1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam

26 569 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quốc tế học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 54,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở xây dựng giải pháp Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam đang đứng trớc một trong những tháchthức là phải sử dụng chính sách thuế và phi thuế quan nh thế nào để không vi phạmnhững đi

Trang 1

Giải pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO

3.1 Cơ sở xây dựng giải pháp

Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam đang đứng trớc một trong những tháchthức là phải sử dụng chính sách thuế và phi thuế quan nh thế nào để không vi phạmnhững điều khoản mà Việt Nam đã cam kết trong lộ trình tự do hoá thơng mại và đầut; đồng thời vẫn bảo vệ đợc nền sản xuất trong nớc Trong thời gian tới, Việt Namcần tiếp tục hoàn thiện hệ thống phi thuế quan cho phù hợp với lộ trình tự do hoá th-

ơng mại, tiến tới trở thành thành viên chính thức của WTO Do đó, việc xây dựng cácgiải pháp hoàn thiện hàng rào phi thuế quan sao cho thực sự có hiệu quả, cần phảidựa trên một số căn cứ sau:

3.1.1 Phân tích các nhân tố ảnh hởng tới việc áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế

ở Việt Nam trong thời gian tới

a Bối cảnh nền kinh tế thế giới

Trong vòng cha đầy một thập kỷ qua, bối cảnh quốc tế đã có những thay đổihết sức nhanh chóng Nền kinh tế thế giới đang đợc quốc tế hoá mạnh mẽ với sự hìnhthành mạng lới sản xuất toàn cầu, sự lu chuyển vốn, công nghệ, hàng hoá dịch vụ,thông tin có ảnh hởng rất lớn đến thể chế thơng mại đa phơng, ở từng khu vực và củamỗi quốc gia

Xu hớng toàn cầu hoá và khu vực hoá đồng nghĩa với việc không gian kinh tế

và thơng mại ngày càng đợc mở rộng và biên giới kinh tế giữa các quốc gia hầu nh

mờ nhạt dần Các quy chế, các nguyên tắc để tiến tới tự do hoá thơng mại, tự do đầu

t ngày càng đợc thực hiện rộng rãi, số lợng thành viên xin gia nhập WTO ngày càng

đông đảo Những yếu tố khác nh sự hình thành hệ thống tài chính toàn cầu, hệ thốnggiao thông vận tải toàn cầu và sự phát triển mạng lới thông tin toàn cầu cho phép rấtnhiều công ty xâm nhập vào khu vực thị trờng mà trớc đó họ không hề biết tới vàkhông có khả năng tiếp thị

Cùng với xu hớng toàn cầu hoá kinh tế, xu hớng khu vực hoá cũng đang chiphối mạnh mẽ các chính sách phát triển quốc gia Dờng nh xu hớng khu vực hoá có

vẻ tác động ngợc chiều với xu thế toàn cầu hoá kinh tế Bởi các nền kinh tế khu vực

và các thị trờng khu vực dù đang phát triển mạnh, song đã và đang tạo ra một sốhàng rào bảo hộ mậu dịch và những hạn chế buôn bán của cả khu vực đó với hoạt

động thơng mại ngoài khu vực

Xu thế toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi các quốc gia phải chủ động hội nhập bằngcách thực hiện các cơ chế mở cửa thông thoáng với hàng hóa nớc ngoài và hạn chếtối đa các rào cản Tuy nhiên đối với một số nớc, bên cạnh phải tham gia tích cực vào

xu thế toàn cầu hoá cũng không thể không tính đến nhu cầu bảo hộ sản xuất trong

n-ớc, đặc biệt là các ngành kinh tế trọng điểm có ảnh hởng đến xã hội, đến ngời dân.Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, các quốc gia thờng phải tuân thủ các

Trang 2

luật chơi chung đã đợc đại đa số chấp nhận Do đó, mục tiêu vừa hội nhập kinh tếquốc tế vừa tiếp tục chủ trơng thực hiện chế độ bảo hộ khó có thể đạt đợc, điều cốtyếu là chọn giải pháp nào để có thể dung hoà mâu thuẫn này.

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ cấu ngành của các nền kinh tếquốc gia và quốc tế chuyển dịch theo hớng: thu hẹp và mất đi những ngành khaithác, chế biến truyền thống và xuất hiện những ngành khai thác, chế biến nguyênliệu mới thích hợp Các ngành sản xuất truyền thống đợc chuyển thành những ngànhsản xuất kỹ thuật cao và hàng loạt ngành sản xuất mới đợc xuất hiện với trình độphát triển ngày càng cao hơn Các ngành dịch vụ và sản phẩm có hàm lợng trí tuệcao sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất và đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong nền kinh tếquốc gia và quốc tế Đây là ảnh hởng tất yếu từ hiệu ứng của cuộc cách mạng khoahọc công nghệ trong "làn sóng thứ 3" đang xảy ra hết sức mạnh mẽ cùng với xu thếtoàn cầu hoá

b Bối cảnh chung về kinh tế trong nớc

Bớc sang thế kỷ 21, các nớc trên thế giới đều dồn sức vào phát triển kinh tế.Kinh tế đã trở thành vấn đề cốt lõi trong mọi hoạt động Việt Nam cũng nh các quốcgia khác đều nhận thấy rằng, muốn hội nhập với thế giới thì cần phải đặt mục tiêuphát triển kinh tế lên hàng đầu; mà muốn phát triển kinh tế không có con đờng nàokhác là phải chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Thực tiễn đã chothấy, nhờ có chủ động thực hiện hội nhập kinh tế, phù hợp với xu hớng toàn cầu vàkhu vực mà không ít quốc gia đã thu đợc những kết quả rất tốt (Malaysia,Singapore ) Họ đã “đi tắt, đón đầu” để đuổi kịp các nớc phát triển trong một thờigian không dài, điều này đồng nghĩa với Việt Nam cần có những cơ chế tơng tựnhằm tận dụng lợi thế tạo ra sự phát triển "rút ngắn"

Để đảm bảo kinh tế phát triển, Việt Nam phải tiếp tục thực hiện chính sách mởcửa về kinh tế, chính sách này sẽ tạo điều kiện phát huy cao độ sự đóng góp của cácnguồn lực trong nớc, của các thành phần kinh tế Một nền kinh tế mở cần có chínhsách kinh tế nói chung và ngoại thơng nói riêng phù hợp với mục tiêu phát triển kinh

tế, khơi dậy đợc sức mạnh nội lực của các thành phần kinh tế, thu hút nguồn vốn đầu

t cả bên trong lẫn bên ngoài

Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc với

xu thế toàn cầu hoá, đây là điều kiện thuận lợi giúp Việt Nam lựa chọn phát triểnnhững ngành có lợi thế so sánh để xuất khẩu, tăng tích luỹ ngoại tệ phục vụ sựnghiệp phát triển đất nớc Xu thế này là cơ hội để Việt Nam lựa chọn đối tác làm ăn,lựa chọn thị trờng xuất - nhập khẩu hàng hoá, du nhập công nghệ một cách có chọnlọc Với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân từ 14 - 16% trong thời kỳ

2001 - 2010, gấp hai lần tốc độ tăng GDP trong cùng thời kỳ, đòi hỏi Việt Nam cầnthực hiện một chiến lợc phát triển kinh tế hớng vào xuất khẩu kết hợp sản xuất thaythế nhập khẩu

Trang 3

Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thực sự tác động lớn đến đời sống dân c và hoạt

động kinh doanh của các doanh nghiệp từ năm 2006, khi nớc ta thực hiện đầy đủ cáccam kết của Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu t của ASEAN(AIA) Hiệp định thơng mại song phơng Việt Nam - Hoa Kỳ cũng góp phần tăng khảnăng thu hút đầu t nớc ngoài, mở rộng thị trờng xuất khẩu và là một bớc quan trọng

để gia nhập Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) Đồng thời Hiệp định thơng mạiViệt Nam - Hoa Kỳ sẽ là cơ sở pháp lý cho việc từng bớc mở cửa hơn nữa thị trờngnớc ta cho các nhà đầu t và kinh doanh nớc ngoài

Hội nhập kinh tế đòi hỏi Việt Nam phải chấp thuận và áp dụng các nguyên tắc,chuẩn mực phổ biến của pháp luật quốc tế vào các quy định của hệ thống pháp luậtthực thi Hội nhập kinh tế quốc tế cũng sẽ là yếu tố quan trọng làm thay đổi t duy vàphơng pháp luận về chính sách quản lý và điều hành nền kinh tế

Chủ động hội nhập, Việt Nam tham gia vào những ‘luật chơi’ chung, qua đó sẽthúc đẩy tiến trình cải cách kinh tế trong nớc Điều này sẽ tạo cơ hội để các nhà sảnxuất kinh doanh Việt Nam mở rộng quan hệ, tiếp cận phơng thức quản lý tiến tiến,tiếp thu khoa học - công nghệ mới của quốc tế, dám đơng dầu với cạnh tranh Quátrình hội nhập sẽ thúc ép các doanh nghiệp trong nớc phải tiến hành đổi mới, xoá bỏtính ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nớc, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,góp phần thúc đẩy sản xuất trong nớc phát triển

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình hợp tác trên cơ sở có đi có lại, trong đócác quốc gia dành cho nhau sự đối xử u đãi trên cơ sở tôn trọng, chấp nhận các luật

lệ và tập quán quốc tế GATT đã khẳng định mục tiêu này và đặc biệt nhấn mạnh

đến việc xoá bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong các quan hệ thơng mại gây trở ngạicho sự phát triển của kinh tế thế giới

3.1.2 Cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt NamNhận thức sâu sắc về xu thế và yêu cầu thời đại, Đảng ta đã đề ra đờng lối “đổimới” với mục tiêu chuyển đổi toàn diện nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tậptrung sang mô hình kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, đồng thờitham gia ngày càng rộng rãi vào sự phân công lao động quốc tế, tích cực phát triểnquan hệ kinh tế và khoa học, kỹ thuật với các nớc, các tổ chức quốc tế và t nhân nớcngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi

Tháng 6/1991, Đại hội Đảng lần thứ VII đề ra phơng châm mới “đa phơng hoá,

đa dạng hoá quan hệ đối ngoại” và thực sự đánh dấu bớc khởi đầu của tiến trình hộinhập quốc tế trong giai đoạn mới Thực hiện chủ trơng đó, Nghị quyết TW3 (ngày 26tháng 6 năm 1992) về chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại nhấn mạnh “cố gắngkhai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, mở rộng hợp tác với các

tổ chức khu vực, trớc hết là châu á Thái Bình Dơng”[3, tr-18] Tháng 10 năm 1993,chủ trơng đó đã đợc hiện thực hoá với việc nớc ta nối lại quan hệ đầy đủ với Quỹ tiền

tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB), hai tổ chức tài chính, tiền tệ lớn nhấtthế giới Tháng 6/1996, Đại hội Đảng lần thứ VIII nhấn mạnh “nhiệm vụ đối ngoại

Trang 4

quan trọng trong thời gian tới là củng cố môi trờng hoà bình và tạo điều kiện quốc tếthuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá và hiện đạihoá đất nớc”[3, tr 532] và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới”

Kể từ Đại hội Đảng VIII, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nớc mở ra nhữngtrang mới với cam kết tham gia AFTA, gia nhập APEC, ASEM và bắt đầu quá trìnhchuẩn bị và đàm phán thực chất gia nhập WTO Những tác động đầu tiên của hộinhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều vấn đề đối với nền kinh tế Việt Nam Đến Đạihội Đảng lần thứ IX (2001), hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ còn là chủ trơngmang tính định hớng mà đã đợc thể hiện thành các nguyên tắc cụ thể là “chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng caohiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hớng xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc dân tộc, bảo vệ môi tr-ờng”[2, tr- 257] Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nớc XHCN

và các nớc láng giềng Nâng cao hiệu quả và chất lợng hợp tác với các nớc ASEAN,

đồng thời “thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nớc phát triển và các tổ chức quốc tế”.Chiến lợc Phát triển Kinh tế - Xã hội 2001 - 2010 đợc Đại hội IX thông qua nêu rõmục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay là: Tiếp tục mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại theo hớng đa phơng hoá, đa dạng hoá; chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nớc ta và bảo đảm thực hiệnnhững cam kết trong quan hệ song phơng và đa phơng nh AFTA, APEC, hiệp địnhthơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ, tiến tới gia nhập WTO [2,3] Nh vậy, chủ trơng hộinhập kinh tế quốc tế của đất nớc đã ảnh hởng tích cực đến nền kinh tế đất nớc và thểhiện nhận thức sâu sắc Nhà nớc ta trớc vận hội của đất nớc trong xu thế toàn cầu hoá

3.1.3 Quan điểm và nguyên tắc sử dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế

a Sử dụng các biện pháp phi thuế là để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh

tế tạo tiền đề thực hiện tự do hoá thơng mại

Khó khăn lớn nhất của nớc ta trong hội nhập kinh tế quốc tế là sự yếu kém vềnăng lực cạnh tranh của nền kinh tế Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn

ít, trình độ công nghệ lạc hậu, hàng hoá không đa dạng và chất lợng thấp, kinhnghiệm và khả năng tìm kiếm thị trờng cũng hạn chế, cha thể đứng vững trên thị tr-ờng quốc tế Mâu thuẫn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế với yêu cầu tự do hoá

là vấn đề đặt ra đối với từng doanh nghiệp và ngành kinh tế Việt Nam Vai trò củacác biện pháp phi thuế giai đoạn này là hết sức quan trọng để hỗ trợ và thúc đẩy sựchuyển dịch tích cực của nền kinh tế góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh củanhững ngành cần định hớng Mọi ngành, mọi lĩnh vực phải nâng cao năng lực cạnhtranh mới có thể thực hiện tự do hoá thơng mại một cách vững chắc Hơn nữa, để

đảm bảo tính an toàn tự do hoá thơng mại thì việc mở của nền kinh tế phải đợc thựchiện theo lộ trình phù hợp Trong thời gian đó sẽ diễn ra một qúa trình lựa chọn sàng

Trang 5

lọc các ngành kinh tế có tiềm năng phát triển, kết hợp với một cơ chế hỗ trợ và bảo

hộ có trọng điểm của Nhà nớc thông qua các chính sách bảo hộ và biện pháp trợ giúpkhác trong đó có việc sử dụng các biện pháp phi thuế Cùng với sự trởng thành củangành kinh tế, các chính sách hỗ trợ nêu trên sẽ giảm dần để tiếp cận với một môi tr-ờng tự do cạnh tranh đầy đủ Với quan điểm đó, tự do hoá thơng mại đòi hỏi phải là

qúa trình có kiểm soát và định hớng, diễn ra từng bớc, có lộ trình, cho phép các

doanh nghiệp có đủ thời gian điều chỉnh hoặc chuyển đổi cơ cấu đầu t, thúc đẩy hiệuquả kinh doanh và mở rộng thị trờng Cần triệt để tránh t tởng nóng vội, đơn giảnhoá, đốt cháy giai đoạn khi thực hiện tự do hoá

b Đảm bảo sự cân đối giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế trong quá trình hội

nhập

Trong quan hệ thơng mại ngày nay, thị trờng là vấn đề sống còn đối với khôngchỉ các doanh nghiệp mà của cả nền kinh tế Chúng ta thờng coi tự do hoá thơng mại

là sự nhân nhợng cho các quốc gia đối tác bằng việc mở cửa thị trờng trong nớc

Ng-ợc lại, duy trì bảo hộ lại có vẻ đồng nghĩa với việc đảm bảo các lợi ích thơng mại của

đất nớc Quan niệm đó đã trở nên quá quen thuộc đến mức mọi cuộc đàm phán thơngmại của Việt Nam đều theo đuổi mục tiêu bảo hộ nh vậy Thành công của đàm phán

đợc xem là việc duy trì bảo hộ ở mức cao nhất có thể, hoặc ít nhất cũng là việc thựchiện cam kết ràng buộc thấp hơn Ví dụ: việc tham gia vào AFTA, Việt Nam phảicam kết thực hiện tự do hoá thơng mại trong đó có việc giảm mức độ bảo hộ bằngcác biện pháp phi thuế chậm hơn so với các nớc đối tác khác trong khi vẫn có thểchủ động khai thác một cách bình đẳng thị trờng của các nớc đối tác Tuy nhiên,

“luật chơi” trong qúa trình đàm phán và thực hiện các cam kết quốc tế về th ơng mạiluôn thay đổi Cách thức đạt đợc sự nhân nhợng một chiều nh chúng ta đã đạt đợckhi tham gia CEPT/AFTA khó có thể tái diễn trong các thể chế hay quan hệ thơngmại khác Thực tiễn đàm phán trong Hiệp định thơng mại Việt nam - Hoa Kỳ hayAFTA là những minh chứng sinh động cho thấy nếu không có sự nhân nhợng của n-

ớc ta thì sẽ không có sự nhân nhợng của các nớc đối tác Điều này chắc chắn sẽ vẫncòn tiếp tục tồn tại khi Việt Nam thực hiện đàm phán với hơn 30 nớc đối tác trongquá trình đàm phán gia nhập WTO

c Chính sách bảo hộ phi thuế phải phù hợp với các quy định và thông lệ của quốc tế

Việc vận dụng các nguyên tắc của WTO trong chính sách thơng mại là điều hếtsức cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay của nớc ta Thứ nhất, các quy tắc của WTO làcơ sở pháp lý cho mọi thể chế và liên kết thơng mại khu vực và quốc tế nh ASEAN,APEC , mà Việt Nam đang tham gia Đây là điều kiện cho các cơ quan quản lý củaNhà nớc sớm đánh giá mức độ hiệu quả và tìm kiếm một cách thức vận dụng phùhợp nhất Việc xây dựng hành lang pháp lý cho việc vận dụng các BPPT phải dần đ-

ợc định hình theo các quy định và phù hợp với thông lệ của WTO nếu không ViệtNam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình đàm phán gia nhập tổ chức này

Trang 6

Tóm lại, từ những quan điểm của Nhà nớc ta về việc thực thi chính sách bảo hộcác ngành sản xuất trong nớc cho thấy việc xây dựng hệ thống chính sách bảo hộ phithuế quan phải quán triệt những nguyên tắc sau:

- Những biện pháp phi thuế quan phải phù hợp với thông lệ quốc tế đã đợc cụthể hoá ở WTO; phù hợp với những quy định cụ thể của ASEAN và APEC

- Hệ thống các biện pháp phi thuế quan phải đủ mạnh để bảo vệ nền sản xuấtnon trẻ trong nớc, song phải tạo đà và thúc đẩy các doanh nghiệp tự đổi mới và tăngsức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng quốc tế

- Trong quá trình thực thi các chính sách phi thuế với mục tiêu tạo thuận lợi chothơng mại là chính, cần phải có sự khuyến khích và kết hợp chặt chẽ, khéo léo giữa

hệ thống hàng rào thuế quan với hệ thống các biện pháp phi thuế quan, giữa tự dohoá theo quy định của CEPT với việc bảo hộ trong nớc, đặt quyền lợi quốc gia lênhàng đầu Hệ thống phi thuế quan cần đảm bảo nguyên tắc luôn tạo ra đợc một lốithoát nhất định khi nền thơng mại trong nớc bị đe doạ trớc sự cạnh tranh quốc tế. 3.2 Kinh nghiệm sử dụng hàng rào phi thuế quan của một số quốc gia

Kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và việc sử dụngcác biện pháp bảo hộ phi thuế của một số quốc gia tiêu biểu là một trong những cơ

sở quan trọng giúp Việt Nam tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống các biệnpháp phi thuế quan của mình

3.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Là một nớc đang phát triển, trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, TrungQuốc có những đặc điểm kinh tế, chính trị và địa lý tơng đồng với Việt Nam Do đó,các kinh nghiệm của Trung Quốc, đặc biệt là kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữabảo hộ sản xuất trong nớc và quá trình đàm phán, thuyết phục các nớc thành viên để

có gia nhập WTO đáng cho Việt Nam học tập

Từ năm 1986, Trung Quốc đã xác định việc gia nhập GATT là một mục tiêuhàng đầu nhằm hội nhập với nền kinh tế thế giới sau gần nửa thập kỷ tự cô lập Mụctiêu này đã tác động mạnh mẽ tới sự thay đổi chính sách ngoại thơng của TrungQuốc Nhờ có chính sách mới, Trung Quốc thực sự chuyển sang một nền kinh tế h-ớng ngoại với những thành tựu thơng mại to lớn Tỷ trọng công nghiệp trong tổngkim ngạch xuất khẩu là 49% năm 1980 lên tới 87% năm 2000 Về giá trị tuyệt đối,nhập khẩu của Trung Quốc năm 1978 là 9,75 tỷ USD thì đến năm 1993 đã tăng gấp

10 là 91,74 tỷ USD Năm 1996, Trung Quốc xuất khẩu 151 tỷ USD và đến năm

2001, Trung Quốc đã xuất 260 tỷ USD, chiếm khoảng 4% thị phần xuất khẩu của thếgiới dự kiến đến năm 2005, con số này sẽ là 6,8% Tốc độ tăng tr ởng xuất khẩu củaTrung Quốc tơng đối ổn định ở mức khoảng 13-15%/năm và cao hơn mức tăng nhậpkhẩu Từ năm 1986 đến nay, hầu nh năm nào Trung Quốc cũng xuất siêu về thơngmại hàng hoá (trừ năm 1993, Trung Quốc nhập siêu 12 tỷ USD) Mức xuất khẩucũng liên tục đợc tăng lên từ 8,75 tỷ năm 1990 lên 12 tỷ năm 1996 và khoảng 30 tỷ

Trang 7

năm 2001 Chính sách thơng mại tự do hoá của Trung Quốc trong hơn một thập kỷqua đã đóng góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của nền kinh tế.

Trung Quốc chủ động hội nhập kinh tế và áp dụng các biện pháp bảo hộ gắn liền với xuất khẩu:

Trớc những năm 90, Trung Quốc là một nền kinh tế đóng cửa Từ đầu thập kỷTrung Quốc khẳng định mục tiêu gia nhập GATT/WTO và bằng chính nỗ lực củamình, nớc này dần nới lỏng các hạn chế thơng mại Cơ chế quản lý ngoại thơng cũngtừng bớc đợc sửa đổi thông thoáng hơn

Trung Quốc xây dựng nhiều văn bản pháp lý cả về hàng hoá, dịch vụ, đầu t, sởhữu trí tuệ dựa trên chuẩn mực của WTO Ví dụ: chính sách quản lý hạn ngạch, cấpphép, điều lệ chống phá giá, áp dụng thuế đối kháng, các quy định cấp phép tronglĩnh vực dịch vụ nh bảo hiểm, viễn thông, vấn đề thực thi tác quyền đều đợc ra đờinăm 1999 đến năm 2001, tức là ngay trớc khi Trung Quốc gia nhập WTO

Ngoài biện pháp giảm thuế, Trung Quốc còn phải cắt giảm các biện pháp bảo

hộ phi thuế quan nhằm đáp ứng đòi hỏi của Tổ công tác WTO Tháng 8/1992, TrungQuốc bãi bỏ các danh mục mặt hàng thay thế nhập khẩu Tháng 1/1994, Trung Quốctuyên bố bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩucho 283 chủng loại hàng hoá, tiếp đó đến tháng 5/1995, các biện pháp quản lý nhậpkhẩu cho 285 chủng loại hàng hoá khác cũng đợc hủy bỏ Tuy nhiên, Trung Quốcvẫn tiếp tục áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩunhằm bảo hộ thị trờng trong nớc trớc sức ép cạnh tranh của hàng hoá nớc ngoài, nh

áp dụng mức hạn ngạch cho riêng từng nớc, yêu cầu về giấy phép nhập khẩu, quy

định về đấu thầu đợc áp dụng với hàng hoá có hạn ngạch và không cần hạn ngạch Các biện pháp đợc thực hiện trong giai đoạn này không liên quan đến quyền tự

vệ, chống bán phá giá và thuế đối kháng Có nghĩa là ngoài việc áp dụng các biệnpháp bảo hộ đó ra, Trung Quốc vẫn có quyền áp dụng thêm các biện pháp bảo hộphòng ngừa bất trắc (theo quy định của WTO) khi thấy thị trờng sản xuất nội địa bịtổn thơng nghiêm trọng do việc nhập khẩu hàng hoá của nớc ngoài

Về cách thức bảo hộ trong chính sách thơng mại của Trung Quốc, có thể thấy

đợc điểm quan trọng nhất của đó là vấn đề bảo hộ gắn với định hớng xuất khẩu.Trung Quốc duy trì mức thuế suất trung bình đối với các sản phẩm đã có lợi thế sosánh rõ ràng Trung Quốc giảm trợ cấp xuất khẩu 12 tỷ Nhân dân tệ hàng năm, tuynhiên nớc này vẫn tiếp tục áp dụng chế độ quản lý về tỷ giá, tỷ giá thấp nhằmkhuyến khích xuất khẩu Nh vậy, Trung Quốc đạt đợc mục tiêu vừa đảm bảo bảo hộhợp lý phù hợp với quy định của WTO lại có thể thúc đẩy xuất khẩu và sản xuấttrong nớc phát triển

Tuy nhiên, vì mục tiêu lâu dài, Trung Quốc còn chấp nhận thực hiện nghĩa vụcao hơn cả quy định của WTO để đợc ra nhập tổ chức này nh cam kết không trợ cấpgiống và nguyên liệu cho nông dân, cam kết mở cửa thị trờng nông sản, chấp nhận

để các thành viên WTO có “quyền tự vệ tạm thời” cho đến năm 2013 để hạn chế

Trang 8

nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc ngay cả khi hàng nhập khẩu cha gây ra bất cứ thiệthại vật chất Sau 15 năm kể từ khi Trung Quốc nộp đơn gia nhập GATT/WTO, nhngchỉ hai năm cuối, những cuộc đàm phán thực chất và chủ yếu với Hoa Kỳ, EU, NhậtBản, Mexico, mới diễn ra và hoàn thành thủ tục gia nhập WTO Đây kết quả củamột qúa trình nỗ lực của Trung Quốc trong việc hoàn thiện các chính sách thơng mạihàng hoá nói chung và các công cụ bảo hộ phi thuế quan nói riêng.

3.2.2 Kinh nghiệm của ấn ĐộSau khi giành đợc độc lập, bên cạnh những thành tựu, các nhà lập chính sáchcủa ấn Độ cũng có những sai lầm trong chính sách suốt ba thập niên 1950, 1960,1970: đóng cửa nền kinh tế, bảo hộ những ngành kém hiệu quả, gây khó khăn chokhu vực t nhân với hàng loạt kiểm soát cứng rắn, quy chế phức tạp, các thủ tục hnàhchính rờm rà Tuy nhiên, nền kinh tế ấn Độ đã thực sự đạt đợc những bớc nhảy vọt từnhững năm 1980, sau một loạt chính sách cải cách kinh tế mạnh mẽ Có thể nói,những chính sách kinh tế mang tính đột phá đó đã giúp nền kinh tế của ấn Độ nhanhchóng phát triển bắt kịp với các nớc trong khu vực và trên thế giới Không những thế,

ấn Độ còn có thể đáp ứng đợc những đòi hỏi của WTO để trở thành thành viên của tổchức này vào năm 1995 Những thành tựu mà ấn Độ đạt đợc đáng để cho Việt Namhọc tập nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà Việt Nam đang tiến hành đàm phánvới một số nớc quốc gia để đợc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thơngmại Thế giới (WTO)

Những quan điểm và chính sách kinh tế đem lại thành công cho ấn Độ phải kểtới:

Đổi mới quan điểm về tự do hoá thơng mại

Trong rất nhiều năm, kể từ khi dành đợc độc lập cho đến cuối thập kỷ 80, ấn

Độ theo đuổi mô hình kinh tế “độc lập, tự chủ” với việc thực hiện khá triệt để chínhsách “thay thế hàng nhập khẩu” Mặc dù không hoàn toàn là một chính sách thất bạinhng tăng trởng kinh tế ấn Độ trong suốt những năm đó rất thấp Từ 1970 đến 1987,hàng năm ấn Độ tăng trởng khoảng 2,1% Đầu năm 1990, trớc bối cảnh nền kinh tế

và chính trị thế giới đã có những biến động sâu sắc, ấn Độ bắt đầu nhận thấy nhữnghạn chế nghiêm trọng của chính sách “đóng cửa” Tỷ trọng trong xuất khẩu với thếgiới giảm từ 2,53% (1947) xuống chỉ có 0,4% vào năm 1980 và tăng chút ít vào năm

1997 là 0,64% Các ngành công nghiệp trở nên trì trệ lạc hậu và không có hiệu quả

Từ năm 1997 ấn Độ chuyển mình với một loạt những chính sách đổi mới, tái cơ cấucủa nền kinh tế và mở cửa thu hút vốn đầu t nớc ngoài, từng bớc phát triển tự do hoáthơng mại ấn Độ theo đuổi từng bớc chiến lợc phát triển kinh tế theo định hớng xuấtkhẩu với mục tiêu tăng trởng nhanh, bền vững “hội nhập nền kinh tế của ấn Độ vớinền kinh tế thế giới” [14,24]

Trong những năm này, tốc độ tăng trởng kinh tế của ấn Độ đã đạt đợc một bớctăng trởng quan trọng Từ năm 1993 đến 2000, GDP tăng đạt 4,4% tức là gấp đôi so

Trang 9

với tốc độ tăng trởng các năm trớc đó Về giá trị tuyệt đối, mức tăng trởng GDP năm

2000 tăng 2,7 lần so với năm 1980 Đời sống nhân dân cũng đợc cải thiện với GDP

đầu ngời tăng hơn gấp 2 lần Thơng mại cũng tăng nhanh chóng từ 7.6% năm 1990lên 11,8% năm 2000 đã đạt xấp xỉ 40 tỷ USD Những thành công ban đầu của ấn Độ

đã minh chứng sự đúng đắn của tự do hoá thơng mại Báo cáo của Chính phủ ấn Độtại WTO năm 2001 đã chỉ rõ: Tự do hóa thơng mại đã trở thành một bộ phận khôngthể tách rời của chơng trình đổi mới, đã cho phép ngời tiêu dùng ấn Độ sự lựa chọnhợp lý và đóng góp vào sự tăng trởng của nền kinh tế[14, 24] Một nền kinh tế đóngcửa nh ấn Độ, luôn tìm mọi cách để bảo hộ cho các ngành kinh tế nh trớc đây đãchấp nhận xu thế khách quan của tự do hoá thơng mại

Ngoài việc cắt giảm thuế quan thì ấn Độ còn giảm các biện pháp hạn chế địnhlợng, ấn Độ đang kiểm soát nhập khẩu đối với khoảng 32% kim ngạch nhập khẩuhay tơng đơng với 2714 dòng thuế với việc viện dẫn điều khoản bảo hộ để ngăn chặnnguy cơ về cán cân thanh toán Tuy nhiên, trớc đòi hỏi của hội nhập, Chính phủ ấn

Độ đã phải chủ động tự do hoá và loại bỏ đáng kể các hạn chế định lợng theo một kếhoạch chặt chẽ kéo dài 7 năm (Từ 1997 đến 2004) Cho đến năm 2002, ấn Độ đã bãi

bỏ 1965 dòng thuế bảo hộ bằng biện pháp cấp phép Tháng 5/1997, ấn Độ đã côngkhai kế hoạch chấm dứt việc thực hiện bảo hộ bằng các Hàng rào phi thuế vào năm

2006 Rõ ràng, ấn Độ đã biến những cam kết tự do hóa của WTO trở thành sự chủ

động tự do hoá thơng mại của bản thân nền kinh tế Tuy vậy, ấn Độ cha phải là mộtnền kinh tế hoàn toàn hớng ngoại do mức bảo hộ còn rất cao nhng nớc này đang nỗlực tự do hoá một cách chủ động

Vận dụng các biện pháp bảo hộ phù hợp với quy tắc của WTO.

Là một thành viên sáng lập của GATT và WTO, ấn Độ hiểu rất rõ những khíacạnh pháp lý của WTO và cũng khéo léo vận dụng mọi khả năng mà WTO cho phép

để bảo hộ khi cần thiết Chính phủ ấn Độ có thể cấm nhập khẩu bất cứ hàng hoá nào

và thông báo chính thức đến các đối tác vì một trong những mục tiêu sau: an ninh,duy trì tiêu chuẩn về đạo đức xã hội, xây dựng một ngành công nghiệp, ngăn chặnnhững nguy cơ gây hại đối với sản xuất trong nớc cũng nh phục vụ cho mục tiêu lợiích của xã hội

Chính sách bảo hộ theo chuẩn mực của WTO đã đợc thể hiện rất rõ nét trongquy định của luật pháp ấn Độ và thực tế là quốc gia này luôn viện dẫn các điềukhoản của WTO để bảo hộ “một cách hợp pháp” những ngành công nghiệp củamình ấn Độ xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp với quy định của WTO để bảo hộ baogồm việc hạn chế cam kết về thuế quan và thậm chí duy trì hạn chế định lợng bằngcách viện dẫn điều khoản tự vệ vì lý do cán cân thanh toán, thuế chống bán phá giá,trợ cấp

áp dụng cơ chế chống bán phá giá và đối kháng một cách hiệu quả là một trongnhững biện pháp bảo hộ phi thuế đợc ấn Độ áp dụng thành công nhất Cơ quan điều

Trang 10

tra phá giá thuộc Bộ Thơng Mại có trách nhiệm thực hiện điều tra các vụ khiếu kiện,cơ quan Hải quan của ấn Độ chịu trách nhiệm áp đặt các biện pháp chống phá giá vàthực hiện thủ tục có liên quan nh việc nhận khiếu kiện Cơ chế thực hiện biện phápbán chống phá và chống trợ cấp của ấn Độ về căn bản là hoàn toàn phù hợp với quy

định của WTO Năm 1993, ấn Độ lần đầu tiên áp dụng thuế chống bán phá giá đốivới 5 nhà sản xuất hạt nhựa PVC Từ năm 1993 đến 1997, ấn Độ đã áp dụng 45 trờnghợp áp đặt thuế chống bán phá giá bao gồm 18 nhóm hàng hoá ấn Độ trở thành mộttrong những nớc tích cực nhất trong việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá đểbảo hộ sản xuất trong nớc ấn Độ cũng đã hoàn chỉnh hệ thống sử dụng các biệnpháp tự vệ nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc trong trờng hợp có thiệt hại nghiêm trọngcủa hàng nhập khẩu đối với sản xuất trong nớc

3.2.3 Kinh nghiệm của Hoa KỳHoa Kỳ là một cờng quốc kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong những thànhviên sáng lập của GATT (WTO ngày nay) Mặc dù có tiềm năng to lớn trong hầu hếtmọi lĩnh vực sản xuất, nhng theo quy luật về lợi thế cạnh tranh tơng đối, trong nhữngnăm qua, Hoa Kỳ đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn nhằm bảo hộ chonhững ngành sản xuất đã suy giảm sức cạnh tranh trên thị trờng thế giới

Coi nhu cầu tiêu dùng trong nớc là động lực phát triển của nền kinh tế, Hoa Kỳluôn đứng trớc sức ép của việc nhập siêu và hàng hoá giá rẻ từ nớc ngoài tràn vào.Hoa Kỳ đang sử dụng nhiều biện pháp bảo hộ tinh vi bằng cách viện dẫn các điềukhoản tơng đối còn gây tranh cãi trong WTO để trở thành vũ khí bảo hộ sắc bén.Hoa Kỳ duy trì các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật rất khắt khe nh các quy định vềtiếng ồn, một số bộ phận của ô tô, thiết bị điện tử, thiết bị y tế và viễn thông, thiết bịphụ tùng máy móc Hoa Kỳ áp dụng giấy phép nhập khẩu đối với hơn nhiều loạinông sản (động vật, thực vật hoặc các sản phẩm liên quan) nhằm mục đích ngănchặn sự xâm nhập và lan truyền dịch bệnh Các quy định tiêu chuẩn của Hoa Kỳ tỏ

ra “thái quá”, gây khó khăn cho các nớc xuất khẩu

Hoa Kỳ viện dẫn lý do bảo vệ sức khoẻ và chống khủng bố sinh học để đặt ranhững tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm Sự vận dụng của Hoa Kỳ chặt chẽ đến mức khó

có thể coi quy định vệ sinh dịch tễ chỉ đơn thuần là quy định kỹ thuật Nó làm phátsinh chi phí tài chính đáng kể đối với các giao dịch thơng mại nh việc kiểm tra và xétnghiệm hàng hoá và làm tăng thời gian dài hơn bình thờng Ví dụ: theo quy định banhành từ 10/8/1998: thịt gà phải đợc nấu ở nhiệt độ từ 740C đến 800C, từ 125 đến 165phút)

Một trong những công cụ quan trọng của hệ thống bảo hộ của Hoa Kỳ là ápdụng hệ thống pháp luật về chống phá giá và các biện pháp đối kháng Theo hệthống này, Hoa Kỳ sẽ áp dụng các biên pháp trừng phạt thơng mại hoặc đánh thuếchống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu từ các nớc mà Hoa Kỳ cho là đã bán phágiá khi nhập khẩu vào nớc này (nh trờng hợp cá ba sa nhập khẩu từ Việt Nam haytôm nhập khẩu từ một loạt các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam)

Trang 11

Lợi dụng vị thế của mình, Hoa Kỳ cũng đã đa ra quy tắc xuất xứ riêng củamình (khác với những quy định của WTO về quy tắc xuất xứ) làm thay đổi điều kiệncạnh tranh và bổ sung thêm những hạn chế chống lại xuất khẩu hàng hoá rẻ tiền củacác nớc khác.

Điều đáng chú ý nữa ở đây là, quy tắc xuất xứ của Mỹ không nhất quán và rõràng trong áp dụng; vì quy tắc xuất xứ của Hoa Kỳ đợc phát triển thông qua sự giảithích của hải quan và các vụ kiện

Theo Hiệp định dệt may ATC của WTO từ 01/01/1996 đến 01/01/2005, các

n-ớc sẽ dần dần hòa nhập toàn bộ hàng dệt may vào thực hiện GATT 1994, nghĩa là sẽxóa bỏ chế độ hạn ngạch đối với mặt hàng này Tuy nhiên theo tổng kết của Hiệp hộiDệt may quốc tế, đã hơn bảy năm, các nớc mới chỉ hòa nhập đợc một số lợng hạnchế các sản phẩm hàng dệt may Đến nay, Hoa Kỳ vẫn duy trì chế độ hạn ngạch đốivới 841 mặt hàng trong tổng số 932 mặt hàng Hoa Kỳ kí kết Hiệp định dệt may, quy

định han ngạch nhằm giảm lợng nhập khẩu, tạo sức ép cho các nớc phát triển (trong

đó có Việt Nam)

Trang 12

3.2.4 Bài học Việt Nam rút ra từ kinh nghiệm của các nớc

Từ thực tiễn áp dụng các biện pháp phi thuế của các nớc Trung Quốc, ấn Độ và

Mỹ để bảo hộ sản xuất trong nớc, chúng ta có thể rút ra bài học tổng quan cho ViệtNam sau đây:

Thứ nhất:Việc áp dụng các biện pháp phi thuế của các quốc gia này đều tuân

thủ theo những quy định của Tổ chức Thơng mại thế giới WTO Để gia nhập vàoWTO, Trung Quốc phải thực hiện việc cắt giảm các biện pháp quản lý xuất nhậpkhẩu thông qua hạn chế số lợng và các rào cản trái với quy định của WTO Tuynhiên, Trung Quốc là một nớc lớn, về vị thế lẫn tầm ảnh hởng với thơng mại quốc tế

đều khác hẳn Việt Nam Việc học tập kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình

đàm phán gia nhập WTO là cần thiết; tuy nhiên, phải áp dụng một cách linh hoạt,tránh rập khuôn

Thứ hai: Bảo hộ sản xuất trong nớc dờng nh là nhu cầu không thể xóa bỏ với

mọi quốc gia, ngay cả trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay Tuy nhiên, khi tham giavào các Tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, các quốc gia buộc phải tuân thủ nhữngquy định chung và áp dụng một biểu thuế quan thống nhất Khi đó, các kinh nghiệm

về áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan thích hợp trong giai đoạn mới sẽ giúpcho các quốc gia này vừa đạt đợc mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nớc vừa đạt đợcmột số mục tiêu xã hội khác (an toàn sức khỏe, bảo vệ môi trờng ) lại tránh đợc sựcạnh tranh không lành mạnh (kinh nghiệm của Mỹ, ấn Độ)

Thứ ba: Bảo hộ đợc chuyển từ các biện pháp hạn chế định lợng sang các biện

pháp tinh vi, mang tính kĩ thuật hơn Ví dụ: bảo hộ thông qua sử dụng hàng rào kĩthuật; quy định về vệ sinh dịch tễ; sử dụng luật chống bán phá giá; quy định về đónggói, nhãn mác xuất xứ của hàng hoá đang là xu hớng thế chung của việc bảo hộ phithuế quan Các biện pháp vừa đợc WTO thừa nhận vừa giúp nớc áp dụng đạt đợcmục tiêu bảo hộ tốt nhất

3.3 Các giải pháp điều chỉnh và hoàn thiện hệ Thống phi thuế quan của Việt Nam trong Tiến trình gia nhập WTO

Hiện nay, để kiểm soát hoạt động ngoại thơng, bên cạnh hàng rào thuế quannớc ta còn áp dụng biện pháp phi thuế quan Tuy nhiên, việc áp dụng các biện phápnày còn nhiều điểm cha phù hợp với nguyên tắc cơ bản của các tổ chức kinh tế th-

ơng mại khu vực mà Việt Nam là thành viên chính thức Chính vì vậy, Nhà nớc cầnphải nghiên cứu xây dựng và thực hiện các biện pháp phi thuế phù hợp với thông lệquốc tế nhng đồng thời vẫn hộ trợ hợp lý cho việc phát triển thơng mại trong nớc

3.3.1 áp dụng các biện pháp bảo hộ chọn lọc

Thời gian vừa qua, gần nh chính sách thơng mại của nớc ta chủ yếu hớng tớiviệc bảo hộ những ngành hàng trong nớc “đã có sản xuất” hay chính xác hơn là đang

có thiên hớng nghiêng về chính sách phát triển kinh tế bằng cách “thay thế nhậpkhẩu” Do đó, các ngành hàng của Việt Nam thờng đợc bảo hộ không căn cứ vào lợi

Trang 13

thế so sánh của hàng hoá đó là mà lại căn cứ vào năng lực cạnh tranh thực tế hiện tạicủa một sản phẩm Trong việc chuẩn bị phơng án hội nhập kinh tế quốc tế hay thựctiễn cam kết của ta trong khuôn khổ CEPT/AFTA, các cơ quan chức năng đang cốgắng phân loại khả năng cạnh tranh đối với từng nhóm ngành hàng để thực hiện việcxây dựng lộ trình cam kết tự do hoá theo hớng những mặt hàng có khả năng cạnhtranh thì mức cam kết tự do hoá thấp và ngợc lại, những mặt hàng không có khả năngcạnh tranh thì mức cam kết tự do hoá cao.

Cách thức tiếp cận bảo hộ nh vậy không hợp lý và đơn giản hoá quá trình hộinhập vì nó không tạo cơ sở cần thiết để phát huy năng lực cạnh tranh của nhữngngành hàng có lợi thế nhng cha đợc khai thác hiệu quả Vì vậy, chính sách bảo hộ cóchọn lọc đợc điều chỉnh theo phơng hớng nh sau:

Đối với những ngành hàng không có lợi thế so sánh: nớc ta cần từng bớc xoá

bỏ bảo hộ hoặc chỉ duy trì với mức bảo hộ thấp Việc tiếp tục bảo hộ sẽ đánh mấtnhững chi phí cơ hội lớn cho tổng thể nền kinh tế, không những thế, việc tiếp tục bảo

hộ có thể sẽ gây ra phí tổn cho tơng lai Mặc dầu vậy, lợi thế so sánh không phải làbất biến, việc duy trì hay từ bỏ bảo hộ đối với một ngành hàng là hết sức thận trọng

và cần những phân tích sâu sắc về khả năng phát triển của ngành kinh tế và ở mộtphơng diện nào đó cần tính đến các mục tiêu có tính xã hội Sự xuất hiện của lợi thế

so sánh đối với một ngành có thể cần phải đợc nuôi dỡng trong những điều kiện nhất

định và có sự can thiệp nhất định của biện pháp bảo hộ Vì thế, khi thực thi tự do hóathì cũng cần có cơ chế để quay trở lại bảo hộ khi các điều kiện khác cho phép Cácquy định của các tổ chức thơng mại quốc tế và khu vực đều cho phép khả năng đó

Đối với những ngành đang tồn tại nhờ chính sách bảo hộ và hỗ trợ của Nhà n ớc thìthời gian tiến hành tự do hoá phải đủ dài để những ngành đó có điều kiện cơ cấu lại,

đầu t công nghệ hoặc chuyển đổi mục tiêu kinh doanh, đào tạo lại lao động

Đối với những ngành không có lợi thế so sánh và không có khả năng sản xuấthiệu quả thì không cần thiết phải duy trì bất cứ sự bảo hộ nào vì điều đó chỉ gây ralãng phí chung về nguồn lực cho đất nớc Nhà nớc có thể can thiệp bằng biện phápthuế quan hoặc phi thuế quan để định hớng tiêu dùng trong nớc nhng không vì mụctiêu bảo hộ

Đối với những ngành mà lợi thế cạnh tranh không rõ nét cần đợc xem là u tiênquan trọng nhất trong chính sách với mục tiêu tập trung sự hỗ trợ của Nhà nớc bằngviệc đảm bảo cho mặt hàng đó có cơ hội khai thác một thị phần cần thiết để mở rộngkinh doanh và tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô Điều này đặt ra yêu cầu phân bổlại các nguồn của Nhà nớc trong vấn đề bảo hộ Ví dụ, hiện nay, nớc ta tập trungnguồn lực phát triển các ngành xuất khẩu “chủ yếu” có lợi thế so sánh tơng đối rõnét nh gạo, cà phê, hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản, v.v… Theo cách thức tiếp cận Theo cách thức tiếp cậnnày thì chính sách sẽ đợc điều chỉnh theo hớng tập trung bảo hộ đối với những ngành

có lợi thế so sánh không rõ nét vì những ngành này là tơng lai xuất khẩu của Việt

Ngày đăng: 23/10/2013, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Danh mục bảng số liệu 4 - Giải pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam
anh mục bảng số liệu 4 (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w