Văn bản pháp luật về an toàn bức xạ, hạt nhân là phương tiện thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử; là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1PHỔ BIẾN VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Văn bản pháp luật về an toàn bức xạ, hạt nhân là
phương tiện thể chế hoá quan điểm, đường lối,
chính sách của Đảng về phát triển và ứng dụng năng
lượng nguyên tử; là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng
cường tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước Bộ
Khoa học và Công nghệ là cơ quan thực hiện chức năng
quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này Trong 6 tháng
đầu năm 2016, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã
ký ban hành 4 Thông tư như sau:
(1) Thông tư số 02/2016/TT-BKHCN ngày 25 tháng 3
năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với thiết bị
chụp cắt lớp vi tính dùng trong y tế
(2) Thông tư số 04/2016/TT-BKHCN ngày 04 tháng 4
năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
quy định về thẩm định báo cáo đánh giá an toàn bức xạ
trong hoạt động thăm dò, khai thác quặng phóng xạ
(3) Thông tư số 06/2016/TT-BKHCN ngày 22 tháng
4 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
quy định về việc cấp Giấy đăng ký và cấp Chứng chỉ
hành nghề đối với một số hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng
dụng năng lượng nguyên tử
(4) Thông tư số 10/2016/TT-BKHCN ngày 13 tháng 6
năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN BỨC XẠ, HẠT NHÂN
BAN HÀNH TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2016
Nội dung cơ bản của Thông tư gồm 2 phần, đó là phần Thông tư và phần Quy chuẩn kỹ thuật ban hành kèm theo Trong đó, nội dung chủ yếu tập trung tại phần Quy chuẩn
kỹ thuật quy định về các yêu cầu đối với hoạt động kiểm định, tiêu chí chấp nhận cho kiểm định thiết bị chụp cắt lớp vi tính; điều kiện sử dụng thiết bị chụp cắt lớp vi tính dùng trong y tế Tại phụ lục của kèm theo quy chuẩn quy định các phép kiểm tra, dụng cụ đo kiểm tra và quy trình
đo kiểm tra, phương pháp đánh giá kết quả
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2016 Kể từ thời điểm Thông tư này có hiệu lực, các quy định tại Quyết định số 32/2007/QĐ-BKHCN ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ không áp dụng cho việc kiểm định thiết bị chụp cắt lớp vi tính dùng trong y tế
2 Thông tư số 04/2016/TT-BKHCN ngày 04 tháng 4 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về thẩm định báo cáo đánh giá
an toàn bức xạ trong hoạt động thăm dò, khai thác quặng phóng xạ.
Điều 58 Luật năng lượng nguyên tử năm 2008 (NLNT) quy định cơ sở thăm dò, khai thác quặng phóng xạ phải lập báo cáo đánh giá an toàn bức xạ trình cơ quan an toàn bức
xạ và hạt nhân thẩm định Điểm c Khoản 1 Điều 77 của Luật này cũng quy định, Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép thăm dò, khai thác trên cơ sở kết quả thẩm định
an toàn của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân
Trang 2PHỔ BIẾN VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
kèm theo quy định về mẫu biểu đề nghị thẩm định và
mẫu báo cáo đánh giá an toàn đối với từng loại hình cơ sở
Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6
năm 2016
3 Thông tư số 06/2016/TT-BKHCN ngày 22
tháng 4 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ quy định về việc cấp Giấy đăng ký và
cấp Chứng chỉ hành nghề đối với một số hoạt động
dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Ngày 22 tháng 4 năm 2016Bộ trưởng Bộ Khoa học
và Công nghệ ký ban hành Thông tư số 06/2016/
TT-BKHCN quy định về việc cấp Giấy đăng ký và cấp
Chứng chỉ hành nghề đối với một số hoạt động dịch vụ
hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử và có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 20 tháng 6 năm 2016 Thông tư ban
hành nhằm hướng dẫn thực hiện quy định tại các Điều
68, 69 và 70 của Luật NLNT
Nội dung Thông tư quy định về việc cấp Giấy đăng ký,
Chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng
lượng nguyên tử gồm 3 chương, 21 Điều và 03 Phụ lục
kèm theo
Theo quy định của Thông tư, tổ chức, cá nhân thực hiện
hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên
tử với các loại hình dịch vụ quy định tại Điều 68 của Luật
NLNT phải có giấy đăng ký và Chứng chỉ hành nghề
dịch vụ Trong đó quy định rõ thời hạn của Giấy đăng ký
là 03 năm, Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đối với cá nhân
không quy định thời hạn
Thông tư cũng đã quy định rõ và đầy đủ yêu cầu về hồ
sơ, trình tự,thủ tục đề nghị cấp, gia hạn, sửa đổi, cấp lại
Giấy đăng ký và Chứng chỉ hành nghề được quy định tại
Chương II của Thông tư, kèm theo là các Biểu mẫu của
các phụ lục kèm theo Thông tư
Để bảo đảm thực hiện đúng yêu cầu trong kiểm soát hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên
tử, Thông tư đã quy định rõ trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân đề nghị cấp Giấy đăng ký, cấp chứng chỉ; trách nhiệm của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân
4 Thông tư số 10/2016/TT-BKHCN ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định nội dung Báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ cấp phép xây dựng Nhà máy điện hạt nhân.
Thông tư số 10/2016/TT-BKHCN được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện quy định của Nghị định số 70/2010/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật năng lượng nguyên tử về nhà máy điện hạt nhân Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2016
Nội dung Thông tư gồm 06 điều và 01 phụ lục kèm theo
Từ điều 1 đến điều 3 quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và giải thích từ ngữ Điều 5 và Điều 6 quy định nội dung Báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ
đề nghị cấp phép xây dựng nhà máy điện hạt nhânvà hồ
sơ, trình tự, thủ tục thẩm định Báo cáo Nội dung trọng tâm của Thông tư được quy định tại Phụ lục, trong đó quy định Báo cáo phân tích an toàn Hồ sơ, trình tự, thủ tục thẩm định các yêu cầu về đánh giá địa điểm, các khía cạnh thiết kế chung; mô tả các hệ thống chính của nhà máy điện hạt nhân; phân tích an toàn; chương trình hiệu chỉnh và vận hành thử; các khía cạnh vận hành; các điều kiện và giới hạn vận hành; bảo vệ bức xạ; ứng phó sự cố; các khía cạnh môi trường; quản lý chất thải phóng xạ; tháo dỡ và các vấn đề kết thúc vận hành./
ThS Nguyễn Thị Hoàn Tổng hợp
Trang 3PHỔ BIẾN VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CÁC TÀI LIỆU HƯớNG dẫN PHÁP QUY CỦA IAEA MớI BAN HÀNH TRONG NĂM 2016
An toàn bức xạ đối với các sản phẩm tiêu dùng
(Radiation Safety for Consumer Products, IAEA Safety
Standards Series No SSG-36)
Trong các tiêu chuẩn an toàn của IAEA, “sản phẩm
tiêu dùng” được đinh nghĩa là một thiết bị hoặc
một mặt hàng được sản xuất với việc đưa vào trong
thành phần của chúng một cách có chủ định các hạt
nhân phóng xạ hoặc được sản xuất bằng cách kích hoạt
hoặc chúng phát ra bức xạ ion hóa Các sản phẩm này
có thể được bán hoặc được lưu hành trong công chúng
không cần sự giám sát đặc biệt hay kiểm soát pháp quy
nào sau khi bán Có nhiều sản phẩm như vậy, như đá quý
chiếu xạ, được bán trong các trung tâm thương mại và
trên Internet Hướng dẫn an toàn này đưa ra phương
pháp quản lý để cho phép sản xuất và cung cấp các sản
phẩm đó tới người dân, bao gồm việc luận chứng, đánh
giá an toàn và áp dụng tiêu chuẩn miễn trừ Hướng dẫn
cũng sẽ giúp các nhà sản xuất, các công ty vận chuyển
và các nhà cung cấp để tuân thủ các quy định pháp quy
trong suốt vòng đời của sản phẩm, bao gồm cả tái chế và
thải bỏ khi kết thúcđời sống hữu ích của nó
Thiết kế hệ thống điện cho nhà máy điện hạt nhân
(Design of Electrical Power Systems for Nuclear Power
Plants, IAEA Safety Standards Series No SSG-34)
Hướng dẫn an toàn này đưa ra các khuyến cáo về các
đặc trưng kỹ thuật cần thiết của các hệ thống điện
và No NS-G-1.3 Phần sửa đổi đã xem xét đến việc phát triển của hệ thống I&C kể từ khi ban hành các Hướng dẫn an toàn trước đây Các thay đổi chính liên quan đến
sự phát triển liên tục của các ứng dụng máy tính và sự phát triển của các phương pháp cần thiết cho việc sử dụng thực hành, an toàn và an ninh của chúng Bên cạnh
đó, các phát triển về kỹ thuật liên quan đến yếu tố con người và các yêu cầu về đảm bảo an ninh máy tính cũng
đã được xem xét Tiêu chuẩn hướng dẫn an toàn này cũng đã tham khảo các Tiêu chuẩn an toàn khác và các
ấn phẩm về An ninh hạt nhân của IAEA đối với các nội dung hướng dẫn liên quan đến thiết kế I&C
Quản lý trước khi xử lý chất thải phóng xạ từ các NMĐHN và các lò phản ứng nghiên cứu
(Predisposal Management of Radioactive Waste from Nuclear Power Plants and Research Reactors, IAEA Safety Standards Series No SSG-40)
Hướng dẫn an toàn này cung cấp cho các tổ chức
vận hành phát sinh và quản lý chất thải phóng xạ cũng như cơ quan pháp quy và các cơ quan chính phủ các khuyến cáo làm thế nào để đáp ứng các yêu cầu về quản lý trước khi thải bỏ chất thải phóng xạ sinh ra từ các NMĐHN và các lò phản ứng nghiên cứu (bao gồm
cả các bó nhiên liệu dưới tới hạn và tới hạn) Tài liệu cũng đề cập tất cả các giai đoạn trong vòng đời của cơ
sở quản lý chất thải, bao gồm lựa chọn địa điểm, thiết
Trang 4TRANG ĐỊA PHƯƠNG
CÔNG TÁC QUẢN Lý AN TOÀN BỨC XẠ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế,
tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt
nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong
ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước Trong thời
gian qua cùng với sự phát triển của Thành phố, các kỹ
thuật bức xạ ngày càng được ứng dụng rộng rãi và phổ
biến trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, y tế, nông
nghiệp, nghiên cứu, đào tạo Các thiết bị bức xạ tiên tiến
và nguồn phóng xạ đã góp phần tăng năng suất, chất
lượng sản phẩm; nâng cao năng lực chẩn đoán và điều
trị bệnh, phục vụ có hiệu quả cho người dân;đồng thời,
những yêu cầu về quản lý nhà nước về an toàn và an ninh
nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ cũng được đặt ra ngày
càng cao nhằm đảm bảo an toàn bức xạ cho con người và
môi trường xung quanh
Đây cũng là địa phương có số lượng thiết bị X-quang y
tế nhiều nhất trong cả nước và là một trong những địa
phương có số lượng nguồn phóng xạ được sử dụng nhiều
nhất Theo thống kê, thành phố hiện có khoảng 650 cơ
sở sử dụng hơn 1.350 thiết bị X-quang chẩn đoán y tế
và 83 cơ sở bức xạ, sử dụng và lưu giữ 489 nguồn phóng
xạ, tập trung vào các lĩnh vực xạ trị, y học hạt nhân, dầu
khí, chụp ảnh phóng xạ công nghiệp và đo đạc trong xây
dựng
Sau 11 năm hoạt động (2005-2015), công tác quản lý nhà nước về ATBX tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả đánh ghi nhận: từ năm 2006 Sở Khoa học và Công nghệ đã thực hiện quy trình cấp phép theo tiêu chuẩn ISO nên thời gian cấp phép chỉ còn từ 5-7 ngày làm việc, nhanh hơn so với thời gian quy định giúp giảm bớt thời gian đi lại, đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính Số cơ sở y tế đã có Giấy phép tiến hành công việc bức xạ đạt 94,8%
Về thực thi các quy định bảo đảm an toàn bức xạ:
Kiểm định thiết bị: 100% các cơ sở khi cấp phép lần
đầu đều có kiểm định thiết bị, tuy nhiên chỉ có khoảng 80% cơ sở thực hiện kiểm định định kỳ theo quy định;
Diện tích phòng đặt thiết bị: 20% đạt tiêu chuẩn,
còn 80% không đạt (thường có diện tích nhỏ hơn quy định);
Giới hạn liều chiếu tại vị trí nhân viên kỹ thuật, vị
trí ngồi chờ của bệnh nhân, khu vực công chúng qua lại:
100% đạt yêu cầu (có một số cơ sở đã phải sửa chữa sau thẩm định để bảo đảm an toàn bức xạ theo tiêu chuẩn môi trường);
Hình 2: Thống kê số lượng nguồn phóng xạ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Quy trình vận hành thiết bị, Nội quy an toàn, …: đạt
90% (10% các cơ sở Nha khoa thường thiếu quy trình vận hành, do bộ phận điều khiển chỉ là một phím bấm);
Đèn, biển cảnh báo: 90% đạt yêu cầu (10% các cơ sở
Nha khoa thường không có đèn cảnh báo, chỉ dán tín hiệu cảnh báo);
Trang bị áo chì bảo vệ, liều kế cá nhân: 85% cơ sở được
trang bị (15% các cơ sở là Phòng X-quang tư nhân và Nha khoa thiếu sử dụng loại trang thiết bị này);
Thực hiện các quy định khác như: chỉ có 1% thực hiện
khai báo, 10% thực hiện đánh giá ATBX và báo cáo định
kỳ hàng năm, 29% lập hồ sơ theo dõi sức khỏe NVBX, 27% lập sổ theo dõi vận hành thiết bị.
Qua khảo sát và đánh giá thực tế cho thấy ưu điểm công tác quản lý hiện nay có sự đóng góp rất lớn của các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này, các văn bản hiện khá đầy đủ, do đó việc chấp hành các quy định về
an toàn bức xạ của các cơ sở y tế đã triệt để hơn những năm trước đây, nhất là các yêu cầu về an toàn bức xạ trong y học hạt nhân tại một số bệnh viện lớn tại thành phố Mặc dù là một trong những địa phương có số lượng nguồn bức xạ nhiều nhất, kể cả số lượng cơ sở có nguồn phóng xạ; và là nơi trung chuyển các nguồn bức xạ đi
Hình 4: Các nguồn phóng xạ đã phát hiện và xử lý trong các sự cố bức xạ Hình 3: Kiểm tra ATBX tại cơ sở y tế
Hình 1: Phân bố thiết bị X-quang theo loại hình họat động của cơ sở
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5TRANG ĐỊA PHƯƠNG
Sau 11 năm hoạt động (2005-2015), công tác quản lý
nhà nước về ATBX tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt
được những kết quả đánh ghi nhận: từ năm 2006 Sở
Khoa học và Công nghệ đã thực hiện quy trình cấp phép
theo tiêu chuẩn ISO nên thời gian cấp phép chỉ còn từ
5-7 ngày làm việc, nhanh hơn so với thời gian quy định
giúp giảm bớt thời gian đi lại, đáp ứng được yêu cầu cải
cách hành chính Số cơ sở y tế đã có Giấy phép tiến hành
công việc bức xạ đạt 94,8%
Về thực thi các quy định bảo đảm an toàn bức xạ:
Kiểm định thiết bị: 100% các cơ sở khi cấp phép lần
đầu đều có kiểm định thiết bị, tuy nhiên chỉ có khoảng
80% cơ sở thực hiện kiểm định định kỳ theo quy định;
Diện tích phòng đặt thiết bị: 20% đạt tiêu chuẩn,
còn 80% không đạt (thường có diện tích nhỏ hơn quy
định);
Giới hạn liều chiếu tại vị trí nhân viên kỹ thuật, vị
trí ngồi chờ của bệnh nhân, khu vực công chúng qua lại:
100% đạt yêu cầu (có một số cơ sở đã phải sửa chữa sau
thẩm định để bảo đảm an toàn bức xạ theo tiêu chuẩn môi
trường);
Hình 2: Thống kê số lượng nguồn phóng xạ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Quy trình vận hành thiết bị, Nội quy an toàn, …: đạt
90% (10% các cơ sở Nha khoa thường thiếu quy trình vận hành, do bộ phận điều khiển chỉ là một phím bấm);
Đèn, biển cảnh báo: 90% đạt yêu cầu (10% các cơ sở
Nha khoa thường không có đèn cảnh báo, chỉ dán tín hiệu cảnh báo);
Trang bị áo chì bảo vệ, liều kế cá nhân: 85% cơ sở được
trang bị (15% các cơ sở là Phòng X-quang tư nhân và Nha khoa thiếu sử dụng loại trang thiết bị này);
Thực hiện các quy định khác như: chỉ có 1% thực hiện
khai báo, 10% thực hiện đánh giá ATBX và báo cáo định
kỳ hàng năm, 29% lập hồ sơ theo dõi sức khỏe NVBX, 27% lập sổ theo dõi vận hành thiết bị.
Qua khảo sát và đánh giá thực tế cho thấy ưu điểm công tác quản lý hiện nay có sự đóng góp rất lớn của các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này, các văn bản hiện khá đầy đủ, do đó việc chấp hành các quy định về
an toàn bức xạ của các cơ sở y tế đã triệt để hơn những năm trước đây, nhất là các yêu cầu về an toàn bức xạ trong y học hạt nhân tại một số bệnh viện lớn tại thành phố Mặc dù là một trong những địa phương có số lượng
một số tỉnh khác Tuy nhiên, tính đến nay các sự cố xảy
ra trên địa bàn vào năm 2013-2014 đều đã được ứng phó kịp thời, chưa gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng, an toàn và an ninh xã hội Ngoài ra việc chấp hành các quy định về an toàn bức xạ đã được thực hiện ng-hiêm túc hơn, nhân viên bức xạ thường xuyên được cập nhật các văn bản pháp luật mới có liên quan, bên cạnh
đó nhiều cơ sở đã đầu tư đổi mới thiết bị X-quang chẩn đoán thế hệ mới, thay thế các thiết bị cũ bằng các thiết
bị chụp X-quang kỹ thuật số hiện đại hơn qua đó góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán bệnh, an toàn cho môi trường và cộng đồng Vấn đề an ninh nguồn phóng
xạ và ứng phó sự cố được quan tâm nhiều hơn, đã nâng cao ý thức chấp hành các quy định pháp luật của các cơ
sở bức xạ trong việc lưu giữ, sử dụng, vận chuyển, nhập khẩu các nguồn phóng xạ
Một số hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý an toàn bức xạ như:
- Một số văn bản có nội dung chưa thống nhất;
- Công tác thống kê chất thải phóng xạ đã được triển
Trang 6TRANG ĐỊA PHƯƠNG
- Chưa có quy định của ngành y tế về việc giới hạn
chỉ định chụp X-quang dẫn đến lạm dụng chụp
X-quang và CT cho bệnh nhân đang xảy ra tại một
số bệnh viện, điều này có thể vô tình mang lại các rủi
ro về bức xạ cho bệnh nhân;
- Việc tuân thủ một số quy định về an toàn bức xạ
cụ thể là che chắn các bộ phận nhạy cảm với bức xạ
cho bệnh nhân trong quá trình chụp chưa được thực
hiện một cách nghiêm túc, 98% các cơ sở không
thực hiện việc che chắn cho bệnh nhân
- Các quy định về an toàn bức xạ trong công nghiệp
và một số lĩnh vực khác chưa được cụ thể và đầy đủ
Để giải quyết tình trạng trên Sở Khoa học và Công nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh (Sở KH&CN) đã đề ra một số
giải pháp như:
- Đôn đốc, nhắc nhở bằng văn bản để các đơn vị thực
hiện tốt công tác báo cáo định kỳ hàng năm về thực
trạng an toàn bức xạ tại đơn vị;
- Phối hợp với Sở Y tế, Cục An toàn bức xạ và hạt
nhân rà soát danh sách của các cơ sở bức xạ trên địa
bàn thành phố;
Hình 5: Cho nhiều người vào phòng X-quang,
không che chắn các cơ quan nhạy cảm với bức
xạ cho bệnh nhân và người thân
- Tổ chức kiểm tra các cơ sở bức xạ để nắm bắt tình hình thực tế tại các cơ sở bức xạ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
- Giải đáp thắc mắc liên quan đến văn bản pháp luật, quy định về cấp phép, hướng dẫn thực hiện các quy định về an toàn bức xạ thông qua điện thoại, email, trang web Sở KH&CN
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến các kiến thức về an toàn bức xạ cho người dân tại các quận, huyện để ghi nhận những ý kiến đóng góp và
đề xuất của người dân hoặc hướng dẫn người dân một số biện pháp về an toàn khi đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế
- Đối với công tác ứng phó sự cố, Sở KH&CN cũng
đã liên thông với số điện thoại khẩn cấp 114 để tiếp nhận các thông báo của người dân liên quan đến nguồn phóng xạ Trong năm 2015, để tăng cường năng lực và cơ sở vật chất cho đội ngũ quản lý an toàn bức xạ, Sở KH&CN đã cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn về ứng phó sự cố bức xạ, an toàn
và an ninh nguồn phóng xạ đồng thời trang bị thêm
02 thiết bị quét quang phổ Atomtex phục vụ công tác rà tìm và phát hiện nguồn phóng xạ Hiện tại Sở KH&CN đang phối hợp với các chuyên gia và đơn vị chuyên môn triển khai việc rà soát các nguồn phóng
xạ vô chủ tại các cơ sở phế liệu trên địa bàn thành phố nhằm tăng cường kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn của nguồn phóng xạ vô chủ
Công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ là hoạt động mang tính trách nhiệm cộng đồng cao nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, người bệnh trong khám chữa bệnh cũng như bảo vệ môi trường khỏi các tác động có hại từ bức xạ ion hóa Việc sử dụng kỹ thuật hạt nhân
và bức xạ ion hóa trong cuộc sống chỉ thực sự là vấn đề nhân đạo khi chúng ta quan tâm đầy đủ đến công tác đảm bảo an toàn./
Trang 8RESPONSE