Trong những năm vừa qua, công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia ở tỉnh Bình Định đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: xây dựng được Đề án bảo tồn và
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Văn Khánh Các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa công bố nội dung này ở bất kỳ đâu Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 02 năm 2020
TÁC GIẢ
Phạm Đình Hiệp
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
LĐVCTVN Liên đoàn Võ cổ truyền Việt Nam
PVHTT Phòng Văn hóa - Thông tin
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
VHTT-TT Văn hóa Thông tin - Thể thao
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số lượng địa phương và nghệ nhân Bài
Bảng 2.2 Danh mục các dự án đầu tư cho hoạt động bảo
tồn và phát triển Võ cổ truyền Bình Định giai đoạn 2016-2017
Phụ lục 2
Bảng 2.3
Danh mục các dự án đầu tư cho hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi, Hát Bội Bình Định giai đoạn 2010-2016
Phụ lục 3
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa của đề tài 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1: LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 10
1.1 Di sản văn hóa phi vật thể 10
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 10
1.1.2 Đặc trưng của di sản văn hóa phi vật thể 13
1.1.3 Phân loại di sản văn hóa phi vật thể 15
1.2 Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 15
1.2.1 Khái niệm 15
1.2.2 Đặc trưng của quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 18
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 20
1.2.4 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 31
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong công tác quản lý nhà nước
Trang 5về di sản văn hóa phi vật thể 33
1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Phú Yên 33
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Khánh Hòa 37
1.3.3 Giá trị tham khảo rút ra cho tỉnh Bình Định 39
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 42
2.1 Khái quát về tỉnh Bình Định và Di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Bình Định 42
2.1.1 Khái quát về tỉnh Bình Định 42
2.1.2 Khái quát về các Di sản văn hóa phi vật thể ở Bình Định 45
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn Bình Định 61
2.2.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 61
2.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 64 2.2.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 66
2.2.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 76
2.2.5 Tổ chức, chỉ đạo vinh danh khen thưởng trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 84
2.2.6 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo tồn và phát triển di sản
Trang 6văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 87
2.3 Đánh giá chung 90
2.3.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân 90
2.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 94
2.3.3 Cơ hội và thách thức 99
Tiểu kết chương 2 104
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 105
3.1 Mục tiêu, quan điểm, định hướng 105
3.1.1 Mục tiêu 105
3.1.2 Quan điểm 106
3.1.3 Định hướng 107
3.2 Các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 108
3.2.1 Tiếp tục xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 108
3.2.2 Tích cực tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 109
3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực làm công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 113
3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 116
3.2.5 Huy động và sử dụng hợp lý ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội
hóa về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa
Trang 7bàn tỉnh Bình Định 117
3.2.6 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá, hợp tác quốc tế về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 119
3.2.7 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tại Bình Định 126
Tiểu kết chương 3 130
KẾT LUẬN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [39]
Không thể phủ nhận, những năm qua, công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở nước ta trên các lĩnh vực: di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia; bảo tàng, di sản văn hóa phi vật thể… đã có nhiều thành tích đáng ghi nhận Công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa đã và đang ngày càng được hoàn thiện với 01 Luật; 01 Luật sửa đổi, bổ sung; 8 Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật; 16 Thông tư và 4 Quyết định ban hành Quy chế, Quy định, Định mức điều chỉnh các hoạt động liên quan về di sản văn hóa Đây là kim chỉ nam quan trọng trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam Công tác lập hồ sơ xếp hạng, ghi danh di sản văn hóa tiêu biểu của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực cả ở trong nước và quốc tế; nhiều di sản văn hóa
ở Việt Nam bên cạnh việc bảo vệ, giữ gìn di sản quý giá của cha ông để lại còn đã và đang trở thành nguồn lực thực sự cho sự phát triển kinh tế xã hội…
Tuy vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay, việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta đang đứng trước những thách thức mới Để giữ vững và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam, không đánh mất mình trong một thế giới luôn biến động khó lường, để hội nhập mà không hòa tan; Đảng và Nhà nước cần quan tâm
và chăm lo phát triển văn hóa hơn nữa, coi văn hóa là một mặt trận quan trọng
Trang 9trên lĩnh vực tư tưởng, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, của nhân dân ta
Là một mảnh đất giàu tiềm năng về di sản văn hoá, Bình Định được ví như là “cái nôi” của rất nhiều loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống Đến nay, đã có ba di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia được công nhận gồm:
Võ cổ truyền Bình Định, Bài Chòi và Hát Bội (tuồng) Điều đó có ý nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống văn hóa, tinh thần và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, dù tiềm năng là rất lớn, song thực tế hiện nay, cùng với
sự phát triển của xã hội hiện đại, quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập văn hóa; sự thay đổi khá nhiều về quan điểm sống và cách thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là giới trẻ, thì ba di sản văn hóa này cũng đang dần bị mai một ngay trên mảnh đất
mà nó được sinh ra Thực tế đó đặt ra thách thức rất lớn đối với các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa của tỉnh Bình Định trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
Trong những năm vừa qua, công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia ở tỉnh Bình Định đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: xây dựng được Đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Bài Chòi dân gian trên địa bàn tỉnh với mục tiêu đến năm 2020; Đề
án bảo tồn và phát triển các lò Võ cổ truyền đến năm 2015; công tác tổ chức, quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa khá chặt chẽ; đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; công tác tuyên truyền, quảng bá, phổ biến, giáo dục về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở tỉnh Bình Định được quan tâm đúng mức;…
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia ở tỉnh Bình Định trong những năm vừa qua cũng còn một số hạn chế: việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn
Trang 10và phát huy giá trị di sản văn hóa còn lúng túng, chậm trễ; sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ, nhịp nhàng; quá trình thực thi công việc của một số cán bộ, công chức còn mang tính rập khuôn, chưa năng động, sáng tạo; đầu tư cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chưa tương xứng, chưa hợp lý, hiệu quả;…
Xuất phát từ thực trạng đó, cần thiết phải đổi mới quản lý nhà nước về
di sản văn hóa phi vật thể ở Bình Định đặc biệt là 3 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia - Võ cổ truyền, Bài Chòi, Hát Bội để một mặt, quảng bá, giới thiệu văn hóa, nghệ thuật của tỉnh Bình Định với bạn bè trong nước và quốc
tế, mặt khác thu hút đầu tư để phát triển kinh tế du lịch của tỉnh nhà; giáo dục người dân về tình yêu quê hương, yêu nghệ thuật dân tộc, truyền thống văn hóa dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần xây dựng thành công nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Với tất cả những lý do nêu trên, “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định” là đề tài nghiên cứu có
tính lý luận và thực tiễn cấp thiết để học viên thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc, đặc biệt là các di sản văn hóa phi vật thể ngày càng thu hút được sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các nhà khoa học Nghiên cứu về lĩnh vực này, có thể khái quát thành 4 nhóm sau:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa, di sản văn hóa:
Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương Tác phẩm khẳng
định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa, “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ gìn văn hóa cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hóa mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều
Trang 11hòa tinh túy của văn hóa phương đông với những điều sở trường về khoa học của văn hóa phương tây”
Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn
hóa dân tộc, tác phẩm trình bày hệ thống lý luận về di sản văn hóa, đồng thời
bước đầu vận dụng nghiên cứu di sản văn hóa nước ta
Nguyễn Chí Bền (2011), Văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian
Việt Nam, tác phẩm đã cung cấp cho độc giả một đường dẫn quan trọng để
luận giải về văn hóa truyền thống của Việt Nam, lý giải được sinh hoạt xã hội đương đại của Việt Nam… Việt Nam trong phương diện lịch sử đã có nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, nhưng Việt Nam cũng là một quốc gia
đa dân tộc có lịch sử lâu đời, văn hóa truyền thống của các dân tộc vẫn tạo nên ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống xã hội, tâm lý quốc dân, hình thái
văn hóa đất nước
Trương Quốc Bình (2014), Bảo vệ & phát huy giá trị di sản văn hóa
Việt Nam, tác phẩm đã tập hợp chọn lọc các bài viết đã được đăng tải, các
tham luận tại các Hội thảo khoa học Sách gồm bốn phần Phần thứ nhất: Bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, gồm các bài về bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Việt Nam Phần thứ hai gồm những kiến giải về vai trò quan yếu của các sưu tập hiện vật trong quá trình chuẩn bị xây dựng
và tổ chức hoạt động của các bảo tàng ở Việt Nam Phần thứ ba gồm những bài viết về việc phát huy những giá trị đặc sắc của kho tàng di sản văn hóa Phần cuối là tập hợp một số bài viết về những kỷ niệm trong quá trình công tác của tác giả
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể:
Phạm Thị Thu Hà (2014), “Di sản Bài Chòi trong đời sống đương
đại”, tham luận tại Hội thảo “Nghệ thuật Bài Chòi dân gian miền Trung Việt
Nam, hiện trạng và vấn đề bảo tồn”
Trang 12Trần Đức Hùng, Hội Bài Chòi trong bối cảnh phát triển và hội nhập
Lê Thoa (2017), “Hát ca trù - Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ
khẩn cấp của nhân loại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” Đề tài đã khái quát về
loại hình nghệ thuật ca trù, phân tích thực trạng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn loại hình nghệ thuật này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về
di sản văn hóa phi vật thể:
Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (2009), Bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, tác phẩm trình bày những nhận thức khoa học
của các nhà khoa học trong và ngoài nước về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam; những văn bản pháp lý của UNESCO và Việt Nam về di sản văn hóa phi vật thể; nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong Chương trình mục tiêu quốc gia
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011), Võ cổ truyền - di sản cần gìn
giữ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2013), Bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam đến năm 2020 Hai công trình này tập trung khái quát thực
trạng Võ cổ truyền Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam đến năm 2020
Hoàng Chương (2014), “Bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Bài
Chòi truyền thống trong đời sống hiện nay”
Bùi Phát Diệm (2018), “Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Long An” Đề tài đã đánh giá thực trạng,
nhận định được sức sống của từng loại hình DSVHPVT; đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy các DSVHPVT của tỉnh mà các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, các ban, ngành chuyên môn của tỉnh có thể ứng dụng kết quả khoa học này vào việc thực hiện các giải pháp phát huy và phát triển văn hóa ở tỉnh
Trang 13Thứ tư, nhóm các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể tại tỉnh Bình Định:
Phạm Đình Phong (2000), Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc – đặc trưng
Võ cổ truyền Bình Định Trong công trình này tác giả tập trung nghiên cứu
nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và một số đặc trưng của Võ cổ truyền Bình Định
Lê Thì (2004), Võ cổ truyền Bình Định Công trình đã giới thiệu những
kiến thức cơ bản về lý luận và kỹ thuật của Võ cổ truyền Bình Định
Lê Thì - Kim Đình (1996), Miền đất võ – Tuyển tập võ Tây Sơn – Bình
Định Công trình đã sưu tầm, kế thừa và phát triển một số môn phái Võ cổ
truyền Bình Định, từ đó rút ra một số võ lý và bài võ tiêu biểu của Võ cổ truyền Tây Sơn – Bình Định
Phan Ngạn (2003), “Sưu tầm, nghiên cứu, phục hồi Bài Chòi dân gian
cổ truyền Bình Định” Đề tài được Sở Khoa học và Công nghệ nghiệm thu,
gồm các sản phẩm: Một tập sách những câu hô thai của 27 con bài và một số hình ảnh minh họa 27 con bài và 2 đĩa CD-ROM vở diễn Bài Chòi cổ
Dương Tấn Sinh (2014), Điều tra lập Hồ sơ khoa học một số di sản văn
hóa phi vật thể tiêu biểu tỉnh Bình Định Trong đó, đã trình bày khái quát về
nghệ thuật Bài chòi dân gian Bình Định, sự tác động của nó và một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi dân gian nói riêng và hệ thống di sản văn hóa phi vật thể nói chung trong đời sống đương đại Kết quả
và sản phẩm của đề tài là chương trình phim tư liệu đã được biên tập gồm 8 clip, trong đó có một clip giới thiệu về di sản Bài chòi dân gian Bình Định; hai bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Bình Định
với chủ đề: Diễn trình hội chơi Bài chòi ở Bình Định (số xuân Quý Tỵ 2013)
và Cần lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể đưa vào danh mục di sản quốc
gia (số xuân Giáp Ngọ 2014)
Trang 14Bên cạnh đó còn có một số tạp chí, sách báo, công trình nghiên cứu khác về lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật Bài Chòi dân gian Bình
Định; về nghệ thuật biểu diễn, đặc trưng thi pháp; âm nhạc và ca hát nghệ
thuật Bài Chòi; giá trị nghệ thuật Bài Chòi; bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài Chòi dân gian ở Bình Định trong cuộc sống hiện nay như: Tạp chí Văn hóa Bình Định - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Sở VHTTDL) Bình Định, chuyên mục Di sản Bài Chòi;…
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên đã luận giải, làm rõ một số vấn đề như: Giới thiệu về đặc trưng, vị trí, vai trò của các di sản văn hóa của nước ta; thực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc… Song, xét về lĩnh vực khoa học quản lý hành chính nhà nước các công trình trên đều chưa đề cập có hệ thống và đầy đủ công tác quản
lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể nói chung, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng Vì vậy việc lựa chọn đề tài của tác giả là phù hợp, đảm bảo không có sự trùng lắp
Các công trình nêu trên sẽ là nguồn tài liệu quý báu để tác giả kế thừa
và thực hiện đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc
gia trên địa bàn tỉnh Bình Định”, đặc biệt là các kế thừa về cách tiếp cận,
phương pháp và một số tư liệu, tài liệu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát cơ sở lý luận để hình thành khung lý thuyết quản lý nhà nước
Trang 15về di sản văn hóa phi vật thể
Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2010-2018
Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý nhà nước di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định được thực hiện theo Luật Di sản văn hóa
2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Địa bàn tỉnh Bình Định
Về thời gian: Các số liệu thông tin được sử dụng, phân tích trong phần
thực trạng chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018 Tuy nhiên, để đảm bảo tính hệ thống, luận văn có đề cập đến một số vấn đề liên quan ở giai đoạn trước và sau thời gian trên
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng
Hồ Chí Minh; các chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã vận dụng, kết hợp hai phương pháp
chính là phân tích, tổng hợp và phương pháp lịch sử, lôgíc Phương pháp
Trang 16phân tích, tổng hợp được quán triệt trong trình bày thực trạng công tác quản
lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Bình Định, là cơ sở
cho việc đúc rút các nhận xét và kết luận Phương pháp lịch sử được quán
triệt trong trình bày tiến trình phát sinh, phát triển của các di sản văn hóa gắn với các chủ trương, chính sách, là cơ sở khoa học cho việc đúc rút các nhận
xét và kết luận Phương pháp lôgíc được thể hiện trong trình bày từng
chương, tiết, đặc biệt là những vấn đề mang tính khái quát như đúc rút nhận xét và tổng kết kinh nghiệm Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp quy nạp và diễn dịch, thống kê, đánh giá, dự báo…
6 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở hệ thống hóa về lý luận và pháp lý, đề tài
đã làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể và thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định Đề tài có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, học tập hoặc những độc giả quan tâm đến lĩnh vực quản lý nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước về bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa Việt Nam nói chung, Bình Định nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn: Những giải pháp được đề xuất trong luận văn có thể
là căn cứ khoa học có giá trị tham khảo cho các cơ quan chủ quản tiếp tục thực hiện công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 17Chương 1:
LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
1.1 Di sản văn hóa phi vật thể
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Văn hóa
Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học
thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)…
Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm, từ tinh vi
hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động [58, tr.10]
Theo nghĩa hẹp, Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội; Văn hóa là
hệ thống các giá trị, truyền thống, lối sống; Văn hóa là năng lực sáng tạo của một dân tộc; Văn hóa là bản sắc của một dân tộc, là cái phân biệt dân tộc này với dân tộc khác…
Tổng Thư ký UNESCO Federico Mayor định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình" [2, tr.3]
Theo UNESCO, văn hóa được hiểu như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [88]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết quan điểm của mình về văn hoá
thông qua nhận định sau: "Ý nghĩa của văn hoá: vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
Trang 18viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [32, tr 431]
Quan điểm trên Bác đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hoá Theo đó, văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn cả những hoạt động vật chất, trong đó chứa đựng, phản ánh tác động của tư duy đến kết quả của hoạt động Đồng thời, nó cũng chỉ ra nguồn gốc, động lực sâu xa của văn hoá - đó là nhu cầu sinh tồn của con người với
tư cách chủ thể hoạt động của đời sống xã hội - một hoạt động khác hẳn với hoạt động mang tính bản năng, bầy đàn của các loài động vật khác Theo ý nghĩa này, chất văn hoá được hàm chứa, thể hiện trong mọi hoạt động, kể cả hoạt động tinh thần lẫn hoạt động vật chất, cùng với các giá trị mà con người sáng tạo ra trong hoạt động của mình
Theo quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn hóa là một hệ
thống những giá trị về vật chất và tinh thần do con người tích lũy và sáng tạo được trong quá trình cộng cư với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, mang tính bền vững và truyền thống [75, tr.9]
Theo quan điểm của tác giả: Văn hóa là một hệ thống những giá trị mang tính nhân văn, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội do con người tích lũy, sáng tạo ra trong sự tương tác với các yếu tố môi trường xung quanh, trong đó nhiều giá trị, biểu hiện văn hóa riêng lẻ tập hợp thành một hệ thống gọi là bản sắc văn hóa có liên kết chặt chẽ, bền vững và đồng bộ với nhau
1.1.1.2 Di sản văn hóa
Theo Từ điển Tiếng Việt, di sản là cái của thời trước để lại [37, tr.254]
Trang 19Di sản văn hóa theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của
quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Di
sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên Luật Di sản
văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) định nghĩa: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [40, tr.1]
Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc, luôn gắn bó mật thiết,
có tác động tương hỗ lẫn nhau, nhưng có tính độc lập tương đối Di sản văn hóa vật thể tồn tại dưới dạng công trình, địa điểm, di vật, cổ vật là kết tinh của trí tuệ, tài năng của những người thợ thủ công qua nhiều thời đại, còn di sản văn hóa phi vật thể lại là cái vô hình, tiềm ẩn trong trí nhớ và được biểu hiện thông qua hành vi và các kỹ năng, bí quyết do nghệ nhân nắm giữ - chủ thể sáng tạo di sản, di sản đó được lưu truyền lại bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề thông qua thực hành, trình diễn
1.1.1.3 Di sản văn hóa phi vật thể
“Di sản “Văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp là cá nhân công nhận là di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và nhóm không ngừng tái tạo để có thể thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng
Trang 20tạo của con người” [69, tr 142]
Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [40, tr.1]
1.1.1.4 Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể
1.1.2 Đặc trưng của di sản văn hóa phi vật thể
Là một bộ phận của di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể có vị trí
và vai trò quan trọng, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng cho kho tàng
di sản văn hóa của nhân loại Di sản văn hóa phi vật thể gắn chặt với sáng tạo của mỗi cá nhân hoặc nhóm người sở hữu bí quyết nghề nghiệp, cách thức truyền nghề Di sản văn hóa phi vật thể dễ bị mai một, thất truyền bởi các đặc trưng [67]:
Là di sản “sống”, tồn tại cùng những con người cụ thể và chỉ được biểu hiện bằng hành vi, cử chỉ, ngôn từ của họ với sự phụ trợ của những công cụ khác nhau như nhạc cụ, trạng phục, vật liệu sản xuất,… trong môi trường thực hành, diễn xướng cụ thể;
Là sản phẩm tinh thần của cộng đồng được tích lũy qua nhiều thế
hệ nhưng lại biểu hiện qua sự tiếp nhận và hành vi của từng con người cụ thể nên mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân;
Được duy trì thông qua phương thức truyền miệng, truyền nghề, phụ thuộc vào trí nhớ và ý thức chủ quan của cá nhân nắm giữ, thực hành, tái tạo
và chuyển giao nên di sản văn hóa phi vật thể rất “mong manh” và hàm chứa
Trang 21đặc tính biến đổi qua thời gian Nói một cách dễ hiểu, khi nghệ nhân qua đời thì kỹ năng, bí quyết do nghệ nhân đó nắm giữ có thể mất đi vĩnh viễn;
Được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có thể được bồi đắp, biến đổi theo thời gian nên rất khó xác định tính nguyên bản, tính chân xác lịch sử
Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ về di sản văn hóa phi vật thể, coi
nó chỉ là một bộ phận phụ thuộc của di sản văn hóa vật thể (thực tế có cả phụ thuộc và không phụ thuộc) mà không phải là một di sản có tính độc lập tương đối Vì thế, việc bảo vệ và phát huy giá trị đã chưa được quan tâm thỏa đáng, dẫn đến tình trạng nhiều giá trị văn hóa phi vật thể bị biến dạng và thậm chí mai một, thất truyền Trong xã hội hiện nay, tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn Di sản văn hóa phi vật thể chứa đựng các mặt giá trị tiêu biểu sau đây:
- Giá trị lịch sử: gắn với những sự kiện hay ký ức lịch sử quan trọng, những nhân vật lịch sử và huyền thoại, những anh hùng văn hóa có tầm ảnh hưởng lớn, có công lao với cộng đồng, đất nước;
- Giá trị văn hóa: thể hiện tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ tạo nên bản sắc văn hóa của cộng đồng, qua đó biểu hiện nét độc đáo về văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc; nơi gìn giữ những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc;
- Giá trị khoa học: gắn với những tri thức về tự nhiên và xã hội, những kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm sống được tích lũy trong quá trình hoạt động của con người;
- Giá trị kinh tế: là phương tiện giao lưu văn hóa đồng thời là một sản phẩm văn hóa, sản phẩm thủ công truyền thống hấp dẫn phục vụ du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Di sản văn hóa phi vật thể vì thế, được hiểu là tập hợp các hình thức
Trang 22biểu đạt mang tính văn hóa và xã hội đặc trưng cho tri thức cộng đồng thông qua các cá nhân và bắt rễ trong truyền thống, là “một bộ phận cơ bản và có tầm quan trọng không kém các loại hình di sản khác trong kho tàng di sản của nhân loại”
1.1.3 Phân loại di sản văn hóa phi vật thể
Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 chia di sản văn hóa phi vật thể thành các loại hình: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian [40, tr.1]
Tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 20 tháng 6 năm 2010 của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có quy định rõ 04 tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm:
1 Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương
2 Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ
3 Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài
4 Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ
1.2 Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
1.2.1 Khái niệm
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa có thể hiểu là quản lý hoạt động bảo tồn các di sản văn hóa nhằm giữ gìn lâu dài các giá trị văn hóa tiêu biểu của đất nước hiện đang tích hợp, vật chất hóa trong các di sản văn hóa với tư
Trang 23cách là nguồn thông tin khoa học chân thực, có khả năng cung cấp tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm sống, bài học lịch sử có ích cho xã hội; phục vụ mục tiêu giáo dục, hình thành các nhân cách văn hóa và xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, là những nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững Tuy nhiên, quản lý nhà nước về văn hóa phải căn bản dựa trên mục tiêu phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa các hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động bảo tồn di sản văn hóa nói riêng [67]
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là sự tác động có tổ chức của Nhà nước và điều chỉnh thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các công cụ chính sách, do cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa từ Trung ương xuống cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng
và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Xuất phát từ khái niệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
có thể hiểu quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia là sự tác động có tổ chức của Nhà nước và điều chỉnh thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các công cụ chính sách, do cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa từ Trung ương xuống cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Có thể thấy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể ở một giác
độ nào đó là nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị của loại hình di sản này
Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa: “Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn
Trang 24“phát triển là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục làm nảy nở thêm” [37, tr.254] Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của một sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó, không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái” Mặt khác, đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa” đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của chúng Song song với “bảo tồn” là “phát triển”, vì một giá trị, tinh hoa văn hóa tinh thần nếu chỉ được nhìn nhận dưới góc độ bảo quản, lưu trữ, không để mai một thì vẫn chưa hoàn thiện, bởi cuộc sống luôn có nhiều xu thế mới xuất hiện, nếu vẫn giữ nguyên trạng mà không tạo điều kiện cho những giá trị đó trở nên tốt đẹp hơn thì chúng cũng sẽ trở nên lỗi thời, lạc hậu “Phát triển” không phủ định “bảo tồn”
mà nó chính là sự bổ sung, làm cho cái được “bảo tồn” tỏa sáng và phát triển rực rỡ hơn
Văn hóa phi vật thể tồn tại trong tâm thức, trí nhớ, nương náu trong hình thức diễn xướng của con người mà chúng ta thường mệnh danh họ là các nghệ nhân dân gian hay là những “Báu vật nhân văn sống” Do đó, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ những
“Báu vật nhân văn sống” Đó là việc xã hội thừa nhận tài năng của các nghệ nhân, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo mọi điều kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy được hết khả năng trong quá trình bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này Cần phải phục hồi, phục dựng các di sản văn hóa phi vật thể một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy chứ không thể chủ quan, tùy tiện Tất cả những giá trị mà các di sản văn hóa phi vật thể mang lại cần phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chuyên môn cao, có giá trị thực chứng, thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm, kiểm kê,… Mọi hoạt động nhằm bảo tồn và phát triển loại hình di sản này rất cần sự tham gia của toàn thể nhân
Trang 25dân, xã hội, trong đó, quan trọng nhất vẫn là vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước bởi chỉ có Nhà nước mới có đầy đủ tiềm lực, điều kiện để thực hiện một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Đặc trưng cơ bản của quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Một là, chủ thể của hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi
vật thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân được nhà nước trao quyền Trong đó, chủ thể quản lý trực tiếp nhất là bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa từ Trung ương đến cơ sở
- Ở Trung ương:
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa [28], trong
đó có di sản văn hóa phi vật thể
+ Bộ VHTTDL chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung và bảo tồn, phát triển di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi cả nước nói riêng [9] Trong đó Cục Di sản văn hóa là tổ chức thuộc Bộ VHTTDL, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa; quản lý nhà nước về các dịch
vụ công thuộc lĩnh vực di sản văn hóa theo quy định của pháp luật; được Bộ trưởng giao trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phạm vi cả nước theo đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đặc biệt trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, Cục di sản văn hóa có trách nhiệm thẩm định các dự án, đề án kiểm kê, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể và các đề án, dự án chuyên môn khác thuộc lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể [7]
+ Ngoài ra, các Bộ và cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan, trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình, phối hợp với Bộ
Trang 26VHTTDL thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi cả nước theo sự phân công của Chính phủ [39], như: Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Du lịch,…
- Ở địa phương: UBND các cấp ở mỗi địa phương chịu trách nhiệm quản
lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi mình quản lý [42] + Các Sở VHTTDL ở các tỉnh, các Phòng Văn hóa - Thông tin (Phòng VHTT) cấp huyện trực thuộc là các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp, có chức năng tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi địa phương [5]
+ Các Sở, phòng và các ban, ngành, tổ chức khác có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Sở VHTTDL, Phòng VHTT thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Hai là, đối tượng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là tất
cả cá nhân, tổ chức tham gia vào loại hình di sản văn hóa này và hoạt động của các cá nhân, tổ chức đó trong việc giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi cả nước
Ba là, quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là hoạt động
mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng các công cụ, pháp luật, các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,… để quản lý, đảm bảo cho hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể diễn ra thống nhất trên cả nước, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Bốn là, mục tiêu quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là
nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống
Trang 27đương đại; hạn chế nguy cơ thất truyền, mai một do sự thay đổi về cách tiếp cận cũng như chuẩn mực văn hóa, nghệ thuật của phần đông người dân hiện nay; đáp ứng nhu cầu về giải trí, thưởng thức văn hóa ngày càng phong phú
và đa dạng của nhân dân; có tác dụng giáo dục, chăm sóc sức khỏe, hình thành nhân cách, lối sống con người thông qua các giá trị mà các di sản văn hóa phi vật thể mang lại; kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể với các hoạt động phát triển kinh tế, phát triển loại hình du lịch văn hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội; đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại, góp phần xây dựng thành công nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với quy luật thẩm thấu của văn hóa và xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nói cách khác, chúng ta phải “hòa nhập nhưng không hòa tan”
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Điều 54, Luật Di săn văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm
2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hoá bao gồm:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá;
3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;
4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
Trang 286 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá
Qua thực tiễn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể, có thể khái quát thành sáu nhóm nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể như sau:
1.2.3.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo tồn và phát triển giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Hệ thống các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, đề án
là một trong những công cụ quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi địa phương của mình Đây là những tư tưởng chỉ đạo, các mục tiêu, quan điểm, các giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm định hướng cho công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể theo đúng các mục tiêu chung về phát triển văn hóa - xã hội, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cũng như công cuộc giữ gìn, phát huy các giá trị của loại hình di sản này trong giai đoạn hiện nay theo đường lối của Đảng
Các chủ trương, chính sách của nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể được cụ thể hóa trên cơ sở đặc thù của tỉnh, thành phố Xuất phát từ đặc trưng đó, hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cần phải xem xét đến yếu tố đặc thù của từng vùng miền, địa phương
để ban hành các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án,… sao cho phù hợp nhằm phát huy tối đa những tiềm năng và giá trị sẵn có
Trang 291.2.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể
Các văn bản quy phạm pháp luật được xem là cơ sở pháp lý vững chắc nhất cho toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi địa phương và cả nước Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các thể chế, văn bản quy phạm pháp luật sẽ là điều kiện tiên quyết để hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể diễn ra được xuyên suốt, thống nhất, tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện hoạt động quản lý có hiệu quả hơn theo hướng tăng cường trách nhiệm
Đối với các địa phương có các di sản văn hóa phi vật thể, trên cơ sở các văn bản quản lý, hướng dẫn của Chính phủ, Bộ VHTTDL và các Bộ có liên quan, cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể ở các địa phương xây dựng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành và trình UBND tỉnh, thành phố thông qua Trong phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan quản lý nhà nước ban hành các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật đối với hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi địa phương của mình
Để cụ thể hóa những quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp lý như sau:
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, cụ thể được quy định tại Điều 60, Chương III quy định chung về văn hóa [41]
Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), trong đó
có 7 chương, 74 điều liên quan đến việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa, đặc biệt Điều 54 và Điều 55 có các quy
Trang 30định cụ thể và chi tiết [40]
Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015: tại Điều 2, Chương II có quy định
rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa nói chung [42]
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của UBND các cấp; các cơ quan chuyên môn giúp UBND các cấp trong quản lý nhà nước về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng nói riêng [43]
Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng còn được quy định tại các văn bản dưới luật như:
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa [11]
Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/6/2014 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể Nghị định quy định cụ thể các tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu cũng như quy trình, thủ tục đề nghị xét tặng hai danh hiệu cao quý này Những quy định đó đã thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc động viên, khen thưởng kịp thời đối với các cá nhân có đóng góp đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Nghị định số 109/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ về việc
hỗ trợ đối với nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn Nghị định đã quy định cụ thể chính sách đãi ngộ đối với người có công gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Nghị định số 185/2007/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
Trang 31hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [9]
Nghị định số 71/2009/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch [10]
Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL của Bộ VHTTDL Quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia [6]
Có thể nói, các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể là hành lang pháp lý quan trọng để triển khai những nhiệm vụ cơ bản liên quan tới hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
1.2.3.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể
Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể là công tác quan trọng, đảm bảo cho hoạt động bảo tồn và phát triển loại hình di sản văn hóa này được diễn ra thống nhất, thông suốt và có hiệu quả trong phạm vi từng địa phương và cả nước Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiến hành điều tra, khảo sát, kiểm kê, đánh giá toàn diện thực trạng về giá trị văn hóa truyền thống của các di sản văn hóa trong đó có
di sản văn hóa phi vật thể
Quy trình tổ chức kiểm kê các di sản văn hóa phi vật thể được quy định
cụ thể tại Khoản 1, Điều 7, Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL của Bộ VHTTDL Quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm [6]:
Nghiên cứu thu thập tư liệu, thông tin hiện có liên quan đến đối tượng
Trang 32Lập phiếu kiểm kê (theo mẫu quy định)
Lập danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể (theo mẫu quy định) Tổng hợp, đánh giá, báo cáo kết quả kiểm kê sơ bộ và thông báo với cộng đồng địa phương
Lập hồ sơ kiểm kê, bao gồm: trình bày thông tin cơ bản về quá trình kiểm kê, số lượng, tên gọi, giá trị, hiện trạng, biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền còn thực hiện công tác tổ chức và hướng dẫn thực hiện công tác bảo tồn, phát huy hiệu quả hoạt động của di sản; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho các nghệ nhân, những người có quan tâm đến các loại hình di sản văn hóa phi vật thể; hướng dẫn thủ tục hành chính đối với việc nghiên cứu, sưu tầm, tuyên truyền,
hỗ trợ tài chính,… đối với các di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể Đây là công tác thể hiện rõ được bản chất của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân của Nhà nước ta Tuyên truyền,
Trang 33phổ biến nội dung Nghị quyết của Đảng, văn bản quản lý của Nhà nước về di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng là công tác quan trọng để có thể bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống này Nhiệm
vụ của các cơ quan hữu quan là từng bước hoàn thiện các văn bản pháp lý về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể và tuyên truyền, phổ biến, quảng bá sâu rộng đến mọi cá nhân, tổ chức và người dân
Thông qua công tác này, người dân sẽ ý thức được tầm quan trọng và lợi ích của việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể do cha ông để lại để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho chính mình; giáo dục nhân cách, lối sống; lưu giữ những giá trị tốt đẹp mà các di sản văn hóa phi vật thể mang lại, tránh nguy cơ mai một do sự du nhập của nhiều loại hình văn hóa lai căng; góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Cũng thông qua đó, nhiều hoạt động, chương trình, dự án liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể
đã, đang và sẽ được triển khai dưới hình thức xã hội hóa, huy động được tiềm năng trí tuệ, nguồn nhân lực cũng như vật chất của cộng đồng, các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế đóng góp, tham gia
1.2.3.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể
Về nguồn nhân lực:
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nguồn nhân lực chuyên môn về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cũng là một nội dung quan trọng Để chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn và phát triển giá trị di sản văn hóa phi vật thể, đòi hỏi phải tăng cường trách nhiệm của chính quyền các cấp Kết quả thực hiện nhiệm vụ có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học ngành văn hóa Vai trò quan trọng của đội ngũ này thể
Trang 34hiện trong những nội dung sau:
Nghiên cứu, tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật về các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, trong đó có các
di sản văn hóa phi vật thể Đồng thời, góp phần xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đó
Trực tiếp tham gia phát triển các di sản văn hóa phi vật thể: đội ngũ tham gia công tác này gồm các cán bộ nghiên cứu khoa học và cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp Trong đó, cán bộ nghiên cứu khoa học là những người vừa có kiến thức chuyên sâu, vừa có kinh nghiệm thực tiễn về các di sản văn hóa phi vật thể thông qua quá trình tham gia nghiên cứu Vì vậy, họ đóng vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách, kế hoạch của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể
Tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng nhân dân tham gia thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa: đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ nghiên cứu khoa học ngành Văn hóa là người truyền đạt và hướng dẫn thực hiện các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể đến quần chúng nhân dân Đồng thời, thông qua hoạt động nghiên cứu, các cán bộ nghiên cứu khoa học là người hiểu rõ về đặc trưng, giá trị của các
di sản văn hóa phi vật thể, vì vậy, các hoạt động của đội ngũ này cũng có tính định hướng cho hoạt động của các cán bộ văn hóa ở địa phương trong công tác quản lý văn hóa, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể
Nhận thức được vị trí, vai trò và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán
bộ, công chức ngành Văn hóa nói chung, đặc biệt là trong công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể, Đảng và Nhà nước, trực tiếp là Bộ VHTTDL đã chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học, quản lý văn
Trang 35hóa, coi đây là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về văn hóa trong giai đoạn mới Đồng thời, cần đổi mới tư duy, tạo điều kiện thuận lợi về môi trường làm việc, không gian nghiên cứu, chế độ chính sách bảo đảm vật chất, động viên tinh thần cho đội ngũ cán bộ này
Về khoa học, công nghệ:
Công tác tổ chức nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể là một trong những chính sách cơ bản của Nhà nước về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc trong đời sống đương đại
Tại Điểm a, Khoản 3, Điều 3, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa có quy định về công tác tổ chức nghiên cứu khoa học đối với việc bảo tồn và phát huy di sản hóa phi vật thể, theo đó
sẽ tiến hành hoạt động nghiên cứu áp dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến, hiện đại vào việc “sưu tầm, lưu giữ và phổ biến giá trị di sản văn hóa
phi vật thể; thành lập ngân hàng dữ liệu về di sản văn hóa phi vật thể” [11]
Thông qua hoạt động tổ chức, quản lý nghiên cứu khoa học, công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể có điều kiện được thụ hưởng,
kế thừa các sản phẩm khoa học có giá trị, góp phần đảm bảo hoạt động quản
lý nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể được tiến hành một cách chuyên nghiệp, hiện đại, chính xác và đem lại hiệu quả cao
Về nguồn tài chính:
Để công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể được triển khai thuận lợi và có hiệu quả, bên cạnh các điều kiện về con người, thể chế và bộ máy thì nguồn lực về tài chính đóng vai trò vô cùng quan trọng nếu muốn hoạt động này diễn ra thường xuyên và liên tục Nguồn
Trang 36tài chính để bảo tồn và phát triển giá trị di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng bao gồm:
Ngân sách Nhà nước;
Các khoản thu từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài Tại Khoản 5, Điều 3, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật Di sản văn hóa có quy định “Khuyến khích và tạo điều kiện cho
các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp về tinh thần và vật chất hoặc trực tiếp tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa” [11]
Qua đó, có thể thấy rằng, bên cạnh việc sử dụng nguồn lực của Nhà nước cho hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể thì việc xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội vào hoạt động này đóng vai trò vô cùng quan trọng, cần được nhìn nhận một cách toàn diện Xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp cư dân trong xã hội, đặc biệt là cộng đồng người dân trong và ngoài nước mến mộ các di sản văn hóa phi vật thể, tự nguyện tham gia vào việc tạo lập và cải thiện môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh
và thuận lợi cho bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể Nhờ thế chúng ta có thể thu hút các nguồn lực, thành phần kinh tế khác nhau, các tổ chức, cộng đồng cư dân trong xã hội tham gia, tuyên truyền, phổ biến các di sản văn hóa phi vật thể nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa đa dạng của công chúng
Trong quá trình xã hội hóa, Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng (chứ không làm thay, nhất là không được khoán trắng cho cộng đồng), đồng thời tăng cường đầu tư và tài trợ cho các hoạt động nhằm
Trang 37bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể
1.2.3.5 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; vinh danh khen thưởng trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể cũng như công tác quản
lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể nhằm phát hiện những bất hợp lý về thể chế, cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy, những hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa báo cáo kịp thời với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật để góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng
Các nghệ nhân tham gia vào các loại hình di sản văn hóa phi vật thể chính là “linh hồn”, là “Báu vật nhân văn sống” trực tiếp tham gia sáng tạo, lưu giữ, truyền dạy và phát triển di sản văn hóa phi vật thể từ thế hệ này sang thế hệ khác UNESCO đã khuyến nghị các quốc gia thiết lập hệ thống “Báu vật nhân văn sống” nhằm công nhận, tôn vinh và đãi ngộ những người đang nắm giữ các kiến thức, kỹ năng và bí quyết cần thiết cho việc trình diễn, sáng tạo và trao truyền những di sản văn hóa phi vật thể mang giá trị tiêu biểu ở mỗi dân tộc, mỗi quốc gia [69, tr.142.] Trong thời đại toàn cầu hóa, nhiều quốc gia trên thế giới đang nỗ lực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình, coi đó là phương thức thể hiện bản lĩnh văn hóa của dân tộc mình với thế giới
Đối với công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể, nhà nước cần phải chủ động tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với các nghệ nhân có tài năng xuất sắc, nắm giữ và có công bảo tồn và phát triển giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua một số hoạt động như: Tặng, truy tặng Huân chương, danh hiệu vinh dự Nhà nước và thực hiện các hình thức tôn
Trang 38vinh khác [40]
Công tác vinh danh, khen thưởng, thực hiện chính sách hỗ trợ đối với các nghệ nhân thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước đối với các nghệ nhân đã và đang cố gắng lưu giữ những tinh hoa văn hóa, nghệ thuật truyền thống, góp phần bảo tồn hồn cốt của dân tộc Đây không chỉ là vinh dự cho mỗi cá nhân được vinh danh mà còn là niềm tự hào, tin tưởng của cộng đồng Tôn vinh, chăm sóc thiết thực cả về vật chất và tinh thần để khích lệ, động viên các nghệ nhân tiếp tục cống hiến trong việc bảo tồn, truyền dạy và phát triển các di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng
1.2.3.6 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể
Nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc
tế với các nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài, đặc biệt là ở các quốc gia cũng đang tồn tại loại hình nghệ thuật truyền thống có nhiều điểm tương đồng với các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam
Trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, Nhà nước tổ chức quản lý hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Nhà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia; góp phần phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống trong hệ thống các di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
1.2.4 Sự cần thiết khách quan phải quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể là một bộ phận của văn hóa Việt Nam; là
Trang 39một loại hình nghệ thuật, hoạt động văn hóa không thể thiếu trong tổng thể những giá trị văn hóa - tinh thần của dân tộc Việt Nam Để di sản văn hóa phi vật thể luôn tồn tại cùng với văn hóa dân tộc, rất cần có sự quan tâm của các ngành, các cấp có liên quan trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể, sự tham gia của những người làm công tác nghiên cứu, sưu tầm và bảo tồn loại hình di sản văn hóa này trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) khẳng định: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Vǎn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [22, tr.2] Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, trong đó đã nhấn mạnh đến tính cấp thiết của công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh
tế - xã hội” [23, tr.3] Đồng thời cần phải “phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống (bác học và dân gian) có nguy cơ mai một Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam” [23, tr.3]
Bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam là một lĩnh vực rộng, có tính xã hội cao, có vị trí quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển thể dục thể thao ở nước ta Chính vì thế, quản lý
Trang 40nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam là cần thiết và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với điều kiện thực
tế trong nước, quốc tế
Bên cạnh đó, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể còn là phương pháp tốt để đạt được mục tiêu nâng cao đời sống văn hoá, nâng cao thể chất, sức khoẻ của mọi tầng lớp nhân dân Chính vì vậy, cần phải quan tâm bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống này để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, cùng với các loại hình và các sản phẩm du lịch khác, góp phần đẩy mạnh phát triển du lịch, thu hút được các dự án đầu tư lớn để có thể thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh, đồng thời quảng bá được hình ảnh, văn hóa của người Việt đến người dân cả nước và bạn bè quốc tế
Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập Việc khai thác, bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống và những tinh hoa của các di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam còn nhiều hạn chế, một số di sản có nguy cơ mai một, thất truyền hoặc chưa được quan tâm khôi phục Việc giới thiệu, quảng bá các di sản văn hóa phi vật thể trong những năm qua chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn phát triển một cách tự phát
Với tất cả những nhu cầu cấp thiết trên, cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể để những di sản này có cơ hội và điều kiện được lưu giữ, bảo tồn và phát triển xứng tầm với những giá trị, ý nghĩa và đóng góp của nó trong sức sống của văn hóa dân tộc
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong quản lý nhà nước về
di sản văn hóa phi vật thể
1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Phú Yên
Là một trong 10 tỉnh, thành phố đã và đang tồn tại loại hình nghệ thuật Bài chòi dân gian, trong những năm vừa qua, tỉnh Phú Yên cũng đã có những