Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật dân sự. Các quan hệ tài sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu. Cũng vì thế, quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản. Ở Việt Nam, quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của công dân. Do đó, việc xác lập quyền sở hữu là một trong những vấn đề hàng đầu cần được quan tân và bảo vệ trong luật pháp Việt Nam. Để xác lập được quyền sở hữu, Bộ Luật Dân Sự 2015 đã có những căn cứ rất rõ ràng để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản cho chủ thể. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu trong các pháp luật của mỗi chế độ chính trị khác nhau lại khác nhau. Nó phản ánh bản chất xu thế và phát triển của mỗi chế độ xã hội, nội dung các căn cứ sẽ thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị và thực tế của xã hội đó. Bằng việc phân tích căn cứ xác lập quyền sở hữu trong BLDS Việt Nam 2015 dưới đây, ta không chỉ hiểu rõ hơn về nội dung các căn cứ này, mà qua đó còn hiểu hơn về quan điểm và thực tế của luật pháp Việt Nam hiện hành trong thực tiễn.
Trang 1MỞ ĐẦU
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật dân sự Các quan hệ tài sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu Cũng vì thế, quyền sở hữu là vấn
đề xương sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản Ở Việt Nam, quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của công dân Do
đó, việc xác lập quyền sở hữu là một trong những vấn đề hàng đầu cần được quan tân và bảo vệ trong luật pháp Việt Nam Để xác lập được quyền sở hữu, Bộ Luật Dân Sự 2015 đã có những căn cứ rất rõ ràng để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản cho chủ thể Các căn cứ xác lập quyền sở hữu trong các pháp luật của mỗi chế
độ chính trị khác nhau lại khác nhau Nó phản ánh bản chất xu thế và phát triển của mỗi chế độ xã hội, nội dung các căn cứ sẽ thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị
và thực tế của xã hội đó Bằng việc phân tích căn cứ xác lập quyền sở hữu trong BLDS Việt Nam 2015 dưới đây, ta không chỉ hiểu rõ hơn về nội dung các căn cứ này, mà qua đó còn hiểu hơn về quan điểm và thực tế của luật pháp Việt Nam hiện hành trong thực tiễn
NỘI DUNG CHƯƠNG I Căn cứ xác lập quyền sở hữu
1 Quyền sở hữu
Theo điều 158 BLDS 2015 về quyền sở hữu :
“Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyển định đoạt tài
sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.”
Trang 22 Căn cứ xác lập quyền sở hữu
2.1 Khái niệm
Quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu Do đó, cũng giống như bất cứ quan hệ pháp luật dân sự nào, quyền sở hữu phát sinh phải dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định Nó chỉ xuất hiện khi có những sự kiện thực tế
mà BLDS có quy định ý nghĩa pháp lý đối với sự kiện đó
Pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ các quyền của chủ sở hữu nếu quyền
đó được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định Quyền sở hữu hợp pháp là quyền sở hữu được xác lập dựa trên những căn cứ được khái quát tại Điều
221 BLDS 2015
“Điều 221 Căn cứ xác lập quyền sở hữu
Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong trường hợp sau đây:
1 Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
2 Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
3 Thu hoa lợi, lợi tức.
4 Tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến.
5 Được thừa kế.
6 Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên.
7 Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
8 Trường hợp khác do luật định.”
Trang 3Vì vậy, có thể hiểu căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu là những sự kiện xảy ra trong đời sống thực tế nhưng có ý nghĩa pháp lí do BLDS quy định mà thông qua đó làm phát sinh quyền sở hữu của một hoặc nhiều chủ thế đối với tài sản nhất định
2.2 Các căn cứ xác lập quyền sở hữu
Căn cứ để xác lập quyền sở hữu là những sự kiện pháp lý do BLDS quy định Trong BLDS 2015, các căn cứ xác lập quyền sở hữu được quy định từ Điều
221 đến Điều 236 Dựa vào nguồn gốc của những sự kiện pháp lý, người ta chia thành 3 nhóm căn cứ sau đây
2.2.1 Xác lập theo hợp đồng hoặc từ hành vi pháp lý đơn phương
Hợp đồng là một sự kiện pháp lý trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể làm phát sinh sự chuyển dịch quyền sở hữu đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Các hợp đồng : Mua bán, tặng, cho, cho vay … , nếu được xác lập phù hợp với quy định của BLDS thì những người được chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp có quyền sở hữu tài sản đó Những tài sản theo quy định của pháp luật phải đăng ký, sang tên, xin phép thì quyền sở hữu được xác lập từ thời điểm hoàn tất các thủ tục đó Hay là, bằng hợp đồng dân sự hợp pháp mà quyền sở hữu đối với vật của người này chấm dứt nhưng lại làm xuất hiện quyền sở hữu đối với vật của người khác
Do các quy định của pháp luật về dân sự trước đây chưa hoàn thiện và do tính chất phức tạp của các quan hệ tài sản trong đời sống xã hội nên các giao dịch dân sự liên quan đến nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 sẽ được giải quyết theo quy định riêng, là Nghị Quyết của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số
58/1998//NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 (Ngày Pháp lệnh Nhà ở có hiệu lực) Theo quy định của
Trang 4Nghị Quyết số 58 nói trên thì thủ tục chuyển quyền sở hữu trong cách hợp đồng : Mua bán nhà ở, đổi nhà ở và tặng cho nhà ở giữa cá nhân với cá nhân sẽ được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Tương tự với việc nhân tài sản từ di sản thừa kế của người chết theo di chúc hoặc những người được hưởng trong hứa hưởng và thi có giải có quyền sở hữu đối với tài sản đã nhận theo di chúc hoặc tài sản đã nhận thưởng
2.2.2 Xác lập theo quy định của pháp luật
Đây là những sự kiện pháp lý mà theo quy định của BLDS, quyền sở hữu được xác lập bao gồm :
- Điều 222 BLDS 2015 Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Kết quả của lao động sản xuất là sự hoạt động cả con người trong quá trình tác động vào thế giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà trước hết là cho bản thân chủ thể đó Nguồn gốc ban đầu của tài sản là lao động, vì vậy ai
bỏ sức lao động thì có quyền sở hữu đối với những thu nhập có được do lao động hoặc do sản xuất kinh doanh hợp pháp
- Do các sự kiện sáp nhập, trộn lẫn, chế biến là sự hợp nhất tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau Kể từ thời điểm sáp nhập, trộng lẫn, vật mới sẽ là tài sản thuộc sở hữu chung hoặc riêng của các chủ sở hữu đó Những chủ sở hữu phải thanh toán phần giá trị tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 225, Điều 226
BLDS Trong trường hợp chế biến mà người chế biến đã dùng nguyên, vật liệu không thuộc sở hữu của mình nhưng ngay tình thì quyền sở hữu đối với tài sản mới được xác lập khi đã thanh toán giá trị nguyên, vật liệu cho chủ sở hữu nguyên, vật liệu đó
Trang 5- Do các sự kiện không xác định được chủ sở hữu hoặc do bị chôn giấu, đánh rơi, bỏ quên Cơ sở của việc xác lập quyền sở hữu theo những sự kiện trên không phải chỉ đơn giản là các hành vi phát hiện, tìm thấy, nhặt được Pháp luật còn quy định thời hạn tương ứng với mỗi sự kiện và giá trị của tài sản đó mà quyền
sở hữu mới được xác lập
Ví dụ : Đối với tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, phải sau một năm kể từ ngày thông báo công khai về tài sản nhặt được, nếu giá trị bằng hoặc thấp hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định mà không xác định được ai là chủ sở hữu, hoặc chủ sở hữu không đến nhận, thì tài sản đó thuộc sở hữu của người nhặt được Trong trường hợp tìm thấy tài sản bị chôn giấu hoặc bị vùi lấp, bị chìm đắm thì quyền sở hữu được xác lập có thể thuộc nhiều hình thức khác nhau
Theo khoản 2 Điều 229 BLDS :
a) Tài sản được tìm thấy là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì thuộc về Nhà nước, người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
b) Tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy, nếu có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định
và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước
- Các sự kiện gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên Với những sự kiện này, người bắt được ngoài việc thông báo công khai phải
Trang 6sau một thời gian tùy thuộc vào đối tượng thất lạc thì quyền sở hữu mới được xác lập
Ví dụ : Gia súc bị thất lạc thì sau khi thông báo công khai sáu tháng mà không có người đến nhận, thì gia súc đó sẽ thuộc quyền sở hữu của người bắt được Nhưng đối với nơi có tập quán thả rông gia súc thì thời hạn này lại là một năm Đối với gia cầm và vật nuôi dưới nước, thì thời hạn là một tháng kể từ ngày thông báo thất lạc
- Do được thừa kế theo pháp luật Thông qua việc nhận di sản thừa kế theo pháp luật, quyền sở hữu của một người nào đó được xác lập đối với tài sản mà
họ đã nhận từ di sản của người chết
2.2.3 Xác lập theo những căn cứ riêng biệt
Ngoài những căn cứ có tính phổ biến nêu trên, quyền sở hữu còn có thể được xác lập theo những căn cứ riêng khác Có thể là các bản án, quyết định của tòa án, hoặc các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ví dụ : Công nhận quyền sở hữu cúa nhân của mỗi người sau khi chia tài sản
chung hợp nhất của vợ chồng trong các bản án, quyết định ly hôn, các quyết định hóa giá nhà ở của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Quyền sở hữu của một chủ thể còn có thể được xác lập theo thời hiệu khi
có các điều kiện do pháp luật quy định như : Một người chiếm hữu không có căn
cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì người ấy trở thành chủ sở hữu tài sản đó Khi đó, quyền sở hữu sẽ được xác lập và được công nhận kể từ thời điểm người đó bắt đầu chiếm hữu Tuy nhiên, quy định về thời hiệu này không áp dụng nếu BLDS hoặc luật khác có liên quan quy định khác
Trang 7Đối với tài sản bị tịch thu (Điều 244 BLDS), tài sản bị trưng mua (Điều
243 BLDS) về nguyên tắc đây là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với một chủ thể nhất định nhưng đó lại là căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu toàn dân
CHƯƠNG II Sưu tầm bản án và quan điểm cá nhân
2.1 Tóm tắt bản án
Vụ án về “Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản và chia di sản thừa kế theo pháp luật” - Giữa nguyên đơn bà Hồ Thị Ngọc M với bị đơn ông Mai Tấn Đ
và Mai Tấn P
Bà Hồ Thị Ngọc M và ông Mai Đăng D đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 1982, 4 người con gồm : Mai Thị Cẩm N, Mai Thị N, Mai Tấn N, Mai Thị T Trước khi về sống với bà M, ông D có 5 người con với bà Trần Thị H (chết năm 1979) là : Mai Thị H, Mai Tấn P, Mai Tấn Đ, Mai Thị D, Mai Thị T Ngày
31/8/1993 cha mẹ ông D là ông Mai L và bà Trần Thị T lập Biên bản thỏa thuận giao nhà cửa lại cho con, tặng ông D ngôi nhà với quyền sử dụng đất tại số 198 (trước là số 196), đường T1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (thuộc thửa 9, tờ bản đồ
số 25, diện tích đất 213,6m2) Năm 1999 ông D và bà M làm Đơn xin hợp thức hóa giấy tờ mua bán nhà ở xác định nguồn gốc nhà và đất tại số 196, là của ông D và
bà M mua lại của ông Lê N và bà Nguyễn Thị L vào năm 1974, thỏa thuận đề nghị hợp thức hóa giấy tờ mang tên tài sản chung của vợ chồng, được UBND phường A xác nhận Tháng 4/2012 ông D chết không để lại di chúc Tuy nhiên, các con trước của ông D là ông Mai Tấn Đ và Mai Tấn P đã tự ý quyết định tài sản do vợ chồng
bà M tạo lập mà không hỏi ý kiến bà
Bà M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu và sử dụng đất tại căn nhà số 198 trên là tài sản chung của vợ chồng ông Mai Đăng D và
Trang 8bà Hồ Thị Ngọc M và chia thừa kế phần tài sản của ông D theo pháp luật (Với phần tài sản trên đất là ông Đ và ông P xây dựng nên nguyên đơn không yêu cầu chia)
Luật sư Bùi Anh N, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày : Nguyên ngôi nhà số 198 đường T1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam là tài sản của ông Mai L và bà Trần Thị T, mua của ông Lê N và và Trương Thị Q vào năm 1971 Đến năm 1973, hai bên lập hợp đồng theo mẫu và được xã trưởng T xác nhận Sau năm 1975, ông L và bà T về quê sinh sống nên giao ngôi nhà cho ông D
và bà H cùng các con ông D sử dụng Năm 1979 bà H chết, năm 1980 ông D có vợ khác là bà M Ông D và bà M sống được 1 năm thì làm nhà riêng, sau đó bán nhà riêng vào TP HCM sinh sống Ngôi nhà số 198 được anh em ông Đ trực tiếp quản
lý sử dụng và nộp thuế Đến ngày 5/6/1999, ông L và bà T lập giấy chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và đất, giao trọn quyền sử dụng vĩnh viễn cho anh em ông Đ
và ông P mỗi người một nửa Hợp đồng được UBND xã Bình Nam, huyện Thăng Bình chứng thực Anh em ông Đ và P sử dụng và sửa chữa ngôi nhà trên 3 lần vào các năm 1996, 2001 và 2015, nên toàn bộ ngôi nhà của ông L và bà T hiện không còn nữa Khi ông Đ và ông P lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thì bà M là vợ sau của ông D khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế vì cho rằng ngôi nhà nói trên là của ông D
Tại bản án sơ thẩm số 41/2017/DSST ngày 29/5/2017, Tòa xử :
Bác yêu cầu khởi kiện của bà M với ông Đ và ông P về việc “Yêu cầu công nhận quyền sở hữu tài sản và chia di sản thừa kế theo pháp luật”, không công nhận bà M là chủ sở hữu của mảnh đất tranh chấp trên
Trang 9Ngày 8/6/2017, bà M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đề nghị Hội Đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Quyết định của Tòa án : Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Hồ Thị Ngọc M, giữ nguyên nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm
2.2 Những vấn đề pháp lý mà Tòa giải quyết
- Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 204 m2 thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 68 tại số 198 đường T1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam : Do bà M không cung cấp được văn bản thể hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông Lê N và bà Nguyễn Thị L cho chồng bà M là ông Mai Đăng D, nên lời khai của bà M là không có cơ sở
- Về xác định quyền sở hữu đất hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp:
Bà M cung cấp Biên bản thỏa thuận giao nhà cửa cho con của ông Mai L và bà Trần Thị T giao ngôi nhà tại đường T1, thị xã T cho ông Mai Đăng D Nhưng tại lời khai những người con của ông L và bà T có tên trong Biên bản, gồm cả 5 người con riêng của ông D khi lập Biên bản không có mặt ông L và bà T Hai ông bà không biết về việc thỏa thuận giao nhà cửa này của ba anh em ông Mai Văn P, ông Mai Anh Đ và ông Mai Đăng D Tòa án đã tiến hành giám định nhưng không có cơ
sở để kết luận chữ ký trong Biên bản thỏa thuận giao nhà cửa cho con là của ông Mai L và bà Trần Thị T Biên bản được lập ngày 31/8/1993 này không có xác nhận của chính quyền địa phương và chỉ giao quyền sử dụng chứ không giao quyền sở hữu cho các bên Đến ngày 05/6/1999, ông L, bà T lập Giấy chuyển nhượng quyền
sở hữu nhà ở và đất cho hai cháu nội trai ông Mai Tấn Đ và ông Mai Tấn P, có chữ
ký của chủ sử dụng đất ông L bà T và được UBND xã B, huyện T xác nhận chữ ký vào ngày 12/6/1999, nội dung thể hiện: ba người con trai của ông L bà T là Mai
Trang 10Đăng D, Mai Anh Đ, Mai Văn P đã có gia đình và đều ở nhà riêng, vì vậy ông L,
bà T giao trọn quyền sử dụng vĩnh viễn ngôi nhà và đất tại số 196, Đường T, thành phố T cho hai cháu nội Mai Tấn Đ và Mai Tấn P
- Qua xác minh thì diện tích đất tranh chấp hiện nay là diện tích đất ông Mai Đăng D đã kê khai với hồ sơ địa chính với nguồn gốc sử dụng nhà ở, đất ở là chuyển nhượng năm 1974 Mặc dù ông D kê khai vào các năm 1989 và năm 2001 nhưng tại thời điểm đó ông không phải là chủ sử dụng đất hợp pháp Tại Đơn xin hợp thức hóa giấy tờ mua bán nhà ở ngày 07/4/1999 thể hiện nội dung ông Mai Đăng D và bà Hồ Thị Ngọc M xin hợp thức hóa giấy tờ mua bán nhà ở mua lại từ ông Lê N và bà Nguyễn Thị L từ tháng 4/1974 là không phù hợp với các chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án
2.3 Quan điểm cá nhân về những nội dung đã được giải quyết
- Dù bà M cho rằng, diện tích đất tranh chấp là do ông D nhận chuyển
nhượng từ vợ chồng ông Lê N và bà Nguyễn Thị L vào năm 1974, được hợp thức hóa giấy tờ sang tên tài sản chung của vợ chồng ông Mai Đăng D và bà Hồ Thị Ngọc M vào năm 1999 Tuy nhiên, căn cứ Giấy chứng nhận quyền nghiệp chủ của
vợ chồng ông Lê N, bà Trương Thị Q cấp năm 1971, Tờ bán đoạn đất của vợ chồng ông Lê N và bà Trương Thị Q cho vợ chồng ông Mai L và bà Trần Thị T vào ngày 15/4/1973 có thị nhận của Xã trưởng xã T, quận T, tỉnh Quảng Tín (nay
là thành phố T, tỉnh Quảng Nam) Hơn nữa, bà M không cung cấp được văn bản thể hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông Lê N và bà
Nguyễn Thị L cho chồng bà là ông D
Theo BLDS 2015, “Khoản 2 Điều 221 : Căn cứ xác lập quyền sở hữu
Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.”