Trên thế giới cũng như ở nước ta trong những năm gần đây, mặc dù đã có nhiều biện pháp chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng sử dụng thuốc như: ban hành danh mục thuốc thiết yếu, xây dựng
Trang 2LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Lan Anh
Thời gian thực hiện: từ tháng 7/2019 đến tháng 11/2019
HÀ NỘI 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều của thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và người thân
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Lan
Anh- người đã luôn quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trường Đại học Dược Hà
Nội đã dạy dỗ và tạo điều kiện cho tôi được học tập và rèn luyện trong suốt
những năm học vừa qua Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô Bộ môn
Quản lý kinh tế dược đã hướng dẫn, tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn
thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Cục Hậu cần/Bộ Tổng Tham
mưu, Phòng Quân y/Bộ Tổng Tham mưu và tập thể cán bộ, nhân viên Phòng Quân y/Bộ Tổng Tham mưu đã tạo điều kiện cho tôi về mọi mặt để
tôi học tập, nghiên cứu
Lời cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ và đóng góp
ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2019
Học viên
Trần Mạnh Hùng
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Danh mục thuốc 3
1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc 3
1.1.2 Phân loại danh mục thuốc 4
1.1.3 Danh mục thuốc sử dụng 5
1.2 Phân tích sử dụng thuốc 6
1.2.1 Các phương pháp tổng quát phân tích tình hình sử dụng thuốc 6
1.2.2 Các bậc thang trong phân tích tình hình sử dụng thuốc 8
1.2.3 Một số phương pháp cụ thể phân tích tình hình sử dụng thuốc 9
1.2.3.1 Phương pháp phân tích nhóm điều trị 10
1.2.3.2 Phương pháp phân tích ABC 11
1.2.3.3 Phương pháp phân tích VEN 12
1.2.3.4 Phương pháp phân tích ma trận ABC-VEN 12
1.2.4 Một số vấn đề về cơ cấu thuốc sử dụng 12
1.3 Một số nét về Phòng Quân y/Bộ Tổng Tham mưu 18
1.3.1 Lịch sử 18
1.3.2 Vị trí, Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Quân y 19
1.3.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của bộ phận dược - Phòng Quân y 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Xác định các biến số nghiên cứu 26
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Nội dung nghiên cứu 27
Trang 52.2.3 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu 29
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 30
2.2.4.1 Phân tích ABC 30
2.2.4.2 Phân tích VEN 31
2.2.4.3 Phân tích ma trận ABC/VEN 31
2.2.4.4 So sánh hai tỷ lệ 31
2.2.4.5 Cách tính các chỉ tiêu 31
2.2.5 Phương pháp trình bày số liệu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại Phòng quân Y - Bộ Tổng Tham mưu giai đoạn 2016 - 2018 32
3.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc và giá trị sử dụng giai đoạn 2016-2018 32
3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 34
3.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo thuốc đơn thành phần, đa thành phần 35
3.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo đường dùng 37
3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo tên thuốc 38
3.2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC, VEN và ABC/VEN 39
3.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân tích ABC 39
3.2.2 Cơ cấu các thuốc tên thương mại, biệt dược gốc, thuốc INN của các thuốc hạng A 40
3.2.3 Cơ cấu của các thuốc hạng A theo nguồn gốc xuất xứ 42
3.2.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích VEN 43
3.2.5 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC/VEN 44
Chương 4: BÀN LUẬN 50
4.1 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 50
4.2 Về cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc 52
4.3 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng 54
Trang 64.4 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo tên thuốc 56
4.5 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC 57
4.6 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích VEN 59
4.7 Về cơ cấu sử dụng thuốc theo phân tích ABC/VEN 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Phòng quân Y - Bộ Tổng Tham mưu giai đoạn 2016 - 2018 62
2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC, VEN và ABC/VEN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 65
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 67
PHỤ LỤC 69
Mẫu số 1 69
Mẫu số 2 70
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 BHYT Bảo hiểm y tế
5 CQY Cục Quân y-Tổng Cục Hậu cần
6 PQY-BTTM Phòng Quân y-Bộ Tổng Tham mưu
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Mô hình bệnh tật Phòng Quân y/BTTM giai đoạn
Bảng 1.2 Cơ cấu kinh phí đảm bảo thuốc của Phòng Quân y giai đoạn 2016-2018 22
Bảng 2.4 Cách tính các chỉ tiêu nghiên cứu 30 Bảng 3.5 Số khoản mục và giá trị sử dụng thuốc giai đoạn
Bảng 3.6 Tỉ lệ số khoản mục và giá trị sử dụng thuốc được sử
dụng theo nhóm tác dụng dược lý
32 Bảng 3.7 Tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu 34 Bảng 3.8 Tỉ lệ thuốc đơn thành phần, đa thành phần 35 Bảng 3.9 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đường dùng 36 Bảng 3.10 Cơ cấu thuốc sử dụng theo tên thương mại và tên
ABC/VEN
44 Bảng 3.16 Cơ cấu giá trị thuốc sử dụng theo phân tích ABC/VEN 45 Bảng 3.17 Danh mục các thuốc nhóm AN và giá trị sử dụng theo phân tích ABC/VEN 46
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu 27
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế có thăm khám và điều trị thuốc là một nguồn vật chất không thể thiếu Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc không hợp lý làm gia tăng đáng kể chi phí cho người bệnh nói riêng và nguồn lực xã hội nói chung, thậm chí còn gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh Chính vì vậy, việc phân tích dữ liệu sử dụng thuốc để xác định các bất hợp lý trong sử dụng thuốc từ đó đề ra các biện pháp nhằm tăng cường sử dụng thuốc hợp lý là một việc làm hết sức quan trọng nhằm tiết kiệm nguồn lực cho
xã hội và bảo vệ tính mạng bệnh nhân
Trên thế giới cũng như ở nước ta trong những năm gần đây, mặc dù đã
có nhiều biện pháp chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng sử dụng thuốc như: ban hành danh mục thuốc thiết yếu, xây dựng các phác đồ điều trị chuẩn, thành lập hội đồng thuốc và điều trị… Mặc dù vậy việc sử dụng thuốc vẫn còn tồn tại nhiều bất cập: tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh, vitamin và thuốc bổ trợ, phối hợp sử dụng nhiều thuốc trong một đơn… vẫn còn diễn ra thường xuyên ở nhiều nơi
Hiện nay, việc sử dụng thuốc bất hợp lý đang gây ra một số vấn đề của
xã hội nước ta: Sự lạm dụng kháng sinh đã làm nảy sinh vấn đề vi khuẩn kháng thuốc, tạo ra nhiều chủng siêu vi khuẩn ở mức báo động Việc sử dụng quá nhiều thuốc vitamin và thuốc bổ trợ làm lãng phí một nguồn lực rất lớn của xã hội Trong khi đó nếu sử dụng nhiều thuốc có nguồn gốc nhập khẩu gây tăng chi phí thăm khám điều trị và làm chậm tốc độ phát triển của ngành sản xuất thuốc trong nước Quá nhiều thuốc mang tên thương mại gây nhầm lẫn cho người bệnh trong sử dụng, bác sỹ kê đơn và khó khăn trong quản lý
Từ năm 2018 lực lượng Quân đội, Công an, Cơ yếu chuyển từ hình thức khám chữa bệnh bằng bao cấp sang hình thức khám chữa bệnh bằng sử dụng thẻ bảo hiểm y tế là bước thay đổi lớn trong công tác bảo đảm khám chữa bệnh cho các lực lượng này Phòng quân y - Bộ Tổng Tham mưu là một
Trang 112
cơ quan chuyên ngành của Bộ Tổng Tham mưu ngoài trách nhiệm xây dựng, quản lý hệ thống cơ sở y tế đảm bảo công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu
và chiến đấu thì còn phải đảm bảo chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho các cán
bộ, chiến sỹ của đơn vị trong thời bình Với số lượng cán bộ, chiến sỹ đơn vị phải đảm bảo nhiều, địa bàn đóng quân trải rộng trong cả nước, quân y các đơn vị phân tán nên việc quản lý sử dụng thuốc còn gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Phòng quân y - Bộ Tổng Tham mưu giai đoạn 2016 - 2018” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Phòng quân y - Bộ Tổng Tham mưu giai đoạn 2016 - 2018
2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Phòng quân y - Bộ Tổng Tham mưu giai đoạn 2016 - 2018 theo phân tích ABC, VEN và ABC/VEN
Thông qua các kết quả nghiên cứu của đề tài chúng tôi sẽ đề xuất một
số giải pháp cho đơn vị nhằm góp phần nâng cao chất lượng sử dụng thuốc tại Phòng quân y - Bộ Tổng Tham mưu nói riêng và cho cơ sở y tế khác trong Quân đội và cho cả nước nói chung
Trang 123
Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Danh mục thuốc
1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc
Danh mục thuốc (DMT) theo một cách khái quát và đơn giản nhất có thể hiểu là danh sách tập hợp các loại thuốc Đối với một cơ sở y tế xác định
và trong một khoảng thời gian xác định thì DMT của cơ sở là danh sách tập hợp các loại thuốc của cơ sở trong một khoảng thời gian xác định Tuy nhiên, việc xác định DMT như vậy chưa phản ánh hết bản chất và các vấn đề nảy sinh trong quá trình sử dụng thuốc như sử dụng thuốc có đúng bệnh hay không; thuốc có đầy đủ và luôn sẵn có theo nhu cầu điều trị hay không… Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), DMT được định nghĩa: là một danh sách tập hợp những loại thuốc cần thiết thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh, phù hợp với mô hình bệnh tật (MHBT), kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng cơ sở y tế và khả năng chi trả của người bệnh Những thuốc này trong phạm vi không gian, thời gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng đảm bảo, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng [28]
Khái niệm DMT của WHO đề cập đến các nội dung cơ bản của thuốc như sau:
- Là một danh sách tập hợp tất cả các loại thuốc thỏa mãn nhu cầu khám, chữa bệnh của cơ sở xác định (phạm vi không gian); trong khoảng thời gian xác định (phạm vi thời gian);
- Các thuốc có trong danh sách phù hợp với mô hình bệnh tật của cơ sở;
- Thuốc có đặc tính kỹ thuật phù hợp với trình độ kỹ thuật điều trị và bảo quản của cơ sở, dạng bào chế thích hợp;
- Giá cả của thuốc phải chăng, phù hợp với khả năng chi trả của cơ sở và người bệnh
Trang 134
Như vậy, khái niệm DMT của WHO là khá toàn diện đề cập đến hầu hết các vấn đề liên quan đến thuốc từ mua sắm, bảo quản, sử dụng điều trị và khả năng thanh toán,… Khái niệm này cho thấy DMT không đơn thuần chỉ là một danh sách tập hợp các loại thuốc chung chung
1.1.2 Phân loại danh mục thuốc
- Trong chu trình cung ứng thuốc với 4 giai cơ bản: lựa chọn; mua sắm; tồn trữ, cấp phát và sử dụng Bốn giai đoạn này có mối quan hệ mật thiết với nhau, sự kết thúc của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn tiếp theo [1] Trong cả bốn giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc đều thấy xuất hiện DMT Dựa vào sự phân chia các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc thì DMT thuốc cũng có các loại sau:
- DMT lựa chọn (hay DMT tổng quát): đây là danh sách tập hợp các loại thuốc có trên thị trường có thể mua sắm Hay có thể hiểu đây là danh sách tất cả các thuốc đang hoặc sẽ lưu hành trên thị trường (trong khu vực)
mà cơ sở có khả năng mua sắm được trong khoảng thời gian xác định
- DMT mua sắm: từ DMT có sẵn cơ sở tiến hành lựa chọn các thuốc phù hợp với khả năng điều trị, bảo quản và nhu cầu sử dụng tập hợp các thuốc này lại và xây dựng lên DMT mua sắm và tiến hành mua sắm Đây là DMT của quá trình mua sắm
- DMT điều trị: sau khi thực hiện mua sắm cơ sở sẽ ban hành DMT hiện có của cơ sở sẵn sàng sử dụng trong thăm khám và điều trị Có thể xác định đây là DMT đang có
- DMT sử dụng (hay DMT đã sử dụng): sau khi sử dụng thuốc trong một khoảng thời gian xác định thì danh sách tập hợp các thuốc đã sử dụng trong quá trình thăm khám, điều trị thực tế được xác lập và có thể gọi là DMT
sử dụng
Như vậy, tương ứng với mỗi giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc thì
sẽ có một loại DMT tương ứng.Có thể nói DMT là kết quả của mỗi giai đoạn
Trang 145
của chu trình cung ứng Cũng giống như các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc, các DMT cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, DMT này vừa là kết quả vừa là tiền đề để hình thành lên DMT tiếp theo Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi tiến hành khảo sát về DMT sử dụng
1.1.3 Danh mục thuốc sử dụng
Trong một khoảng thời gian xác định, cơ sở y tế sử dụng thuốc vào trong quá trình thăm khám và điều trị, kết thúc khoảng thời gian này chúng ta có thể tập hợp tất cả các thuốc đã sử dụng lại hình thành lên một danh sách các thuốc
đã sử dụng Nên, DMT sử dụng có thể hiểu là một danh sách tập hợp tất cả các thuốc đã sử dụng trong một khoảng thời gian xác định Hay DMT sử dụng là kết quả của quá trình sử dụng thuốc trong một khoảng thời gian xác định
Một số đặc điểm của DMT sử dụng khác với các DMT khác:
- Các thuốc trong danh mục là các thuốc đã được sử dụng thực tế;
- Mỗi loại thuốc trong danh mục có thể xác định được chính xác số lượng, giá trị dùng để thăm khám, phòng và điều trị bệnh;
- Thông thường DMT sử dụng phù hợp với MHBT; trình độ, kỹ thuật điều trị, khả năng bảo quản thuốc của cơ sở;
- Phản ánh tương đối chính xác thực trạng sử dụng thuốc của cơ sở y tế
Về vai trò của DMT sử dụng: DMT sử dụng có một vai trò to lớn đó là
là cơ sở cơ bản để xây dựng nên DMT mua sắm cho giai đoạn tiếp theo trong quá trình hoạt động của cơ sở y tế
Như vậy, DMT sử dụng là kết quả của quá trình sử dụng thuốc của cơ sở vào trong việc thăm khám, phòng và điều trị bệnh tại cơ sở trong một khoảng thời gian xác định Việc nghiên cứu phân tích DMT sử dụng cho các nhà quản
lý thấy được một cách tổng quát các vấn đề sử dụng thuốc tại cơ sở của mình: thuốc sử dụng đã hợp lý chưa (?); những bất cập gì còn tồn tại trong quá trình
sử dụng (?); những loại thuốc nào, nhóm thuốc nào tiềm ẩn những vấn đề đáng quan tâm trong quá trình sử dụng thuốc (?);… đồng thời có thể cung cấp một
Trang 151.2.1 Các phương pháp tổng quát phân tích tình hình sử dụng thuốc
Trong phân tích tình hình sử dụng thuốc tuỳ theo mục đích, cách tiếp cận vấn đề trong sử dụng thuốc mà nhà nghiên cứu có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tiến hành phân tích Tuy nhiên, khái quát lại các phương pháp được sử dụng có thể thấy trong phân tích sử dụng thuốc có 4 phương pháp phân tích cơ bản:
- Phương pháp thu thập số liệu tổng hợp: bao gồm các số liệu không liên quan trực tiếp đến từng bệnh nhân cụ thể và có thể thu thập tương đối dễ
Trang 167
dàng Các phương pháp điển hình sử dụng như phân tích ABC, phân tích VEN và phương pháp DDD Phương pháp này thường được sử dụng để nhận định những vấn đề lớn trong sử dụng thuốc [29]
- Nghiên cứu các chỉ số về thuốc: là phương pháp thu thập số liệu ở từng bệnh nhân, nhưng không thường xuyên bao gồm các thông tin cần thiết
để đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị phù hợp với chẩn đoán Những số liệu này có thể được thu thập bởi những người không trực tiếp kê đơn và được sử dụng để nhận định những vấn đề về sử dụng thuốc, chăm sóc bệnh nhân và đưa ra những biện pháp can thiệp để giải quyết vấn đề [29]
- Phương pháp định tính : đó là các hình thức thảo luận nhóm có trọng tâm, phỏng vấn sâu, quan sát và đặt câu hỏi có chọn lọc thường được sử dụng để nhận định nguyên nhân của vấn đề [29]
- Đánh giá sử dụng thuốc: là một hệ thống những đánh giá liên tục về
sử dụng thuốc dựa trên các tiêu chuẩn, giúp cho việc đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý ở trên từng cá thể người bệnh Phương pháp này đòi hỏi những phân tích chi tiết trên từng bệnh nhân cụ thể [29]
Với 4 phương pháp phân tích nêu trên có thể thấy với mỗi phương pháp tập trung vào một hay nhiều khía cạnh của các vấn đề còn tồn tại trong sử dụng thuốc Nhưng, mỗi phương pháp cũng chỉ xác định được một hay một vài vấn đề cũng như đề ra được một số biện pháp khắc phục các tồn tại trong
sử dụng thuốc Do vậy, nếu muốn xác định hầu hết các vấn đề bất cập trong
sử dụng thuốc, cũng như tìm các nguyên nhân của vấn đề đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần kết hợp cả 4 phương pháp trong nghiên cứu phân tích sử dụng thuốc Để nâng cao chất lượng sử dụng thuốc ở các cơ sở, WHO khuyến cáo các cơ sở phải thành lập hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) để phân tích tình hình sử dụng thuốc, trong quá trình phân tích hội đồng thuốc và điều trị phải thường xuyên áp dụng cả 4 phương pháp phân tích trên [29]
Trang 178
1.2.2 Các bậc thang trong phân tích tình hình sử dụng thuốc
Theo WHO, trong nghiên cứu phân tích sử dụng thuốc có thể chia làm
3 cấp độ tương ứng với 3 mức độ quản lý sử dụng thuốc
Cấp độ 1 Nghiên cứu tổng quát để nhận định vấn đề
Đây là bước nghiên cứu ban đầu để nhận định các vấn đề lớn trong sử dụng thuốc bất hợp lý, hay đây là cấp độ nhận dạng vấn đề Nó có ý nghĩa định hướng cho nhà quản lý biết các vấn đề chung nhất còn tồn tại trong sử dụng thuốc, thông qua đó các nhà quản lý cũng đề ra được các biện pháp khái quát nhất để xử lý các vấn đề còn tồn tại Có hai phương pháp chính để tiến hành:
- Phương pháp thu thập số liệu tổng hợp: phương pháp này sử dụng số liệu thu thập không phải ở từng bệnh nhân; mà là ở những bản báo cáo tổng hợp sẵn có Những số liệu này thường được tổng hợp định kỳ để phục vụ cho mục đích khác chứ không phải điều tra sử dụng thuốc, ví dụ: báo cáo nhập kho, xuất kho, tồn kho, Số liệu sau khi được tổng hợp, phân tích sẽ mang lại một bức tranh toàn cảnh về sử dụng thuốc và nó rất hữu ích trong việc quản lý danh mục thuốc
- Phương pháp nghiên cứu chỉ số: phương pháp này sử dụng các số liệu thu thập ở từng bệnh nhân một cách không liên tục, ví dụ: các đơn thuốc, hoặc
số lần tiếp xúc giữa bác sĩ và người bệnh Các thông tin chỉ số nghiên cứu được thu thập nhằm nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc, nhưng không đủ
để đánh giá về sự phù hợp của thuốc được sử dụng cho điều trị so với chẩn đoán trên từng bệnh nhân Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu này cũng cho nhà nghiên cứu thấy được bức tranh khá toàn cảnh về sử dụng thuốc, có thể xác định, định hướng một số vấn đề trong sử dụng thuốc như “có dấu hiệu lạm dụng thuốc không” Do đó, những thông tin này có thể được thu thập từ những nhân viên kỹ thuật, không nhất thiết phải từ bác sĩ, dược sĩ hay y tá
Cấp độ 2 Phân tích sâu về những vấn đề cụ thể
Trang 189
Một khi vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý đã được nhận dạng, cần phải phân tích sâu nhằm đánh giá mức độ và bản chất, cũng như nguyên nhân của vấn đề đó Khi phân tích ở cấp độ này những phương pháp được
sử dụng bao gồm:
- Kiểm tra việc kê đơn để xem việc điều trị cho một bệnh nhân cụ thể
có tuân thủ theo hướng dẫn điều trị hay không?
- Kiểm tra định tính nhằm xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý Có thể có rất nhiều lý do giải thích cho việc sử dụng thuốc bất hợp lý, nhưng chỉ có thể thiết lập một chiến lược thay đổi hành vi hiệu quả khi hiểu rõ những lý do này
- Đánh giá việc sử dụng thuốc để biết liệu việc sử dụng một thuốc cụ thể có phù hợp cho những tiêu chí đã được thống nhất trước đó hay không?
Cấp độ 3 Xây dựng, thực hiện và đánh giá các chiến lược can thiệp sử dụng thuốc
Sau khi nhận dạng được, xác định được các vấn đề và nguyên nhân của những vấn đề đó; nhà quản lý sẽ tiến hành xác định phương thức, cách thức can thiệp vào quá trình sử dụng thuốc Phân tích sử dụng thuốc ở cấp độ này được tiến hành theo 3 bước: xây dựng các chiến lược can thiệp; tổ chức thực hiện chiến lược can thiệp; phân tích đánh giá hiệu quả của các chiến lược can thiệp
Phương pháp can thiệp thường có thể chia thành 3 loại:
- Giáo dục: nhằm mục đích cung cấp thông tin và thuyết phục người
Trang 1910
1.2.3.1 Phương pháp phân tích nhóm điều trị
* Khái niệm:là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào
đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [20]
* Vai trò và ý nghĩa:
- Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất
- Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật (MHBT), xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện
- Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế [22]
* Các bước thực hiện:
- Sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng
thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc toàn cơ sở
- Phân loại nhóm điều trị cho từng thuốc: phân loại này có thể dựa vào phân loại trong Danh mục thuốc thiết yếu của WHO hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý - Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của WHO,… Trong đề tài này chúng tôi phân tích nhóm điều trị theo Thông tư 40/2014/TT-BYT Ban hành và hướng dẫn về thực hiện danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán và các hướng dẫn chuyên ngành của Cục Quân y/ Tổng Cục Hậu cần thiết kế riêng cho lực lượng Quân đội để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay [5], [ 9]
- Tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí các thuốc trong mỗi nhóm thuốc,
từ đó xác định tình hình kê đơn thuốc thực tế đang tập trung vào những nhóm thuốc nào thông qua việc xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất
Trang 2011
- Đối chiếu với mô hình bệnh tật, từ đó phân tích đánh giá tính hợp lý của mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật thực tế tại đơn vị
1.2.3.2 Phương pháp phân tích ABC
* Khái niệm:
Phương pháp phân tích ABC được nhà kinh tế học Vilfredo Pareto đề xuất ứng dụng trong quản trị hàng hóa nói chung, phương pháp này được gọi chung là nguyên lý Pareto hay nguyên tắc 80/20 Thuốc cũng là một loại hàng hóa, tuy nhiên thuốc là sản phẩm sử dụng để chẩn đoán, điều trị bệnh nên được coi là một loại hàng hóa đặc biệt Do vậy, trong phân tích sử dụng thuốc có thể sử dụng phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC trong phân tích sử dụng thuốc có thể hiểu là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hằng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỉ lệ lớn trong ngân sách
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những bất hợp lí trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với MHBT
- Xác định phương án mua các thuốc không nằm trong DMT bệnh viện: các thuốc (đặc biệt các thuốc hạng A) cần được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng, trên cơ sở lựa chọn những thuốc/phác đồ điều trị khác có hiệu quả điều trị tương đương nhưng giá thành rẻ hơn [29]
Trang 2112
1.2.3.3 Phương pháp phân tích VEN
Khái niệm: là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện
+ Thuốc V (tối cần thiết): là những thuốc để cứu sống người bệnh, các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản của bệnh viện
+ Thuốc E: là những thuốc dùng để điều trị những bệnh nặng nhưng không nhất thiêt cần phải có cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản
+ Thuốc N: là thuốc dùng cho trường hợp bệnh nhẹ, bệnh tự khỏi, có thể bao gồm những thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc
* Vai trò, ý nghĩa :
+ Ứng dụng chính của phân tích VEN là xác định chính sách ưu tiên khi tiến hành lựa chọn, mua sắm, sử dụng và quản lý tồn kho
+ Các thuốc V, E nên được ưu tiên trong lựa chọn, mua sắm, sử dụng
và quản lý tồn kho, đặc biệt khi ngân sách bị thiếu hụt [26]
+ Các thuốc nhóm N nên được quản lý việc sử dụng, tránh lạm dụng
1.2.3.4 Phương pháp phân tích ma trận ABC-VEN
Sau khi phân tích ABC và VEN được thực hiện, cần kết hợp 2 phương pháp này với nhau để xác định xem có mối liên hệ nào giữa thuốc có chi phí cao và thuốc ưu tiên hay không Sự kết hợp giữa phân tích ABC và VEN tạo thành ma trận ABC-VEN
Trong ma trận ABC-VEN cần chỉ ra các thuốc thuộc nhóm AN (thuốc không thiết yếu) nhưng có chi phí cao để hạn chế sử dụng hoặc loại bỏ ra khỏi danh mục thuốc
1.2.4 Một số vấn đề về cơ cấu thuốc sử dụng
* Thực trạng phân tích DMTSD theo phân tích ABC, VEN và ABC/VEN
Trang 2213
Phân tích ABC, VEN và ABC/VEN là một công cụ quan trọng trong phân tích DMTSD của các cơ sở y tế Hiện nay, ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới công cụ phân tích này được sử dụng khá phổ biến nhằm tìm
ra các thuốc cần tập trung chú ý, đặc biệt là các thuốc có giá trị cao Với các thuốc có giá trị cao mà cần thiết cho quá trình điều trị (thuốc thuộc phân nhóm AV, AE, BV và BE) thì cần tập trung nguồn lực trong mua sắm, bảo quản; với các thuốc có giá trị cao nhưng ít cần thiết trong điều trị (phân nhóm
AN, BN) cần tìm cách hạn chế sử dụng hoặc loại bỏ;…
• Trên thế giới
Theo một nghiên cứu tại Mỹ năm 1982, sử dụng phân tích ABC để phân tích cho thấy trong các thuốc nhóm A chiếm 80% chi phí mà có giá thành cao thì có thể tìm nhà cung cấp khác cùng loại thuốc nhưng có giá thấp hơn [25] Một nghiên cứu khác được tiến hành tại Canada năm 1986, sau khi sử dụng công cụ phân tích ABC đã thay đổi chính sách đặt hàng với các thuốc nhóm A tiến hành đặt hàng tuần còn nhóm B và C thì tần suất đặt hàng giảm
đi Biện pháp này đã làm giảm đáng kể tỷ lệ hàng tồn kho (giảm 50%) [24] Năm 2010, một nghiên cứu tại Ấn Độ, đã tiến hành phân tích VEN thuốc được sử dụng ở một bệnh viện, các thuốc nhóm V, E, N chiếm tương ứng 17,1%; 72,4%; 10,5% chi phí Từ kết quả nghiên cứu này bệnh viện đã tiến hành tối ưu hóa nguồn lực để sử dụng kinh phí có hiệu quả hơn [23]
Năm 2015, tại Thổ Nhĩ Kỳ một nghiên cứu đã tiến hành ở Bệnh viện của trường Đại học, sau khi tiến hành phân tích 1501 thuốc được sử dụng bằng phân tích ABC, VED và ABC/VED (phân tích VED tương tự VEN) các tác giả đã chỉ ra 301 thuốc cần kiểm soát chặt chẽ do có chi phí cao hoặc tối cần thiết cho quá trình điều trị [27]
Như vậy, trên thế giới phân tích ABC, VEN và ABC/VEN được sử dụng
từ khá lâu và vẫn được tiến hành thường xuyên trong phân tích DMTSD để tìm ra những khiếm khuyết còn tồn tại trong cung ứng thuốc của các cơ sở y
Trang 23đã và đang đem lại nhiều hiệu quả tích cực trong quản lý cung ứng thuốc cho các cơ sở
Năm 2012, Hoàng Thị Minh Hiền tiến hành phân tích DMTSD của Bệnh viện Hữu Nghị từ năm 2008 đến năm 2010 bằng phương pháp phân tích ABC
và đi sâu vào phân tích các thuốc có giá trị sử dụng cao (thuốc nhóm A) theo phương pháp phân tích VEN Kết quả cho thấy các thuốc AN chiếm khoảng
từ 4% đến 5,9% về số khoản mục (SKM) và chiếm từ 2,34% đến 4,77% về giá trị sử dụng (GTSD) trong nhóm A Đây là cơ sở quan trọng để khoa dược
và HĐT&ĐT tìm mua các thuốc có giá trị thấp hơn hoặc xây dựng các phác
đồ điều trị phù hợp để hạn chế sử dụng hay loại bỏ các thuốc trong phân nhóm AN [13]
Từ năm 2007 đến năm 2008, Huỳnh Hiền Trung tiến hành phân tích DMTSD của Bệnh viện Nhân dân 115 theo phương pháp ABC, VEN và ABC/VEN và tiến hành giải pháp can thiệp Kết quả:
- Với phân tích ABC: trước can thiệp nhóm A chiếm 69,9% GTSD sau can thiệp giảm xuống còn 65,5% GTSD, tỷ lệ nhóm A biến đổi thành nhóm
Trang 2415
B, C lần lượt là 4,2% và 0,6% GTSD Nhóm B, sau can thiệp, theo giá trị có 3,9% thay đổi thành nhóm A; 2,1% thay đổi thành nhóm C
- Với phân tích VEN:
+ Về SKM: trước can thiệp, tỷ lệ nhóm V, E, N theo chủng loại lần lượt
là 33 (6,1%), 330 (61%), 178 (32,9%) Sau can thiệp, nhóm V còn 4,8% theo chủng loại (26 hoạt chất), có 7 hoạt chất (1,3%) bị loại khỏi danh mục; nhóm
E từ 330 hoạt chất (61%) giảm còn 256 hoạt chất (47,3%), 74 hoạt chất (13,7%) nhóm E bị loại khỏi danh mục; nhóm N từ 178 hoạt chất (32,9%) giảm xuống còn 92 hoạt chất (17%); có 86 hoạt chất (15,9%) bị loại khỏi danh mục
+ Về GTSD: trước can thiệp, tỷ lệ nhóm V, E, N theo giá trị lần lượt là 4%, 85,2%, 10,8% Sau can thiệp, nhóm V giảm còn 2,2%; nhóm E từ 85,2% tăng lên 90,8%; nhóm N sau can thiệp giảm còn 7%
- Với phân tích ABC/VEN:
+ Về SKM: Nhóm I (gồm AV, AE, AN, BV, CV) là nhóm cần đặc biệt quan tâm (vì sử dụng nhiều ngân sách hoặc cần cho điều trị) đã thay đổi từ 14,8% trước can thiệp xuống còn 9,1% sau can thiệp, 3,2% thay đổi thành nhóm II, III (ít quan trọng hơn), đặc biệt 14 hoạt chất (2,6%) bị loại khỏi danh mục Nhóm II (gồm BE, BN, CE) tuy mức độ quan trọng ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì sử dụng ngân sách tương đối lớn và cần thiết cho điều trị Từ tỷ lệ 57,3% (310 hoạt chất) trước can thiệp, tỷ lệ thuốc nhóm II theo chủng loại đã giảm xuống còn 41,6%; 0,9% (5 hoạt chất)
đã chuyển sang nhóm I; 1,7% (9 hoạt chất) đã chuyển sang nhóm II; đặc biệt
71 hoạt chất (13,1%) đã được HĐT&ĐT loại khỏi danh mục sau can thiệp Nhóm III (nhóm ít quan trọng) nhưng chiếm tỷ lệ 27,9% (151 hoạt chất) theo chủng loại Đây là nhóm HĐT&ĐT quan tâm để loại bỏ khỏi danh mục, sau can thiệp, theo chủng loại nhóm này chỉ còn 11,5% (62 hoạt chất); 7 hoạt chất
Trang 25đã chuyển sang nhóm II Đặc biệt đi sâu phân tích phân nhóm AN thì trước can thiệp chiếm 3,5% sau can thiệp đã giảm còn 1,2% về GTSD
Tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Hóa, sử dụng phân tích ABC, VEN và ABC/VEN nhóm nghiên cứu đã chỉ ra sự bất hợp lý trong DMTSD khi còn có thuốc có giá trị cao trong DMT nhưng không cần thiết (nhóm AN) chiếm 4,9% GTSD [22]
Một nghiên cứu khác tiến hành phân tích DMTSD tại Bệnh viện Đa khoa Hữu nghị Nghệ An năm 2015, nhóm nghiên cứu cũng sử dụng công cụ phân tích ABC, VEN và ABC/VEN; kết quả cho thấy nhóm thuốc không cần thiết
có giá trị cao (AN) chiếm đến 21,2% về GTSD, tỷ lệ này còn cao hơn rất nhiều nhóm có giá trị cao cần thiết (nhóm AV chiếm 11,2%) [17]
Năm 2018, Nguyễn Thị Nhị Hào tiến hành phân tích DMTSD tại Bệnh viện Trung ương Huế năm 2016 bằng công cụ phân tích ABC Kết quả cho thấy có 33 thuốc trong nhóm A trùng với thuốc nhóm C cả về hoạt chất, hàm lượng, đường dùng; 26 thuốc trong nhóm A có sự trùng nhau cả về hoạt chất, hàm lượng, đường dùng Đây là cơ sở để Bệnh viện có sự điều chỉnh lựa chọn các thuốc có giá rẻ hơn cho các năm tiếp theo [12]
Từ năm 2011 đến năm 2012, Nguyễn Trung Hà tiến hành phân tích DMTSD tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 theo phương pháp phân tích ABC, VEN, ABC/VEN và tiến hành giải pháp can thiệp Kết quả: Cơ cấu thuốc sử dụng theo phân loại ABC, VEN hợp lý hơn các nhóm thuốc tối cần, thiết yếu có chi phí trung bình được ưu tiên sử dụng, các thuốc có chi phí cao,
Trang 26Năm 2015, Nguyễn Ngọc Mai và cộng sự tiến hành phân tích DMTSD năm 2014 của Bệnh viện Quân y 121 bằng phương pháp phân tích ABC, VEN và ABC/VEN trên hai đối tượng sử dụng là quân nhân và BHYT Kết quả cho thấy nhóm N chiếm tỷ lệ thấp ở cả hai đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên với DMT sử dụng cho đối tượng BHYT vẫn còn 02 thuốc thuộc phân nhóm AN [18]
* Về cơ cấu thuốc nội và thuốc ngoại
Mặc dù năm 2012, để tăng cường tỷ lệ sử dụng thuốc nội nhằm giảm chi phí trong điều trị đồng thời khuyến khích nghành công nghiệp Dược trong nước phát triển, Bộ Y tế đã ban hành đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” [3] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thuốc ngoại vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong kinh phí của các bệnh viện ở cả bệnh viện tuyến trung ương và những bệnh viện thuộc Bộ Quốc Phòng Ở Bệnh viện 108, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Hà tỷ lệ thuốc nội chỉ chiếm 21% [10] Ở bệnh viện Trung ương Huế giá trị sử dụng thuốc ngoại chiếm đến 88% [20] Giá trị sử dụng thuốc nội ở bệnh viện Đa khoa Đức Giang chỉ chiếm tỷ lệ 27,63% [16]
* Về cơ cấu thuốc INN và thuốc tên biệt dược
Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, từ tâm lý kê đơn, sử dụng thuốc của người sử dụng thuốc tên biệt dược dẫn đến thiếu sự quan tâm đúng mức từ phía nhà cung ứng và người sử dụng thuốc đối với thuốc thiết yếu có tên INN Nếu tỷ lệ thuốc được kê tên INN theo ước tính chung của Thế giới là 80% thì tỷ lệ này ở các bệnh viện nghiên cứu ở Việt Nam chỉ là 28% [2] Nghiên cứu một số bệnh viện cũng cho thấy thuốc tên biệt dược chiếm tỷ lệ
Trang 2718
cao hơn thuốc tên INN trong DMT sử dụng Nghiên cứu ở bệnh viện phổi Quảng Ninh cho thấy sử dụng thuốc tên biệt dược chiếm hơn 60% tổng giá trị
sử dụng thuốc Tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược thậm chí còn lên tới 90% giá trị
sử dụng thuốc ở một số bệnh viện như bệnh viện Hữu Nghị hay bệnh viện
108 Việc dùng quá nhiều thuốc tên biệt dược có thể làm tiêu tốn nguồn lực cho các loại thuốc không thật cần thiết và dẫn đến thiếu nguồn lực dành cho thuốc thiết yếu Bộ Y tế cũng đã có một số văn bản thông tư hướng dẫn đặc biệt là thông tư 21/2013/TT-BYT đã quy định ưu tiên sử dụng thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất
cụ thể [4] Tuy nhiên ngành y tế cần quản lý tốt hơn việc cấp phép sản xuất hay nhập khẩu thuốc đã được chứng minh hiệu quả, đầu tư hợp lý cho việc thử lâm sàng và chứng minh tương đương sinh học để có bằng chứng thuyết phục những người quyết định việc sử dụng thuốc của bệnh nhân kê đơn thuốc tên INN và đưa ra những hành động cụ thể cho cán bộ và nhân viên y tế để lựa chọn thuốc hiệu quả và chi phí hợp lý
* Về cơ cấu thuốc đơn và đa thành phần
Trong thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế đã quy định ưu tiên sử dụng thuốc ở dạng đơn chất, đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất [4] Điển hình của sự phối hợp mà các bệnh viện đều có là thuốc phối hợp các vitamin và phối hợp của các thành phần trong dịch truyền Tuy Đôi khi việc phối hợp này dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý do có thể bệnh nhân chỉ cần bổ sung một loại vitamin nhưng bác sĩ lại kê dạng phối hợp
1.3 Một số nét về Phòng Quân y/Bộ Tổng Tham mưu
1.3.1 Lịch sử
Trang 2819
Ngày 07/09/1945 ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, cùng với sự ra đời của các cơ quan chính phủ, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập là cơ quan tham mưu cao nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam Hai ngày sau đó ngày 09/09/1945 đồng chí Hoàng Văn Thái-Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam giao cho đồng chí Nguyễn Văn Trang thành lập Ban Quản lý Hậu cần, tiền thân của Cục Hậu cần hiện nay Phòng Quân y cũng từ đó phát triển cùng với các nhiệm vụ đảm bảo quân lương, quân trang, vận tải… hình thành và phát triển lên cục Hậu cần ngày nay
1.3.2 Vị trí, Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Quân y
* Vị trí, chức năng
Phòng Quân y là một tổ chức trong hệ thống tổ chức thuộc Cục Hậu cần,
có chức năng tham mưu cho Đảng ủy, Chỉ huy Cục Hậu Cần về chỉ đạo, bảo đảm, quản lý công tác Quân y đối với các đơn vị thuộc Bộ Tổng Tham mưu,
cơ quan Bộ Quốc phòng
Phòng Quân y được cấu thành từ 3 bộ phận là Cơ quan Phòng Quân y, Ban Quân y cơ quan, Bệnh xá Bộ Quốc phòng
Phòng Quân y thực hiện công tác Quản lý chỉ đạo ngành về công tác Quân y đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu, cơ Quan
Bộ Quốc phòng
Ban Quân y cơ quan thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ, nhân viên của Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan Bộ Quốc phòng.cán bộ thuộc Bộ Quốc phòng biệt phái ra các chức danh lãnh đạo Đảng, nhà nước và cán bộ, nhân viên của các đơn vị không có tổ chức Quân y Bệnh xá Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng thu dung, khám chữa bệnh cho các cơ quan, đơn vị đóng quân tại trụ sở Bộ Quốc phòng
Cùng với sự phát triển của ngành Quân y, ngành Hậu cần toàn quân Phòng Quân y có các chức năng cụ thể như sau:
Trang 2920
1 Tổ chức chỉ huy, đảm bảo công tác sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm
vụ khác được giao
2 Quản lý, chăm sóc quản lý, bảo vệ sức khỏe cán bộ, nhân viên, chiến
sỹ BTTM-Cơ quan BQP, khám bệnh thu dung điều trị theo phân tuyến
3 Triển khai thực hiện công tác bảo đảm vệ sinh phòng dịch, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm
4 Tổ chức huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ và nghiên cứu khoa học
5 Tuyên truyền, hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ công tác DS-GĐ&TE, phòng chống ma túy, HIV/AIDS
6 Tổ chức hoạt động các hội đồng, ủy ban của BTTM-Cơ quan BQP:
* Nhiệm vụ của Phòng Quân y
1 Quản lý chỉ đạo Quân y trong toàn Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan Bộ Quốc phòng:
2 Chỉ đạo công tác điều trị dự phòng và y học cổ truyền:
3 Triển khai Công tác vệ sinh phòng dịch dân số, gia đình và trẻ em, phòng chống ma túy, HIV/AIDS:
4 Bảo đảm Công tác tài chính, dược, trang bị:
5 Huấn luyện, nghiên cứu khoa học trên toàn tuyến:
1.3.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của bộ phận dược - Phòng Quân y
* Vị trí, chức năng:
Bộ phận dược là một bộ phận thuộc sự quản lý điều hành trực tiếp của Trưởng Phòng Quân y, là một bộ phận chuyên môn kỹ thuật chỉ đạo tuyến trong toàn Bộ Tổng Tham mưu về công tác dược
Triển khai các chế độ chuyên môn về dược trong Bộ Tổng Tham mưu, tham mưu cho trưởng Phòng Quân y về công tác Dược trên toàn tuyến
Tổ chức tạo nguồn, tiếp nhận, cấp phát, bảo quản thuốc, bông băng, hóa chất và vật tư tiêu hao, trang thiết bị y tế cho toàn tuyến
* Nhiệm vụ:
Trang 30 Lập kế hoạch phân bổ ngân sách, tạo nguồn, tiếp nhận, cấp phát, quản
lý theo tiêu chuẩn, định mức và hướng dẫn nội dung chi tiêu các nguồn kinh phí theo hướng dẫn của cơ quan nghiệp vụ cấp trên
Thực hiện công tác kiểm tra bảo đảm kỹ thuật, bảo quản, bảo dưỡng và kiểm chuẩn trang thiết bị y tế theo phân cấp
Kiểm kê, đăng ký, thống kê theo dõi trang thiết bị y tế thuộc phạm vi mình quản lý Báo cáo và thanh quyết toán theo qui định
Chỉ đạo các đơn vị bảo đảm công tác Dược lâm sàng trên toàn tuyến
Tham gia công tác huấn luyện nghiên cứu khoa học và cải tiến kỹ thuật trang thiết bị y tế
Thủ kho Dược (Dược sỹ cao đẳng): Thực hiện tiếp nhận, cấp phát, bảo quản thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị theo các quy chế và các quy định của ngành Quân y
Trang 3122
Bảng 1.1: Mô hình bệnh tật Phòng Quân y/BTTM giai đoạn 2016-2018
2016
Tỷ lệ (%)
Năm
2017
Tỷ lệ (%)
Năm
2018
Tỷ lệ (%)
1 Tim mạch, huyết áp 772 7,81 693 8,21 765 8,30
2 Hô hấp, hen phế quản 61 0,62 52 0,62 48 0,52
3 Tiêu hoá, gan mật, nhiễm
khuẩn đường tiêu hóa 3020 30,55 2663 31,53 2729 29,62
4 Tiết niệu, sinh dục 337 3,41 267 3,16 302 3,28
15 Bệnh tai, mũi, họng, nhiễm
khuẩn đường hô hấp 972 9,83 931 11,02 1107 12,02
16 Bệnh răng, miệng 993 10,04 733 8,68 524 5,69
Trang 32* Tính cấp thiết của đề tài:
Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan tuyến cuối của Quân đội về công tác Quân sự, Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu gồm rất nhiều cán bộ có độ tuổi trên 45 tuổi trở lên, môi trường làm việc đặc thù nên cơ cấu bệnh tật bao gồm chủ yếu các bệnh về tim mạch, huyết áp, rối loạn nội tiết, chuyển hóa, bệnh nhiễm khuẩn tai mũi họng, răng miệng, bệnh đường tiêu hóa trong đó tỷ lệ mắc các bệnh không đều nhau, cao nhất là các bệnh về đường tiêu hóa (chủ yếu là tăng men gan cho uống rượu), tiếp đó là bệnh về tim mạch, huyết áp, rối loạn nội tiết, chuyển hóa
Trong những năm qua, số loại thuốc sử dụng không tăng lên nhưng tổng giá trị sử dụng thuốc tại Phòng Quân y/ Bộ Tổng Tham mưu ngày một tăng lên, các thuốc sử dụng ngày một tốt hơn để đáp ứng nhu cầu về chất lượng khám và điều trị cho bộ đội
Trang 3324
Phòng Quân y/ Bộ Tổng Tham mưu là đơn vị vừa có chức năng chỉ đạo tuyến, vừa có chức năng thu dung, điều trị với mô hình bệnh tật đa dạng, mang nhiều điểm đặc thù khối cơ quan Bộ Quốc phòng, phần lớn là cán bộ cao cấp trong Quân đội nên nhu cầu sử dụng các thuốc có chất lượng cao chiếm tỷ lệ lớn Danh mục thuốc sử dụng với nhiều nhóm tác dụng dược lý với số khoản mục không lớn nhưng giá trị sử dụng cao
Năm 2016 thực hiện bảo đảm vật chất hậu cần theo nghị định 65/2009 NĐ-CP về bảo đảm vật chất hậu cần cho Quân đội, năm 2017 là năm đầu tiên thực hiện bảo đảm vật chất hậu cần theo nghị định 76/2016 NĐ-CP về bảo đảm vật chất hậu cần cho Quân đội, tuy nhiên việc khám chữa bệnh vẫn theo hình thức tập trung bao cấp Từ năm 2018, toàn lực lượng Quân đội, Công an,
Cơ yếu chuyển đổi hình thức khám chữa bệnh từ tập trung bao cấp sang khám chữa bệnh theo hình thức sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế, một phần vẫn thực hiện bảo đảm vật chất hậu cần theo nghị định 76/2016 NĐ-CP, một phần bảo đảm theo hình thức sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế nên cũng có những thay đổi lớn về phương thức bảo đảm so với trước đây, trong giai đoạn 2016, 2017 các thuốc phục vụ cho điều trị thường xuyên Cục Quân y đảm bảo bằng hiện vật thì sang năm 2018 được tự bảo đảm bằng sử dụng quỹ BHYT nên các đơn vị trong toàn quân phải tự xây dựng danh mục thuốc theo cơ cấu bệnh tật, khả năng kinh phí và nhu cầu thuốc cho điều trị giống như các tuyến bệnh viện do
đó danh mục thuốc và tỷ lệ, giá trị sử dụng các loại thuốc cũng thay đổi theo Đối với các thuốc bổ trợ Quân binh chủng thì Cục Quân y vẫn đảm bảo bằng hiện vật như trước đây nên việc cân đối nhu cầu thuốc cho các nhiệm vụ cũng
có nhiều thay đổi
Vì vậy, công tác lựa chọn, cung ứng thuốc cũng gặp không ít khó khăn, Mặc dù vẫn đáp ứng kịp thời, đầy đủ cho điều trị, chăm sóc sức khỏe, để phục
vụ tốt cho công tác khám chữa bệnh cho Quân nhân Tuy nhiên thực trạng danh mục thuốc sử dụng trong ba năm như vậy cần được xem xét, đánh giá lại
Trang 3425
xem đã thực sự hợp lý hay chưa, nên cân nhắc lựa chọn và thay thế những loại thuốc nào phù hợp với thực tế điều trị tại đơn vị cho phù hợp với nguồn kinh phí được giao
Từ trước đến nay tại Phòng Quân y/Bộ Tổng Tham mưu chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này Vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả tốt hơn nữa trong quá trình lựa chọn, lập kế hoạch cung ứng thuốc và quản lý sử dụng thuốc của Phòng Quân y/Bộ Tổng Tham mưu, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Phòng Quân y/Bộ Tổng Tham mưu giai đoạn 2016-2018” Từ đó nhằm giúp việc quản lý, sử dụng thuốc tại đơn
vị hợp lý hơn, nâng cao hiệu quả điều trị của công tác khám chữa bệnh
Trang 3526
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu
Danh mục thuốc sử dụng điều trị tại các cơ sở thuộc Phòng Quân y - Bộ Tổng Tham mưu (PQY - BTTM) các năm 2016, 2017 và 2018
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả các thuốc tân dược
- Tiêu chuẩn loại trừ: Thuốc phòng dịch, các chế phẩm, vị thuốc y học
cổ truyền, chế phẩm từ dược liệu
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng Quân y Bộ Tổng Tham mưu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Xác định các biến số nghiên cứu
Bảng 2.3: Các biến số nghiên cứu
Biến phân loại: Biến định danh
Từ nguồn thông tin sẵn có
2 Thành phần
của thuốc
1 Thuốc đơn thành phần: Trong công thức
có 1 hoạt chất có hoạt tính
2 Thuốc đa thành phần: Trong công thức
có từ 2 hoạt chất có hoạt tính trở lên
Biến phân loại: Biến định danh
Từ nguồn thông tin sẵn có
Từ nguồn thông tin sẵn có
4 Nguồn gốc
xuất xứ
Thuốc được phân loại theo nguồn gốc xuất xứ
1 Thuốc sản xuất trong nước
2 Thuốc nhập khẩu
Biến phân loại: Biến định danh
Từ nguồn thông tin sẵn có
Từ nguồn thông tin sẵn có
Trang 3627
2 Thuốc generic: thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc, không có trong danh mục Biệt dược gốc do Cục quản lý dược công bố
6 Đường dùng
của thuốc
Thuốc được phân loại theo đường dùng:
1 Thuốc dùng đường tiêm, tiêm truyền
2 Thuốc dùng đường uống
3 Thuốc dùng đường khác (dùng ngoài, đặt hậu môn, đặt âm đạo….)
Biến phân loại: Biến định danh
Từ nguồn thông tin sẵn có
Từ nguồn thông tin sẵn có
8 Số lượng Số lượng sử dụng 3 năm 2016,2017,2018 theo đơn vị tính nhỏ nhất của từng khoản
mục thuốc
Biến dạng số: Biến rời rạc
Từ nguồn thông tin sẵn có
9 Đơn giá Giá thành của từng khoản mục thuốc theo đơn vị tính nhỏ nhất
Biến dạng số: Biên liên tục
Từ nguồn thông tin sẵn có
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy số liệu hồi cứu
2.2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu được mô tả trong hình 2.1
Trang 3728
Hình 2.1: Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Phòng quân y Bộ tổng
Tham mưu giai đoạn 2016 - 2018
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử
dụng tại PQY - BTTM giai đoạn
2016 - 2018
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại PQY - BTTM theo phương pháp PT ABC, VEN và ABC/VEN giai đoạn
- - Cơ cấu DMT đơn/đa thành phần
- - Cơ cấu DMT theo đường dùng
- Cơ cấu DMT theo tên biệt dược
và tên INN (tên chung quốc tế)
- Cơ cấu DMT theo phương pháp phân tích ABC
- Cơ cấu DMT theo tên biệt dược, biệt dược gốc, INN trong các thuốc hạng A
- Cơ cấu DMT theo nguồn gốc các thuốc hạng A
- Cơ cấu DMT sử dụng theo phương pháp phân tích VEN
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC/VEN
Trang 3829
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu
Việc tổ chức thu thập số liệu sẽ được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện biểu mẫu thu thập số liệu
Chúng tôi xây dựng bộ biểu mẫu thu thập số liệu dựa theo mục tiêu và các chỉ số, biến số nghiên cứu Xây dựng biểu mẫu thu thập trên phần mềm Microsoft excel for windows 2016 Cụ thể:
Dựa trên file Excel dữ liệu sử dụng thuốc có sẵn của PQY - BTTM với các cột: STT, Tên thuốc, dược chất, dạng bào chế, nhóm tác dụng, nhà sản xuất, số lượng, đơn giá, thành tiền Chúng tôi bổ sung thêm các cột: Biệt Dược gốc/Generic, tên INN/thương mại, Đơn/ đa thành phần, Trong nước/ Nhập khẩu, Phân nhóm VEN, Phân hạng ABC, Đường dùng
Bước 2: Tiến hành thu thập số liệu và xử lý số liệu
- Nghiên cứu viên sẽ tiến hành kiểm tra các đối tượng nghiên cứu đảm bảo tính chính xác của các đối tượng
+ Xác định số lượng dược chất để xác định thuốc đơn, đa thành phần + Xác định phân nhóm VEN dựa trên biên bản họp phân nhóm của HĐT&ĐT của PQY - BTTM
+ Xác định nguồn gốc của các thuốc
+ Xác định đường dùng của các thuốc
- Nhập số liệu vào biểu mẫu thu thập trong phần mềm Microsoft excel for windows 2016
- Xử lý số liệu: số liệu sau khi nhập được xử lý trước khi phân tích, cụ thể: + Với các số liệu cần xử lý thô (cộng, trừ, ) thì ghi chép các số liệu thô và thực hiện xử lý thô
+ Với các thuốc cùng nhà sản xuất, dạng bào chế, hàm lượng, chỉ khác nhau phần giá do mua các thời điểm khác nhau thì tiến hành nhập lại làm một (giữ nguyên số lượng và tổng tiền bằng tổng của số lượng và giá trị tiền của cả hai đơn giá, nhưng bỏ trống phần giá)
Trang 39Biểu mẫu sau khi thu thập số liệu sẽ được in ra kiểm tra lại một lần nữa
để làm sạch, hoàn thiện tránh sai, thiếu thông tin, tránh trùng lặp
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.4.1 Phân tích ABC
Phân tích ABC được tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Liệt kê tất cả các sản phẩm thuốc
- Bước 2:Điền các thông tin vào sau mỗi sản phẩm thuốc: Đơn giá, số lượng
- Bước 3: Tính tổng tiền cho mỗi sản phẩm
- Bước 4: Tính phần trăm giá trị của mỗi sản phẩm
- Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm các sản phẩm giảm dần
- Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm thứ nhất, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
- Bước 7: Phân hạng như sau:
• Thuốc hạng A (thuốc tỷ trọng lớn) chiếm khoảng 75 - 80% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 10 - 20% tổng số sản phẩm thuốc
• Thuốc hạng B (với tỷ lệ sử dụng trung bình), chiếm 15 - 20% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 10 - 20% tổng số sản phẩm thuốc
• Thuốc hạng C (gồm đại đa số các thuốc có cách sử dụng riêng lẻ ở mức thấp), chiếm 5 - 10% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 60-80% tổng sản phẩm thuốc