng mại quốc tế và yêu cầu dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan Về căn bản, so với giai đoạn trớc, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan đã
đ-ợc cắt giảm rất nhiều, nhng do những ích lợi và hiệu quả của biện pháp này mà hiện nay nó vẫn đợc tất cả các quốc gia trên thế giới áp dụng dới hình thức này hay hình thức khác
Do trình độ phát triển giữa các quốc gia trên thế giới không đồng đều, chất lợng hàng hóa, dịch vụ và giá cả giữa nớc này với nớc khác có sự khác biệt lớn Vì vậy, các nớc thờng có xu hớng phân công lao động để tập trung nguồn lực sản xuất những mặt hàng mà mình có lợi thế hơn Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng dễ dàng chấp nhận từ bỏ một mặt hàng đang có u thế hoặc có tiềm năng phát triển để chuyển sang sản xuất một mặt hàng khác, chính điều này làm phát sinh nhu cầu bảo hộ Ví dụ: Trung Quốc duy trì mức bảo hộ rất cao cho ngành công nghiệp ô tô, mặc dù họ không
có lợi thế để sản xuất mặt hàng này nh Hoa Kỳ và Nhật Bản, ngợc lại Nhật Bản lại duy trì bảo hộ cao với ngành nông nghiệp Thực tế này có thể do nhiều nguyên nhân:
Thứ nhất, có thị trờng quốc tế tức là có sự trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia.
Giả sử một quốc gia không có lợi thế để sản xuất một mặt hàng nào đó, nếu để nó cạnh trạnh tự do thì lẽ dĩ nhiên là sẽ bị đào thải Trong một số trờng hợp, các quốc gia này vẫn duy trì sản xuất mặt hàng đó, do những vấn đề nhạy cảm hay mục đích kinh tế – xã hội khác, làm phát sinh nhu cầu bảo hộ
Thứ hai, về thực tiễn, ở tất cả các quốc gia tăng trởng cao nhờ xuất khẩu, dù đã
gần đạt tới tỷ xuất tự do hoá hoàn toàn, họ vẫn thực hiện một số biện pháp bảo hộ thị trờng trong nớc Rõ ràng vấn đề bảo hộ thị trờng trong nớc bằng biện pháp phi thuế ở các quốc gia này vẫn tồn tại, mặc dù họ là ngời khởi xớng và dẫn dắt việc cắt giảm bảo
hộ và tiến tới tự do hoá hoàn toàn thơng mại thế giới
Ví dụ: Dù là một nền kinh tế mạnh nhất thế giới, khởi xớng cho xu thế tự do hóa thơng mại và có tầm ảnh hởng lớn trong WTO, Hoa Kỳ vẫn áp dụng các biện pháp bảo
Trang 4hộ sản xuất trong nớc, dù chỉ với một ngành sản xuất nhỏ nh cá da trơn (Vụ kiện bán phá giá cá tra - cá ba sa của Việt Nam vào thị trờng Hoa Kỳ)
Thứ ba, vấn đề bảo hộ mậu dịch càng đặc biệt đợc chú trọng ở những quốc gia
đang phát triển, khi mà lợi thế cạnh tranh cha cao và nhiều ngành sản xuất trong nớc còn non trẻ Ví dụ: Việt Nam đang nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế, nhng hội nhập thì lại phải đối mặt với những thách thức lớn trớc sự xâm nhập của hàng hoá nớc ngoài
Có thể nói, các ngành sản xuất của Việt Nam có rất ít lợi thế cạnh tranh (ngay cả với một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nh gạo, cà phê ), các mặt hàng khác nh
điện tử, sản phẩm có hàm lợng khoa học kỹ thuật cao, nếu tự do cạnh tranh với hàng nhập ngoại thì sẽ bị đánh bại ngay trên thị trờng nội địa Do đó, với những ngành sản xuất cần đợc chú trọng có liên quan mật thiết tới sự phát triển của nền kinh tế thì cần phải có sự bảo hộ hợp lý và thích đáng để có thể đủ sức đứng vững và cạnh tranh trên thị trờng quốc tế
Tóm lại, chính sách thơng mại tự do có mục tiêu là thúc đẩy chuyên môn hóa quốc tế, tối đa hóa lợi ích kinh tế đối với các nền kinh tế nhng chính sách tự do thơng mại không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích nh vậy Thực tiễn cho thấy, xu thế tự do hóa thơng mại luôn song hành cùng với nhu cầu bảo hộ trong những điều kiện nhất
định Tự do hóa không phải là một khái niệm mang tính ‘tuyệt đối’ Do mỗi quốc gia
có trình độ phát triển khác nhau, xuất phát điểm với quá trình hội nhập khác nhau, mục tiêu kinh tế, chính trị không đồng nhất nên việc áp dụng các chính sách thơng mại với nội dung bảo hộ hay tự do hóa là khác nhau Nhu cầu bảo hộ không chỉ với những nớc đang phát triển mà ngay cả đối với những nớc phát triển
Bảo hộ phi thuế là cần thiết xét trên yếu tố cạnh tranh quốc gia và phân phối nguồn lực
Do vị thế của các quốc gia trên thế giới là không giống nhau và lợi thế so sánh cũng khác nhau, nên trong quá trình tự do hóa thơng mại, các quốc gia thờng nảy sinh mâu thuẫn về lợi ích Điều này làm cho các chính sách tự do hóa thơng mại bị cản trở, chủ yếu xuất phát từ sự kém hiệu quả trong phân phối nguồn lực và thất bại của thị tr -ờng trong nớc Giả sử dới tác động của tự do hóa thơng mại, khu vực sản xuất có hiệu quả nh ngành điện tử có cơ hội mở rộng quy mô sản xuất; nhng đồng thời, các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ giảm dần quy mô nh ngành mía đờng Tuy nhiên, nhà đầu t không thể chuyển hớng kinh doanh từ ngành mía đờng sang các ngành khác (ví dụ
điện tử) và ngời lao động trong ngành mía không thể sang làm trong ngành điện tử, nên sự chuyển đổi vốn đầu t và lao động không thể diễn ra một cách bình thờng mà ngợc lại đã làm tăng đội ngũ thất nghiệp, bán thất nghiệp và gây đình trệ sản xuất, kinh doanh
Lợi ích của tự do thơng mại là rõ ràng; tuy nhiên, thực tế quá trình chuyển đổi sản xuất và phân phối lại nguồn lực nhằm đáp ứng quá trình chuyên môn hóa ở các quốc gia lại không xảy ra dễ dàng Điều này làm phát sinh nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nớc của các quốc gia trớc sức ép của tự do hóa thơng mại
1.1.3 Mục đích của bảo hộ phí thuế quan
Trang 5Mục đích của bảo hộ phi thuế quan trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đối với các quốc gia đang phát triển là bảo vệ các ngành sản xuất trong nớc trớc sự cạnh tranh của hàng hóa nớc ngoài nhằm phát triển sản xuất, khuyến khích xuất khẩu và tạo
đà tăng trởng trớc sức ép của toàn cầu hóa
Bởi vậy, không nên hiểu các biện pháp phi thuế nh là một rào cản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thơng mại Các NTB có thể bao gồm các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nh các biện pháp tài trợ hoặc trợ giá hoặc các biện pháp hạn chế nhập khẩu đợc quốc tế công nhận nh sử dụng các quy định về kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ
Mục đích của bảo hộ là để thúc đẩy phát triển sản xuất, không thể bảo hộ tràn lan, mà phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Chỉ bảo hộ những mặt hàng mà sản xuất trong nớc đáp ứng nhu cầu tăng trởng kinh tế, có tiềm năng phát triển trong tơng lai, tạo đợc nguồn thu ngân sách và giải quyết lao động
- Việc bảo hộ đó đợc thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, kể cả các xí nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài
- Chính sách bảo hộ đợc quy định trong từng trờng hợp, từng thời kỳ và không bảo hộ vĩnh viễn cho bất kỳ hàng hóa nào
- Bảo hộ thị trờng trong nớc phải phù hợp với tiến trình tự do hoá thơng mại và các hiệp định quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết
Vấn đề bảo hộ nh thế nào cho phù hợp với các quy định và thông lệ của các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế mà Việt Nam đã tham gia (AFTA, APEC ) hay đang xúc tiến quá trình gia nhập (WTO) đòi hỏi phải có những bớc đi thận trọng và xác định những lộ trình bảo hộ hợp lý để phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, chuyên môn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
1.1.4 Ưu điểm, nhợc điểm của hàng rào phi thuế quan
a Ưu điểm
Một là, hàng rào phi thuế quan rất phong phú về hình thức: nhiều biện pháp phi thuế khác nhau có thể đáp ứng cùng một mục tiêu, áp dụng cho cùng một mặt hàng.
Các biện pháp phi thuế trong thực tế rất phong phú về hình thức nên tác động, khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rất đa dạng Do đó, nếu sử dụng biện pháp phi thuế để phục vụ một mục tiêu đề ra thì có thể có nhiều sự lựa chọn, kết hợp nhiều biện pháp hơn mà không bị gò bó trong khuôn khổ một công cụ duy nhất
nh thuế quan Ví dụ: để nhằm hạn chế nhập khẩu phân bón, có thể đồng thời áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu không tự động, đầu mối nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu
Hai là, hàng rào phi thuế quan đáp ứng nhiều mục tiêu
Mỗi quốc gia thờng theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thơng mại của mình Các mục tiêu đó có thể là: 1) Bảo hộ sản xuất trong nớc, khuyến khích phát triển một số ngành nghề; 2) Bảo vệ an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật, môi
Trang 6tr-ờng; 3) Hạn chế tiêu dùng; 4) Đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; 5) Bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, v.v
Bằng một biện pháp phi thuế có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu mà đem lại hiệu quả cao Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa
đảm bảo an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nớc một cách hợp pháp Hay cấp phép không tự động đối với dợc phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dợc nội địa, dành đặc quyền cho một số đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đối với sức khỏe con ngời
Ba là, việc bảo hộ sản xuất trong nớc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
bằng hàng rào phi thuế quan tơng đối thuận lợi vì nhiều biện pháp phi thuế quan cha bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ Hiện nay, các hiệp định của WTO chỉ mới
điều chỉnh việc sử dụng một số biện pháp phi thuế nhất định Trong đó, tất cả các biện pháp phi thuế hạn chế định lợng1 đều không đợc phép áp dụng, trừ trờng hợp ngoại lệ Một số biện pháp phi thuế khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nớc nhng vẫn đợc WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan Chẳng hạn nh tiêu chuẩn kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bán phá giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, v.v…
b Nhợc điểm
Bên cạnh những lợi thế mà hàng rào phi thuế quan mang lại thì các biện pháp này vẫn còn một số nhợc điểm
Thứ nhất là tính mập mờ và khó dự đoán Hiện nay, do hình thức thể hiện của
các biện pháp phi thuế quan rất phong phú nên nhiều biện pháp cha chịu sự điều chỉnh của các quy tắc thơng mại Cho nên, dù tác động của chúng có thể lớn nhng lại là tác
động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác Việc dự đoán một mặt hàng nào đó có áp dụng các biện pháp phi thuế quan hay không là rất khó, vì thực tế chúng thờng đợc vận dụng trên cơ sở dự đoán chủ quan, đôi khi tuỳ tiện của nhà quản lí về sản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong nớc Trong bối cảnh kinh tế phức tạp và thờng xuyên biến động nh hiện nay, việc đa ra một dự đoán tơng đối chính xác
là rất khó khăn Hậu quả của việc dự đoán không chính xác sẽ rất nghiêm trọng chẳng hạn nh gây ra thiếu hụt trầm trọng nguồn cung cấp hàng hóa khi sản xuất trong nớc có nhu cầu cao hay đang trong thời vụ khiến giá cả tăng vọt (sốt nóng) hoặc trái lại dẫn
đến tình trạng cung vợt cầu quá lớn trên thị trờng gây ra tình trạng sụt giá (sốt lạnh) Các biện pháp phi thuế quan đôi khi cũng làm nhiễu tín hiệu của thị trờng mà ngời sản xuất và ngời tiêu dùng trong nớc thờng dựa vào đó để ra quyết định Tín hiệu này chính là giá thị trờng, một khi bị làm sai lệch, nó sẽ phản ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh thực sự, chỉ dẫn sai việc phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế Do đó, khả năng xây dựng kế hoạch đầu t, sản xuất, kinh doanh hiệu quả trong trung hạn và dài hạn của ngời sản xuất bị hạn chế
động v.v gây cản trở, bóp méo thơng mại và thờng bị coi là các Hàng rào phi thuế (NTBs).
Trang 7Hiệu quả mà các biện pháp phi thuế quan đem lại thờng rất lớn nhng lại khó có thể đợc lợng hoá rõ ràng nh tác động của thuế quan Nếu mức bảo hộ thông qua thuế quan đối với một sản phẩm có thể xác định đợc một cách dễ dàng thông qua mức thuế suất đánh lên sản phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua biện pháp phi thuế quan là tổng mức bảo hộ của các biện pháp phi thuế quan riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm Bản thân mức độ bảo hộ của mỗi biện pháp phi thuế quan cũng chỉ có thể đợc
-ớc lợng một cách tơng đối chứ không thể lợng hoá rõ ràng nh biện pháp thuế quan Cũng vì mức độ bảo hộ của các biện pháp phi thuế không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ trình tự do hoá thơng mại nh với bảo hộ chỉ bằng thuế quan
Thứ hai là hàng rào phi thuế quan gây khó khăn và tốn kém trong quản lý Vì
khó dự đoán nên khi sử dụng các hàng rào phi thuế, nhà nớc thờng tiêu tốn nhân lực và phải trả một khoản chi phí khá cao để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát Không chỉ có vậy, một số NTBs lại thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây ra khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách Một khó khăn khác trong việc quản lý các NTB đó là sự xuất hiện của những NTB bị động Những NTB bị động đó chính là sự quan liêu trong bộ máy quản lý thơng mại, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không đợc công bố công khai,v.v… Vẫn biết rằng những NTB này
là do sự chủ quan của con ngời nhng đó lại đang là một thực tế mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt và tìm cách khắc phục Tuy nhiên, để khắc phục đ ợc tình trạng này đòi hỏi phải có sự phối hợp thực hiện đồng bộ của các cấp, bộ ngành có liên quan
Thứ ba, việc sử dụng hàng rào phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nớc không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà nớc mà th-ờng chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc một số ngành nhất định đợc bảo hộ
hoặc đợc hởng u đãi, đặc quyền nh đợc phân bổ hạn ngạch, đợc chỉ định làm đầu mối
nhập khẩu Chính điều này đã dẫn đến sự mất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế của mỗi quốc gia
1.2 Quy định của WTO về hàng rào phi thuế quan
1.2.1 WTO và tầm quan trọng của WTO với tự do hóa thơng mại thế giới
WTO (The World Trade Organization - Tổ chức Thơng mại thế giới) là một thể chế pháp lý của hệ thống thơng mại đa phơng, nó đa ra những nghĩa vụ có tính nguyên tắc để chính phủ các nớc thiết lập khuôn khổ các luật lệ và quy định thơng mại trong nớc phù hợp với thơng mại thế giới WTO có thể nói là tổ chức kinh tế quốc tế lớn nhất
mà tầm ảnh hởng của nó bao trùm và rộng khắp Hiện nay, WTO có 147 thành viên, các quy tắc của nó điều chỉnh phần lớn khối lợng hàng hoá giao dịch trên thị trờng thế giới ảnh hởng của WTO tới thơng mại thế giới là tích cực, tạo ra một quy tắc chung về cơ bản là thông thoáng để các nớc có thể điều chỉnh quan hệ thơng mại với nhau Khi đã tham gia vào WTO, các quốc gia phải dành cho nhau quy chế đãi ngộ tối huệ quốc MFN, tức là đối xử nh nhau theo một quy định thống nhất Với các nớc cha phải là thành viên của WTO thì phải đàm phán song phơng để đợc hởng MFN với từng quốc gia và có thể phải chịu các quy định, trừng phạt thơng mại vô lý, đơn phơng từ
Trang 8các quốc gia khác áp đặt (quy chế cấm vận của Hoa Kỳ với Cuba, Iraq ) Thực tế cho thấy, khi cha phải là thành viên của WTO, Việt Nam cũng gặp phải rất nhiều khó khăn trong buôn bán, làm ăn với các nớc và cha có chỗ dựa để viện dẫn và bảo vệ quyền lợi
Ví dụ, năm 2000, Việt Nam bị Trung Quốc áp dụng hạn ngạch đơn phơng về nhập khẩu hoa quả tơi gây thiệt hại không nhỏ
Gia nhập vào WTO, các quốc gia đang phát triển và có vị thế còn thấp trên trờng quốc tế nh Việt Nam mới có thể yên tâm về vị trí của mình trong thơng mại quốc tế và mới có điều kiện để ổn định xây dựng sản xuất trong nớc hớng theo mô hình toàn cầu hóa, chuyên môn hóa Gia nhập vào WTO tức là khẳng định tinh thần hợp tác, cởi mở, mong muốn tham gia vào xu thế hội nhập chung Ngoài ra, chúng ta còn có căn cứ để bảo vệ lợi ích và quyền lợi của mình, tránh đợc sự o ép của các quốc gia mạnh hơn Bởi vậy, mục tiêu gia nhập vào WTO là một chủ trơng đúng đắn của Đảng và Nhà nớc nhằm đa kinh tế đất nớc tiến lên
Tuy nhiên, các quy tắc của WTO tơng đối khắt khe và không phải quốc gia nào cũng áp dụng dễ dàng, nhất là với những nền kinh tế mà năng lực cạnh tranh còn thấp
nh Việt Nam Để đạt mục tiêu gia nhập tổ chức này, chúng ta không còn cách nào khác là phải xây dựng ngay hệ thống pháp lý điều chỉnh các hành vi thơng mại quốc tế phù hợp với các quy định của WTO Các biện pháp bảo hộ sản xuất trớc kia không còn phù hợp phải loại bỏ và thay vào đó là sử dụng các biện pháp khác phù hợp với các quy định và chuẩn mực của WTO
Vấn đề này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ về những bất cập trong mối quan hệ giữa bảo hộ và hội nhập; kinh nghiệm xử lý của các quốc gia; cũng nh hệ thống pháp lý
điều chỉnh các nội dung này của WTO
1.2.2 Quy định về sử dụng Hạn ngạch
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nớc về số lợng hoặc giá trị của một mặt hàng nào đó đợc nhập khẩu từ một thị trờng nào đó trong một thời gian nhất định (thờng là 1 năm) Hạn ngạch nhập khẩu là một loại rào cản thơng mại ở mức độ thấp Tác động của nó không đợc minh bạch, thu nhập hay lợi tô sẽ rơi vào tay những ngời nắm giữ hạn ngạch u đãi, mức độ bảo hộ không rõ ràng và sự cách ly khỏi thị trờng có thể ở mức tuyệt đối Tuy nhiên, với đặc điểm riêng của mình, hạn ngạch nhập khẩu khi
đợc áp dụng sẽ có vai trò nhất định trong chính sách bảo hộ thông qua quản lý nhập khẩu của một quốc gia
Hạn ngạch nhập khẩu làm cho số lợng nhập khẩu của hàng hoá chịu sự quản lý nhỏ hơn lợng nhập khẩu trong điều kiện tự do thơng mại, nên giá của hàng hoá này trên thị trờng nội địa sẽ cao hơn mức giá thế giới Nhờ tác động này, hạn ngạch nhập khẩu có thể đợc sử dụng nh một biện pháp của chính sách quản lý xuất nhập khẩu phục vụ mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nớc Bên cạnh đó, khi sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, Chính phủ sẽ xác định trớc đợc khối lợng nhập khẩu và có thể tác động đến hoạt
động xuất khẩu của một hay một số quốc gia khác Vì những đặc điểm này, hạn ngạch còn có thể đợc dùng nh là biện pháp giúp sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ, thực hiện các cam kết của Chính phủ với nớc ngoài và là công cụ để điều tiết hoạt động nhập khẩu
Trang 9WTO không cho phép các thành viên của mình áp dụng biện pháp hạn ngạch Tuy nhiên, trong một số trờng hợp đặc biệt, biện pháp hạn ngạch có thể đợc sử dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử Đó là những trờng hợp sau:
áp dụng biện pháp hạn ngạch để cấm hoặc hạn chế xuất khẩu tạm thời nhằm ngăn ngừa hay khắc phục sự khan hiếm trầm trọng về lơng thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác
áp dụng biện pháp hạn ngạch (cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu) để thực thi các tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại (classification), phân cấp (grading) hay tiếp thị các sản phẩm trong thơng mại quốc tế
áp dụng hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu đối với mọi sản phẩm nông, ng nghiệp Trong trờng hợp này, nớc thành viên phải công bố tổng khối lợng hay tổng trị giá của sản phẩm đợc phép nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định trong tơng lai và mọi thay đổi về số lợng hay trị giá nói trên
Các nớc thành viên WTO có thể áp dụng biện pháp hạn ngạch để hạn chế số l -ợng hay trị giá hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán của nớc mình Các hạn chế nhập khẩu đợc định ra, duy trì hay mở rộng về mục đích này không đợc vợt quá mức cần thiết là “để ngăn ngừa sự đe doạ sắp xảy ra hay để chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ, hoặc trong tr -ờng hợp một nớc thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để nâng dự trữ tiền tệ lên một mức hợp lý”.[10, tr 97]
Điều đó có nghĩa là, các nớc thành viên có thể hạn chế số lợng hoặc giá trị hàng hoá nhập khẩu, nhng mức độ hạn chế không đợc vợt quá mức cần thiết để đề phòng hoặc ngăn chặn nguy cơ dự trữ tiền tệ giảm mạnh Đối với những nớc có dự trữ tiền quá mỏng thì mức độ hạn chế không đợc vợt quá mức cần thiết để tăng dự trữ một cách hợp lý Đồng thời, WTO cũng yêu cầu các quốc gia thành viên khi thi hành chính sách trong nớc phải có nghĩa vụ cân đối thu chi quốc tế lâu dài, tránh sử dụng tài nguyên một cách phi kinh tế, phải tận dụng mọi khả năng để mở rộng thơng mại quốc tế
Các nớc đang phát triển có thể áp dụng các biện pháp hạn chế số lợng trong
ch-ơng trình trợ giúp của Chính phủ để thúc đẩy kinh tế phát triển, hạn chế để bảo vệ thị trờng và một số ngành công nghiệp cụ thể Sự hỗ trợ của chính phủ, đặc biệt là chính phủ các nớc có mức sống thấp, mức tăng trởng thấp, sẽ giúp ích cho việc thực hiện các tôn chỉ của WTO Vì vậy, WTO cho phép các nớc này đợc áp dụng các biện pháp hạn chế số lợng hoặc giá trị hàng nhập khẩu để kiểm soát mức nhập khẩu, nhằm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế của nớc mình
Ngoài ra, WTO còn quy định các ngoại lệ chung đợc áp dụng cho việc hạn chế
số lợng hàng hoá xuất nhập khẩu, khi chính phủ thấy cần thiết để bảo vệ: đạo đức xã hội, con ngời và động thực vật; tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ; tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và liên quan đến xuất nhập khẩu vàng và bạc, với điều kiện là các biện pháp này phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng nội địa liên quan đến chúng
Trang 10Tuy nhiên, WTO cũng yêu cầu các quốc gia thành viên khi áp dụng biện pháp hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu phải cam kết tránh gây ra tổn thất không cần thiết cho quyền lợi kinh tế và thơng mại của các nớc thành viên khác Khi tình hình kinh tế trong nớc đã đợc cải thiện, WTO yêu cầu các quốc gia thành viên phải dần dần nới lỏng các hạn chế, chỉ duy trì các hạn chế đó ở mức độ cần thiết, còn khi tình hình kinh
tế trong nớc thay đổi theo chiều hớng tốt không cần thiết phải duy trì những hạn chế
đó nữa thì phải loại bỏ các hạn chế đó ngay lập tức
Bên cạnh đó, WTO cũng quy định về việc cấm phân biệt đối xử khi áp dụng hạn ngạch Việc cấm đoán hay hạn chế đợc thực hiện đối với việc nhập khẩu những sản phẩm cùng loại của tất cả các nớc hoặc đối với việc xuất khẩu những sản phẩm cùng loại sang bất kỳ nớc nào
Khi hạn chế việc nhập khẩu của sản phẩm nào đó, các nớc thành viên phải tận dụng mọi khả năng để việc phân phối những sản phẩm ấy phải sát với mức mà các nớc thành viên khác dự tính có thể xuất khẩu đợc khi không có các biện pháp hạn chế số l-ợng
Cụ thể WTO yêu cầu các quốc gia nh sau:
Khi có thể tiến hành đợc, phải xác định hạn ngạch nhập khẩu và công bố hạn ngạch này trong từng thời gian cụ thể và những thay đổi nếu có
Nếu không thể xác định hạn ngạch đợc thì có thể dùng giấy phép nhập khẩu không có hạn ngạch hoặc giấy chứng nhận nhập khẩu để hạn chế
Nếu áp dụng hạn ngạch cho từng nớc thì phải đạt đợc thoả thuận về phân phối hạn ngạch với các nớc thành viên có quan hệ lợi ích lớn với nớc mình
Ngoài các quy định chung về hạn ngạch nh trên, đối với các sản phẩm nông nghiệp (quy định tại Điều IV Hiệp định Nông nghiệp của WTO) có thể áp dụng một hình thức hạn ngạch đặc biệt gọi là Hạn ngạch thuế quan (Tariff Rate Quota - TRQ)
1.2.3 Quy định về sử dụng giấy phép nhập khẩu
a Những quy định chung của WTO về việc cấp giấy phép nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu là văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về quản lý xuất nhập khẩu cấp cho nhà nhập khẩu để họ có quyền nhập khẩu hàng hoá
WTO quy định việc cấp phép nhập khẩu phải đơn giản, rõ ràng và dễ dự đoán Các chính phủ phải công bố thông tin đầy đủ cho các nhà kinh doanh biết giấy phép
đ-ợc cấp nh thế nào và căn cứ để cấp Khi đặt ra các thủ tục cấp phép nhập khẩu mới hay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những quy định cụ thể cho WTO Việc xét đơn nhập khẩu cũng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ Điều 1, Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu quy định chi tiết nh sau:
“Cấp phép nhập khẩu đợc hiểu là các thủ tục hành chính đợc sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, yêu cầu phải nộp đơn xin nhập khẩu hoặc các loại giấy tờ khác (không liên quan đến mục đích Hải quan) cho các cơ quan hành chính thích hợp nh là điều kiện tiên quyết để đợc phép nhập khẩu” [10, tr 106]
Các thành viên của WTO phải đảm bảo rằng những thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép nhận khẩu không đợc bóp méo thơng mại do việc sử dụng không thích hợp các thủ tục đó Các quy định đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải đợc áp