1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

14 304 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 27,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Thương mại 1 - Bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Trang 1

MỞ ĐẦU

Hiện tượng phá sản phát sinh từ rất sớm Lịch sử phá sản của thế giới ghi nhận rằng Italia là nước khai sinh ra đạo luật phá sản đầu tiên từ thời kỳ La Mã Đến thời kỳ Trung cổ, các quốc gia Châu Âu cũng ban hành Luật Phá sản Lúc đầu, luật này được áp dụng và lĩnh vực thương nghiệp, sau đó mở rộng ra nhiều lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh Hiện tượng phá sản trở lên phổ biến trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, nó là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế, hình thàn nên những tập đoàn kinh tế tư bản độc quyền Ở Việt Nam, hiện tượng phá sản mới chỉ xuất hiện và pháp luật phá sản mới chỉ ra đời do sự chuyển hướng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Ở những mức độ khác nhau, phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả kinh tế- xã hội nhất định mà trực tiếp nhất là ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của chủ nợ, của bản thân doanh nghiệp mắc nợ và của những người làm công

Để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể nêu trên, sau nhiều lần ban hành, sửa đổi bổ sung từ năm 1993, Luật phá sản đã đưa ra yêu cầu và giải quyết yêu cầu phá sản ở Việt Nam, trong đó có những quy định về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Để tìm hiểu rõ hơn về các chủ thể này, em xin phép được lựa chọn đề

tài số 14: “Bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.”

Do vốn tri thức còn hạn chế nên trong bài làm không tránh khỏi những thiếu

sót, rất mong nhận được sự nhận xét, đánh giá và giúp đỡ của thầy/ cô để bài viết được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cám ơn!

Trang 2

NỘI DUNG

I Khái quát về phá sản, pháp luật phá sản và thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

1 Khái niệm phá sản:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014 định nghĩa về thuật ngữ

“Phá sản” như sau: “ Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”

Về thực chất doanh nghiệp, hợp tác xã là những thực thể xã hội và như vậy, cũng như các thực thể xã hội khác, doanh nghiệp cũng có quá trình sinh ra, phát triển và diệt vong Giai đoạn diệt vong của doanh nghiệp, hợp tác xã được gọi là

Phá sản

Dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, một số doanh nghiệp mạnh dần lên chiếm lĩnh thị trường, ngược lại, một số doanh nghiệp khác yếu dần đi, sản xuất kinh doanh đình đốn, nợ nần chồng chất, đi tới chỗ mất khả năng chi trả các nghĩa

vụ tài chính của mình và thực chất đã lâm vào tình trạng phá sản

Tóm lại, phá sản luôn là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường,

nó hiện hữu như là một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền kinh tế thị trường, bất kể đó là nền kinh tế thị trường phát triển ở các nước trên thế giới hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.1

2 Thủ tục phá sản

Trong tiếng Việt, thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức Theo Nguyễn Văn Thâm và Võ Kim Sơn, thủ tục có nghĩa là phương thức hay cách thức

giải quyết công việc theo một trình tự nhất định Như vậy, thủ tục phá sản

1 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam I, nxb Tư pháp, tr.430

Trang 3

được hiểu là trình tự từng bước tiến hành giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật.2

Theo Luật Phá sản năm 2014, trình tự thực hiện thủ tục phá sản gồm

các bước chủ yếu sau: bước một, Đề nghị mở thủ tục phá sản; bước hai, Xem xét, thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; bước ba, mở thủ tục phá sản; bước bốn, tổ chức hội nghị chủ nợ; bước năm, Phục hồi hoạt động kinh doanh/ tuyên bố doanh nghiệp phá sản; bước sáu, Thi hành quyết định tuyên

bố doanh nghiệp phá sản

Thủ tục phá sản là thủ tục do cơ quan tư pháp tiến hành Đối tượng của hoạt động tố tụng là các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các chủ nợ (bên có quyền được thanh toán) và con nợ (bên có nghĩa vụ thanh toán) theo cơ chế đặc biệt Xét về bản chất, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể và là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán Trong nhiều trường hợp, thủ tục phá sản còn có thể mở ra cơ hội phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh cho con nợ, ngược lại cũng có thể chấm dứt sự tồn tại pháp

lý của con nợ bị phá sản

Thủ tục phá sản được Nhà nước ghi nhận để bảo vệ lợi ích khác nhau

của nhiều chủ thể trong nền kinh tế Thứ nhất, bảo vệ một cách hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ; thứ hai, để bảo vệ lợi ích của

người mắc nợ, tạo cơ hội để người mắc nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự và để bảo vệ lợi ích của người lao động

3 Đơn yêu cầu và chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là yêu cầu của chủ nợ đề nghị Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ Phá sản chỉ được tòa án xem xét, giải quyết trên cơ sở có yêu cầu mở thủ tục phá sản

luật- Đại học Kinh tế TP.HCM, 2017

Trang 4

Nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là thủ tục bắt buộc đầu tiên của trình

tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định cụ thể trong Luật Phá sản Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là những cá nhân liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã đang lâm vào tình trạng phá sản có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản

Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ xuất hiện khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản Việc xác định chính xác thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là rất quan trọng, không chỉ đối với chính doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, mà còn đối với các chủ nợ, với người lao động và những người có quyền nộp đơn khác Nếu nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sớm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác

xã bị yêu cầu, họ sẽ bị mất bạn hàng, giảm uy tín, nếu không có sự can thiệp kịp thời có thể do hậu quả đó mà dẫn họ đến tình trạng phá sản thực sự Nhưng nếu nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản muộn sẽ dẫn đến tình trạng

lẽ ra doanh nghiệp, hợp tác xã có thể phục hồi được lại không được hưởng lợi từ việc áp dụng thủ tục phục hồi, doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản, chủ nợ, những người liên quan không còn khả năng thu hồi tốt nhất khoản nợ của mình Để xác định chính xác thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, cần thiết phải làm rõ khái niệm tình trạng phá sản theo pháp luật Việt Nam

II Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật hiện hành

Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản chỉ được Tòa án

xem xét giải quyết trên cơ sở có yêu cầu mở thủ tục phá sản Theo Điều 5,

Trang 5

Luật Phá sản 2014 quy định về các đối tượng sau đây có quyền và nghĩa vụ

nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

1 Các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật phá sản 2014

Thứ nhất, Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có

quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Khoản 1 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:

“Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn

mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”.

Mục đích của Luật Phá sản trước tiên là nhằm bảo vệ quyền tài sản cho các

chủ nợ, vì vậy các chủ nợ là đối tượng đầu tiên có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã để thu hồi các khoản nợ của mình Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vì khoản nợ của họ đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã con nợ hay bảo lãnh bên thứ ba

Thời điếm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần là hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán (tức là thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán)

Thứ hai, Những người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực

tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu

Trang 6

cầu mở thủ tục phá sản Các đối tượng này cũng được phép nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Người lao động, suy cho cùng, cũng chính là chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với các khoản nợ lương nếu lương của người lao động không được thanh toán đầy đủ

Khoản 2 Điều 5 Luật phá sản quy định:

“Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở tủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”.

Thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của những chủ thể này là thời điểm hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa

vụ trả lương, các khoản nợ đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Đối với chủ thể này, thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của họ có thêm một thời điểm riêng nữa đó là hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thự hiện nghãi vụ trả lương mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ Do đặc điểm riêng biệt của chủ thể này là người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, họ làm công cho doanh nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp, hợp tác xã nợ họ là nợ công lao động (không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lương)

Thứ ba, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông

trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi CTCP mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có

Trang 7

quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi CTCP mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ti quy định Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích các cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ trong CTCP

Khoản 5 Điều 5 Luật phá sản năm 2014 quy định:

“Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thong trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phàn mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định”.

Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể này là thời điểm công

ty cổ phần mất khả năng thanh toán, tức là công ty cổ phần không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán

Thứ tư, Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp

tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán

Khoản 6 Điều 5 Luật phá sản quy định:

“Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán”.

Thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thời điểm hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán Tức là thời điểm hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ khi đến hạn thanh toán

2 Các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật phá sản 2014

Trang 8

Luật phá sản năm 2014 quy định các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại hai khoản của Điều 5 Luật này

Một là, Khoản 3 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:

“người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”.

Hai là, khoản 4 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:

“Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cỏ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”.

Theo đó, chủ thể co nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm:

 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã

 Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cỏ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh

Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa

vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Như vậy, đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì việc nộp đơn không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ Quy định này nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ có cơ sở để tự giải thoát mình khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán, giải quyết một các hợp pháp các quan hệ nợ nần hoặc dưới sự

Trang 9

giám sát của Tòa án, doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ có thể cùng các chủ nợ thỏa thuận các biện pháp hòa giải, tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế thiệt hại

Thứ hai, Chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ tịch hội đồng quản trị của công ty

cổ phần, chủ tịch hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Riêng nhóm chủ thể thứ hai này chỉ áp dụng cho đối tượng là doanh nghiệp

vì thành viên chỉ ở các loại hình doanh nghiệp mới xuất hiện các chủ thể trên ở Hợp tác xã thì chỉ có thành viên hợp tác xã và hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã, các chủ thể này đã được quy định có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Khoản 6 Điều 5 Luật này

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, không trả được các khoản nợ đến hạn

Với 6 nhóm chủ thể trên, Luật Phá sản năm 2014 đã mở rộng chủ thể được phép yêu cầu mở thủ tục phá sản so với Luật Phá sản năm 2004, trong đó có các chủ thể mới như công đoàn, người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp Việc mở rộng chủ thể có quyền hoặc nghĩa vụ yêu cầu giải quyết phá sản nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng liên quan khác tham gia thực hiện thủ tục phá sản, hạn chế tình trạng doanh nghiệp không còn cơ hội phục hồi nhưng không có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Ngoài ra, Luật Phá sản năm 2014 cũng bổ sung quy định trách nhiệm pháp

lý đối với những người thuộc nhóm đối tượng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Nếu như các đối tượng này không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì phải chịu trách nhiệm về những thiệt

Trang 10

hại phát sinh do việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và phải bồi thường

III Một số hạn chế của pháp luật quy định về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở

thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản 2014

1 Một số hạn chế của pháp luật quy định về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản 2014

Ở hầu hết các nước, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp trước hết là các chủ nợ của doanh nghiệp mắc nợ và doanh nghiệp mắc nợ (con nợ); đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải làm bằng văn bản Thông thường thì các chủ nợ có bảo đảm một phần và các chủ nợ có bảo đảm khác đều có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của con nợ phải được gửi kèm theo danh sách các chủ nợ và yêu cầu của các chủ nợ Tùy theo pháp luật phá sản ở các nước mà trong trường hợp con nợ là doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh còn phải cung cấp thêm các thông tin cần thiết khác.3

Trong khi đó, theo Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 thì các chủ nợ không

có bảo đảm và các chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án

mở thủ tục phá sản; còn các chủ nợ khác có bảo đảm thì không có quyền này

Chủ nợ có quyền nộp đơn không ưu tiên lựa chọn việc nộp đơn yêu cầu mở

thủ tục phá sản trên thực tế Luật Phá sản năm 2014 vẫn chỉ trao quyền chủ động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần Việc các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ đề bàn luận trên nhiều diễn đàn nghiên cứu khoa học với các quan điểm trái chiều khác nhau Tuy nhiên, có một thực trạng cần ghi nhận là: Đối với nhóm chủ nợ có quyền nộp đơn (chủ yếu là chủ nợ không có bảo đảm),

Kinh nghiệm nước ngoài về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, tháng 10/2013, tr 11.

Ngày đăng: 30/10/2020, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w