Do vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận, thụ lý, xét xử rất nhiều các vụ án hình sự, đã xét xử một cách công bằng xử đúng người đúng tội và đảm bảo trình tự thủ tục nhằm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THANH HUYỀN
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT
XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH –
TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THANH HUYỀN
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT
XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH –
TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM MINH TUẤN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Ban Quản lý đào tạo Sau đại học, phòng ban của Học viện, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học tại Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng quý Thầy, Cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích trong suốt thời gian qua, làm cơ sở cho tôi thực hiện luận văn này Với tình cảm trân trọng nhất, Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Minh Tuấn, người Thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tận giúp đỡ tôi trong việc thu thập thông tin, số liệu trong suốt quá trình nghiên cứu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã hết lòng ủng hộ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng do khả năng nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót Với tinh thần cầu thị rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô cùng quý độc giả quan tâm đến luận văn để tôi có thể nhận thức sâu sắc hơn và hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Minh Tuấn Các số liệu trong luận văn được thu thập, xử lý trình bày khách quan, trung thực Các tài liệu tham khảo được trích dẫn trung thực, rõ ràng
Tác giả Luận văn
Lê Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 10
1.1 Quan niệm về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự 10
1.1.1 Quan niệm về quyền con người ……….10
1.1.2 Nội dung các quyền con người trong tố tụng hình sự 11
1.1.3 Khái niệm, ý nghĩa bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự 17
1.2 Nội dung bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh………… 25
1.2.1 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh……… 25
1.2.2 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử phúc thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh……… 26
1.2.3 Bảo vệ quyền con người của các chủ thể tham gia trong hoạt động xét xử hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 26
Trang 61.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 35
1.3.1 Chất lượng của hệ thống pháp luật 35 1.3.2 Chất lượng hoạt động của các cơ quan và đội ngũ cán bộ tham gia
tố tụng 38 1.3.3 Vai trò của cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp cấp tỉnh 40 1.3.4 Cơ chế giám sát về hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 42 1.3.5 Yếu tố cơ sở vật chất và môi trường làm việc 42
Tiểu kết chương 1 44 Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 45 2.1 Khái quát lịch sử hình thành và tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 45
2.1.1 Lịch sử hình thành của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 45 2.1.2 Tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 47
2.2 Tình hình hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 47
2.2.1 Số vụ án hình sự được xét xử 47 2.2.2 Số vụ án hình sự chưa được xét xử 52 2.2.3 Những bản án bị hủy do vi phạm tố tụng về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự………… 52
2.3 Đánh giá chung 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
Trang 72.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh 56
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 61
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 61
3.2 Giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh… 64
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 64
3.2.2 Tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật về quyền con người cho cán bộ hoạt động tư pháp……… 66
3.2.3 Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa và tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm 67
3.2.4 Nâng cao trình độ năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ tòa án và Thẩm phán và Hội thẩm, Kiểm sát viên 70
3.2.5 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp trong xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 73
3.2.6 Tăng cường cơ chế Nhà nước và giám sát xã hội đối với hoạt động xét xử vụ án hình sự 74
3.2.7 Cải thiện môi trường làm việc 77
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 8cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước mà trong đó có cơ quan Tòa án Bảo
vệ quyền con người trong hoạt động xét xử thể hiện rõ nét nhất là thông qua các vụ án xét xử về hình sự Việc bảo vệ quyền con người thể hiện qua hoạt động xét xử và phán quyết của Tòa án, cụ thể là xét xử những vụ án có các hành vi xâm phạm đến quyền con người hay giải quyết tranh chấp các vụ việc nhằm bảo vệ quyền con người Cơ chế bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử của Tòa án được các Tòa án áp dụng đối với tất cả mọi lĩnh vực trong hoạt động đời sống của xã hội Bên cạnh đó, quyền con người được bảo
vệ có thể được thông qua bằng hình thức tố tụng hình sự
Ở Việt Nam, quyền con người được ghi nhận trong Luật Hiến pháp, hệ thống pháp luật và cả trên thực tiễn được bảo vệ thông qua các cơ quan bảo
vệ pháp luật Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, Tòa án Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự rất được Tòa án chú trọng, bởi Toà án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và đề cao vấn đề quyền con người và
Trang 9bảo vệ quyền con người trong công cuộc xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay
Thực tiễn cho thấy, các hành vi xâm phạm quyền con người rất đa dạng
và xảy ra trên nhiều góc độ khác nhau, mà các hành vi đó để lại những hậu quả rất nặng nề như các hành vi trực tiếp xâm phạm quyền con người dưới dạng tội phạm Do vậy, để bảo vệ quyền con người thì nhà nước ta đã ban hành các bộ luật như Hiến pháp, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự quy định quyền bảo vệ con người nhằm xử đúng người đúng tội, chính xác, khách quan chứ không để trường hợp bỏ lọt các tội phạm mà đặt biệt là các tội phạm nguy hiểm Pháp luật quy định quyền con người được bảo vệ trong quá trình xét xử
án hình sự, khi chưa có phán quyết cuối cùng thì vẫn chưa định bắt họ chịu các hình phạt hay được bảo vệ khi bị xâm hại về quyền và lợi ích Tòa án xét
xử, phán quyết và đưa ra bản án đối với một người có tội hay không có tội thì đều phải dựa trên các căn cứ, trình tự, thủ tục do luật định
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đầy năng động và phát triển, mặt trái của sự phát triển mạnh mẽ, sôi động là tình hình tội phạm diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh luôn là vấn đề mang tính cấp bách Do vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận, thụ lý, xét xử rất nhiều các vụ án hình
sự, đã xét xử một cách công bằng xử đúng người đúng tội và đảm bảo trình tự thủ tục nhằm bảo vệ quyền của các bên khi tham gia tố tụng phức tạp như các
vụ án ma túy, vụ án tội phạm công nghệ cao, đánh bạc qua internet…, Bên cạnh, những mặt đạt được về việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự thì vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế trong việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự, cụ thể như việc tiếp cận
hồ sơ của các vụ án hay gặp gỡ của luật sư đối với bị cáo còn gặp nhiều khó khăn, vấn đề tranh tụng ở Tòa chưa thật sự khách quan mà còn mang tính phiến diện, rồi các phán quyết Tòa án đôi khi vẫn không dựa vào các phiên
Trang 10tranh tụng diễn ra tại Tòa Do vậy, nhiều phán quyết vẫn chưa thật sự công tâm, chính xác và kết quả dẫn đến bỏ lọt tội phạm và án oan sai cho những người vô tội trong hoạt động xét xử án hình sự tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
cụ thể như vụ án cưa cây gỗ trắc đã chết tại tỉnh Kon Tum thì đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum tuyên 05 bị cáo là có tội; vụ án oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang tuyên phạt tù chung thân và Tòa án nhân dân Tối cao bác kháng cáo kêu oan, tuyên phạt ông Chấn
y án sơ thẩm dẫn đến ông Chấn phải ngồi tù oan 10 năm; hay vụ án oan sai của ông Huỳnh Văn Nén bị tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tuyên án tù chung thân
Để có các hiểu biết, nhìn nhận đúng và chuẩn xác về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự mang tính cấp thiết Từ tính cấp thiết
nêu trên, tác giả xin chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét
xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh–Từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự nói chung được cả xã hội quan tâm
Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về bảo vệ quyền con người và bảo
vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự trên các phương diện
và giác độ khác nhau
Thứ nhất, về phương diện và góc độ nghiên cứu về bảo vệ quyền con
người có tính lý luận chung, có các công trình tiêu biểu như:
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Hoàng Lan Anh “Đảm bảo quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam” luận văn đã nêu lên và phân tích
về đảm bảo quyền con người được quy định trong Hiến pháp Việt Nam một
Trang 11cách cụ thể và chi tiết Tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp để đảm bảo quyền con người theo Luật Hiến pháp Việt Nam trên cơ sở của nguyên nhân thực trạng về đảm bảo quyền con người
Sách về “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của GS.TS Trần Ngọc Đường Tác giả nêu rõ quyền con người và quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, tác giả đã phân tích một cách cụ thể và chi tiết về quyền con người, quyền con dân Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu lên các nguyên tắc về đảm bảo quyền con người và quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Với sự khẳng định và thể hiện sâu sắc hơn bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đề cao vai trò của Hiến pháp và pháp luật, coi con người với các quyền
cơ bản của nó là giá trị cao quý và là mục tiêu phấn đấu không ngừng để bảo đảm quyền con người Ngoài ra, các công trình nghiên cứu đã khái quát cụ thể
về bảo vệ quyền con người mà theo công ước quốc tế quy định
Thứ hai, về phương diện và góc độ nghiên cứu bảo vệ quyền con người
trong lĩnh vực Tư pháp và hình sự, có các công trình nghiên cứu liên quan như:
Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2006) “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” do GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì Đề tài đã trình bày cơ sở
lý luận về bảo vệ quyền con người bằng con đường tố tụng hình sự, qua thực trạng, nguyên nhân, hạn chế về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng trong giai đoạn Nhà nước pháp quyền Việt Nam thì tác giả đề xuất các giải pháp để bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự
Trang 12Sách “Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam” do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 Công trình nghiên cứu trên đã phân tích những khía cạnh đảm bảo quyền con người
về giai đoạn xét xử trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nêu lên các mục tiêu, nguyên tắc của luật tố tụng hình sự và các quy định thủ tục xét xử Ngoài ra, tác giả cũng tập trung phân tích về bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực
tư pháp hình sự của Việt Nam và làm rõ các nguyên tắc bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam
Luận văn của tác giả Ngô Thị Thanh (2013) viết về đề tài “Đảm bảo quyền con người trong xét xử án hình sự”, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã nêu lên được ý nghĩa của việc đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự, phân tích các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến đảm bảo quyền con người và so sánh các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan, luận văn cũng đã nêu lên được thực trạng và đưa ra các giải pháp đảm bảo quyền con người
Luận văn thạc sĩ luật học của Lê Thanh Hà về “Bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu về cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật Tố tụng hình sự, luận văn cũng đã phân tích làm rõ các quy định của Luật Tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do, chỉ ra những vấn đề còn hạn chế của các biện pháp này liên quan đến việc bảo vệ quyền con người Từ đó, luận văn đã xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật Tố tụng hình sự
Trang 13Luận án tiến sĩ luật học về “Bảo đảm quyền con người, của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lại Văn Trình, năm 2011 Luận án đã trình bày được lý luận nhận thức chung về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự và luận án cũng đã nêu lên được thực trạng bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình
sự Việt Nam và pháp luật quốc tế Từ đó, luận án đề ra một số kiến nghị tăng cường bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình
sự Việt Nam
Luận văn thạc sĩ luật học về “Bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt trong trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của tác giả Phan Trung Thủy, năm 2016 Luận văn đã trình bày lý luận về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, luận văn đã phân tích cụ thể pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, qua đó luận văn đã nêu lên một số giải pháp đảm bảo quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Luận văn thạc sĩ luật học về “Pháp luật về đảm bảo quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Bình Luận văn đã nêu lên được cơ sở lý luận về quyền con người và nghiên cứu những đặc trưng của quyền con người trong xét xử hình sự Bên cạnh đó, luận văn cũng đã phân tích, đánh giá quy định của pháp luật bảo đảm quyền con người trong xét xử hình sự Từ đó, luận văn đã nêu lên phương hướng và
đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện quyền con người trong xét xử hình sự Ngoài ra, luận văn cũng nêu lên được thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người
Những công trình trên tập trung nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con người và hoạt động tố tụng, xét xử hình sự Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình
Trang 14nào tiếp cận một cách đồng bộ, toàn diện về vấn đề bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn hoạt động bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh – Từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
Phân tích, đánh giá thực trạng về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh – Từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh;
Đề xuất các giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh – Từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân trong phạm vi cấp tỉnh – từ
Trang 15thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý hoạt động bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh; Về thực trạng bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh – từ thực tiễn tại thành phố
Hồ Chí Minh; Đồng thời, đề ra những giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời gian tới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – LêNin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình
sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Các phương pháp mà tác giả đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp quan sát thực tiễn trong xét xử các vụ án hình sự;
- Phương pháp đối chiếu, so sánh;
- Phương pháp thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn đã tổng hợp các quan niệm khoa học về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nội dung và các yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Nghiên cứu và đánh giá thực
Trang 16trạng về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh – Từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh và những mặt đạt được cũng những tồn tại những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo đối với các sinh viên, các học viên cao học tại các cơ sở đào tạo ngành luật Ngoài ra, luận còn có thể tài liệu tham khảo đối với các cán bộ đang công tác thực tiễn tại các Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự có căn cứ, khách quan và tuân thủ đúng pháp luật
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp lý về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Chương 2 Thực trạng bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử
án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh – Từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Trang 17CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1 Quan niệm về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự
1.1.1 Quan niệm về quyền con người
Quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội Bản thân con người là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và xã hội, con người luôn luôn là động vật xã hội, do đó việc giải quyết nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ có thể là đúng khi đặt nó trong quan hệ xã hội Quyền con người có giá trị chung, phổ biến, phản ánh về nhu cầu tự nhiên khách quan của con người, đó là một trong những gía trị nhân văn lớn nhất và không có giới hạn trong xã hội hiện đại, là sản phẩm của sự phát triển lịch sử nhân loại Quyền con người mang tính riêng biệt, đặc thù, những nội dung của nó được xác định theo yêu cầu của cuộc sống hiện đại, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm truyền thống quốc gia và bị hạn chế bởi các chế định pháp lý và đời sống thực tế được phản ảnh
Quyền con người mang giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất
cả các dân tộc trên thế giới; là mục tiêu chung để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi người Khi nói đến quyền con người là nói về những giá trị gắn với mỗi con người vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội Do đó, quyền con người vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng xã hội Quyền con người là những giá trị phải được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, tình cảm
Trang 18Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là giá trị nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể, với một chế độ chính trị, pháp luật cụ thể Sự ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với các chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, dân trí cụ thể Thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn đời sống xã hội
Con người sinh ra đã có các quyền tự nhiên, bẩm sinh, vốn có của mình rồi chứ không cần phải đợi đến khi có pháp luật và được pháp luật ghi nhận thì chúng mới hình thành Quyền con người là mọi người sinh đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền; không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, chính kiến, tài sản, thành phần xã hội; không được phân biệt đối xử đối với con người căn cứ vào địa vị chính trị - pháp lý hoặc địa vị quốc tế của quốc gia hay vùng lãnh thổ mà người đó đang
lệ thuộc, dù đó là vùng lãnh thổ độc lập, quản thúc, không có chủ quyền hoặc
bị hạn chế về chủ quyền; thứ tư, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và đều được pháp luật bảo vệ như nhau [13] Như vậy, quyền con người là những quyền vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhất định và được pháp luật đảm bảo Quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội; mang tính phổ biến nhưng lại mang tính đặc thù
Qua những phân tích trên, có thể hiểu Quyền con người là những đặc quyền vốn có, tự nhiên của con người và chỉ có người mới có được
1.1.2 Nội dung các quyền con người trong tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự thì con người có các quyền cơ bản như sau:
1.1.2.1 Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Trang 19Nhà nước quy định hệ thống pháp luật thống nhất và việc áp dụng pháp luật giống nhau đối với mọi người trong khi tiến hành tố tụng Bất cứ người nào thực hiện hành vi phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo các Điều khoản tương ứng của Bộ luật Hình sự, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội
Việc giải quyết các vụ án hình sự được tiến hành theo một trật tự, thủ tục thống nhất mang tính bắt buộc chung do pháp luật tố tụng hình sự quy định Bình đẳng thể hiện trong việc có quyền ngang nhau trong việc đưa ra chứng cứ và yêu cầu, bình đẳng trong quyền nghĩa vụ trọng quá trình giải quyết vụ án
1.1.2.2 Quyền an toàn về thân thể, danh dự, nhân phẩm cá nhân trong tố tụng hình sự
Quyền về an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trong quá trình tố tụng hình sự là quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ, xâm hại đến thân thể một cách tùy tiện; Bởi vì, mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản Quyền này cũng được quy định trong Luật Hiến pháp năm 2013
Do vậy trong quá trình tố tụng, quyền đảm bảo bất khả xâm phạm về thân thể (quy định tại điều 10, Bộ luật Tố tụng hình sự) thuộc nhóm quyền an toàn về thân thể, danh dự, nhân phẩm cá nhân trong tố tụng hình sự Trong hoạt động xét xử án hình sự thì bị can cũng như các chủ thể tham gia tố tụng
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của bộ luật này Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người
Trang 20Ngoài ra, quyền không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân phải được thực hiện đúng theo quy định chứ không được tùy tiện được bảo vệ trong quá trình xét xử án hình sự
Do đó, quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự là quyền được bảo vệ của người yếu thế, của người bị cáo buộc là phạm tội và họ được hưởng những quyền chính đáng, phù hợp với địa vị của họ bởi người bị cáo buộc phạm tội trong quá trình xét xử giải quyết vụ án, cho nên đối với những đối tượng này cần được quan tâm và bảo vệ
Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm một cách bất hợp pháp Trong Công ước thì tại Khoản 1 Điều 10 về Quyền được đối xử nhân đạo của người bị tước tự do được quy định cụ thể là
“những người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người” Quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự là những quyền cơ bản, dù họ có bị tước hay hạn chế một số tự do bởi người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử thì vẫn có những giá trị, phẩm chất con người
1.1.2.3 Quyền Suy đoán vô tội
Quyền suy đoán vô tội được quy định tại điều 13, Bộ Luật Tố tụng hình
sự năm 2015 Trong tố tụng hình sự thì người bị buộc tội được coi là không
có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ
và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do
Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội
Trang 21Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Trong hoạt động xét xử án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội
1.1.2.4 Quyền được bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Quyền được bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (được quy định tại điều 16, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của
họ theo quy định của Bộ luật này
1.1.2.5 Quyền được xét xử công bằng
Một trong những quyền cơ bản của con người trong hoạt động xét xử các vụ án án hình sự phải được Tòa án xét xử kịp thời theo thời hạn quy định chứ không để chậm trễ, quá hạn; Quá trình xét xử án hình sự của Tòa án phải đảm bảo tính chất công bằng và công khai Đối với Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 215 quy định Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai
Trang 22Quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là Tòa án có
trách nhiệm xét xử án để đảm bảo sự công bằng, khách quan và phải xử án
đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, các cá nhân cần
được Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong hoạt động xét xử án hình
sự Quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự trên các lĩnh vực về
quyền con người trong quá trình hoạt động tố tụng hình sự Tố tụng hình sự là
một hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, đồng
thời trừng trị, răn đe đối với người gây ra các thiệt hại, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác Cơ quan tố tụng có trách nhiệm tôn trọng
và bảo vệ quyền con người khi bị tình nghi, bị can, bị cáo trong quá trình hoạt
động xét xử án hình sự
Ngoài ra, cơ quan tố tụng cũng phải bảo vệ quyền con người của người
bị bắt, tạm giam, tạm giữ, bị tình nghi phạm tội, người bị kết án để tránh
trường hợp có sự lạm dụng của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự Quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự bao
gồm đối tượng bị cáo buộc phạm tội, người tham gia tố tụng khác trong quá
trình xét xử án hình sự
Do vậy, quyền con người là quyền cần được được bảo vệ của đối tượng
bị yếu thế, đối tượng liên quan trong quá trình tố tụng hình sự Bên cạnh đó,
quyền không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm không được khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho
xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm
1.1.2.6 Quyền được tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm
sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội,
người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong
Trang 23việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa
án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án
Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của
Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa Bản
án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng
cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa
1.1.2.7 Quyền được khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Bị cáo và các chủ thể tham gia trong quá trình xét xử án hình sự có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét
và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do
Bộ luật này quy định Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác
Trang 241.1.2.8 Quyền được kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng hình sự
Người có quyền kháng cáo quy định tại Điều 331 và kháng nghị của Viện Kiểm sát quy định tại Điều 336 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Kháng cáo phúc thẩm là việc một số người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật thực hiện quyền đề nghị Tòa án cấp trên xét xử lại bản án sơ thẩm, xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trong thời hạn luật định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm không áp dụng cho tất cả các chủ thể tham gia tố tụng, chỉ quy định cho những người tham gia tố tụng mà quyền lợi của họ hoặc quyền lợi của người mà họ có trách nhiệm bảo vệ nhằm bảo đảm trực tiếp quyền hợp pháp của họ và bảo đảm tính ổn định của bản án, quyết định
Do đó, cơ chế bảo vệ quyền con người cần phải được quán triệt về mọi phương diện Bảo vệ quyền con người của người bị cáo buộc phạm tội trong hoạt động xét xử án hình sự là một khía cạnh về việc bảo vệ quyền con người
Đó cũng là thành tố quan trọng để vụ án hình sự được xét xử một cách công
Trang 25bằng và khách quan để từ đó góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự thì nội dung trọng tâm bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự được thể hiện qua ba đặc điểm cụ thể như sau:
Một là, hệ thống pháp luật quốc gia được hình thành dựa trên các tiêu chí quốc tế về quyền con người;
Hai là, cơ chế giám sát bảo vệ quyền con người hiệu quả;
Ba là, các biện pháp bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật về quyền con người
Do đó, bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự, điều đầu tiên cần xem xét về pháp luật tố tụng hình sự có phù hợp các tiêu chí quốc tế về quyền con người trong lĩnh vực xét xử vụ án hình sự hay chưa Bên cạnh đó, cũng cần phải xác định cơ chế thực thi, kiểm soát hoạt động thực thi pháp luật trong tố tụng hình sự có hiệu quả đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự
Như vậy, có thể hiểu bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự là sự vận hành của các yếu tố khách quan với mục đích công bố và ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong hoạt động xét xử án hình
sự và đảm bảo thực thi cũng như hoạt động kiểm soát việc thực hiện các quyền đó trong quá trình diễn ra hoạt động xét xử vụ án hình sự
1.1.3.2 Ý nghĩa bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình
sự
Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có các có các được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, góp phần bảo vệ quyền con người Việc thừa nhận các quyền
của người bị cáo buộc phạm tội diễn ra trong giai đoạn xét xử án hình sự và
cơ chế bảo vệ thực thi các quyền đó là công cụ pháp lý trừng trị những chủ
Trang 26thể có hành vi xâm hại quyền của người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử án hình sự Quyền con người không được sử dụng để vi phạm quyền của người khác Đối với người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử án hình sự cũng có giá trị nhân phẩm, cần phải được tôn trọng đối với nhân phảm và giá trị quyền con người Khi người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử là người bị tước tự do nhưng nhân phẩm, gía trị con người cũng cần được bảo vệ Quyền con người của người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử án hình sự cũng đã được Luật Nhân quyền quốc tế thừa nhận trong một hệ thống các quy định tại các văn kiện pháp lý
Từ đó, cơ chế bảo vệ quyền của người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử án hình sự cũng được thiết lập để góp phần làm hạn chế các hành
vi xâm hại đến quyền của người bị cáo buộc phạm tội trong quá trình xét xử
án hình sự Các quy định pháp lý về quyền, cơ chế thực thi quyền cho người cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử án hình sự là rất quan trọng nhằm bảo vệ quyền, ngăn chặn các hành vi xâm hại tới quyền của người cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử án hình sự
Việc bảo vệ các quyền con người của người bị cáo buộc phạm tội trong hoạt động xét xử là một lĩnh vực của bảo đảm quyền con người nói chung nên
có ý nghĩa góp phần bảo đảm quyền con người Nó cũng là thành tố quan trọng để vụ án được xét xử khách quan, công bằng thông qua đó góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, thượng tôn công lý trong đời sống xã hội
Những nguyên tắc bảo đảm quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác, như quyền tự do thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín, điện báo Những quyền này trước hết được thể hiện ở những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự, bởi
Trang 27nó là sự trung chuyển để đưa chính sách pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước thành những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và bảo đảm để các quy phạm đó được thực thi triệt để trong quá trình tố tụng Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những giá trị xã hội cao nhất cần phải được bảo
vệ, đặc biệt trong tố tụng hình sự Việc tước đoạt quyền con người, quyền công dân chỉ được áp dụng khi có các điều kiện, căn cứ luật định và phải chịu
sự giám sát chặt chẽ của Tòa án hoặc Viện kiểm sát
Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bất kỳ hành vi phạm tội nào cũng phải được cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”(khoản 1, Điều 31) [35] Việc phán xét một người có tội hay không có tội chỉ có thể được thực hiện bởi cơ quan thực hiện quyền tư pháp của quốc gia, theo Hiến pháp năm 2013 đó là Tòa án nhân dân “Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử”
Hiến pháp năm 2013 thừa nhận nguyên tắc: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” (khoản 4, Điều 31) [35] Nguyên tắc này rất phù hợp với Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị (2005) về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đó là “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”
Sự tham gia của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng sẽ bảo vệ kịp thời các quyền và nghĩa vụ của người có hành vi phạm tội; đồng thời ngăn chặn các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Điều này mang lại một nền tư pháp trong sạch và nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự và điều quan trọng là bảo vệ tối đa
Trang 28quyền lợi của nhóm người bị hạn chế một số quyền công dân Bảo vệ quyền con người, trong hoạt động xét xử của Toà án còn xác định một số quyền của người tham gia tố tụng và được người tiến hành tố tụng tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt
Thứ hai, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Mục tiêu của nhà
nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với sự phát triển, mở rộng, củng cố và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính tích cực về chính trị, tính sáng tạo và quyền làm chủ của nhân dân Những hành vi xâm hại các chuẩn mực pháp luật trong xã hội pháp quyền bị coi là những hành vi xâm hại công lý, công bằng, bình đẳng xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp
Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng Do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh Đồng thời, với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và
Trang 29thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch, trong sạch để duy trì
và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội Về Nhà nước pháp quyền thì ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi một quốc gia, dân tộc Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu tố Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống, văn hoá, tâm lý xã hội của mỗi một dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá và môi trường địa lý Các yếu tố này không chỉ tạo
ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi một dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của mình mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền là thượng tôn Hiến pháp và pháp luật
Hiến pháp quy định những điều luật làm nền tảng cho hệ thống luật pháp; những điều luật này vừa được thực hiện một cách trực tiếp, vừa có thể được cụ thể hóa thành bộ luật hoặc luật để thực hiện tùy theo sự đòi hỏi của thực tế xã hội; sự bình đẳng của mọi người (hay không phân biệt đối xử) trong thụ hưởng và phát triển quyền, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội Trong điều kiện, môi trường thể chế như vậy, chỉ Tòa án mới có quyền phán xử việc tuân thủ pháp luật
Quyền con người đó là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước, của một quốc gia Tất cả mọi hoạt động của Nhà nước nào đó đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của pháp luật Bản chất của nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng giá trị nhân quyền
và bảo đảm cho các giá trị đó được thực thi pháp luật trong đời sống xã hội Khi quyền con người của những người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn
Trang 30xét xử án hình sự được bảo vệ tức là đã góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền
Thứ ba, góp phần bảo vệ công lý và văn minh nhân loại Hoạt động xét
xử án hình sự của Tòa án góp phần trừng trị người phạm tội gây ra những thiệt hại cho các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần bảo vệ quyền con người Khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người của người bị tình nghi phạm tội, bị can
Điểm mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là việc bổ sung hai yêu cầu khác của hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án đó là yêu cầu phải xét xử kịp thời và công bằng Xét xử và đưa ra bản án đúng người, đúng tội để trừng trị đích đáng những đối tượng vi phạm pháp luật và xem thường pháp luật
Hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Thiết lập các cơ chế để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người trong tố tụng hình sự, mở ra các khả năng và điều kiện tốt nhất để bảo đảm thực hiện quyền bào chữa một cách bình đẳng nhằm giải quyết
vụ án được khách quan, vô tư và đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân Quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người, mọi công dân và của mỗi người, mỗi công dân, được pháp luật và các chủ thể trong xã hội, đặc biệt Nhà nước, thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy
Toà án tuân thủ Hiến Pháp và pháp luật, đặc biệt là tuân thủ các nguyên tắc có tính chất nền tảng về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được vận dụng trong lĩnh vực tư pháp, như: nguyên tắc tính tối thượng của Hiến Pháp và pháp luật trong hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội công dân;
Trang 31các quan hệ xã hội cơ bản phải được điều chỉnh bằng pháp luật; trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân; bảo đảm quyền con người trong quá trình xét xử; quyền lực Nhà nước thống nhất và có sự phân công phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; tôn trọng
và tận tâm thực hiện các Điều ước quốc tế mà Nhà nước đã ký kết hoặc tham gia là những biểu hiện rõ rệt nhất là vai trò bảo vệ pháp luật của Toà án
Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong quá trình xét xử để bảo đảm tranh tụng dân chủ, bình đẳng Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Quyền con người, nếu xét một cách toàn diện, gồm quyền sống, quyền lao động và quyền tự do Bởi
lẽ, các quyền này thể hiện ba phương diện cốt lõi của đời sống con người thì con người trước hết phải được tồn tại (quyền sống); con người phải được hoạt động (quyền lao động); con người phải được khẳng định, được phát triển (quyền tự do)
Quyền con người trong nền chủ nghĩa xã hội, trước hết là bảo đảm một cách thực tế các quyền tồn tại và phát triển của con người Quyền con người
là thành quả đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân loại, của các dân tộc
bị áp bức trên thế giới nhằm xác lập quyền bình đẳng, tự do trong các quan hệ giữa người và người, cũng như giữa các dân tộc Trong thời kỳ nô lệ, có tầng lớp nô lệ - những kẻ không được coi là người, không được hưởng các quyền con người tối thiểu, bị đối xử tàn tệ, bị tra tấn, đánh đập, bị kết tội không cần
lý do Đến thời kì chế độ phong kiến, so với chế độ nô lệ đã là một bước tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người
Dẫu vậy, quyền con người mà đặc biệt quyền của người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử vẫn bị xâm phạm nặng nề, người bị cáo buộc phạm tội bị tra tấn một cách dã man Khi xã hội ngày càng phát triển về kinh
Trang 32tế thì quyền con người được phát triển Cuộc cách mạng nhân quyền quốc tế hiện đại bắt đầu bằng sự ra đời của Hiến chương Liên Hợp quốc 1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền UDHR ra đời, được xem như một cuộc cách mạng về nhân quyền của toàn nhân loại Tại hai văn kiện về nhân quyền này thì đã quy định về quyền con người cụ thể về quyền không bị tra tấn, đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm tại điều 5; về quyền bình đẳng trước pháp luật tại điều 7; về quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện tại điều 9; về quyền được xét xử công bằng tại điều 10 Quyền con người được pháp điển hoá trong một loạt Công ước quốc tế về nhân quyền; các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên
bị tước tự do [23]
Sự phát triển của các quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng phản ánh sự phát triển của xã hội ngày càng văn minh hơn Quyền con người được đảm bảo sự bình đẳng như bảo vệ quyền bình đẳng là chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong tất cả các quyền con người Người bị tước tự do cũng có quyền sống, quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa như những công dân bình thường
1.2 Nội dung bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1.2.1 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Giai đoạn xét xử sơ thẩm được bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang Gắn với hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, có thể phân chia nội dung bảo vệ quyền của bị cáo hai giai đoạn là trước khi mở phiên tòa
và tại phiên tòa
- Ở giai đoạn trước khi mở phiên tòa
Trang 33Nhằm bảo vệ quyền của bị cáo, các chủ thể tham gia tố tụng hình sự thì
có trách nhiệm phải thực hiện các nghĩa vụ cụ thể là gửi các quyết định tố tụng cho bị cáo; kế hoạch xét hỏi sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử; tiến hành các công việc chuẩn bị mở phiên tòa; giải quyết các yêu cầu của bị cáo ở giai đoạn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
- Ở giai đoạn tại phiên tòa
Để bảo đảm quyền của bị cáo, các chủ thể tham gia tố tụng hình sự như Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa cho bị cáo và các chủ thể khác có liên quan phải thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật tương ứng với mỗi giai đoạn tố tụng:
+ Bảo vệ quyền con người của bị cáo khi bắt đầu phiên tòa;
+ Bảo vệ con người quyền của bị cáo và các chủ thể ở giai đoạn xét hỏi;
+ Bảo vệ quyền con người của bị cáo và các chủ thể tham gia tố tụng tại ở giai đoạn tranh tụng tại phiên tòa;
+ Bảo vệ quyền con người của bị cáo ở giai đoạn nghị án và tuyên án
1.2.2 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử phúc thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tụng tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị được quy định tại điều
Trang 34- Quyền được tự bào chữa, nhờ người bào chữa; quyền đưa ra chứng
cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Quyền được trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Quyền được khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ
Hai là, bảo vệ quyền con người của bị can trong tố tụng hình sự
Bị can là người bị khởi tố về hình sự Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp
Trang 35nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 [29] Trong xét xử án hình sự thì bị can có các quyền như:
- Quyền được biết lý do mình bị khởi tố;
- Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ;
- Quyền được nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 [29];
- Quyền được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa
ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
- Quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Quyền được trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Quyền được đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
- Quyền được tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
- Quyền đươc đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Trong giai đoạn xét xử thì bị can có quyền là không bị xét xử một cách quá chậm trễ thể hiện các quy định về thời hạn tạm giữ để khởi tố vụ án, thời
Trang 36hạn điểu tra, thời hạn truy tố, thời hạn xét xử, cụ thể nếu hết thời hạn tạm giữ
mà cơ quan điều tra không có căn cứ khởi tố bị can cơ quan điều tra phải trả
tự do cho người bị tạm giữ và hết thời hạn điều ta không chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, trả lại cho bị can trạng thái bình thường của người vô tội và bắt buộc phải xin lỗi công khai
Trong các quyền trên của bị can thì có các quyền mới so với Bộ luật Tố tụng năm 2003 về bảo vệ quyền con người của bị can, cụ thể:
Thứ nhất, quyền được “Biết lý do mình bị khởi tố” là điểm mới Bị can
cần được biết họ bị khởi tố về tội danh gì, lý do bị khởi tố, bởi nếu không có quyền này thì họ không thể thực hiện được quyền bào chữa của mình Việc giải thích cho bị can quyền, nghĩa vụ và lý do mình bị khởi tố cũng chính là
để bị can nắm bắt được thông tin, chủ động trong việc thực hiện quyền bào chữa của mình Bên cạnh đó giúp cho bị can biết được các quyền để chống lại khi bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe trái pháp luật
Thứ hai, quyền được “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan và yêu c u người c thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá” cũng là điểm mới Quyền này giúp cho bị cán có thể tự gỡ tội cho mình hoặc
dùng làm tình tiết giảm nhẹ, bị can có quyền trình bày ý kiến của mình về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đó, nếu cần thiết có thể yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá về tính xác thực, đúng đắn của những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan trên
Thứ ba, quyền được “Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được
số h a liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi c yêu c u” Quyền này bảo
đảm cho bị can được xem xét tất cả các tài liệu có liên quan đến việc buộc tội,
gỡ tội, việc bào chữa sau khi kết thúc giai đoạn điều điều tra để cho bị can
Trang 37biết mình bị buộc tội gì, bằng những chứng cứ nào để từ đó bị can có thể thực hiện tốt quyền bào chữa của mình Vấn đề bị can được xem xét tài liệu sẽ giúp khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra sẽ khách quan hơn
Ba là, bảo vệ quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử án hình sự
Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Bộ luật Tố tụng hình ự năm 2015 [29] Trong xét xử án hình sự thì bị cáo có các quyền như:
- Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Quyền được tham gia phiên tòa;
- Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ;
- Quyền được đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa;
- Quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá bởi những chứng cứ, tài liệu, đồ vật này có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo, chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vì vậy, khi nhận được các chứng cứ, tài liệu, đồ vật do bị cáo cung cấp
Trang 38thì Hội đồng xét xử phải tiến hành kiểm tra để xác định các chứng cứ, tài liệu,
đồ vật đó có phải là chứng cứ xác định sự thật của vụ án
- Quyền được bào chữa, nhờ người bào chữa;
- Quyền được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa
ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
- Quyền nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa Với quyền này của bị cáo thi sẽ làm tăng tính chủ động cho bị cáo, giúp bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình được tốt hơn, việc hỏi và đối chất trực tiếp tại phiên tòa sẽ là căn cứ quan trọng làm cho việc xét xử được khách quan, toàn diện
- Quyền được nói lời sau cùng trước khi nghị án;
- Quyền được xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa Quyền này của bị can nhằm mục đích để tránh những thiếu sót trong việc ghi chép diễn biến tại phiên tòa, bị cáo có quyền xem biên bản phiên tòa và yêu cầu ghi những sửa đổi bổ sung vào biên bản Đây cũng là quyền được quy định mới so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003
- Quyền được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án Quy định này nhằm đảm bảo quyền được xét xử công bằng và có một bản án công bằng của người bị buộc tội Bởi trong các quy định về xét xử của Tòa án, khi một người
bị buộc tội thì họ phải được xét xử tại tòa án độc lập, công khai và công bằng
Trang 39người này được thể hiện bằng việc quy định các quyền của người bị buộc tội,
và tương ứng với nó là nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2105, quyền con người của người bị buộc tội được thể hiện thông qua hệ thống các nguyên tắc khá đồ sộ và được
cụ thể hóa trong các chế định về chứng minh, chứng cứ, các biện pháp ngăn chặn, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng
1.2.3.2 Bảo vệ quyền con người của người bị hại trong hoạt động xét
xử án hình sự
Bảo vệ quyền con người của người bị hại Trong tố tụng hình sự Việt Nam, nạn nhân của tội phạm tham gia tố tụng với tư cách người bị hại không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ Người bị hại là người trực tiếp bị thiệt hại thể chất, tinh thần tài sản cũng như các quyền lợi ích hợp pháp khác Trong tố tụng hình sự năm 2015, quyền của người bị hại biểu hiện ở chỗ được yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền con người của mình Người bị hại hoặc người đại diện của họ có các quyền:
- Quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ;
- Quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Quyền được trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Quyền được đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
- Quyền được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
- Quyền được đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
- Quyền được đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
Trang 40- Quyền được tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
- Quyền được tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
- Quyền được tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định;
- Quyền được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
- Quyền được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
- Quyền được khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
bí mật đời tư như các tội xâm phạm tình dục trẻ em thì Bộ luật Tố tụng hình
sự nmaw 2015 quy định Toàn án xử kín
1.2.3.3 Bảo vệ quyền con người làm chứng và các chủ thể khác tham gia trong hoạt động xét xử án hình sự
- Bảo vệ quyền con người của người làm chứng
Bảo vệ quyền con người của người làm chứng Người làm chứng là người trực tiếp tham gia tố tụng để trình bày những thông tin mà mình biết về
vụ án, mà không được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng Bởi lẽ, sự tham gia tố tụng hình sự của người làm chứng được đánh giá cao, là người có vai trò quan trọng trong việc hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc