Tác giả dựa trên cơ sở lý luận về giao thông tĩnh cho xe buýt, phân tích thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp phát triển giao thông tĩnh cho VTHKCC bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
Trang 3Và đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô - TS Nguyễn Hoàng Anh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và góp nhiều ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành Luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Phòng Quản lý vận tải thuộc Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Quản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh tra Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, các đồng nghiệp và các khách hàng được phỏng vấn đã tận tình giúp đỡ, cung cấp thông tin
để Luận văn được hoàn thành
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng nỗ lực để có thể hoàn thành tốt nhất luận văn, nhưng do kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế và thời gian hạn hẹp nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, kính mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy, Cô giáo để Luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Trần Công Hoan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học
do chính bản thân tự thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hoàng Anh Những thông tin tham khảo từ các công trình nghiên cứu khoa học
của các tác giả khác và các tài liệu trong sách, báo, internet để làm luận cứ cho đề tài luận văn này được tác giả tự sưu tập và được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Những thông tin khảo sát xã hội để phục vụ đề tài được thực hiện một cách trung thực Những kết quả từ luận văn này chưa được sử dụng hay công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Công Hoan
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin ĐSĐT : Đường sắt đô thị GSHT : Giám sát hành trình GTCC : Giao thông công cộng GTVT : Giao thông vận tải HCM : Hồ Chí Minh HĐND : Hội đồng nhân dân TCXDVN : Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 8
ĐỐI VỚI VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE BUÝT 8
1.1 Tổng quan về vận tải hành khách bằng xe buýt 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm của vận tải hành khách bằng xe buýt 10
1.1.3.Vai trò của vận tải hành khách bằng xe buýt 11
1.2 Quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt 17
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt 18
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt 26
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách ở các đô thị 32
1.3.1 Các đô thị ở châu Âu 32
1.3.2 Các đô thị ở châu Á 34
Trang 71.3.3 Kinh nghiệm trong nước 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VTHK BẰNG XE BUÝT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Khái quát về vận tải hành khách bằng xe buýt ở Thành phố Hồ Chí Minh 38
2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.2.1 Về xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giao thông đường bộ 40
2.2.2 Về ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quản lý nhà nước 43
2.2.3 Về thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định ngành 57
2.3 Khảo sát chỉ số hài lòng của tổ chức và công dân về dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh 61
2.4 Đánh giá chung 70
2.4.1 Những thành công 70
2.4.2 Những hạn chế 72
2.4.3 Nguyên nhân 75
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE BUÝT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 80
3.1 Định hướng chung 80
3.1.1 Định hướng của Đảng, nhà nước 80
3.1.2 Định hướng của Thành phố Hồ Chí Minh 83
3.2 Các giải pháp cụ thể 85
3.2.2 Nâng cao năng lực đội ngũ công chức 90
3.2.3 Đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền 95
3.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm 100
Trang 83.3 Khuyến nghị 103 3.3.2 Đối Thành phố Hồ Chí Minh 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1088
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Sinh thời Bác Hồ ví “giao thông là mạch máu của mọi công việc; GTVT là một mặt trận”.Trong chiến tranh, giao thông đi trước mở đường; trong xây dựng và phát triển đất nước, GTVT là một ngành, bộ phận rất quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội và hợp tác quốc tế Những năm gần đây trên thế giới cũng như ở nước ta, trong GTVT đã xuất hiện một số phương thức vận tải mới, như: vận tải đa phương thức (Multimodal transport) hay còn gọi là vận tải liên hợp (combined transport), GTVT thông minh có sự tích hợp, kết nối của công nghệ thành hệ thống (Inteligent Transport System - ITS), Logistic trong GTVT - dịch vụ vận tải theo chuỗi cung ứng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Các phương thức vận tải này xuất hiện đều có mục đích tối ưu hóa hoạt động vận tải hàng hoá, hành khách và tạo điều kiện tốt nhất để phục vụ việc đi lại thuận tiện cho con người.Vận tải nói chung và VTHK bằng xe buýt nói riêng có vai trò thiết yếu đối với sản xuất
và đời sống của con người Việc vận chuyển hàng hóa, con người, diễn ra liên tục
để phục vụ nhu cầu con người, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Có thể nói, mọi hoạt động của con người đều liên quan đến vận tải Vì vậy, VTHK nói chung và bằng xe buýt nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia
Sau hơn 300 năm hình thành và phát triển, TP Hồ Chí Minh hiện nay đã, đang
và sẽ tiếp tục là trung tâm kinh tế - văn hóa – xã hội của miền Nam Bên cạnh những ưu thế vượt trội về kinh tế - xã hội so với các địa phương trong vùng và trong nước, TP Hồ Chí Minh cũng sẽ phải tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức lớn, có nguy cơ trở thành những lực cản trong quá trình phát triển TP, trong đó thách thức nổi cộm là năng lực và chất lượng của hệ thống GTVT đô thị Trên các trục đường trọng yếu trong đô thị, thời gian UTGT đã vượt quá giới hạn của các
Trang 10đoạn giờ cao điểm và mở rộng ra suốt thời gian ban ngày Tác động của GTVT đến môi trường sinh thái đã thực sự trở nên nghiêm trọng.Tất cả các chỉ tiêu về ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn trên hầu hết mạng lưới giao thông trong
đô thị và trên các trục đường chính ra vào đô thị đều đã vượt xa ngưỡng tiêu chuẩn cho phép
TP Hồ Chí Minh được quy hoạch là đô thị đặc biệt, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ; là đầu mối giao lưu quốc tế, trung tâm công nghiệp, dịch vụ đa lĩnh vực của khu vực và Đông Nam Á.Với dân số xấp
xỉ 10.000.000 [14], TP đang trở thành đô thị cực lớn Ở những đô thị lớn, mạng lưới xe buýt thuận tiện, an toàn sẽ thúc đẩy sự phát triển nói chung, hình thành tính văn minh trong giao thông đô thị Với ưu thế vượt trội như tiết kiệm, an toàn, bảo vệ môi trường, giảm ùn tắc, giao thông công cộng luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các quốc gia Đặc biệt là phương tiện xe buýt Tại TP Hồ Chí Minh,
hệ thống xe buýt có phát triển nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của người dân Đây là khiếm khuyết mà TP Hồ Chí Minh cần khắc phục để góp phần đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước nói chung và nhất là TP đô thị đặc biệt đòi hỏi có sự thay đổi một cách căn bản trong cách thức quản lý VTHK bằng xe buýt tương ứng với tốc độ, nhu cầu người dân Thời gian qua,TP Hồ Chí Minh đã có nhiều chính sách khuyến khích người dân sử dụng xe buýt khi di chuyển trong nội thành, tuy nhiên, xe buýt chưa hấp dẫn người dân TP Việc này do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu vẫn là nguyên nhân từ quản lý nhà nước
Để góp phần khắc phục những mặt tồn tại, hạn chế nhằm thúc đẩy sự phát triển VTHK bằng xe buýt đáp ứng nhu cầu người dân tốt hơn, ổn định, theo hướng hiện đại, đảm bảo an toàn với chất lượng dịch vụ ngày càng cao đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng,
Trang 11tác giả chọn “Quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các ấn phẩm khoa học
Trần Văn Trường với bài viết“Một số vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về
GTVT trong giai đoạn hiện nay” Bài viết phân tích sự phát triển của khoa học công nghệ, việc ứng dụng tự động hóa, trao đổi dữ liệu điện toán đám mây trên không gian mạng đã làm tăng cường khả năng tương tác, hạn chế sự can thiệp trực tiếp của con người vào các hoạt động quản lý cũng như sản xuất vật chất, cung cấp dịch vụ trong xã hội Tất cả những thay đổi này đã tác động mạnh mẽ, làm thay đổi
tư duy, cách thức, nội dung quản lý nhà nước chuyên ngành cũng như hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chuyên ngành GTVT Tác giả đã lý giải và đưa ra một
số ý kiến, quan điểm khoa học có tính chất gợi mở nhằm thay đổi quan niệm về GTVT, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về GTVT trong giai đoạn hiện nay
TS Phạm Hoài Chung với bài viết “Quản lý các loại hình vận tải bằng taxi trong cuộc cách mạng 4.0” Bài viết phân tích sự phát triển vượt bậc của taxi, nhất
là trong thời đại 4.0 Tác giả đưa ra một số kinh nghiệm quản lý vận tải bằng taxi của một số quốc gia trên thế giới, từ đó đặt ra các vấn đề cần có giải pháp quản lý nhà nước
Lý Huy Tuấn với bài viết “Quản lý VTHK bằng ô tô qua phân tích SWOT” Bài viết phân tích sự cần thiết trong nghiên cứu phân tích SWOT Tác giả đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của phân tích SWOT từ đó đưa ra các cơ hội và thách thức của hoạt động VTHK bằng ô tô Các giải pháp được tác giả đề xuất chủ yếu đối với VTHK bằng ô tô
Trang 12Luận án, luận văn
Vũ Hồng Trường (2013), “Nghiên cứu mô hình quản lý VTHKCC trong các
TP Việt Nam”, đây là luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Tổ chức và quản lý vận tải Luận văn tiến sĩ trên cơ sở nghiên cứu lý luận về mô hình quản lý nhà nước đối với VTHKCC ở đô thị, các bài học kinh nghiệm trên thế giới, tác giả phân tích, đánh giá các mô hình ở các đô thị Việt Nam Từ đó, tác giả đề xuất mô hình quản
lý nhà nước đối với VTHKCC trong các TP Việt Nam;
Phạm Vương Bảo (2014), “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phát triển giao thông tĩnh cho VTHKCC bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh”, đây là luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành tổ chức vận tải Tác giả dựa trên cơ sở lý luận về giao thông tĩnh cho xe buýt, phân tích thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp phát triển giao thông tĩnh cho VTHKCC bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh;
Trịnh Tuấn Hùng (2014), “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hoạt động VTHK bằng xe ô tô theo tuyến cố định tại TP Hồ Chí Minh”, đây là luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành tổ chức vận tải Tiếp cận từ giác độ kinh tế, tác giả dựa trên cơ sở lý luận về hoạt động VTHK bằng xe ô tô theo tuyến cố định, phân tích thực trạng công tác quản lý từ đó đề xuất nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hoạt động VTHK bằng xe ô tô theo tuyến cố định tại TP Hồ Chí Minh;
Bùi Xuân Cường (2015), “Quản lý nhà nước đối với VTHKCC tại TP Hồ Chí Minh”, đây là luận văn thạc sĩ quản lý công Tác giả dựa trên cơ sở lý luận đối với VTHKCC, phân tích thực trạng công tác quản lý từ đó đề xuất quản lý nhà nước đối với VTHKCC tại TP Hồ Chí Minh
Trang 13Các công trình nghiên cứu trên đứng ở các góc độ tiếp cận khác nhau đánh giá
về vận tải hành khách công cộng với nhiều phương tiện, song chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh Vì thế, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, cần thực hiện nhiệm vụ như sau:
+ Hệ thống hóa lý luận quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt;
+ Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với vận tảihành khách bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh;
+ Khảo sát chỉ số hài lòng của tổ chức và công dân về dịch vụ VTHK bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh;
+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với vận tảihành khách bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt từ năm 2012 đến 2018
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu quản lý nhà nước đối với VTHK bằng
xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
-Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng để tập hợp, tra cứu, hệ thống hoá tài liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách tại TP Hồ Chí Minh nhằm mục đích tìm hiểu sâu về vấn đề nghiên cứu và tổng quan được tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Những tài liệu cần tập trung nghiên cứu gồm: hệ thống tài liệu
lý luận về quản lý nhà nước và bộ máy hành chính nhà nước; lý luận về vận tải hành khách, hệ thống văn bản của Đảng, Nhà nước, của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh có liên quan; kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đi trước; các tài liệu lưu trữ của các cơ quan có liên quan đến
đề tài nghiên cứu (báo cáo tình hình, báo cáo sơ kết, tổng kết hàng năm của UBND, sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp điều tra xã hội học: Bảng câu hỏi được thiết kế với 43 câu hỏi với đầy đủ các dạng: câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi kết hợp, câu hỏi kiểm tra nhằm thu thập đánh giá của người dân về chỉ số hài lòng của học đối với vận tải hành khách bằng xe buýt
- Phương pháp chọn mẫu: Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Tác giả phát phiếu khảo sát ngẫu nhiên 1.500 hộ gia đình nhằm đánh giá
Trang 15chỉ số hài lòng của công dân về dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt tại thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2 trong quá trình thực hiện luận văn nhằm đánh giá, so sánh kết quả quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh
6 Đóng góp của đề tài
Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về vận tải hành khách bằng xe buýt và quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt cũng như kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng xe buýt ở một số địa phương trên thế giới và trong nước
Về thực tiễn: Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong học tập và nghiên cứu chuyên ngành quản lý nhà nước Đề tài còn có giá trị tham khảo cho các cơ quan, ban ngành trong việc hoạch định chủ trương, chính sách liên quan lĩnh vực này ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE BUÝT 1.1 Tổng quan về VTHK bằng xe buýt
1.1.1 Khái niệm
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển gồm con người (hành khách) và vật phẩm (hàng hoá) [2] Sự di chuyển vị trí của hành khách và hàng hoá trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi
Có thể khái niệm về vận tải như sau: Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển)
vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người [2 ] Là ngành sản xuất vật chất nên vận tải cũng có sản phẩm của riêng mình, sản phẩm của vận tải chính là sự di chuyển của con người và vật phẩm trong không gian Sản phẩm vận tải cũng là hàng hoá và cũng
có giá trị và giá trị sử dụng, giá trị của hàng hoá là lượng lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá đó, giá trị sử dụng của sản phẩm vận tải là khả năng đáp ứng như cầu di chuyển
Tuy nhiên, so với các ngành sản xuất khác, vận tải có những đặc điểm khác biệt về quá trình sản xuất, về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Môi trường sản xuất của vận tải là không gian, luôn di động chứ không cố định như trong các ngành khác;
Trang 17- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng lao động chứ không phải tác động về mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi hình dáng, kích thước của đối tượng lao động;
- Sản phẩm vận tải không tồn tại dưới hình thức vật chất và khi sản xuất ra là được tiêu dùng ngay Hay nói cách khác sản phẩm vận tải mang tính vô hình Trong ngành vận tải, sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm vận tải để tiêu dùng về sau mà chỉ có khả năng dự trữ năng lực vận tải mà thôi;
- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà
chỉ làm thay đổi vị trí của hàng hoá và qua đó cũng làm tăng giá trị của hàng hoá VTHK bằng xe buýt là hoạt động VTHK bằng ô tô theo tuyến cố định có các
điểm đừng đón, trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành Xe buýt là xe ô tô chở hành khách có thiết kế từ 17 ghế trở lên và có diện tích sàn xe dành cho hành khách đứng (diện tích dành cho 1 hành khách đứng là 0,125m2) theo tiêu chuẩn quy định Tùy thuộc đặc điểm, điều kiện mà ở một số TP cho phép xe 12 chỗ ngồi được hoạt động vận chuyển hành khách công Riêng các xe hoạt động đưa rước học sinh, sinh viên, công nhân theo hình thức hợp đồng có trợ giá phải đảm bảo đủ ghế ngồi
VTHK giữ một vị trí quan trọng trong xã hội hiện đại, nó đáp ứng nhu cầu đi lại hàng ngày của người dân Do vậy, phát triển VTHK được xem là một giải pháp khả thi nhằm giải quyết vấn đề đi lại của người dân trong đô thị Kinh nghiệm của nhiều nước phát triển trên thế giới khi giải quyết nhu cầu vận tải đô thị (mà chủ yếu là nhu cầu đi lại) đã chỉ ra rằng: để đáp ứng được nhu cầu đi lại ở đô thị thì không chỉ có một hệ thống mạng lưới đường phát triển, quy mô mà còn phải có một hệ thống VTHK hoàn hảo gồm nhiều hình thức vận tải khác nhau bao trùm lên
Trang 18toàn bộ mạng lưới đường đô thị và các vùng phụ cận Một hệ thống VTHK phát triển phải bao gồm nhiều hình thức vận tải tham gia như: tầu điện ngầm, tầu điện bánh hơi, tầu điện bánh sắt, xe buýt Mỗi một loại hình VTHK này có những đặc tính khai thác kỹ thuật khác nhau Bởi vậy, tùy vào điều kiện cụ thể của mỗi đô thị, mỗi quốc gia mà người ta xem xét để lựa chọn toàn bộ hay một phần trong các loại hình VTHK sao cho phù hợp Một hệ thống VTHK phát triển là cơ sở cho việc phát triển văn minh đô thị mà VTHK bằng xe buýt là một trong số đó
1.1.2 Đặc điểm của VTHK bằng xe buýt
Vận tải bằng xe buýt là phương thức vận tải phổ biến nhất trong tất cả các loại hình VTHK Cũng giống như các loại hình vận tải khác, xe buýt cũng mang đầy đủ các đặc điểm của vận tải và cũng có những đặc thù nhất định Đó là:
- Thời gian hoạt động chủ yếu vào ban ngày do phục vụ nhu cầu thường xuyên và ổn định của xã hội
- Chi phí vận hành phương tiện xe buýt thường cao hơn (từ 40% đến 50%)
so với vận chuyển liên tỉnh do hành khách lên xuống thường xuyên nên phải bố trí nhiều công trình, trang thiết bị phục vụ
- Công suất vận tải thấp do phải dừng đỗ tại nhiều điểm
- Xe phải có tính năng động lực và gia tốc cao nhằm đảm bảo yêu cầu khi tăng giảm tốc độ và xe chạy phải ít tiếng ồn, êm dịu
- Độ chính xác về thời gian và không gian cao nhằm đảm bảo phục vụ hành khách và giữ gìn trật tự đô thị
- Vì tính chất và điều kiện phục vụ đặc biệt nên các phương tiện VTHK bằng xe buýt phải có nhiều cửa, các cửa phải rộng, số ghế ngồi ít (chiếm từ 1/5 đến 1/3 sức chứa), bậc cửa lên xuống phải thấp, sàn xe phải thấp thuận tiện, ngoài ra trên xe còn phải bố trí nhiều thiết bị phục vụ hành khách lên xuống cũng như khi
xe đang chuyển động
Trang 19- Trong xe thường bố trí các thiết bị kiểm tra vé tự động, bán tự động, có
hệ thống thông tin hai chiều (hành khách và lái xe)
Như vậy, những đòi hỏi xuất phát từ đặc điểm của VTHK bằng xe buýt đặt các nhà quản lý vào vị trí phải đưa ra được các chính sách, các giải pháp nhằm hỗ trợ cho VTHK phát triển
Tuyến xe buýt chuyên trách là tuyến xe buýt phục vụ cán bộ, công nhân viên, học sinh, sinh viên hoặc vận chuyển người qua hầm đường bộ
1.1.3.Vai trò của VTHK bằng xe buýt
VTHK có ý nghĩa vô cùng lớn Nó là dịch vụ thỏa mãn nhu cầu bức thiết của người dân, đặc biệt là dân cư đô thị, bảo đảm trật tự xã hội nói chung và tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế - xã hội Quá trình đô thị hóa của các TP trên thế giới cho thấy giao thông bằng hệ thống VTHKCC từng bước thay thế cho giao
Trang 20thông bằng phương tiện cá nhân Đô thị càng phát triển thì đòi hỏi khả năng phục
vụ của hệ thống GTCC càng cao Khi tham gia giao thông, hành khách không chỉ quan tâm đến giá cả, khối lượng dịch vụ mà còn là sự nhanh chóng, thuận tiện, chất lượng phục vụ như hành trình, chi phí thời gian, tính tiện nghi của phương
tiện, thông tin, phục vụ…
Thuận tiện, an toàn
Do những đặc điểm về tính cơ động và vốn đầu tư ban đầu nhỏ nên xe buýt luôn là loại hình VTHK đầu tiên trong hệ thống VTHK VTHK bằng xe buýt giữ một vị trí quan trọng ở những khu đang phát triển, những khu trung tâm và đặc biệt
là đối với những đô thị cổ VTHKCC bằng xe buýt đã thực sự trở thành loại phương tiện thu hút người dân đô thị, đặc biệt là ở các đô thị của những nước đang phát triển Vận tải xe buýt ngoài chức năng vận chuyển một khối lượng hành khách độc lập, nó còn có khả năng thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ trung chuyển giữa các loại hình vận tải trong hệ thống VTHKCC tạo mối liên hệ đảm bảo liên thông của cả hệ thống VTHKCC trong đô thị Với hệ thống tiện nghi trên xe buýt, người dân tránh được những tác động thời tiết từ bên ngoài như mưa, bụi, vũng nước… Ngoài ra, hành khách còn được bảo vệ, tránh những rủi ro, tai nạn khác
Hệ thống VTHK bằng xe buýt góp phần tạo mạng lưới thống nhất, trực tiếp thông thương với các tuyến nội tỉnh, liên tỉnh, xuyên quốc gia và khu vực Lợi ích lớn nhất mà hệ thống VTHKCC bằng xe buýt mang lại đó là duy trì đảm bảo sự sống còn của TP, tránh sự tê liệt giao thông, góp phần đảm bảo an ninh trật tự
Tiết kiệm
VTHKCC bằng xe buýt có thể tự trang trải chi phí chung cho nó (không bao gồm chi phí đầu tư cho hạ tầng) Điều này là hiện thực nếu tăng được chất lượng phục vụ thu hút đông đảo người dân sử dụng phương tiện VTHKCC, giá vé phải
đủ trang trải chi phí vận hành (ngoại trừ vé ưu đãi cho học sinh - sinh viên và một
Trang 21số loại ưu đãi khác), công tác tổ chức, điều hành giám sát, bảo trì phương tiện có hiệu quả để đảm bảo khai thác tối đa năng suất phương tiện
VTHKCC tạo thuận lợi cho sự phát triển chung của đô thị, nó góp phần tiết kiệm được thời gian đi lại của người dân, giảm bớt chi phí cá nhân và xã hội góp phần tăng sản phẩm xã hội, tăng năng suất lao động VTHKCC bằng xe buýt góp phần thiết lập và duy trì trật tự kỷ cương giao thông đô thị Nếu sử dụng các phương tiện cá nhân người dân phải tốn nhiều chi phí như xăng, dầu, bãi đỗ xe, sủa chữa So với giá xe buýt hiện hành thì chỉ 5.000đ/lượt hoặc 90.000đ/tháng dành cho đối tượng bình thường và 45.000đ/tháng cho đối tượng ưu tiên, chưa kể miễn phí đối với người cao tuổi
Bảo vệ môi trường
Hiện nay, vấn đề môi trường và giải quyết ô nhiễm môi trường là một vấn đề cấp bách của thế giới và Việt Nam Lượng xe máy khổng lồ hiện nay ở Việt Nam đang dần trở thành đống rác thải công nghiệp, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống Theo báo cáo hiện trạng môi trường gần đây, khoảng 70%-90% tổng lượng khí thải đô thị tại những TP lớn là những nguyên nhân gây ra các bệnh
về đường hô hấp, ung thư Trong đó lượng khí thải của xe máy chiếm tỷ lệ cao nhất Đi xe buýt góp phần giảm thiểu lượng khói bụi trong không khí, đồng thời chính chúng ta cũng tránh được tác động xấu từ khói, bụi và ô nhiễm môi trường lên sức khỏe… Chỉ riêng việc tăng cường GTCC chưa đủ để có một tác động môi trường đáng kể, nó phải được kèm theo các biện pháp hạn chế phương tiện cá nhân Phát triển một hệ thống GTCC bằng xe buýt là điều kiện cần thiết để áp dụng những biện pháp này
Giảm UTGT
Bùng nổ xe cá nhân, hạ tầng đô thị quá tải, kẹt xe liên miên là những vấn đề phổ biến của các đô thị lớn, nơi có tốc độ đô thị hóa và phát triển kinh tế cao UTGT đêm lại những hậu quả và hệ lụy cho đời sống đô thị Thứ nhất là thiệt hại
Trang 22do lãng phí thời gian và nhiên liệu Thứ hai là ảnh hưởng đến chính cá nhân và gia đình người dân Trong nhiều chiến lược và giải pháp đấu tranh với nạn UTGT, sử dụng phương tiện GTCC như xe buýt, hạn chế các phương tiện cá nhân được coi là lựa chọn hàng đầu do tính ưu việt nổi bật của nó
1.2 Quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt
Với định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công
cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội
Trang 23- Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội
và hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển
Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước Thứ hai, đối tượng quản lý nhà nước là toàn bộ dân cư và các tổ chức trong
phạm vi tác động quyền lực nhà nước
Thứ ba, vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm người trong xã
hội, quản lý nhà nước diễn ra trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân
Trang 24Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực của nhà nước, lấy pháp luật
làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt
VTHKCC bằng xe buýt có một chức năng đặc biệt trong xã hội là vận chuyển hành khách từ địa điểm này đến địa điểm khác, góp phần đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân Quản lý nhà nước đối với VTHKCC bằng xe buýt cũng mang tính xã hội sâu sắc Công tác quản lý tác động ảnh hưởng đến đời sống
xã hội Tính chất phục vụ được thể hiện ở ở việc nó đáp ứng được nhu cầu đi lại làm cho cuộc sống của con người ngày càng đầy đủ và tiện nghi hơn Mục tiêu xã hội của quản lý nhà nước gồm các nội dung:
+ Đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn giao thông
+ Đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân một cách thuận tiện, nhanh chóng, trên cơ sở phát triển nhanh, đúng và hợp lý hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ
+ Đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh VTHKCC bằng xe buýt
Công tác quản lý nhà nước có tác dụng đưa các thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh VTHKCC bằng xe buýt vào khuôn khổ, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự Điều này cũng gián tiếp góp phần giữ vững sự ổn định về mặt chính trị của đất nước
Những điều trình bày ở trên có thể định nghĩa khái niệm quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt như sau: Là sự tác động có tổ chức và bằng pháp luật của
bộ máy nhà nước lên đối tượng quản lý trong việc tổ chức, quy hoạch, điều hành các tuyến xe thông qua quản lý các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh trong lĩnh vực VTHK bằng xe buýt nhằm phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, góp phần tạo
Trang 25dựng, phát triển đất nước trong lĩnh vực giao thông một cách hiệu quả và công bằng
1.2.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt
Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt là sự cần thiết khách quan, vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, nhà nước phải khắc phục những hạn chế của kinh tế thị trường, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra Sự phát triển của VTHK bằng xe buýt phải đảm bảo yếu tố kinh tế và xã hội Đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hành khách
Thứ hai, bằng các chính sách, pháp luật và sức mạnh kinh tế của mình, nhà nước giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế phổ biến, thường xuyên trong hoạt động VTHK bằng xe buýt Trong quá trình hoạt động VTHK, lợi ích kinh tế
là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đó Trong nền kinh tế thị trường, mọi đối tác đều hướng tới lợi ích kinh tế riêng của mình và xảy ra sự tranh giành về lợi ích, phát sinh những mâu thuẫn về lợi ích Những mâu thuẫn này có tính phổ biến, thường xuyên vì liên quan đến quyền lợi cá nhân Chỉ có nhà nước mới có thể giải quyết được các mâu thuẫn đó và điều hòa lợi ích của các bên liên quan
Thứ ba, xuất phát bản chất giai cấp của nhà nước, hài hòa lợi ích của các tầng lớp dân cư Nhà nước XHCN Việt Nam đại diện cho lợi ích của dân tộc và nhân dân lao động Nhà nước của ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Nhà nước ta xác định là nhằm đem lại lợi ích vật chất và tinh thần cho nhân dân Tuy vậy, trong nền kinh tế nhiều thành phần, không phải lúc nào lợi ích kinh tế của các bên cũng luôn luôn được thống nhất.Vì vậy, xuất hiện xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh trong quá trình hoạt động kinh
tế trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối Trong cuộc
Trang 26đấu tranh trên mặt trận kinh tế, Nhà nước ta phải thể hiện bản chất giai cấp của mình để bảo vệ lợi ích của dân tộc và của nhân dân Chỉ có Nhà nước mới có thể làm được điều đó
Tóm lại, Nhà nước đảm bảo trật tự an toàn xã hội nói chung, TTATGT nói riêng Trật tự an toàn xã hội là kết quả của một xã hội ổn định, bền vững được điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật, đạo đức và chính trị Đó là trạng thái mong muốn tất yếu của một xã hội có nhà nước Tại Điều 12 Hiến pháp nước ta khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa" Như vậy, trong đạo luật gốc, Nhà nước ta khẳng định pháp luật
là công cụ quản lý trật tự an toàn xã hội cũng như TTATGT Nói tới pháp luật và
để có pháp luật chuẩn, thì phải nói tới các môi trường tồn tại của pháp luật và đòi hỏi pháp luật phải tốt ở tất cả những môi trường tồn tại của nó Pháp luật tồn tại ở
ba môi trường là: xây dựng pháp luật; thực hiện pháp luật; và ý thức pháp luật Nhà nước đảm bảo bằng việc khuyến khích, cấp phép; hạn chế hay răn đe xử lý vi phạm Nhà nước tạo hành lang pháp lý để hướng xã hội theo định hướng mục đích của mình
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giao thông đường
bộ
Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động, công việc được sắp xếp theo trình
tự nhất định để đạt được mục tiêu đã đề ra Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai Kế hoạch cũng là việc lựa chọn phương pháp tiếp cận hợp lý các mục tiêu định trước
Trang 27Kế hoạch là xác định mục tiêu và quyết định cách tốt nhất để đạt được mục tiêu Quy hoạch là quá trình sắp xếp, bố trí các đối tượng quy hoạch vào một không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định
Quy hoạch phát triển hệ thống vận tải công cộng là một nhiệm vụ hết sức cấp thiết Đây chính là một giải pháp hữu hiệu cho việc giảm sự gia tăng nhanh chóng của các loại phương tiện cá nhân và UTGT Mục tiêu tổng thể của quy hoạch là hoàn thành lập quy hoạch các phương thức VTHKCC làm nền tảng cho sự phát triển một hệ thống giao thông đô thị bền vững với các mục tiêu cụ thể như: Nâng cao năng lực của hệ thống VTHK, đảm bảo đáp ứng một tỷ lệ cao nhất định nhu cầu đi lại của người dân; Kiềm chế tai nạn và cải thiện an toàn giao thông đô thị và vùng phụ cận; Giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và lượng chất thải từ hệ thống giao thông nói chung và các phương thức VTHK nói riêng nhằm bảo vệ môi trường đô thị; Thúc đẩy sự phát triển kinh tế Quy hoạch luônđề ra các nhiệm vụ cụ thể như sau: Xác định rõ các định hướng quy hoạch được quy định trong các văn bản pháp quy được các cấp có thẩm quyền ban hành;Phân tích và đánh giá các điều kiện hoạt động của VTHKCC bao gồm: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, đặc điểm nhu cầu và năng lực của cơ sở hạ tầng và dịch vụ GTVT; Phân tích và đánh giá hiện trạng dich vụ VTHKCC; Dự báo nhu cầu sử dụng phương tiện VTHKCC;
Đề xuất quy hoạch mạng lưới VTHK; Đề xuất các chính sách, điều kiện thực hiện quy hoạch Dựa trên các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông, chính quyền địa phương tiến hành xây dựng và ban hành quy hoạch, kế hoạch căn
cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình Việc xây dựng và ban hành các văn
Trang 28bản quản lý của chính quyền địa phương tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiến hành các bước tổ chức thực hiện, chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan Hoạt động này còn thể hiện chủ trương, chính sách cũng như ý chí của chính quyền địa phương đối với hoạt động quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước đối với VTHK riêng trước hết là hoạt động thực hiện pháp luật Để tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với VTHK, nhà nước đã xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ Điều 4 Luật Giao thông đường bộ 2008 qui định rõ các nguyên tắchoạt động giao thông đường bộ phải bảo đảm thông suốt, trật tự, an toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; Phát triển giao thông đường bộ theo quy hoạch, từng bước hiện đại và đồng bộ; gắn kết phương thức vận tải đường bộ với các phương thức vận tải khác; Quản lý hoạt động giao thông đường bộ được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cụ thể, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp; Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Người tham gia giao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc bảo đảm an toàn của phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Mọi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường
bộ phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật Trên cơ sở đó, nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác được các cấp có thẩm quyền ban hành nhằm đảm bảo trật tự, an toàn xã hội trong VTHK
Trang 29Mục đích của việc xây dựng, ban hành các chính sách vận tải, các văn bản quản lý VTHK bằng xe ô tô là làm sao cho ngành vận tải thoả mãn tối đa nhu cầu vận chuyển của xã hội, sử dụng tối ưu năng lực vận chuyển của từng ngành có xét đến đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng chuyên ngành vận tải và các yêu cầu của khách hàng Chính sách vận tải phải xác định những phương hướng chính, các bước phát triển từng ngành cũng như toàn bộ hệ thống vận tải
Việc tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông là quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của chính quyền địa phương và tất cả mọi người sinh sống trên địa bàn Xét về chủ thể quản lý nhà nước, UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm của cấp trên Cụ thể hóa chúng bằng việc xây dựng và ban hành, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó tại địa phương Sở GTVT là cơ quan tham mưu trực tiếp cho UBND tỉnh quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông, tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước
về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh.Các văn bản quản lý nhà nước về vận tải như Nghị định 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô, Thông tư 63/2014/TT-BGTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đều có nhiều quy định cụ thể, chi tiết để quản lý toàn bộ quá trình hoạt động vận chuyển hành khách trên các tuyến cố định như quản lý về các điều kiện kinh doanh, quản lý về tổ chức hoạt động trên tuyến, quản lý về việc chấp hành các quy định ngành
Quản lý về các điều kiện kinh doanh
Hoạt động kinh doanh vận tải nói chung và kinh doanh VTHK bằng xe buýt nói riêng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật nên các cá nhân, đơn vị muốn hoạt động kinh doanh VTHK bằng xe ô tô theo tuyến cố định phải đáp ứng một số điều kiện nhất định quy tại Nghị định 86/2014/NĐ-CP,
Trang 30Thông tư 63/2014/TT-BGTVT mới được xem xét cấp giấy phép kinh doanh VTHK bằng xe ô tô theo tuyến cố định (nói chung và bằng xe buýt nói riêng) Theo quy định tại Nghị định 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014, đơn vị kinh doanh VTHK phải có giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô Đơn vị được cấp giấy phép kinh doanh phải được đánh giá định kỳ về việc duy trì điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Bộ GTVT Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh là Sở GTVT các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương
Quản lý về tổ chức hoạt động trên tuyến
+ Quản lý về luồng tuyến vận tải: Nhà nước tổ chức lập và công bố quy
hoạch mạng lưới tuyến VTHK cố định nói chung và bằng xe buýt nói riêng Các doanh nghiệp, hợp tác xã đã được cấp Giấy phép kinh doanh muốn hoạt dộng trên tuyến nào đó thì phải đăng ký khai thác tuyến theo quy định
+ Quản lý về công tác khai thác trên tuyến: Nhà nước quản lý các yếu tố như
loại phương tiện hoạt động trên tuyến, điều kiện kỹ thuật và trang thiết bị hoạt động của phương tiện, người điều khiển phương tiện, chất lượng phục vụ hành khách, các điểm dừng đỗ trên tuyến và thời gian hoạt động trên tuyến,
+ Quản lý về đầu tư xây dựng bến bãi, các điểm dừng, đỗ đón trả khách: Nhà
nước quản lý đầu tư xây dựng bến bãi, các điểm dừng, đón trả khách nhằm đảm bảo đúng quy hoạch, đúng quy chuẩn quy định nhằm phục vụ tốt nhu cầu của người dân
Kiểm tra, thanh tra thực hiện văn bản quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt
Vị trí vai trò của công tác thanh tra được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật về thanh tra, nhất là từ Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến Luật Thanh tra
Trang 31năm 2004, Luật Thanh tra năm 2010 Hoạt động thanh tra được xem như một khâu quan trọng của quản lý nhà nước, thể hiện qua các vai trò và ý nghĩa sau: Thứ nhất, Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước Tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định là những giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý Kiểm tra là hình thức tác động có hướng đích nhằm quan sát cả hệ thống để phát hiện những sai lệch so với yêu cầu đề ra, tìm ra nguyên nhân và từ
đó đưa ra các giải pháp phù hợp đảm bảo để đối tượng bị quản lý tự điều chỉnh hoạt động để đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định.Việc tìm ra và áp dụng các giải pháp phù hợp phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thuộc về chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm tra Thanh tra là một phương thức của kiểm tra, là chức năng của quản lý, là công cụ của người lãnh đạo, người quản lý Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước nhất thiết phải tiến hành hoạt động thanh tra đối với việc thực hiện các quyết định mà mình đã ban hành Đó là một khâu không thể thiếu được trong quá trình hoạt động quản lý Nhà nước Chính vì vậy thanh tra được xác định là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước Thứ hai, Thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Để quyết định quản lý Nhà nước được các cơ quan, tổ chức và cá nhân chấp hành đầy đủ thì các cơ quan, cá nhân đã ban hành quyết định phải đề ra quy trình thực hiện quyết định Trong quy trình đó hoạt động thanh tra, kiểm tra không thể thiếu được Thanh tra, kiểm tra là để đánh giá, nhận xét tình hình và kết quả thực hiện quyết định quản lý; xem xét lại nội dung và chất lượng quản lý; khi cần thiết phải bổ sung, sửa đổi, thậm chí phải huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định quản lý Trong trường hợp nội dung và chất lượng quyết định quản lý được thực tế kiểm nghiệm là đúng, là phù hợp, nhưng đối tượng thi hành vẫn không tuân thủ và không chấp hành nghiêm chỉnh thì khi đó hoạt động thanh tra, kiểm tra phải làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc cá nhân, tổ chức nào để chấn chỉnh hoặc xử lý khi có
Trang 32vi phạm Với ý nghĩa đó thanh tra thực chất đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước.Thứ ba, Thanh tra là một phương thức bảo đảm pháp chế XHCN Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan Nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước Về phía các cơ quan Nhà nước, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc các cán bộ, công chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã quy định Ngay trong hoạt động ban hành các quyết định, các văn bản quản lý, nguyên tắc pháp chế cũng được thể hiện ở việc văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với các quy định trong các văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực thấp hơn phải phục tùng những văn bản có hiệu lực cao hơn và mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp - đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất Với tư cách là một chức năng của quản lý Nhà nước, thanh tra chính là hoạt động xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thực hiện đúng chính sách, pháp luật hay không Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân làm sai hoặc làm chậm thì hướng dẫn sửa chữa và thực hiện đúng quy định Mục đích của thanh tra là phát hiện, phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy định của pháp luật Thông qua công tác thanh tra tuyên truyền, giáo dục pháp luật, góp phần tích cực vào việc giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và đó cũng là một hoạt động bảo đảm tăng cường pháp chế Thứ tư, Thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010 khẳng định “Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật”; Thanh tra cùng với các
Trang 33phương thức kiểm tra, giám sát luôn luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật Chỉ riêng sự hiện diện của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát đã là một sự nhắc nhở thường xuyên đối với tất cả các đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát phải tuân thủ pháp luật từ đó hạn chế sự vi phạm pháp luật Các kiến nghị, yêu cầu được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ
hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật tương tự xảy ra
ở một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác Vai trò phòng ngừa của thanh tra, kiểm tra, giám sát được đề cập ở đây là vai trò phòng ngừa mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp, qua thanh tra, kiểm tra, giám sát mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm pháp luật sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; pháp luật được xây dựng để thể hiện ý chí của nhân dân cho nên thanh tra góp phần tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật cũng chính là góp phần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
Nhà nước tổ chức thanh tra, kiểm tra và giám sát về điều kiện kinh doanh vận tải, về khai thác trên tuyến và về đầu tư xây dựng bến bãi, điểm dừng, đón trả khách để phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động vận tải và dịch
vụ hỗ trợ vận tải tại cơ sở kinh doanh vận tải đường bộ, điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, nhằm kịp thời chấn chỉnh sai phạm, đảm bảo trật tự, an toàn và văn minh đô thị
Trang 341.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt
Có nhiều yếu tố tác động đến quản lý nhà nước và theo các tiêu chí khác nhau, có thể phân nhóm thành: các yếu tố bên trong và bên ngoài; các yếu tố trực tiếp và gián tiếp; các yếu tố chủ yếu và thứ yếu… Theo tác giả, có 3 yếu tố chủ yếu tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước Thứ nhất, năng lực, chất lượng của nền hành chính biểu hiện ở sự kết hợp hài hòa các yếu tố: thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, tài chính công Thứ hai, sự tham gia, ủng hộ của người dân đối với Nhà nước nói chung và bộ máy hành chính nhà nước nói riêng Thứ ba, các nhân tố khác như văn hóa, tập quán, sự phát triển của khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế…
Năng lực của nền hành chính
Bàn về năng lực của nề hành chính trước hết phải đề cập đế hệ thống thể chế hành chính Hệ thống thể chế hành chính là căn cứ và tiền đề pháp lý cho các hoạt động quản lý, điều hành của bộ máy hành chính nhà nước, chủ yếu tập trung ở 2 nhóm:
Một là, hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, chủ yếu là xác định địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước
Hai là, hệ thống văn bản do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành theo thẩm quyền (dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật hành chính, văn bản cá biệt)
để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Hầu hết các thủ tục hành chính liên quan đến mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp đều nằm ở nhóm quy định này Do vậy, số lượng các văn bản này thường rất lớn so với nhóm thứ nhất và thường
Trang 35xuyên có sự thay đổi để đáp ứng mục tiêu và yêu cầu quản lý phù hợp với sự biến động và tác động của các quan hệ khách quan
Môi trường thể chế là điều kiện tiên quyết để duy trì và bảo đảm sự vận hành của cả hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Các quy định này thể hiện trong bốn loại quan hệ: giữa cơ quan hành chính với cơ quan nhà nước nói chung (các cơ quan trong hệ thống lập pháp và tư pháp); giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau; giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp; giữa cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị Các cơ quan hành chính nhà nước chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong môi trường thể chế thuận lợi, gồm hệ thống văn bản chứa đựng các quy định được ban hành đúng thẩm quyền, kịp thời, phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội và bảo đảm sự bao quát toàn bộ các ngành, lĩnh vực quản lý từ trung ương đến địa phương
Hệ thống các thiết chế hành chính nhà nước chủ yếu và trước hết phụ thuộc vào tính hoàn thiện của chúng xét trên các phương diện sau:
- Vị trí, chức năng từng cơ quan phù hợp với tính chất tổ chức bộ máy cũng như nội dung, phạm vi yêu cầu quản lý nhà nước đối với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể;
- Nội dung các nhiệm vụ được xác định bảo đảm tính bao quát, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và đối với tất cả các khâu của quá trình quản
lý (như quy hoạch, kế hoạch, tổ chức triển khai, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm…);
- Cơ cấu tổ chức phù hợp với quy mô và trình độ quản lý, được phân công, phân cấp hợp lý, định rõ trách nhiệm của từng chủ thể đi liền với hệ thống các giải pháp hỗ trợ có hiệu quả;
Trang 36- Hệ thống các quy định, quy chế đầy đủ, bao quát quy trình vận hành và sự phối hợp, kết hợp giữa các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương;
Kinh nghiệm cho thấy, đây là những yếu tố cần và đủ bảo đảm sự vận hành thống nhất, thông suốt và tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước
Thứ hai Năng lực nền hành chính phụ thuộc phần lớn vàotổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
là quản lý hành chính nhà nước, là hoạt động chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều yếu tố và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một yếu tố thay đổi sẽ kéo theo các nhân tố khác thay đổi Đó là các yếu tố như cơ cấu, tổ chức, chức năng của các cơ quan hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức, chế độ công vụ… Vấn đề chủ yếu ở đây là sự phân công trong nội bộ hệ thống tổ chức, việc xác định nhiệm
vụ cho các cơ quan khác nhau để tạo được sự điều hoà, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng thể của hệ thống các cơ quan hành chính và
cả bộ máy nhà nước nói chung Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tránh được sự chồng chéo, vướng mắc, dễ dàng phối hợp, điều chỉnh công việc trong thực hiện nhiệm
vụ, tiết kiệm thời gian; ngược lại nếu cơ cấu bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động Bộ máy hành chính là một chỉnh thể và mỗi cơ quan hành chính là một bộ phận, cả bộ máy chỉ hoạt động tốt khi mỗi bộ phận vừa thực hiện tốt nhiệm vụ của mình vừa phối hợp tốt với các bộ phận khác để hoàn thành được mục tiêu chung
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức quyết định năng lực nề hành chính Chất lượng nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định quản lý nhà nước.Một nền hành chính chuyên nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tương ứng mang tính chuyên nghiệp Nguồn nhân lực của bộ máy hành chính nhà nước bao gồm cán bộ thông qua bầu cử, công chức được tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế và viên chức được tuyển dụng thông qua hợp
Trang 37đồng làm việc Việc xem xét, đánh giá tính chuyên nghiệp chủ yếu và trước hết dựa trên các tiêu chí sau:
Một là, có sự phân biệt rõ từng nhóm đối tượng phù hợp với yêu cầu và nội dung quản lý (ví dụ, tiêu chuẩn đối với công chức phân theo các nhóm: công chức lãnh đạo, công chức thừa hành ở cả 4 cấp hành chính, công chức chuyên môn nghiệp vụ ở cấp chính quyền cơ sở…)
Hai là, trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Trình độ, năng lực chuyên môn của từng loại đối tượng phụ thuộc trước hết vào chất lượng và chuyên môn đào tạo Do vậy, theo quy định chung, việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm là giải pháp quan trọng hàng đầu không thể thay thế Theo đó, chuyên môn đào tạo được xem là tiêu chuẩn chính chứ không phải yêu cầu về bằng cấp cao
Ba là, nắm vững kỹ năng hành chính Kỹ năng, nghiệp vụ hành chính gắn với chuyên môn đào tạo và kinh nghiệm làm việc Xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các kỹ năng cần thiết trong hoạt động công vụ được cụ thể hóa thành quy trình, quy phạm đòi hỏi phải được thực hiện một cách thống nhất Ngoài việc tinh thông nghiệp vụ, nắm vững trình tự, thủ tục giải quyết công việc, tính chuyên nghiệp của công chức, viên chức còn thể hiện thông qua nhiều khía cạnh khác, kể cả sử dụng các công cụ hỗ trợ (như ngoại ngữ, ứng dụng CNTT…) cũng như khả năng thích nghi, giao tiếp, hợp tác thông qua phối hợp nhóm hoặc giải quyết mâu thuẫn,…
Bốn là, ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương và đề cao văn hóa công vụ, nhất
là văn hóa giao tiếp, ứng xử Cũng như đối với các hình thức lao động quyền lực khác, ý thức tôn trọng và chấp hành kỷ luật, kỷ cương, việc gương mẫu thực hiện văn hóa công vụ là đòi hỏi khách quan, bắt nguồn từ tính chất của hoạt động quản
Trang 38lý, không chỉ là biểu hiện của đạo đức công vụ mà còn là thước đo tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức
Cuối cùng, nói đến năng lực nề hành chính không thể không nói đến yếu tốtài chính và cơ sở vật chất, kỹ thuật Những bảo đảm về mặt tài chính và điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý nhà nước phụ thuộc một phần vào nhu cầu quản lý, nhưng chủ yếu là trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn Việc đầu tư về tài chính, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy và hoạt động của chế độ công vụ, công chức vừa là điều kiện, vừa là một trong những tiêu chí chủ yếu đánh giá hiệu quả của nền hành chính (xét về hiệu quả chi tiêu công) Mặc dù mức chi tiêu cụ thể cho
bộ máy hành chính luôn là vấn đề gây tranh cãi và khó thống nhất quan điểm, nhưng thước đo chủ yếu vẫn là hiệu quả hoạt động của nền hành chính, mức chi tiêu phải phù hợp với trình độ phát triển, nhu cầu quản lý và coi đó là nguồn đầu tư cho phát triển
Các yếu tố nêu trên được xem là những “yếu tố bên trong” gắn liền với cơ cấu tổ chức và quá trình vận hành của hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở
Sự tham gia và ủng hộ của người dân
Sự tham gia và ủng hộ của người dân trong quản lý nhà nước đối với VTHK góp phần đảm bảo việc phát huy sự thành công mục đích phục vụ mọi người Thực tiễn cho thấy, sự tham gia, ủng hộ của người dân càng lớn thì hoạt động quản lý càng dễ dàng đạt được mục tiêu và chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện hoạt động VTHK mới thực sự thành công
Trang 39Nhân dân tham gia quản lý nhà nước đảm bảo tính khách quan trong công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với VTHK bằng xe buýt nói riêng, giúp nhân dân hiện thực hóa địa vị pháp lý cũng như thể hiện nguyện vọng chính đáng, phát huy vai trò làm chủ của mình trong công tác quản lý nhà nước Nhân dân không chỉ có quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo mà còn có quyền tự mình tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, trực tiếp thể hiện quyền lợi của mình Điều này thể hiện vai trò đặc biệt của nhân dân trong quản lý nhà nước, đồng thời xác định những nhiệm vụ mà nhà nước phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện để nhân dân được tham gia vào quản lý hành chính nhà nước
Nhân dân có thể trực tiếp tham gia hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc trực tiếp làm việc tại các cơ quan nhà nước hoặc thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình Nhân dân cũng có thể gián tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước thông qua việc tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội, các hoạt động tự quản ở cơ sở
Những yếu tố tác động khác
Yếu tố văn hóa, lịch sử, tập quán, truyền thống
Quản lý nhà nước luôn mang tính kế thừa và chịu sự tác động của các yếu tố
xã hội như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập quán, thói quen,… Ví dụ, tâm lý làng
xã, dòng họ trên thực tế thường có sự chi phối, ảnh hưởng nhất định đối với công tác cán bộ, thậm chí trong những trường hợp cụ thể còn triệt tiêu vai trò kiểm soát của cơ quan chức năng, hoặc cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn để lại nhiều dấu ấn trong nếp nghĩ, phong cách, lề lối làm việc của không ít cán bộ, công chức, viên chức Sự tác động của các yếu tố này luôn bao hàm cả hai khả năng tích cực và tiêu cực Vấn đề đặt ra là phải biết kế thừa, vận dụng, phát huy các yếu tố tích cực,
Trang 40nhất là các giá trị văn hóa, truyền thống đã được kết tinh qua nhiều thời kỳ và hạn chế những yếu tố tiêu cực, lạc hậu làm cản trở quá trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc
tế
Sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế đang tạo ra những thay đổi trong tư duy và phương pháp tổ chức quản lý trên quy mô toàn xã hội Việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong quản lý hành chính giúp thu hẹp khoảng cách không gian, rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực
tế và nhờ vậy trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành (ví dụ: ứng dụng CNTT, áp dụng tiêu chuẩn ISO… trong hoạt động quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau ở tất cả các cấp chính quyền) Quá trình hội nhập quốc tế càng được đẩy nhanh thì áp lực về quá trình hiện đại hóa nền hành chính, cũng như đòi hỏi về việc nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng gia tăng
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với VTHK ở các đô thị
Nhiều đô thị có chính sách tạo điều kiện VTHK bằng xe buýt phát triển bằng cách tăng cường quản lý về nhu cầu giao thông và kiểm soát phương tiện GTVT
cá nhân
1.3.1 Các đô thị ở châu Âu
Đa phần các đô thị ở châu Âu có hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, hệ thống VTHK bằng xe buýt đã phát triển đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân
và thói quen sử dụng VTHK bằng xe buýt của người dân đã được hình thành Do vậy, công tác quản lý phương tiện giao thông được thực hiện trên nền tảng các giải pháp tài chính, kinh tế và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật về môi trường Ở những