Thực trạng trên có nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân; sự phối hợp thiếu nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ THANH NGA
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ ĐỨC ĐÁN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề tài luận văn và kết thúc khóa học, với tình cảm chân thành, tác giả nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Ban giám đốc Học viện, thầy Cô, cơ quan, tổ chức, gia đình, bạn bè và các anh, chị học viên ở thành phố Hồ Chí Minh Với lòng biết ơn đó, tác giả:
Trước tiên xin chân thành cảm ơn đến Ban giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn đến Thầy PGS.TS Vũ Đức Đán, công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia – Người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn đến Thầy Cô Học viện đã truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như hỗ trợ về mặt thủ tục cần thiết trong suốt thời gian học
và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn đến cơ quan, tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh đã
hỗ trợ cung cấp số liệu cần thiết để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Sau cùng xin gửi cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các anh, chị học viên đã luôn động viên, giúp đỡ trong quá trình làm luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn./
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Thanh Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các
số liệu trong luận văn do tôi thu thập là xác thực rõ ràng và luận văn này chưa công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trước Học viện và pháp luật
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Thanh Nga
Trang 5CQHCNN: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 6MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 4
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tương nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
5.1 Phương pháp luận 7
5.2 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
7 Bố cục đề tài 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH 9
1.1 Khái niệm về hộ tịch và pháp luật về quản lý hộ tich 9
1.1.1 Khái niệm về hộ tịch 9
1.1.2 Pháp luật về quản lý hộ tịch 14
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, hình thức, nội dung thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch 21
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch 21
1.2.2 Nội dung, hình thức, chủ thể, phương pháp của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch 25
1.2.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch 40
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch 41
1.3.1 Ý thức pháp luật 41
1.3.2 Chất lượng của văn bản pháp luật về quản lý hộ tịch 42
1.3.3 Công tác tổ chức bộ máy và công chức thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch 43
1.3.4 Kinh phí và cở sở vật chất 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 46
2.1 Đặc điểm điều kiện kinh tế, dân cư trên địa bàn Quận 3, Thành phố 46
2.1.1 Đặc điểm điều kiện kinh tế 46
2.1.2 Về tình hình dân cư trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh 48
Trang 72.1.3 Các chủ thể thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch tại phường 49
2.2 Tình hình thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch trên địa bàn Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh 51
2.2.1 Triển khai thực hiện các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của Ủy ban Nhân dân Quận 3 51
2.3 Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật quản lý hộ tịch các phường trên địa bàn Quận 3 69
Tiểu kết chương 2 73
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 75
3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch trên địa bàn phường Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh 75
3.1.1 Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch phải quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam 75
3.1.2 Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch phải đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân 75
3.1.3 Thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch phải bảo đảm phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan 77
3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch trên địa bàn phường quận 3, thành phố hồ chí minh 77
3.2.1 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật người dân 77
3.2.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử 78
3.2.3 Đảm bảo cơ sở vật chất cho công tác hộ tịch 81
3.2.4 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công chức làm công tác hộ tịch các phường 82
3.2.5 Tăng cường kiểm tra đối với công tác hộ tịch trên địa bàn Quận 3 84
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 91 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam quản lý hộ tịch được coi là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư Hiện nay, vấn đề đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch đã và đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với sự phát triển của nền hành chính quốc gia Bởi chế độ quản lý hộ tịch không chỉ phản ánh trình độ phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử mà còn phản ánh mức độ nhất định về đặc thù truyền thống, tập quán trong tổ chức đời sống xã hội về quản lý dân cư ở mỗi quốc gia, dân tộc
đó
Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện Hoạt động này còn là cơ sở để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản
lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước Tại hầu hết các nước, các sự kiện hộ tịch của con người từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, khai tử… đều được đăng ký và được quản lý chặt chẽ Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện từ rất sớm (thời nhà Trần) Trải qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn với vấn đề quản lý con người
Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan
hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý Ngoài ra, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân Đồng thời quản lý hộ tịch còn góp phần vào các biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục duy trì và phát triển
Trang 10Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò quan trọng và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào Trong công cuộc cải cách nền hành chính nói chung ở nước ta hiện nay và ngành Tư pháp nói riêng được Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm Nghị quyết số 08–NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ ra các nhiệm vụ cụ thể trong các hoạt động bổ trợ tư pháp Nghị quyết số 49–NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 định hướng nhiệm vụ và hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp
Trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được từ việc quản lý hộ tịch thì trên thực tế công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch vẫn còn một số tồn tại, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính và cải cách tư pháp trong giai đoạn mới Tình trạng các cơ quan, tổ chức, đoàn thể chưa xác định đúng giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, còn gây nhiều khó khăn cho công dân Thực trạng trên có nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của một bộ phận cán bộ, công chức
và nhân dân; sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết những sai sót trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý về đăng ký và quản lý hộ tịch chưa thực sự sâu rộng; năng lực của một số công chức còn hạn chế
Để khắc phục tình trạng này, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh công tác quản lý hộ tịch Cụ thể, ngày 20/11/2014, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Hộ tịch và Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 Luật Hộ tịch được ban hành nhằm luật hóa các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch trong các Nghị định của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bảo đảm tính kế thừa
và phát triển, cụ thể hóa thẩm quyền và quy trình thực hiện công tác hộ tịch Trên cơ sở quy định của Luật, chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TTBTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Hộ tịch và Nghị định số
Trang 11123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch để bảo đảm các nội dung của Luật được triển khai thực hiện có hiệu quả
Ở nước ta hiện nay pháp luật về hộ tịch được thực hiện theo Luật hộ tịch năm 2014 Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành văn bản Luật điều chỉnh riêng lĩnh vực này sau hơn 60 năm thực hiện bằng các nghị định của Chính phủ
và thông tư của các Bộ Luật Hộ tịch ra đời là bước hoàn thiện khá căn bản về thể chế đăng ký và quản lý hộ tịch của Việt Nam với nhiều quy định mới, mang tính đột phá Ở nước ta, mặc dù hoạt động quản lý hộ tịch có nhiều phát triển trong hơn nửa thế kỷ và đã có sự vận động tích cực trong những năm gần đây nhưng việc quản lý đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin hộ tịch vẫn là mục tiêu đầy khó khăn đặt ra đối với các cơ quan quản lý
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về hộ tịch của
ủy ban nhân dân phường trên địa bàn Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh Do đó, để giải quyết bài toán đổi mới quản lý hộ tịch thì vấn đề quan trọng hàng đầu là tiến tới xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh một cách thống nhất, đồng bộ và đầy đủ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý hộ tịch đạt hiệu quả cao trong giai đoạn trước mắt và lâu dài
Quận 3 là một quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn phát triển với tỷ lệ tăng dân số cao, trong những năm qua các phường trên địa bàn Quận 3 đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý hộ tịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển của quận Với
sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp từng bước thực hiện nghiêm túc đầy đủ,chính xác Song cũng như các địa phương khác, công tác quản lý hộ tịch cũng còn nhiều hạn chế cần phải hoàn thiện trong thời gian tới
Là học viên lớp cao học luật (niên khóa 2017-2019) chuyên ngành Luật Hiến pháp – Luật Hành chính, tôi đã được các thầy, cô trang bị kiến thức lý luận thực tiễn về công cuộc cải cách tư pháp Với mong muốn áp dụng những kiến thức đã biết vào thực tiễn công tác thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch tại cơ
quan công tác Vì vậy tác giả chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về quản lý hộ
Trang 12tịch của ủy ban nhân dân phường trên địa bàn Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu của Luận văn cao học luật
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Trong những năm qua, vấn đề quản lý hộ tịch đã được các cơ quan làm công tác quản lý quan tâm và những công việc liên quan đến lĩnh vực này đặt vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đồng thời đưa ra một số giải pháp
Có thể khẳng định rằng quản lý hộ tịch là hoạt động khó khăn và phức tạp đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn và cần thiết hơn đó là sự thông thạo về đặc điểm dân cư, tình hình phát triển nơi địa phương cần quản lý
Nói đến quản lý hộ tịch, đã có khá nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học đề cập, vấn đề hộ tịch không chỉ thu hút các nhà lãnh đạo mà còn là vấn đề quan tâm của cả những nhà khoa học và các nhà quản lý Một số công trình khoa học tiêu biểu về quản lý hộ tịch có thể nêu như sau:
Bài “Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp – hộ tịch và yêu cầu chuẩn hóa” của tác giả Trần Thị Lệ Hoa, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề pháp luật hộ tịch năm 2013
Pháp luật quản lý về hộ tịch từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp – Luật Hành
chính năm 2016
“151 Câu Trả Lời Về Hộ Tịch, Hộ Khẩu, Chứng Minh Nhân Dân Và Công Chứng, Chứng Thực” / L.G: Trần Huyền Nga – H: NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, được biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật về đăng ký hộ tịch, đăng ký và quản lý hộ khẩu, về giấy Chứng minh nhân dân và công tác công chứng, chứng thực “151 câu trả lời về hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân và công chứng, chứng thực”
“Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch” - H: NXB Tư Pháp, 2007 nhằm hướng dẫn nghiệp vụ thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện đăng ký hộ tịch
Trang 13Quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Kiên Giang tác giả Trần Minh Chiến, Luận văn thạc sỹ quản lý công năm
2017
Quản lý nhà nước về hộ tịch ở Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh tác giả
Hàng Thị Huyền, Luận văn thạc sỹ quản lý công năm 2017
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về “Đăng ký và quản lý hộ tịch
Văn bản pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch” - H: Chính trị Quốc gia, 2008 nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình Đồng thời nêu lên thủ tục và các bước cần thiết khi đăng ký hộ tịch
Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, huyện Đan Phượng tác giả Phạm
Hồng Hoàn, Luận văn thạc sỹ hành chính công năm 2011, tác giả phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Đan Phượng
Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tác giả
Hoàng Thị Bảo Trang, Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp – Luật Hành chính năm
2016
Pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông tác giả Vũ Thị Ái Duyên,
Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp – Luật Hành chính năm 2017
Phạm Trọng Cường: Quản lý nhà nước về hộ tịch - Lý luận, thực trạng
và phương hướng đổi mới, Luận văn thạc sĩ luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2003; tác giả tiến hành khảo sát thực trạng việc quản lý hộ tịch ở Việt Nam trong thời gian qua và nêu những ưu nhược điểm của công việc này đồng thời đưa ra một số quan điểm, phương hướng đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích toàn diện những vấn đề liên quan đến công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từ lý luận đến thực tiễn và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
Trang 14Trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của UBND phường trên địa bàn Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh từ khi luật hộ tịch có hiệu lực cho đến nay Để từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch nói chung và trên địa bàn phường Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về hộ tịch và thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch, phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch nhằm khắc phục và hạn chế thực trạng trên, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật đối với vấn đề quản lý hộ tịch của ủy ban nhân dân phường trên địa bàn Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hộ tịch Trên cơ sở đó hình thành cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch, phân tích các đặc điểm, hình thức, vai trò và các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của ủy ban nhân dân phường trên địa bàn Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh Trong đó phân tích, đánh giá những kết quả, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
Ba là, đưa ra một số yêu cầu và giải pháp bảo đảm hoạt động thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch ở ủy ban nhân dân Quận 3 nói chung và của ủy ban nhân dân phường nói riêng
Trang 154 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch đặc biệt là Luật hộ tịch 2014 và thực tiễn việc thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của UBND phường trên địa bàn Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các quy định của pháp luật về quản lý hộ tịch của UBND phường trên địa bàn Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh từ khi luật hộ tịch 2014 có hiệu lực cho đến nay
Phạm vi không gian: Trên địa bàn phường Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi thời gian: Từ năm 2016 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về thực hiện pháp luật quản lý hộ tịch, bám sát tình hình kinh tế và điều kiện tự nhiên, xã hội của
ủy ban nhân dân phường trên địa bàn Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể, trong đó đặc biệt chú trọng:
- Phương pháp hệ thống, phân tích - tổng hợp nhằm làm rõ thêm các khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
- Phương pháp phát phiếu đánh giá: phân tích, tổng hợp số liệu và so sánh
để minh họa thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch nhằm chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch chưa đạt hiệu quả cao
từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực
Trang 16hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của ủy ban nhân dân phường trên địa bàn Quận
3 thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra, còn kết hợp thông tin từ kế hoạch và báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân phường và ủy ban nhân dân Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về hộ tịch
và thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của UBND phường trên địa bàn Quận 03, từ đó nêu ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch tại Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn có tính thời sự khi đóng góp ý kiến giúp cho việc thực hiện Luật
hộ tịch được hiệu quả trên địa bàn Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong thực tế thực hiện pháp luật về hộ tịch ở Quận 03, Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tới cũng như là nguồn tư liệu tham khảo cho những người nghiên cứu các đề tài liên quan đến hộ tịch
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của Uỷ ban
nhân dân phường trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản
lý hộ tịch trên địa bàn phường Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 17CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP
Xét từ góc độ ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ , được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính Xét về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này Theo đó từ “Hộ” khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau” Tương tự từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc” Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ
“Hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặc ngôn ngữ và được sử dụng với thuộc tính kết hợp hạn chế về việc sử dụng từ ngữ và khả năng tổ hợp từ ngữ Chính do tính chất đặc biệt ấy nên khảo cứu qua các từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” rất khác nhau [7, tr.8]
Các từ điển Hán – Việt của nhiều tác giả khác nhau (Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Bửu Kế, Nguyễn Lân, Hoàng Thúc Trâm ) đều có sự tương đồng và những khía cạnh đặc biệt trong cách giải nghĩa từ “hộ tịch” Sau đây là một số cách giải nghĩa:
“Hộ tịch: quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương”
Trang 18“Hộ tịch: sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”
“Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”
“Hộ tịch: quyển sổ của Chính Phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người”
Bên cạnh đó, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn, ví dụ:
“Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng kí cư dân trong địa phương mình theo từng hộ”;
“Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật”
“Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần”
Như vậy, nghĩa của từ “hộ tịch” xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu Điều này phản ánh một thực
tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu” trong nhận thức xã hội là khá phổ biến [7, tr.10]
1.1.1.2 ề hía cạnh pháp lý
Xét từ khía cạnh là một khái niệm pháp lý, khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn Mặc dù vậy, do khái niệm “hộ tịch” có chứa đựng yếu tố truyền thống, lịch sử và đã là khái niệm có tính chất phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hóa thay thế không
Trang 19được lựa chọn, thay vào đó các nhà xây dựng pháp luật đã sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản Tuy nhiên chỉ có thể xây dựng một định nghĩa mới về “hộ tịch” và định nghĩa này chỉ được chấp nhận khi nó tiếp thu, phản ánh được những khía cạnh truyền thống, đồng thời tiếp cận với những quan điểm xu hướng của khoa học pháp lý hiện đại
Theo quy định tại Điều 1 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 27/12/2005 về đăng ký hộ tịch thì “hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” Đi kèm với khái niệm “hộ tịch” Nghị định 158/2005/NĐ-CP còn nêu ra khái niệm “đăng ký
hộ tịch” được định nghĩa như sau:
“Đăng ký hộ tịch là hành vi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: xác nhận các sự kiện sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh,
tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi”
Khái niệm “hộ tịch” trong Luật Hộ tịch 2014 ngày 20/11/2014 là những
sự kiện nhằm xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết đi:
Trang 20b) Xác định cha, mẹ, con;
c) Xác định lại giới tính;
d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;
đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
4 Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật
1.1.1.3 Phân biệt “quản lý hộ tịch” và “quản lý hộ hẩu”
Việc làm rõ các dấu hiệu phân biệt giữa quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu là rất cần thiết cho ý nghĩa thiết thực Thực tế cho thấy, hiện nay sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này cũng như sự nhầm lẫn về hoạt động quản lý hộ tịch
và hoạt động quản lý hộ khẩu trong nhận thức xã hội còn khá phổ biến
Sổ hộ khẩu là văn bản pháp lý, thủ tục hành chính quan trọng Tuy quen thuộc nhưng nhiều người lại không nắm rõ được chức năng và tầm quan trọng của quyển sổ nhỏ bé này
Việc đô thị hóa, sự phát triển quá nhanh của các khu công nghiệp khiến lượng người di cư về các thành phố lớn, những đô thị sầm uất với mục đích học tập, tìm việc, xây dựng sự nghiệp và sinh sống ngày càng nhiều Chính vì vậy,
để kiểm soát an ninh và quản lý người dân về kinh tế đòi hỏi có một công cụ tối
ưu Đó là lí do sổ hộ khẩu ra đời
Quản lý hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi
và lưu lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân
Quản lý hộ tịch là để tạo ra hệ thống pháp luật được sử dụng để thiết lập
và bảo vệ các quyền dân sự của cá nhân Ngoài ra, còn tạo ra một nguồn dữ liệu
Trang 21cho việc biên soạn các số liệu thống kê quan trọng, phục vụ cho hoạt động thống
kê dân cư của nhà nước
Mục đích quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức để từ đó góp phần tạo
cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sách dân
số, kế hoạch hoá gia đình
Ví dụ: trong đời sống hằng ngày, khi phải giải quyết các việc về hộ tịch, người dân thường hay gọi cán bộ tư pháp có nhiệm vụ giải quyết là “Công an hộ tịch”
Theo quy định tại Điều 18 Luật Cư trú năm 2006 có quy định:
“Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ”
Khoản 1 Điều 24 Luật cư trú tiếp tục quy định như sau: “Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân” Như vậy, hoạt động quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu đều nằm trong phạm trù quản lý dân cư Tuy nhiên, hai khái niệm này được phân biệt ở những điểm cơ bản sau:
đó, đặc điểm về nơi cư trú của cá nhân – đối tượng quản lý hộ khẩu – là đặc điểm nhân thân có tính “động” dễ bị thay đổi
Trang 22 Về phương diện bảo vệ quyền nhân thân:
Quản lý hộ khẩu chỉ là biện pháp bảo vệ quyền tự do cư trú hợp pháp của
cá nhân, còn quản lý hộ tịch là phương tiện để mỗi cá nhân thực hiện tổng thể rất nhiều quyền nhân thân cơ bản của mình
Đơn vị “hộ” được dùng làm đơn vị quản lý dân cư của cả quản lý hộ tịch
và quản lý hộ khẩu nhưng trong quản lý hộ tịch mối quan hệ giữa các thành viên trong hộ chỉ có thể là mối quan hệ gia đình hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng; còn trong quản lý hộ khẩu, không nhất thiết các thành viên trong một đơn vị hộ khẩu phải có quan hệ gia đình với nhau mà chỉ cần ở chung một nhà cũng có thể cùng đăng ký theo một đơn vị hộ khẩu
1.1.2 Pháp luật về quản lý hộ tịch
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về quản lý hộ tịch
a) Khái niệm pháp luật về quản lý hộ tịch
Quản lý về hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý Nhà nước, thông qua việc quản lý về hộ tịch Nhà nước nắm được tình hình biến động dân
cư và sự biến động của xã hội, giúp Nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội
Trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn Để tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, nhất là trong việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác quản lý, đăng ký hộ tịch theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới cần có hệ thống các quy định pháp luật tạo thành cơ sở pháp lý vững chắc cho quản lý về hộ tịch
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật và các tài liệu, sách báo pháp lý,
Trang 23thuật ngữ “pháp luật về quản lý hộ tịch” được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ này trong các nghiên cứu chỉ mang tính ước định và tuỳ từng trường hợp, nội hàm của nó được xác định theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp
có sự khác nhau cơ bản Theo những cách hiểu khác nhau đó, việc xác định các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp luật về hộ tịch cũng có sự khác nhau
Hiểu theo nghĩa rộng thì pháp luật về hộ tịch bao gồm toàn bộ hệ thống quy phạm điều chỉnh các vấn đề về hộ tịch, theo đó, nguồn chủ đạo của pháp luật về hộ tịch bao gồm Luật Hộ tịch 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân
và Gia đình 2014 Cũng trong cách hiểu này, các quan hệ pháp luật về hộ tịch được phân thành hai nhóm cơ bản, đó là nhóm quan hệ mang tính chất dân sự và nhóm quan hệ về quản lý Cách hiểu này đã làm nổi bật điểm đặc trưng cơ bản của sự điều chỉnh pháp luật về hộ tịch, đó là các quan hệ pháp luật về hộ tịch cùng lúc được điều chỉnh bởi hai nhóm quy phạm pháp luật cơ bản, đó là quy phạm luật dân sự và quy phạm luật hành chính Hai nhóm quy phạm này có mối liên hệ hết sức mật thiết, trong đó, nhóm quy phạm về hộ tịch do luật dân sự điều chỉnh luôn đóng vai trò là tiền đề để xây dựng các quy phạm hành chính về
hộ tịch
Hiểu theo nghĩa hẹp thì pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quy phạm hành chính về quản lý hộ tịch Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quan hệ mang tính chất chấp hành - điều hành phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch Mặc dù hai quan niệm trên đây có sự khác nhau cơ bản nhưng cần thấy rằng chúng không mâu thuẫn và loại trừ nhau Về mặt khoa học, điều đó cho phép có thể sử dụng thuật ngữ này với sự ước định về nội hàm của nó Trong mục đích nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi xin được hiểu thuật ngữ “pháp luật về hộ tịch” theo nghĩa hẹp
Như vậy, pháp luật về quản lý hộ tịch là hệ thống các quy tắc xử sự do cơ quan có thẩm quyền ban hành điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân
b) Đặc điểm pháp luật về quản lý hộ tịch
Trang 24Thứ nhất, pháp luật quản lý về hộ tịch điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quản lý về hộ tịch bao gồm: Quy định về hộ tịch; quyền, nghĩa vụ, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; Cơ sở dữ liệu hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch
Thứ hai, pháp luật về quản lý hộ tịch là cơ sở pháp lý trực tiếp và quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người về nhân thân của cá nhân từ khi sinh
ra đến khi chết
Thứ ba, pháp luật về quản lý hộ tịch quy định chủ thể quản lý nhà nước về
hộ tịch là các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân các cấp như: Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ ngoại giao, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã
Thứ tư, pháp luật về quản lý hộ tịch quy định trách nhiệm của công chức làm công tác hộ tịch Công chức làm công tác hộ tịch bao gồm công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã; công chức làm công tác Hộ tịch ở Phòng Tư pháp thuộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện; viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác Hộ tịch tại Cơ quan đại diện
Thứ năm, Nhà nước bảo đảm pháp luật về quản lý hộ tịch bằng việc quy định rõ quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ đăng ký và quản lý các sự kiện hộ tịch phát sinh
1.1.2.2 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quản lý hộ tịch
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quan hệ mang tính chất chấp hành – điều hành phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước
về hộ tịch
Triển khai thực hiện công tác pháp điển, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ ngoại giao pháp điển đề mục “Hộ tịch” Đến nay, đề mục này đã được thẩm định, ký xác thực, đóng dấu theo quy định và đang được sắp xếp vào chủ đề, chuẩn bị trình Chính phủ thông qua
Đề mục Hộ tịch được pháp điển bởi 05 văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể: Luật số 60/2014/QH13 Hộ tịch ngày 20/11/2014 của Quốc hội; Nghị định
số 123/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
Hộ tịch; Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT Hướng dẫn thực
Trang 25hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; Thông tư số 15/2015/TT-BTP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch ngày 16/11/2015 của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP Hướng dẫn việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài ngày 30/06/2016 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Như vậy, có thể nói thông qua việc pháp điển đề mục Hộ tịch, lần đầu tiên toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật quy định trong lĩnh vực hộ tịch đang còn hiệu lực được thống kê, tập hợp, sắp xếp vào một chỗ giúp các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân dễ dàng tìm kiếm, tra cứu để thực hiện trong quá trình áp dụng pháp luật về đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn
1.1.2.3 Nội dung của pháp luật về quản lý hộ tịch
Nội dung pháp luật quản lý về hộ tịch là các quy định về đăng ký hộ tịch;
cơ sở dữ liệu hộ tịch và trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch Đây là nội dung rất cơ bản, là cơ sở để thực hiện quản lý hộ tịch, cũng là nội dung để công chức Tư pháp – hộ tịch ở phường thực hiện trong thực tế
Đăng ký hộ tịch
Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư Bao gồm các nội dung cụ thể sau:
Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch
Khai sinh: Đăng ký khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch Thông qua quản lý hành chính trong lĩnh vực đăng ký khai sinh đã giúp cho Nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiên của dân số, từ đó, đề ra các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương; mặt khác đăng ký khai sinh
Trang 26một cách đầy đủ, chính xác là bảo vệ quyền của trẻ em được đăng ký khai sinh ngay từ khi sinh ra theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế
Kết hôn: Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của mỗi con nười Từ đó phát sinh ra những quan hệ pháp
lý giữa vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông bà nội, ngoại và cháu.Từ xưa đến nay, quan hệ hôn nhân thường chỉ phát sinh trong phạm vi làng xã hoặc quận, huyện liền kề hoặc trong phạm vi của một quốc gia Ngày nay, do nhu cầu giao lưu kinh tế, xã hội nên các quan hệ hôn nhân đã vượt ra ngoài phạm vi địa hạt của một xã, huyện, tỉnh, thậm chí là quốc gia Do vậy, nếu nghiên cứu đầy đủ về chế
độ hôn nhân, phải nghiên cứu các mối quan hệ hôn nhân không những phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn phải nghiên cứu cả những quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Giám hộ: Là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch: thay đổi hộ tịch là việc thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo yêu cầu của cá nhân đó khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự
Khai tử: Đăng ký khai tử là một trong những lĩnh vực quản lý của nhà nước ta về đăng ký hộ tịch nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số Đăng ký khai tử là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người và ghi vào Sổ đăng ký khai tử Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết Mục đích của việc đăng ký khai tử là nhằm giúp nhà nước theo dõi sự biến động tự nhiên về dân số, tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình
Trang 27Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền các sự kiện: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
Cơ sở dữ liệu hộ tịch
Cơ sở dữ liệu hộ tịch là tài sản quốc gia, lưu giữ toàn bộ thông tin hộ tịch của mọi cá nhân, làm cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, phục
vụ yêu cầu tra cứu thông tin, quản lý, hoạch định chính sách phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Cơ sở dữ liệu hộ tịch bao gồm Sổ hộ tịch và Cơ sở dữ liệu
hộ tịch điện tử là căn cứ để cấp bản sao trích lục hộ tịch Sổ hộ tịch là căn cứ pháp lý để lập, cập nhật, điều chỉnh thông tin hộ tịch của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử
Mỗi loại việc hộ tịch phải được ghi vào 01 quyển sổ, các trang phải đóng dấu giáp lai; Sổ hộ tịch được lưu giữ vĩnh viễn theo quy định của pháp luật
Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được lập để lưu giữ, cập nhật, quản lý, tra cứu thông tin hộ tịch, phục vụ yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến; được kết nối
để cung cấp, trao đổi thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Chính phủ quy định sự phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc quản lý, sử dụng Cơ sở dữ liệu
hộ tịch điện tử; thủ tục, trình tự đăng ký hộ tịch trực tuyến; việc kết nối, cung cấp, trao đổi thông tin giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch
Trang 28Việc quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước, pháp luật về hộ tịch quy định về trách nhiệm của các cơ quan đó trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch gắn với nhiệm vụ quyền hạn riêng biệt của mỗi cơ quan Theo đó:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch
Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “Quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký, quản lý hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch ở trong nước, ban hành, hướng dẫn sử dụng, quản lý hộ tịch, giấy chứng nhận kết hôn, trích lục hộ tịch
và các biểu mẫu hộ tịch khác, quy định cụ thể điều kiện, trình tự đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động; xây dựng và quản lý thống nhất cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; hướng dẫn chỉ đạo địa phương trong việc quản lý, trong việc sử dụng quản lý phần mểm đăng ký và quản lý hộ tịch, cơ sở dữ liệu hộ tịch điện
tử, cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; tổng hợp, phân tích, đánh giá thống kế hộ tịch
Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài Cơ quan đại diện thực hiện quản lý hộ tịch của công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, đăng ký hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo quy định; quản lý, sử dụng sổ sách,
hồ sơ, biểu mẫu hộ tịch; quản lý, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện
Trang 291.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, hình thức, nội dung thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
1.2.1.1 Khái niệm của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
Quản lý Nhà nước về hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý Nhà nước, thông qua việc quản lý về hộ tịch Nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư và sự biến động của xã hội, giúp Nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự an
toàn xã hội [ 15, tr.18]
Trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn Để tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, nhất là trong việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác quản lý, đăng ký hộ tịch theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới cần có hệ thống các quy định pháp luật tạo thành cơ sở pháp lý vững chắc cho quản lý về hộ tịch [12, tr.14]
Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức, quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản
lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật và các tài liệu, sách báo pháp lý, thuật ngữ “pháp luật về quản lý hộ tịch” được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ này trong các nghiên cứu chỉ mang tính ước định và tuỳ từng trường hợp, nội hàm của nó được xác định theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp
Trang 30có sự khác nhau cơ bản Theo những cách hiểu khác nhau đó, việc xác định các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp luật về hộ tịch cũng có sự khác nhau
Hiểu theo nghĩa rộng thì pháp luật về hộ tịch bao gồm toàn bộ hệ thống quy phạm điều chỉnh các vấn đề về hộ tịch, theo đó nguồn chủ đạo của pháp luật
về hộ tịch bao gồm Luật Hộ tịch 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Cũng trong cách hiểu này, các quan hệ pháp luật về hộ tịch được phân thành hai nhóm cơ bản, đó là nhóm quan hệ mang tính chất dân sự và nhóm quan hệ về quản lý Cách hiểu này đã làm nổi bật điểm đặc trưng cơ bản của sự điều chỉnh pháp luật về hộ tịch, đó là các quan hệ pháp luật về hộ tịch cùng lúc được điều chỉnh bởi hai nhóm quy phạm pháp luật cơ bản, đó là quy phạm luật dân sự và quy phạm luật hành chính Hai nhóm quy phạm này có mối liên hệ hết sức mật thiết, trong đó, nhóm quy phạm về hộ tịch do luật dân sự điều chỉnh luôn đóng vai trò là tiền đề để xây dựng các quy phạm hành chính về
hộ tịch
Hiểu theo nghĩa hẹp thì pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quy phạm hành chính về quản lý hộ tịch Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quan hệ mang tính chất chấp hành - điều hành phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch Mặc dù hai quan niệm trên đây có sự khác nhau cơ bản những cần thấy rằng chúng không mâu thuẫn và loại trừ nhau Về mặt khoa học, điều đó cho phép có thể sử dụng thuật ngữ này với sự ước định về nội hàm của nó Trong mục đích nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi xin được hiểu thuật ngữ “pháp luật về hộ tịch” theo nghĩa hẹp [12, tr.15]
Như vậy, thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch là hành vi của con người phù hợp với các quy tắc xử sự do cơ quan có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội
Trang 311.2.1.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch ở nước ta có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch là hoạt động mang tính
Tính quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, hòa giải…Việc sử dụng các quyền trong quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch phải theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ hai, Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch là hoạt động được thực
hiện bởi các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước
Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước: Chính phủ, Bộ, Cơ quan đại diện, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch
Thứ ba, Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch là hoạt động có tính thống
nhất, được tổ chức chặt chẽ
Trang 32Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch, các cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch được tổ chức thành một khối thống nhất
từ trung ương tới địa phương; vừa bảo đảm sự điều hành thống nhất, vừa đảm bảo lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương, tạo ra sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau
Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch được tổ chức chặt chẽ khoa học, gắn kết giữa các khâu, các quá trình của hoạt động quản lý nhằm đạt được hiệu quả, hiệu lực đã định Tính tổ chức chặt chẽ trong quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện ở việc, hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch đã được quy định trong các văn bản luật và được đảm bảo bởi quyền lực nhà nước; đồng thời hoạt động này có trình tự, thủ tục rõ ràng theo quy định của pháp luật Để đảm bảo tính chặt chẽ thì hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch phải có tính khoa học, phù hợp với thực tiễn khách quan
Thứ tƣ, hoạt động thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch mang tính chấp
hành và điều hành Tính chất chấp hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch thể hiện ở mục đích của quản lý hành chính nhà nước, đó là đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật về hộ tịch của các cơ quan hành chính nhà nước
Tính chất điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật về hộ tịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể có thẩm quyền tổ chức
và chỉ đạo việc thực hiện các quy định của pháp luật về hộ tịch trong đời sống xã hội Trong quá trình đó, các chủ thể này không chỉ tự mình thực hiện pháp luật
mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức
để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý
Thứ năm, Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch là hoạt động mang tính
liên tục
Trang 33Đây là công việc hàng ngày, thường xuyên và liên tục vì các mối quan hệ
xã hội và hành vi của công dân được pháp luật hộ tịch điều chỉnh diễn ra thường xuyên, liên tục Vì vậy, quản lý nhà nước đối với hộ tịch phải đảm bảo tính liên tục, ổn định để đảm bảo các hoạt động quản lý hộ tịch không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào
1.2.2 Nội dung, hình thức, chủ thể, phương pháp của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
1.2.2.1 Nội dung
Nội dung của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch là các quy định về đăng ký hộ tịch; cơ sở dữ liệu hộ tịch và trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch
a) Đăng ý hai sinh
Thẩm quyền đăng ký khai sinh
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh
Nội dung đăng ký khai sinh
Nội dung đăng ký khai sinh gồm:
- Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;
- Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm, tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;
- Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh
- Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân
Trang 34Chính phủ quy định việc cấp Số định danh cá nhân cho người được đăng
ký khai sinh
Trách nhiệm đăng kỷ khai sinh
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động
Thủ tục đăng ký khai sinh
Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em
bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật
Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật hộ tịch 2014 vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ
sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh
cá nhân
Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh
Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ
b) Đăng ý ết hôn
Trang 35Thẩm quyền đăng kỷ kết hôn và nội dung Giấy chứng nhận kết hôn
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn
Giấy chứng nhận kết hôn phải có các thông tin sau đây:
- Họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; thông tin về giấy tờ chứng minh nhân thân của hai bên nam, nữ;
- Ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn;
- Chữ ký hoặc điểm chỉ của hai bên nam, nữ và xác nhận của cơ quan đăng ký hộ tịch
Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc
c) Đăng ý giám hộ
Thẩm quyền đăng kỷ giám hộ, chấm dứt giám hộ
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký giám hộ thực hiện đăng ký chấm dứt giám hộ
Thủ tục đăng kỷ giám hộ cử
Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và văn bản cử người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch
Trang 36Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu
- Đăng ký giám hộ đương nhiên
Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ chứng minh điều kiện giám hộ đương nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch Trường hợp có nhiều người cùng đủ điều kiện làm giám hộ đương nhiên thì nộp thêm văn bản thoả thuận về việc cử một người làm giám hộ đương nhiên
Trình tự đăng ký giám hộ đương nhiên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật Hộ tịch 2014
Đăng ký chấm dứt giám hộ
Người yêu cầu đăng ký chấm dứt giám hộ nộp tờ khai đăng ký chấm dứt giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ làm căn cứ chấm dứt giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc chấm dứt giám hộ đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc chấm dứt giám hộ vào Sổ hộ tịch, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám hộ ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu
Đăng ký thay đổi giám hộ
Trường hợp yêu cầu thay đổi người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và có người khác đủ điều kiện nhận làm giám hộ, thì các bên làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ trước đó và đăng ký giám hộ mới theo quy định
d) Đăng ý nhận Cha, Mẹ, Con
Thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận
là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con
Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con
Trang 37Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định
và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con
ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá
Thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước
-Thủ tục đăng kỷ thay đổi, cải chính hộ tịch
Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào
Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu
Trang 38Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá
03 ngày làm việc
Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng
ký hộ tịch trước đây thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Uỷ ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch
Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch
Trường hợp bổ sung hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng và đóng dấu vào nội dung bổ sung
f) Ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định củacơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trách nhiệm thông báo khi có sự thay đổi hộ tịch
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật liên quan đến thay đổi hộ tịch của cá nhân theo quy định tại khoản
2 Điều 3 của Luật Hộ tịch 2014, Toà án nhân dân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án, bản sao quyết định đến Uỷ ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân để ghi vào
Trang 39Sổ hộ tịch; trường hợp nơi đăng ký hộ tịch là Cơ quan đại diện thì thông báo cho
Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch
Trường hợp thay đổi quốc tịch thì việc thông báo được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch
-Thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ngay sau khi nhận được thông báo theo quy định tại Điều 30 của Luật Hộ tịch, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi vào Sổ hộ tịch theo bản
án, quyết định của Toà án nhân dân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
g) Đăng ý hai tử
-Thẩm quyền đăng kỷ khai tử
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử
Thời hạn và trách nhiệm đăng kỷ khai tử
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai
tử thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử
Thủ tục đăng ký khai tử
Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định
và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch
Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử
Trang 40Công chức tư pháp - hộ tịch khoá thông tin hộ tịch của người chết trong
Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử
h) Cấp giấy xác nhận trình trạng hôn nhân
Thẩm quyền
-Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng
ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Thủ tục
Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng
i) Đăng ý lại hai sinh, ết hôn, hai tử
Điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử
Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại
Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại
Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ
Điều 25 Luật hộ tịch 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử: