(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Văn Minh
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Lý Minh Thụy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Đặng Văn Minh là người
trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Chợ Đồn và các cơ quan ban ngành khác có liên quan tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó!
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lý Minh Thụy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Khái quát về đất 4
1.1.2 Khái quát về đánh giá đất 5
1.1.3 Khái quát về Sử dụng đất 6
1.1.4 Khái quát về nông thôn mới 8
1.2 Cơ sở lý luận 9
1.3 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên thế giới và Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới một số nước trên thế giới 10
1.3.2 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 29
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 29
2.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn 29
2.3.2 Sơ lược công tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 29
Trang 52.3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất phục vụ xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn 29
2.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 29
2.3.5 Thuận lợi, khó khăn, tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả sử dụng đất cho xây dựng nông thôn mới 29
2.4 Các phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp 30
2.4.2 Thu thập tài liệu sơ cấp 30
2.4.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh 32
2.4.4 Phương pháp đánh giá nhận xét 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 38
3.2 Sơ lược tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 43
3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất phục vụ công tác xây dựng nông thôn mới 45
3.3.1 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất trước khi quy hoạch xây dựng nông thôn mới 45
3.3.2 Thực trạng công tác sử dụng đất phục vụ quy hoạch xây dựng nông thôn mới 47
3.3.3 Đánh giá tình hình sử dụng đất sau bốn năm thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới 56
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Chợ Đồn 62
3.4.1 Hiệu quả kinh tế 62
3.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 68
3.4.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 71
Trang 63.5 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất phục vụ quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn,
tỉnh Bắc Kạn 74
3.5.1 Thuận lợi 74
3.5.2 Khó khăn, tồn tại 77
3.5.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất phục vụ cho xây dựng nông thôn mới ở trên địa bàn huyện Chợ Đồn 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1: Thực trạng dân số và lao động huyện Chợ Đồn năm 2014 39
Bảng 3.2: Các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2012 - 2014 40
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất ba xã năm 2010 45
Bảng 3.4: Nhóm tiêu chí hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn ba xã 48
Bảng 3.5: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 52
Bảng 3.6: Diện tích chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ 54
Bảng 3.7: Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng 55
Bảng 3.8: Hiện trạng sử dụng đất và khả năng đáp ứng nhu cầu về đất cho các tiêu chí xây dựng nông thôn mới 57
Bảng 3.9: Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế 63
Bảng 3.10: Diện tích, năng suất, sản lượng các LUT trên địa bàn 3 xã 63
Bảng 3.11: Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các LUT trên 03 xã 65
Bảng 3.13: Hiệu quả xã hội của các LUT 69
Bảng 3.14: Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất 71
Bảng 3.15: Tổng hợp kết quả điều tra hiệu quả sử dụng đất 72
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất, là tư liệu để sản xuất nông, lâm – ngư nghiệp, là nơi phát triển xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội Đối với từng ngành cụ thể đất đai cũng có những vị trí, vai trò khác nhau Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác Vì vậy việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý để phát huy thế ngành đem lại hiệu quả cao đang trở thành một vấn đề cấp thiết
Trong giai đoạn hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển cùng với sự phát triển chung của các khu đô thị, các khu công nghiệp thì phát triển kinh tế tại các khu vực nông thôn đã và đang được quan tâm phát triển Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trình cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Xây dựng nông thôn mới nhằm phát triển toàn diện: Hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng toàn diện tạo điều kiện phát triển kinh tế, giao lưu hàng hóa; cơ cấu kinh tế hợp lý, thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao; môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; xây dựng nếp sống văn hóa thay đổi bộ mặt nông thôn 19 tiêu chí trong chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã có tới 12 tiêu chí liên quan đến đất đai và việc sử dụng đất đai Vì vậy, để đánh giá một cách khách quan và khoa học về thực trạng sử dụng đất để phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới là hết sức quan trọng giúp cho việc hoàn thành thực hiện các tiêu chí
Huyện Chợ Đồn nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tự nhiên
là 91.115,00 ha, trong đó đất nông nghiệp là 71.911,37 ha (chiếm 78,92% tổng diện tích đất tự nhiên, chỉ có 5.394,93 ha là đất sản xuất nông nghiệp (chiếm 5,92%), có 405,99 ha đất nuôi trồng thuỷ sản (chiếm 0,45%),còn lại đất lâm nghiệp có
66.110,45 ha (chiếm 72,56%), đất phi nông nghiệp là 5.773,49 ha (chiếm 6,34 %
Trang 9tổng diện tích tự nhiên); đất chưa sử dụng có 13.430,14 ha chiếm 14,74 % tổng diện tích tự nhiên
Trong những năm qua huyện đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân, hoàn thành hệ thống thuỷ lợi, thay đổi cơ cấu cây trồng, đưa các giống cây trồng mới
có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất Nhờ đó năng suất các cây trồng chính trên địa bàn đều tăng qua các năm Hiệu quả kinh tế sử dụng đất được nâng lên Việc sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả luôn được quan tâm chú trọng Với việc thực hiện các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực trong sản xuất Quá trình chuyển đổi
đã tạo điều kiện giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho hộ nông dân, góp phần xoá
hộ nghèo của huyện
Tuy nhiên, tình trạng người dân canh tác, phân bố các loại cây trồng chưa hợp
lý, dẫn tới sử dụng đất không đúng mục đích, không có hoặc không theo quy hoạch, sử dụng đất phân tán, manh mún còn phổ biến, làm cho đất dễ bị thoái hóa, năng suất cây trồng, hiệu quả sử dụng đất còn thấp, chưa xác định được cơ cấu cây trồng ổn định và hợp lý cho các tiểu vùng sinh thái, nhất là công tác quản lý và sử dụng đất trong quá trình thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
Xuất phát từ thực tế đó được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS.TS Đặng Văn Minh, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới của một số xã huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn’’
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới, xác định các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới và đề xuất các giải pháp sử dụng đất góp phần phát triển xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn nói riêng, tỉnh Bắc kạn và
cả nước nói chung
Trang 10- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Xác định những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất phục vụ quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn nói riêng, tỉnh Bắc Kạn và cả nước nói chung
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp học viên củng cố được những kiến thức đã học trong nhà trường
- Giúp cho học viên nắm thực trạng sử dụng đất và công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương Qua đó liên hệ với phần lý luận ở nhà trường nhằm đưa ra giải pháp trong công tác quản lý, sử dụng đất của đơn vị, củng cố thêm nhận thức và nâng cao tay nghề chuyên môn
- Giúp cho học viên tiếp cận, học hỏi và đưa ra những cách xử lý đối với những tình huống trong thực tế, tính tổ chức, kỷ luật trong nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao, tinh thần khắc phục mọi khó khăn, phát huy tính tích cực trong học tập
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng đất của một số xã trên địa bàn huyện Chợ Đồn từ đó đề xuất được những giải pháp sử dụng đất trong xây dựng cơ sở hạ tầng, trong nông nghiêp, lâm nghiệp để đạt hiệu quả cao
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Khái quát về đất
Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất đặc biệt có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng [3]
Vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau [3]:
Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng
là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản)
Trong các ngành nông-lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, thành tựu kỹ thuật vật chất - văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống của con người còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đấp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại Mục đích sử dụng đất nêu trên được biểu lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển
Trang 121.1.2 Khái quát về đánh giá đất
Đánh giá đất đai là một quá trình nghiên cứu, phân tích tiềm năng đất đai: Đặc điểm, tính chất của mỗi loại đất, khả năng thích hợp của mỗi loại hình sử dụng đất, những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng các loại hình sử dụng đất ấy, từ đó đề xuất quá trình sử dụng đất đai theo hướng hiệu quả cao và bền vững [5]
Căn cứ để tiến hành đánh giá đất:
a Đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên
Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện tự nhiên là: Xác định các mối quan hệ của các yếu tố cấu thành đất, các điều kiện sinh thái đất và các thuộc tính của chúng có tính quy luật ảnh hưởng tới hiệu quả và mục đích của các loại sử dụng đất
b Đánh giá đất dựa vào các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
* Đánh giá đất dựa vào hiệu quả kinh tế
Đánh giá kinh tế đất là các ước tính thực tế của sự thích nghi về kinh tế ở mỗi đơn vị đất đai theo các chỉ tiêu về kinh tế Hệ thống chỉ tiêu kinh tế được bắt nguồn
từ bản chất của hiệu quả, đó là mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra Hay nói cách khác là giữa chi phí và các kết quả thu được từ chi phí đó Tuỳ theo các hệ thống tính toán mà các chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả sẽ có sự khác nhau
* Đánh giá đất dựa vào hiệu quả xã hội
Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu
về mặt xã hội do hoạt động sản xuất đem lại
- Giá trị sản xuất trên lao động nông lâm nhân khẩu nông lâm)
- Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo
- Đời sống người lao động, cơ sở hạ tầng
- Mức độ giải quyết việc làm, thu hút lao động
- Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường
Trang 13* Đánh giá đất dựa vào hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật, hoá học, vật lý v.v , chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường
- Tỷ lệ che phủ
- Mức độ xói mòn, rửa trôi
- Khả năng bảo vệ, cải tạo đất
- Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
* Yếu tố về điều kiện tự nhiên:
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
* Yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội:
Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng
Trang 14* Yếu tố về kỹ thuật canh tác :
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá
* Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất:
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường sẽ tạo tiền đề vững chắc cho phát triển nông nghiệp hàng hoá Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
- Hình thức tổ chức sản xuất:
Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất-dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá
Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra
Trang 15- Dịch vụ kỹ thuật:
Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm
1.1.4 Khái quát về nông thôn mới
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa chuẩn xác được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Khi nói về nông thôn, thường thì người ta hay so sánh nông thôn với thành thị
Nông thôn và đô thị là những vùng lãnh thổ có những nét nổi bật cơ bản ở chỗ cả hai không có ranh giới rõ rệt, nhưng cả hai đều có mối liên hệ khít với nhau Các khu vực nông thôn luôn gắn với trung tâm của nó – đó là những vùng
đô thị, hay chí ít ra cũng mang những nét căn bản của đô thị Trong lòng các vùng nông thôn luôn tồn tại một trung tâm như thế Vì thế, nảy sinh vấn đề là cần định nghĩa xem đâu là nông thôn, đâu là đô thị, đồng nghĩa với việc xác định đâu thuộc về vùng nông thôn và đâu thuộc về vùng đô thị, khi đó cần chú ý tới
sự giáp ranh giữa 2 khu vực này Trong thực tế phát triển xã hội giữa nông thôn
và đô thị có một vùng “mở” pha tạp giữa nông thôn và đô thị, đó là vùng đô thị hóa và vùng ven đô [7]
Như vậy theo ý kiến phân tích của các nhà xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về nông thôn như sau:
Nông thôn là vùng khác với đô thị ở chỗ là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và hàng hóa thấp hơn [7]
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn
và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được
Trang 16xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
- Kết luận số 32-KL/TW ngày 20/11/2008 Bộ Chính trị ban hành về những công việc cần triển khai để thực hiện các Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
- Luật Xây dựng được Quốc hội ra ngày 26/11/2003, Khoá 11 Kỳ họp thứ 4;
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về Quy hoạch xây dựng;
- Thông tư số 21/2009/TT-BXD ngày 30/6/2009 của Bộ Xây dựng về Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng về Ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng về Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông báo số 2183/BNN-KTHT,ngày 24/7/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới
Trang 17- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 2/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
- Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ xây dựng hướng dẫn xác định chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị;
- Thông tư số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 4/8/2010 của Bộ xây dựng quy định việc lập nhiệm vụ đồ án quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
- Công văn số: 1333/BXD-KTQH về việc hướng dẫn tiêu chí nông thôn mới (thuộc lĩnh vực QHXD)
- Quyết định số: 784 /QĐ-UBND ngày 06/05/2011 của UBND Tỉnh Bắc Kạn
về việc “ Ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Tỉnh Bắc Kạn năm 2011”
- Kế hoạch số: 412 /KH-UBND ngày 15/6/2011 của UBND Huyện Chợ Đồn
về việc Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Chợ Đồn năm 2011
- Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10 /2011 quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới
- Các văn bản pháp lý khác có liên quan
1.3 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên thế giới
và Việt Nam
1.3.1 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Mỹ phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Trang 18Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động
có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được
sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy
mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60%
Trang 19trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để
bù đắp thêm thu nhập cho mình
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng đô thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh Tuy nhiên, để duy trì “trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức [1]
1.2.3.2 Tình hình thực hiện quy hoạch nông thôn mới tại Nhật Bản
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình [1]
1.2.3.3 Hàn Quốc thực hiện phong trào Làng mới
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Trang 20Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào
SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn,
áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước
và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm
1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980
Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc
đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Trang 21Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ
ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn
để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định
nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ,
mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội
đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã
thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán
Trang 22bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn
dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có [1]
1.2.3.4 Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời
Trang 23phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn
có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm
Trang 242004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp
ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do
đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó
có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa,
Trang 25hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [1]
1.3.2 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam
Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới Trung ương, đến tháng 6 năm 2015 với sự nỗ lực của các cấp các ngành từ trung ương đến địa phương, chương trình đã đạt được kết quả đáng khích lệ: Số tiêu chí đạt chuẩn bình quân cả nước 10,82 tiêu chí đến nay có 882 xã đạt chuẩn (9,87 %) 1328 xã (14,86 %) đạt từ 15 đến 18 tiêu chí; 3.193 xã (35,74 %) đạt từ 10 đến 14 tiêu chí; 2.818 xã (32,0 %) đạt từ 5 đến 9 tiêu chí; 714 xã (7,99 %) xã đạt dưới 5 tiêu chí và không còn xã trắng tiêu chí; các công trình kết cấu hạ tầng được các địa phương quan tâm xây dựng; đến nay có khoảng hơn 9000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân
Về huy động nguồn lực, mặc dù ngân sách trung ương hỗ trợ ít nhưng các địa phương đã huy động nguồn lực từ ngân sách địa phương, lồng ghép các chương trình, dự án khác, vốn tín dựng, vốn từ doanh nghiệp và huy động đóng góp của người dân về đất đai, lao động
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn một số tồn tại: Một số văn bản hướng dẫn thực hiện còn chậm, một số quy đinh thực hiện tiêu chí chưa phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, việc nhân rộng mô hình sản xuất còn hơi chậm, chất lượng công tác quy hoạch còn bất cập, trong đó quy hoạch sản xuất theo hướng hàng hóa còn chưa được chú trọng đúng mức, có địa phương chưa thực sự quan tâm
1.3.2.1 Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Đồng Nai
Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM đã tác động tích cực đến tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai, đó là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng định hướng phát triển; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2011- 2014 đạt 4,74%/năm; giá trị sản xuất thu hoạch trên 1 ha diện tích trồng trọt và chăn nuôi đến cuối năm 2014 đạt gần 100 triệu đồng/ha; đời sống vật chất, tinh thần của hầu
Trang 26hết người dân nông thôn tiếp tục được cải thiện, chất lượng cuộc sống không ngừng được nâng lên; thu nhập bình quân của người dân nông thôn đến cuối năm 2014 đạt 32,58 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn của tỉnh (đối với khu vực nông thôn hộ nghèo thu nhập 650.000 đồng/người/tháng - cao hơn chuẩn quốc gia)
đã giảm xuống còn dưới 1% Kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn ngày càng được đầu tư đồng bộ, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ phát triển sản xuất và đời sống ở vùng nông thôn Dân chủ ở cơ sở ngày càng phát huy, ý thức và trách nhiệm làm chủ của người dân được nâng lên rõ rệt Hệ thống chính trị
ở cơ sở tiếp tục được củng cố, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững [9]
Những kết quả đạt được trong thời gian qua, bên cạnh sự phấn đấu, nỗ lực không ngừng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, còn có sự vào cuộc của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân, cộng đồng các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, ngân hàng đã đồng hành, cùng sát cánh trong phong trào "Toàn tỉnh chung sức xây dựng nông thôn mới" Điều đó đã thể hiện qua tổng vốn đầu tư cho xây dựng NTM là gần 62.735 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chỉ chiếm 15%, còn lại là nhân dân và doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng tích cực tham gia đóng góp
Qua phong trào xây dựng NTM đã xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương điển hình nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, trong đó có nhiều "vua tiêu", "vua bắp", "vua bưởi", "vua xoài" là nông dân; những "kỹ sư chân đất" trong sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và áp dụng có hiệu quả những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; xuất hiện nhiều trang trại của nông dân, nhiều vùng sản xuất chuyên canh tập trung với quy mô lớn, tiên tiến không thua kém trang trại ở các nước trong khu vực và trên thế giới; nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với ứng dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi được nhân rộng
Tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, những kinh nghiệm, cách làm tích cực, sáng tạo trong phong trào "Toàn tỉnh chung sức thi đua xây dựng NTM", Đảng
Trang 27bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai với quyết tâm chính trị cao, phấn đấu đến năm 2020 sẽ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM.Cùng với việc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tiêu chí NTM ở các xã trên địa bàn tỉnh, Tỉnh ủy đã chủ trương không dừng lại ở các tiêu chí đạt được, mà phải tiếp tục nâng chất lượng các
xã, các huyện NTM trên địa bàn toàn tỉnh, thúc đẩy phong trào đạt ở trình độ, chất lượng cao hơn, nhằm thực hiện mục tiêu "bốn tốt hơn", đó là: Đời sống, thu nhập của người nông dân ngày càng cao hơn; Cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội ngày càng đồng bộ, hoàn thiện theo hướng hiện đại hơn; Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần, bảo tồn và phát huy tốt hơn các giá trị truyền thống ở nông thôn, an ninh, an toàn,
an sinh xã hội ở nông thôn ngày càng tốt hơn; Bảo đảm môi trường sinh thái phát triển đa dạng và bền vững hơn Phấn đấu sớm rút ngắn khoảng cách về trình độ và tính chất phát triển giữa nông thôn và đô thị, xây dựng Đồng Nai trở thành tỉnh giàu mạnh, văn minh, phát triển toàn diện, bền vững
Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh, Tỉnh ủy Đồng Nai rút ra một số kinh nghiệm trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo:
Một là, nơi nào cả hệ thống chính trị vào cuộc với quyết tâm chính trị cao, quyết liệt, quyết đoán trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ, xác định rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo
và phù hợp điều kiện thực tiễn cụ thể của từng địa bàn thì nơi đó tình hình có sự chuyển biến tốt và đạt kết quả cao theo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra; hiện thực hóa phương châm hành động của cả hệ thống chính trị và người dân, đó là phải đạt được
"bốn chữ đồng": đồng lòng, đồng thuận, đồng hành và đồng tiến, thì dù việc gì khó khăn đến đâu cũng thực hiện được và thực hiện có kết quả
Hai là, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM phải xác định và thể hiện "bốn rõ", đó là: Rõ về trách nhiệm của từng tổ chức; Rõ
về nội dung, nhiệm vụ phải thực hiện của từng tổ chức; Rõ về phương thức, biện
Trang 28pháp, cách thức tổ chức thực hiện của tổ chức mình; Rõ về kết quả đạt được do tổ chức mình tạo ra
Ba là, đối với trách nhiệm của chính quyền, nhất là đối với chính quyền cơ
sở phải bảo đảm "bốn sâu sát", đó là: Sâu sát tình hình sản xuất và đời sống của nông dân; Sâu sát với thực tiễn địa bàn cơ sở; Sâu sát với nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; Sâu sát với tình hình diễn biến của thị trường nông sản hàng hóa để thực hiện tốt công tác định hướng, hướng dẫn, hỗ trợ tích cực nông dân phát triển sản xuất, đáp ứng được yêu cầu của thị trường, nâng cao thu nhập của người nông dân Từ đó người dân có điều kiện để tiếp tục tham gia đóng góp xây dựng NTM
Bốn là, đối với cán bộ, đảng viên, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở phải thực hiện nghiêm, đầy đủ "bốn phải", đó là: Phải ưu tiên tập trung dành thời gian, công sức, trí tuệ để lãnh đạo, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện; Phải gần gũi, tôn trọng, thấu hiểu, đối thoại, giải thích, giải đáp, giải quyết kịp thời, có kết quả những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra đối với nông dân trong quá trình sản xuất và đời sống; Bản thân và gia đình phải gương mẫu thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ nơi cư trú; Phải thống nhất giữa lời nói đúng và việc làm đúng để làm gương tốt, tạo sự lan tỏa nhằm phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động trong quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
Năm là, đặc biệt coi trọng, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và "Dân vận khéo" với cách thức, phương pháp tuyên truyền cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ để nông dân hiểu và nhận thức đúng và đầy đủ về trách nhiệm, vai trò chủ thể của mình, hiện thực hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân quyết định, dân làm, dân giám sát, dân thụ hưởng"; ngoài sự hỗ trợ của nhà nước, vấn đề có ý nghĩa quan trọng là phải biết phát huy trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, huy động hợp lý các nguồn lực trong dân để xây dựng NTM; mọi huy động đóng góp của dân phải được bàn bạc, công khai, dân chủ, đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư để nhân dân hiến kế, đề xuất cách thức thực hiện, khi nhân dân thấy được kết quả, lợi ích thiết
Trang 29thực, từ đó tăng thêm lòng tin, đồng lòng, đồng thuận, đồng hành của nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng NTM [9]
1.3.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình
Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, những năm qua, Thái Bình
đã tích cực huy động các nguồn lực để thực hiện chương trình này Điểm đáng chú
ý, khi triển khai chương trình, địa phương đã coi thúc đẩy sản xuất phát triển là bước đột phá [4]
Thực tiễn cho thấy, chương trình xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình đã thực sự trở thành phong trào thi đua rộng khắp trong toàn tỉnh và đã đạt nhiều kết quả rất tích cực Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình, đến hết năm 2014, có 85 xã (32,2%) đạt chuẩn nông thôn mới (14 xã năm 2013, 71 xã năm 2014), vượt chỉ tiêu và hoàn thành sớm trước 1 năm xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 Một số địa phương đã nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới và về đích sớm như Thụy Phúc, Thụy Văn (Thái Thụy), Quỳnh Minh (Quỳnh Phụ), Hồng Minh (Hưng Hà) Trao đổi với chúng tôi, TS Nguyễn Hồng Diên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình cho biết, dự kiến đến cuối năm 2015, Thái Bình có 135 xã (51,1%) đạt chuẩn nông thôn mới; 129 xã đạt từ 13 - 18 tiêu chí Mục tiêu của Thái Bình đang đặt ra là phấn đấu đến năm 2020 Thái Bình cơ bản trở thành tỉnh có nền nông nghiệp, công nghiệp hiện đại
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình, đến hết tháng 12/2014, toàn tỉnh đã có 100% số xã được phê duyệt quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới, quy hoạch chi tiết hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng và quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã; 100% các xã đã hoàn thành lập đề án xây dựng nông thôn mới và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; 99,6% số xã hoàn thành dồn điền, đổi thửa (bình quân mỗi hộ 1,79 thửa ruộng, giảm 1,88 thửa) Hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn với 143 cánh đồng mẫu trên diện tích 6.072 ha, trong đó có 115 cánh đồng mẫu có ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các doanh nghiệp với diện tích 4.808 ha Toàn tỉnh đã có 99 xã tiến hành
Trang 30quy hoạch 137 khu chăn nuôi tập trung với tổng diện tích 1.964 ha Địa phương cũng đã xây dựng được 690 trang trại chăn nuôi, trong đó có 69 trang trại chăn nuôi quy mô lớn (tăng 37 trang trại so với năm 2010)
Để thúc đẩy sản xuất, các địa phương trong tỉnh đã tích cực cơ giới hóa sản xuất Toàn tỉnh đã thực hiện hỗ trợ cho 1.086 máy gặt đập liên hoàn, 630 máy làm đất đa năng, 29 máy cấy, 1.650 công cụ sạ hàng và 20 kho lạnh, với tổng số tiền đã
hỗ trợ trên 153 tỷ đồng, thực hiện cơ giới hóa 100% khâu làm đất, 50% khâu thu hoạch và đang tích cực đẩy mạnh cơ giới hóa trong khâu gieo cấy giúp cho việc giảm chi phí sản xuất và khắc phục tình trạng thiếu lao động ở những thời điểm có tính mùa vụ cao Hệ thống bờ vùng, bờ thửa, kênh mương, đường giao thông nội đồng, giao thông nông thôn, lưới điện, trạm bơm, cống đập, chợ, trường học, nhà văn hóa, khu thể thao, trạm y tế, trạm cấp nước sạch, bãi xử lý rác thải được tập trung đầu tư xây dựng theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Qua việc triển khai thực hiện phong trào, đến nay, các địa phương đã thực hiện đào đắp được 17.662.511 m3 bờ vùng, bờ thửa; cứng hóa 939 km kênh mương cấp 1 loại 3 và nạo vét hàng nghìn km sông ngòi Xây mới, chỉnh trang, cải tạo, nâng cấp 4.713,8 km đường giao thông nội đồng và giao thông nông thôn; 28 trạm bơm, 248 cống đập;
20 trạm cấp nước sạch; 43 trường Trung học cơ sở, tiểu học; 51 trường mầm non;
27 nhà văn hóa xã, 867 nhà văn hóa thôn; 171 trạm y tế; 22 bãi xử lý rác thải; 44 chợ nông thôn; 14 trụ sở xã, 99 xã hoàn thành nâng cấp lưới điện nông thôn
Ở nhiều xã, nhân dân đã góp hàng vạn ngày công, hàng chục tỷ đồng, tự nguyện hiến hàng chục ha đất nông nghiệp, hàng nghìn mét vuông đất thổ cư, tự phá dỡ hàng nghìn mét tường cổng, dậu, hàng trăm mét vuông công trình phụ và nhà ở để mở rộng đường trục thôn, đường trong khu dân cư và xây dựng kênh mương, đường giao thông nội đồng Tiêu biểu như xã Bình Định (Kiến Xương); xã Đông Phương (Đông Hưng); xã Đông Lâm (Tiền Hải); xã Vũ Đoài (Vũ Thư); xã Thái Xuyên (Thái Thụy)
Phong trào chung tay, góp sức xây dựng nông thôn mới đã và đang lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân trong và ngoài địa phương tham gia, ủng hộ Tuỳ
Trang 31theo tình hình, đặc điểm của từng địa phương, khu dân cư mà nhân dân có những cách làm sáng tạo Trong thôn, trong xã thì không vượt quá sức dân; ngoài xã thì không phân biệt người giàu hay nghèo, người góp nhiều hay góp ít; tất cả toàn dân đoàn kết chung tay xây dựng nông thôn mới
Đặc biệt, nhiều cá nhân tuy còn có khó khăn trong cuộc sống, nhưng đã sẵn lòng dành dụm góp hàng chục triệu đồng, hiến hàng trăm mét vuông đất ở để mở đường hoặc xây dựng công trình phúc lợi Nhiều cụ đã ngoài 80 tuổi vẫn tích cực vận động con cháu ủng hộ hàng trăm triệu đồng Hàng nghìn hộ làm ăn khá giả và con em công tác xa quê, nhiều chức sắc tôn giáo đã ủng hộ tiền của với giá trị hàng chục, hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng trong phong trào chung tay xây dựng nông thôn mới Điển hình như gia đình ông Trần Xuân Ý, xã Tân Lễ (Hưng Hà) đóng góp 2,048 tỷ đồng làm đường nông thôn; bà Đinh Thị Nụ (là vợ liệt sĩ) xã Chi Lăng (Hưng Hà) ủng hộ 280 triệu đồng; gia đình ông Lê Anh Tuấn xã Tây Phong (Tiền Hải) ủng hộ 3 tỷ đồng; ông Trần Hữu Vĩnh, xã Thái Phương (Hưng Hà) ủng hộ 1,950 tỷ đồng; gia đình ông Ngô Văn Phát, xã Nam Hưng (Tiền Hải) trú quán tại thành phố Hải Phòng đã ủng hộ 12,880 tỷ đồng…
Trong nhiều cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể, cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong tỉnh cũng có những việc làm thiết thực, quyên góp từ 2 - 5 ngày thậm chí 10 ngày lương ủng hộ giúp đỡ một xã, một thôn xây dựng nông thôn mới Tiêu biểu như cơ quan Huyện uỷ Đông Hưng, Đảng uỷ Quân sự tỉnh, Đảng bộ Quân sự thành phố, Đảng bộ Quân sự huyện Vũ Thư Các đồng chí tỉnh uỷ viên và 38 sở, ban, ngành cấp tỉnh, đều tự nguyện giúp một xã còn khó khăn xây dựng nông thôn mới Cán bộ công chức, viên chức Sở Nội vụ ủng hộ
133 triệu đồng; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ủng hộ 393 triệu đồng; Sở Giao thông Vận tải ủng hộ 100 triệu đồng Một số doanh nghiệp khu công nghiệp ủng hộ số tiền 60 triệu đồng Hội Cựu chiến binh tỉnh có 2.614 hội viên đóng góp tiền của, ngày công lao động, cơ sở vật chất, hiến kế xây dựng các công trình cơ sở
hạ tầng với số tiền 35,120 tỷ đồng Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình và Bệnh viện
Đa khoa tỉnh đã tổ chức nhiều đợt đưa thanh niên tình nguyện xuống các xã khám
Trang 32chữa bệnh miễn phí cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn Trường Đại học Y- Dược Thái Bình tổ chức tham gia công tác vệ sinh môi trường nông thôn như xử lý rác thải, rơm rạ bằng chế phẩm sinh học do nhà trường nghiên cứu sản xuất
Có thể thấy, cùng với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và các Chương trình mục tiêu của Trung ương, Thái Bình đã huy động các nguồn khác hợp pháp để xây dựng nông thôn mới Cũng theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình, tổng nguồn lực huy động để xây dựng nông thôn mới trong năm 2014 (bao gồm cả bằng tiền, ngày công, hiến đất, tài sản, hiện vật quy ra tiền) là 6.323 tỷ đồng chiếm 83,6% so với tổng nguồn lực trong 5 năm từ 2010 - 2014
Những kết quả trên cho thấy, xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng, sôi nổi, hiệu quả đều khắp trong toàn tỉnh, huy động tốt nội lực và sức sáng tạo trong nhân dân Trong 4 năm đã huy động gần 8.000 tỷ đồng, nhân dân các địa phương tự nguyện hiến gần 2.000 ha đất để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư; một số công trình, dự án trọng điểm đã hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả cao
Từ những thành tựu rất quan trọng trong xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình cho thấy, trước hết, cần làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư về nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế chính sách của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới theo tinh thần người dân phải
là chủ, làm chủ; huy động nội lực là chính Coi trọng công tác xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt ở các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở
Mỗi địa phương cần có cách làm chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện
và đặc điểm của từng địa phương, tránh rập khuôn, máy móc Tạo điều kiện để mỗi địa phương tự chủ trong xác định nhu cầu thiết thực và việc phân bổ nguồn lực cũng tập trung ưu tiên hơn cho các nhu cầu cụ thể
Đa dạng hoá việc huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới theo phương châm “Huy động nguồn lực từ cộng đồng là quyết định, sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội là quan trọng, sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là cần thiết”
Trang 33Việc sử dụng nguồn lực vào các công trình công cộng phải được người dân bàn bạc dân chủ và thống nhất, có giám sát cộng đồng, đảm bảo công khai, minh bạch Cần
có sự tập trung chỉ đạo cụ thể, liên tục, đồng bộ và huy động được sự tham gia của
cả hệ thống chính trị; tăng cường kiểm tra, sơ kết, tổng kết, thúc đẩy thực hiện chương trình
1.2.3.3 Xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Kạn
Sau 3 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được một số kết quả ban đầu: Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo tỉnh, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới triển khai trên địa bàn tỉnh đã nhận được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị Hệ thống Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý các cấp từ tỉnh đến xã cơ bản ổn định; kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị tổ chức thực hiện những nội dung của chương trình Công tác kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Chương trình ở cơ sở được tăng cường nhằm phát hiện và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
Công tác tuyên truyền về chương trình được triển khai thường xuyên, liên tục, bám sát các nhiệm vụ, nội dung đã đề ra trong kế hoạch hàng năm với hình thức chủ yếu là lồng ghép trong các buổi hội nghị, họp thôn, họp chi bộ, sinh hoạt các tổ chức đoàn thể và tuyên truyền trên loa truyền thanh xã Qua tuyên truyền, nhận thức
về xây dựng nông thôn mới của các cán bộ Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý xã và người dân đã có sự chuyển biến; nhân dân các xã tích cực hưởng ứng, ủng hộ ngày công lao động, hiến đất … để thực hiện các công trình công cộng
Nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ triển khai thực hiện chương trình, các cơ quan chuyên môn đã tổ chức được 28 lớp tập huấn cho hơn 1.000 lượt cán bộ với những chuyên đề thiết thực, có chất lượng, nội dung tập huấn sát với thực tiễn
Năm 2014, tỉnh huy động nguồn lực thực hiện xây dựng nông thôn mới được trên 285,6 tỷ đồng; trong đó, vốn ngân sách trung ương là 75,685 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 1,3 tỷ đồng, các doanh nghiệp đã đóng góp được 2,35 tỷ đồng, nhân dân đóng góp được trên 16,386 tỷ đồng (tiền mặt và ngày công lao động làm
Trang 34đường giao thông, kênh mương), vốn lồng ghép các chương trình, dự án khác được 189,936 tỷ đồng
Từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2014 là 3,6 tỷ đồng, tỉnh đã phân bổ cho 12 xã điểm, mỗi
xã 300 triệu đồng Các xã đã sử dụng kinh phí được giao để tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ một số máy móc nông nghiệp, xây dựng được 21 mô hình sản xuất cho người dân
Từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ, tỉnh tập trung đầu tư xây dựng các công trình đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương nội đồng và thoát nước thải khu dân cư Đến hết quý I/2015, đã có 164/174 công trình thi công xong Tính đến 31/3/2015, kết quả giải ngân nguồn vốn ngân sách Trung ương đạt 72,59% KH
Ngoài nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh
đã lồng ghép nguồn vốn các chương trình khác để thực hiện xây dựng nông thôn mới như: Lồng ghép nội dung phát triển sản xuất của chương trình 135 và chương trình 30a
để hỗ trợ về máy móc, giống, vật tư nông nghiệp cho gần 14.000 hộ dân phát triển sản xuất; lồng ghép vốn từ các chương trình 3PAD, 30a, 135, vay tín dụng ưu đãi… xây dựng được 55 công trình đường giao thông nông thôn, duy tu bảo dưỡng 5 công trình
và sửa chữa 2 cầu treo, xây dựng 01 chợ xã và nhà văn hóa xã, 31 nhà văn hóa thôn; sửa chữa và xây dựng mới 15 trường học, xây mới 9 trạm y tế …
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo tỉnh, Tính đến hết tháng 3/2015, toàn tỉnh có
15 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí; 79 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí; 18 xã đạt dưới 5 tiêu chí Bình quân mỗi xã đạt 6,78 tiêu chí Năm 2015, toàn tỉnh phấn đấu có 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới (dự kiến là xã Quân Bình, huyện Bạch Thông hiện đã đạt 14/19 tiêu chí); bình quân chung mỗi xã đạt 8,2 tiêu chí; 4 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí;
19 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí; 19 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí
Bên cạnh những kết quả đạt được, tỉnh Bắc Kạn còn gặp nhiều khó khăn trong thực hiện chương trình xây dựng NTM như: Các xã lúng túng trong việc triển khai, lập dự toán và quản lý các công trình hạ tầng nông thôn; trong quy hoạch sản
Trang 35xuất, hầu hết các xã đều khó xác định hàng hóa chủ lực dẫn đến việc triển khai dự
án hỗ trợ sản xuất tại một số xã còn khó khăn, chưa sát với thực tế; nguồn vốn huy động đầu tư xây dựng nông thôn mới còn hạn chế, chủ yếu là ngân sách Trung ương phân bổ hàng năm; việc huy động các nguồn vốn lồng ghép, vốn tín dụng trong xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ chế hướng dẫn cụ thể; các
xã triển khai dự án hỗ trợ sản xuất còn dàn trải; tiến độ giải ngân các công trình xây dựng còn chậm [10]
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác sử dụng đất phục vụ cho xây dựng nông thôn mới, cụ thể là các tiêu chí xây dựng nông thôn mới có sử dụng đất và một số yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, với 3 xã đại diện, trong đó 02 xã được chọn làm xã điểm và 01 xã không được chọn làm xã điểm đề xây dựng nông thôn mới và đề tài chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài tiến hành đánh giá công tác sử dụng đất phục vụ quy hoạch xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2014 đến tháng 10/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn
2.3.2 Sơ lược công tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
2.3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn
2.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 2.3.5 Thuận lợi, khó khăn, tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả sử dụng đất cho xây dựng nông thôn mới
Trang 372.4 Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp logic kết hợp với phương pháp kế thừa lịch sử, phương pháp điều tra, khảo sát thu thập tài liệu kết hợp với phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích và phương pháp thống kê Sau đây là một số phương pháp cụ thể được vận dụng để nghiên cứu:
2.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Thông tin số liệu chủ yếu bao gồm: các kết quả nghiên cứu có liên quan đã tiến hành trước đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình sử dụng đất, tình hình thực hiện các chính sách đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất…, trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
* Thông tin số liệu được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau
- Các công trình khoa học và các nghiên cứu liên quan đến tình hình sử dụng đất ở trong và ngoài nước
- Các tạp chí, sách báo, tập san, báo cáo khoa học chuyên ngành đã được công bố
- Các sở, ban ngành ở tỉnh Bắc Kạn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục phát triển nông thôn, Cục Thống Kê
- Các phòng ban của huyện Chợ Đồn và các xã thôn bản vùng nghiên cứu: UBND huyện, phòng NN & PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống
kê, UBND các xã
* Để thu thập thông tin số liệu: Thu thập các thông tin liên quan đến đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý sử dụng đất và các tài liệu liên quan đến quy hoạch đất đai, quy hoạch nông thôn mới khu vực nghiên cứu Có thể dùng các phương pháp điều tra trực tiếp thông qua hệ thống sổ sách, tài liệu đã được công bố
2.4.2 Thu thập tài liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những
Trang 38số liệu này được thu thập từ việc điều tra các đối tượng tham gia vào các dự án đầu giá quyền sử dụng đất Phương pháp điều tra được tiến hành như sau:
2.4.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tính khách quan, tính chính xác và tính thực tiến kết quả nghiên cứu của đề tài
* Chọn xã: Việc chọn xã điểm phải đảm bảo yêu cầu đại diện cho tình hình
sử dụng đất trong phát triển xây dựng nông thôn mới Hiện nay trên địa bàn huyện Chợ Đồn 21/21 xã, thị trấn đều đã tiến hành quy hoạch xây dựng nông thôn mới Trong đó có 2 xã Rã Bản và Đông Viên được lựa chọn làm xã điểm trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Để rút ra các bài học cho việc xây dựng nông thôn mới của các xã còn lại trên địa bàn huyện
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất phục vụ cho việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Đồn, đề tài đã chọn 02 xã điểm xây dựng nông thôn mới và 01 xã không phải xã điểm xây dựng nông thôn mới để điều tra đánh giá cụ thể đến các hộ gia đình; 03 xã được chọn là:
- 02 xã làm điểm xây dựng NTM là: Xã Rã Bản và xã Đông Viên
- 01 xã không phải xã điểm xây dựng NTM là: Xã Đồng Lạc
* Chọn hộ gia đình điều tra
Đề tài tiến hành phát phiếu điều tra cho 90 hộ trên địa bàn 3 xã điều tra (30 hộ/xã) Các hộ được chọn điều tra một cách ngẫu nhiên
2.4.2.2 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:
Để lấy thông tin theo chiều rộng, tránh cho người bị phỏng vấn cảm thấy bị nhàm chán, bị ép buộc phải trả lời câu hỏi có sẵn, chúng tôi đã dùng các câu hỏi không có trong phiếu điều tra để hỏi đối tượng, những câu hỏi phát sinh trong quá trình phỏng vấn
Đề tài tiến hành phát phiếu điều tra 90 hộ đang sinh sống và lao động trên địa bàn 3 xã được chọn để nghiên cứu (30hộ/xã)
Trang 39Phương pháp này nhằm mục đích lấy thông tin rộng hơn, gợi mở hơn nhiều vấn đề mới quan trọng và thú vị
2.4.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của các chuyên gia
trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý, người sản xuất giỏi có kinh nghiệm, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác
2.4.2.4 Phương pháp quan sát trực tiếp
Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế, vì qua phương pháp này tất
cả các giác quan của người phỏng vấn đều được sử dụng: mắt nhìn, tai nghe qua
đó các thông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan
2.4.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh
Phương pháp này được tiến hành sau khi đã thu thập thống kê đầy đủ các tài liệu số liệu cần thiết Từ đó phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh các dữ liệu để rút
ra nhận xét về mặt thuận lợi khó khăn từ đó đưa ra giải pháp khắc phục, phương pháp này đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng
2.4.4 Phương pháp đánh giá nhận xét
Từ những tài liệu, số liệu thu thập được và quá trình phân tích chúng ta tiến hành đánh giá, nhận xét và từ đó đề xuất giải pháp để định hướng sử dụng đất có hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Chợ Đồn là huyện miền núi cao nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, có vị trí địa
lý từ 105025’ đến 105043’ kinh độ Đông, từ 21057’ đến 22025’ vĩ độ
- Phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới
- Phía Tây giáp huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn, Na Hang tỉnh Tuyên Quang
- Phía Bắc giáp huyện Ba Bể
- Phía Nam giáp huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên
Huyện Chợ Đồn có tổng diện tích tự nhiên là 91.135,65 ha chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn Huyện có 22 đơn vị hành chính, trung tâm huyện lỵ
là thị trấn Bằng Lũng cách thị xã Bắc Kạn khoảng 42 km theo tỉnh lộ 257 Huyện Chợ Đồn có hệ thống giao thông khá đầy đủ với đường tỉnh lộ 254, 254B, 255, 257… các tuyến liên xã tương đối hoàn thiện tạo thuận lợi cho huyện trong giao lưu thương mại, phát triển kinh tế - xã hội, hòa nhập với nền kinh tế thị trường [15]