1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác dụng sinh học và bước đầu tìm hiểu cơ chế hóa sinh của rau má ( centella asiatica) trên mô hình chuột nhắt mất tế bào thần kinh bởi trimethyltin

59 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết cồn Rau má trên mô hình chuột bị mất tế bào thần kinh bởi trimethyltin.. Một số nghiên cứu trước đây chứng minh Rau má có nhi

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRẦN THỊ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG SINH HỌC

VÀ BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CƠ CHẾ

HÓA SINH CỦA RAU MÁ (Centella

asiatica) TRÊN MÔ HÌNH CHUỘT

NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN KINH BỞI

TRIMETHYLTIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

TRẦN THỊ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG SINH HỌC

VÀ BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CƠ CHẾ

HÓA SINH CỦA RAU MÁ (Centella

asiatica) TRÊN MÔ HÌNH CHUỘT

NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN KINH BỞI

1 Bộ môn Hóa sinh

2 Viện Dược liệu

MÃ SINH VIÊN: 1501403

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Thị Nguyệt Hằng- Trưởng khoa Dược lý- Hóa sinh, Viện dược liệu là người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Tiếp đến, em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Lập- Bộ môn Hóa sinh, Trường Đại học Dược Hà Nội Cô là người đã nhận em vào bộ môn và tạo điều kiện tốt nhất để em tiến hành và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị tại khoa Dược lý- Hóa sinh, Viện Dược liệu đã giúp đỡ, hướng dẫn em cũng như tạo điều kiện tốt nhất để em

có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tại khoa

Nhân dịp này, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo tại Trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Cuối cùng, em xin bày tỏ sự yêu thương và biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn bên em, động viên và ủng hộ em, là chỗ dựa vững chắc tinh thần cho em khi em gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống

Do thời gian thực nghiệm và kiến thức của bản thân có hạn, khóa luận này còn có nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của các thầy cô, bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Sinh viên

Trần Thị Phương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về suy giảm trí nhớ 3

1.1.1 Sơ lược về suy giảm trí nhớ 3

1.1.2 Dịch tễ học 3

1.1.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 4

1.1.4 Thuốc điều trị 9

1.1.5 Một số mô hình suy giảm trí nhớ trên thực nghiệm 10

1.1.6 Phương pháp nhuộm Nissl 12

1.2 Tổng quan về dược liệu nghiên cứu: Rau má (Centella asiatica (L.) Urb.) 13

1.2.1 Tên gọi 13

1.2.2 Đặc điểm thực vật, phân bố 13

1.2.3 Bộ phận dùng làm thuốc 13

1.2.4 Thành phần hóa học 14

1.2.5 Tác dụng dược lý 14

1.2.6 Tính vị, công năng 16

1.2.7 Một số bài thuốc cổ truyền có Rau má 17

1.2.8 Một số nghiên cứu về mỗi liên quan giữa Rau má với suy giảm trí nhớ 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Nguyên liệu và thiết bị 20

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2 Động vật thí nghiệm 20

Trang 5

2.1.3 Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm 20

2.2 Nội dung nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23 2.3.1 Nghiên cứu tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết cồn Rau má trên

mô hình chuột bị mất tế bào thần kinh bởi trimethyltin 23 2.3.2 Phương pháp nhuộm Nissl- nhuộm hóa mô để tìm hiểu cơ chế hóa sinh bảo vệ

tế bào thần kinh của cao chiết cồn Rau má 24

2.4 Phân tích số liệu 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết cồn Rau má trên mô hình chuột bị mất tế bào thần kinh bởi trimethyltin 27 3.1.1 Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao chiết cồn Rau má bằng mô hình thử nghiệm thay đổi vị trí đồ vật (OLT) 27 3.1.2 Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao chiết cồn Rau má bằng mô hình

mê lộ chữ Y cải tiến (Y-maze) 29

3.2 Tìm hiểu cơ chế hóa sinh bảo vệ tế bào thần kinh của cao chiết cồn Rau má bằng phương pháp nhuộm Nissl 30

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 36

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

Trang 6

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

AchE Acetylcholinesterase Acetylcholinesterase

ADDLs Aβ-derived oligomers Các oligomer có nguồn

gốc βAP AICD APP-intracellular domain Phần APP trong tế bào

APP Amyloid Precursor Protein Protein tiền chất amyloid CAE Centella asiatica Extract Cao chiết cồn Rau má CTF C- terminal fragment Đoạn cuối C (trong phân

tử APP)

DLB Dementia Lewis body Suy giảm trí nhớ thể

Lewy HPA Hypothalamus - Pituitary -

Adrenal

Trục tuyến yên- dưới đồi-

thượng thận

đồ vật PBS Phosphate Suffer Saline Dung dịch đệm phosphat

Trang 7

RM150 Chuột được gây mô hình

bởi TMT và được dùng cao chiết cồn Rau má liều

150 mg/kg thể trọng

bởi TMT và được dùng cao chiết cồn Rau má liều

300 mg/kg thể trọng ROS Reactive oxygen species Các phần tử oxy hoạt

động SEM Standard Error of the Mean Sai số chuẩn

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Hóa chất 20 Bảng 2.2: Trang thiết bị 21

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Sơ đồ phân tử APP và quá trình gây AD [17] 7

Hình 1.2: Cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urb.) 13

Hình 2.1:Sơ đồ tiến hành thực nghiệm theo thời gian ……… 22

Hình 2.2: Mô hình thử nghiệm thay đổi vị trí đồ vật (OLT) 23

Hình 2.3: Sơ đồ tiến hành thử nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến (Y-maze) 24

Hình 3.1: Kết quả thử nghiệm thay đổi đồ vật (OLT) của chuột suy giảm trí nhớ gây bởi TMT ở ngày thứ 32 ……… 28

Hình 3.2: Kết quả pha kiểm tra thử nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến ở chuột suy giảm trí nhớ gây bởi TMT ở ngày thứ 35 29

Hình 3.3: Hình ảnh mô học hồi hải mã chuột sau khi nhuộm Nissl được chụp ở vật kính 4x 31

Hình 3.4: Hình ảnh mô học vùng CA3 hồi hải mã chuột sau khi nhuộm Nissl được chụp ở vật kính 20x 32

Hình 3.5: Hình ảnh mô học vùng CA1 hồi hải mã chuột sau khi nhuộm Nissl được chụp ở vật kính 20x 33

Hình 3.6: Kết quả phân tích mật độ điểm sáng vùng CA3 hồi hải mã của não chuột sau khi được nhuộm Nissl 34

Hình 3.7: Kết quả phân tích mật độ điểm sáng vùng CA1 hồi hải mã của não chuột sau khi được nhuộm Nissl 35

Trang 10

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy giảm trí nhớ là một hội chứng ảnh hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ, hành vi và khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày Chứng mất trí nhớ không chỉ ảnh hưởng đối với những người có nó mà còn đối với những người chăm sóc và gia đình của họ [59] Chứng sa sút trí tuệ phổ biến nhất là bệnh Alzheimer (AD) thường có tính chất mạn tính, tiến triển dần dần, thưởng trở nên tồi tệ sau một vài năm Theo số liệu thống kê năm

2012, số người mắc chứng mất trí nhớ trên toàn thế giới hiện ước tính khoảng 35,6 triệu Con số này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 và nhiều hơn gấp ba vào năm 2050 Tại Việt Nam, năm 2017, mất trí nhớ là nguyên nhân thứ 5 gây tử vong [49] Việc điều trị có ảnh hưởng về kinh tế và xã hội liên quan đến chi phí điều trị, chi phí chăm sóc, chi phí xã hội Hiện nay, các thuốc điều trị đa số là các tân dược và có nhiều tác dụng không mong muốn Do đó việc nghiên cứu và phát triển các loại thuốc mới không chỉ có hiệu quả trong việc ngăn chặn và điều trị sa sút trí tuệ mà còn có thể sử dụng lâu dài mà có ít tác dụng không mong muốn là cần thiết

Hiện nay, xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu tăng cao, trong đó việc sử dụng các sản phẩm hỗ trợ điều trị và điều trị cho các bệnh thần kinh là không ngoại lệ Một số dược liệu đã và đang được nghiên cứu hỗ trợ điều trị suy giảm trí nhớ như bạch quả, hoàng liên, nhân sâm [41, 57, 58] Rau má là một thảo dược phổ biến, dễ tìm và được áp dụng nhiều trong các bài thuốc y học cổ truyền với nhiều tác dụng khác nhau

Một số nghiên cứu trước đây chứng minh Rau má có nhiều tác dụng trên hệ thần kinh, như là khả năng trong điều trị trầm cảm, động kinh cũng như cải thiện tình trạng thiếu hụt học tập, suy giảm trí nhớ Trong hệ thống y học Hindu truyền thống của Ấn

Độ (Ayurveda), rau má là một trong những thảo dược chính giúp hồi sinh các dây thần kinh và tế bào não [25] Tuy nhiên, cho đến nay, những nghiên cứu của nước ta về lợi ích tiềm năng của rau má thu hái tại Việt Nam trên hệ thần kinh cụ thể là về suy giảm trí nhớ còn hạn chế

Nhận thấy được tiềm năng của rau má trên hệ thần kinh, nghiên cứu được thực hiện nhằm hai mục tiêu cụ thể:

Trang 11

1 Đánh giá được tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết cồn Rau má trên

mô hình chuột nhắt bị mất tế bào thần kinh do Trimethyltin gây ra thông qua thử nghiệm thay đổi vị trí đồ vật, thử nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến

2 Bước đầu tìm hiểu được cơ chế hóa sinh của cao chiết cồn Rau má trên mô hình chuột nhắt bị mất tế bào thần kinh do Trimethyltin gây ra thông qua phương pháp nhuộm Nissl

Trang 12

3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về suy giảm trí nhớ

1.1.1 Sơ lược về suy giảm trí nhớ

Suy giảm trí nhớ đã được đề cập trong văn bản y tế từ rất xưa và dấu hiệu sớm nhất

về suy giảm trí nhớ là của nhà Triết học Hy Lạp Pythagoras, sau đó cũng được đề cập trong các văn bản y học Trung Quốc Tuy nhiên trong thời kỳ đầu chưa thấy sự khác biệt trong quan điểm về sa sút trí tuệ do tuổi già hay thoái hóa thần kinh Đến năm 1907, bệnh Alzheimer (AD) đã được mô tả bởi bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức- Alois Alzheimer

Suy giảm trí nhớ là một hội chứng- thường có tính chất mãn tính hoặc tiến triển- trong đó có sự suy giảm chức năng nhận thức (tức là khả năng xử lý suy nghĩ) mạnh mẽ hơn sự lão hóa thông thường Nó ảnh hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ, định hướng, hiểu, tính toán, năng lực học tập, ngôn ngữ và phán đoán Ý thức không bị ảnh hưởng Sự suy yếu trong chức năng nhận thức thường đi kèm, và đôi khi xảy ra trước đó, do sự suy giảm trong kiểm soát cảm xúc, hành vi xã hội hoặc động lực Sa sút trí tuệ là kết quả của một loạt các bệnh và chấn thương, do ảnh hưởng đến não là chủ yếu hoặc thứ yếu, chẳng hạn như bệnh Alzheimer hoặc đột quỵ [60]

Các loại phổ biến của suy giảm trí nhớ bao gồm Alzheimer, suy giảm trí nhớ mạch máu, suy giảm trí nhớ thể Lewy, suy giảm trí nhớ hỗn hợp Ngoài ra còn có một số thể như suy giảm trí nhớ thể trước trán, suy giảm trí nhớ bệnh parkinson, Ranh giới giữa các loại là không rõ ràng và bệnh thường tồn tại dạng hỗn hợp [31, 57]

1.1.2 Dịch tễ học

Năm 2015, trên thế giới có khoảng 46,8 triệu người mắc chứng mất trí nhớ Trong

đó, AD là nguyên nhân phổ biến nhất và chiếm khoảng 60-70% các trường hợp Suy giảm trí nhớ cần điều trị kéo dài, vì vậy, chi phí chăm sóc, chữa bệnh cũng là gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình và xã hội Theo báo cáo năm 2015, chi phí điều trị suy giảm trí nhớ trên toàn thế giới tăng từ 604 tỷ đô la Mỹ năm 2010 lên 818 tỷ đô la Mỹ vào năm

2015 tương đương khoảng 1,01% GDP toàn cầu [29]

Một nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc suy giảm trí nhớ tăng theo tuổi tuy nhiên chưa phát hiện ra ngưỡng tuổi nào là bắt đầu cho tình trạng này Một số bằng chứng cho

Trang 13

thấy, chứng mất trí nhớ có thể phát triển ở độ tuổi 80-84 và với những người nhiều tuổi hơn mà chưa bị tác động bởi bệnh này thì có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn Nữ giới có tỷ

lệ mắc suy giảm trí nhớ cao hơn so với nam giới, điều này có thể quy cho tuổi thọ trung bình kéo dài hơn và tỷ lệ mắc bệnh là cao hơn

1.1.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

1.1.3.1 Yếu tố về di truyền

 Bệnh Alzheimer

Các yếu tố di truyền có mối liên kết với cả AD khởi phát sớm và khởi phát muộn Các dạng AD do di truyền chỉ chiếm ít hơn 1% các trường hợp Hơn một nửa các trường hợp AD khởi phát sớm do di truyền có thể được quy cho sự thay đổi trên nhiễm sắc thể

1, 14 hoặc 21 trong đó đa số các trường hợp do đột biến một gen sản xuất presenilin 1 trên nhiễm sắc thể 14 Ngoài ra còn có presenilin 2 có cấu trúc tương tự presenilin 1 được sản xuất bởi gen trên nhiễm sắc thể số 1 Cả 2 gen này đều mã hóa cho protein màng tế bào tham gia quá trình hình thành protein tiền chất amyloid (APP) [31] Với các trường hợp Alzheimer khởi phát muộn chủ yếu liên quan đến Apolipoprotein E (ApoE) Có 3 loại ApoE là ApoE2, ApoE3, ApoE4 trong đó ApoE4 đóng vai trò nhiều trong Alzheimer khởi phát muộn thông qua kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác như bất thường ty lạp thể, rối loạn chức năng thành tế bào và tiêu thụ glucose kém [2, 17, 31]

 Bệnh suy giảm trí nhớ mạch máu (VaD)

Bệnh suy giảm trí nhớ mạch máu có nguồn gốc từ các bệnh về mạch máu, vì vậy, những gen ảnh hưởng đến một số bệnh mạch máu sẽ có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc VaD như đột biến gen Notch 3 liên kết với nhiễm sắc thể 19, đột biến gen cystatin C (CST3) hay đột biến APP Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng vẫn chưa được xác định [57]

 Bệnh suy giảm trí nhớ trước trán (FTD)

Giả thuyết đầu tiên liên quan đến gen ảnh hưởng đến suy giảm trí nhớ trước trán

và suy giảm trí nhớ Parkinson là do đột biến nhiễm sắc thể 17 (FTD-17) Hơn nữa, sự đột biến nhiễm sắc thể này còn liên quan đến gen mã hóa cho vi ống liên quan đến protein Tau Sự đột biến này có thể dẫn đến hình thành các đám rối thần kinh gây nên suy giảm trí nhớ [57]

Trang 14

5

1.1.3.2 Một số nguyên nhân khác

Một số yếu tố môi trường có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc suy giảm trí nhớ bao gồm tuổi tác, giảm khả năng lưu trữ của não (giảm kích thước não, trình độ học vấn thấp và giảm hoạt động thể chất và tinh thần ở giai đoạn cuối đời), chấn thương đầu, hội chứng Down, trầm cảm, suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) và các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch máu (tăng cholesterol máu, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh tim, bệnh mạch vành, hút thuốc, béo phì, chuyển hóa hội chứng và bệnh tiểu đường) [31] Hoặc

do các rối loạn chuyển hóa dẫn đến tăng đường huyết ngay cả ở những người không mắc đái tháo đường cũng có thể là nguy cơ đối với suy giảm trí nhớ [12]

Ngoài ra, tình trạng nhiễm độc nhôm dường như có liên quan đến sự tăng lắng đọng β-amyloid (βAP) và số lượng các đám rối sợi thần kinh trung ương não bệnh nhân Alzheimer [2]

1.1.3.2 Cơ chế bệnh sinh

 Bệnh Alzheimer

AD chiếm khoảng 60-70% suy giảm trí nhớ và cũng được nghiên cứu cơ chế hóa sinh rõ ràng nhất Những thay đổi chính của tế bào liên quan đến Alzheimer bao gồm: (1) hình thành β-amyloid (βAP) độc tính và tích lũy các mảng bám; (2) tăng phosphoryl hóa protein Tau và tích lũy các rối loạn sợi thần kinh nội bào (NFTs); (3) bất thường về cấu trúc và chức năng của ty thể và (4) gây ra stress oxy hóa và viêm thần kinh Các phối tử có nguồn gốc βAP gây tổn hại cho ty thể và các khớp thần kinh và chịu trách nhiệm cho sự thoái hóa thần kinh trong AD [18]

Có một số giả thuyết được đưa ra để giải thích sự thoái hóa thần kinh ở AD như

do tình trạng dễ tổn thương của neuron cholinergic vùng trước trán, nhiễm độc nhôm,

sự tích lũy βAP hay giả thuyết cơ thần kinh,… Tuy nhiên 2 giả thuyết chính là giả thuyết tích lũy β- amyloid peptid (βAP) và giả thuyết cholinergic [17]

 Giả thuyết β- amyloid:

Mặc dù giả thuyết β- amyloid peptid (βAP) không mô tả hết đặc tính của AD, tuy nhiên đây là giả thuyết chiếm ưu thế trong các nghiên cứu suốt hơn 20 năm qua [17] β- amyloid peptid (βAP) là những sản phẩm tự nhiên của quá trình chuyển hóa bao gồm 39-43 acid amin, có nguồn gốc từ APP [57] Sự sản xuất dư thừa cùng với sự giảm các

Trang 15

protease phân giải làm cho các βAP dư thừa và kết tụ lại gây độc cho tế bào Giả thuyết chỉ ra sự tích tụ β-amyloid peptid (βAP) được coi là độc tố ngăn cản quá trình cân bằng icon canxi, ức chế chức năng của một số enzym và khả năng sử dụng glucose của tế bào thần kinh đồng thời kích hoạt sự chết theo chương trình (apotosis) [14, 55] Tất cả các

tế bào tạo ra βAP, nhưng vì những lý do chưa được biết, βAP chỉ tích lũy trong não [57] Tuy nhiên chưa biết chính xác sự biến đổi trong việc hình thành βAP đến mức độ nào thì gây ra suy giảm trí nhớ

Gen APP mã hóa cho protein tiền thân β-amyloid (APP), peptid có độc tính đóng

vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của AD Protein này được tìm thấy trong nhiều

mô và cơ quan, bao gồm não và tủy sống (hệ thần kinh trung ương)

Những đột biến APP chịu trách nhiệm cho ít hơn 10% của tất cả các trường hợp

khởi phát sớm Các đột biến trong gen APP có thể dẫn đến tăng lượng β-amyloid peptid

hoặc tạo ra một dạng peptid dài hơn và dính hơn Khi những mảnh protein này được giải phóng khỏi tế bào, chúng có thể tích tụ trong não và tạo thành các khối gọi là mảng amyloid Những mảng này là đặc trưng của bệnh Alzheimer Sự tích tụ các mảng β-amyloid peptid có thể dẫn đến cái chết của tế bào thần kinh và các dấu hiệu và triệu chứng tiến triển bệnh

Mảng bám amyloid là sự phân giải của protein tiền thân amyloid (amyloid precursor protein – APP), một glycoprotein xuyên màng APP gồm 695- 770 acid amin, protein này biểu hiện trong nhiều mô nhưng đặc biệt trong các khớp thần kinh APP bị phân cắt bởi 3 enzym: α, βvà γ secretase Trước hết, APP bị cắt cạnh tranh bởi α và β-secretase Nhiều nghiên cứu cho thấy stress oxy hóa làm giảm hoạt tính của α-secretase, làm tăng cường biểu hiện và kích hoạt β-secretase Con đường α-secretase tạo ra sAPPα (C83) và α-CTF, các sAPPα liên quan đến sự dẫn truyền thần kinh bình thường ở synap Con đường β-secretase sinh ra sAPPβ (C99) và β-CTF Các sản phẩm α-CTF và β-CTF này bị cắt một lần nữa nhờ γ-secretase Riêng với β-CTF dưới tác dụng của γ-secretase

sẽ tạo thành hai phân đoạn không hòa tan β-amyloid 40 (βAP40) và β-amyloid 42 (βAP42) βAP42 ít hơn nhưng có độc tính hơn βAP40 Những monomer này sau đó kết hợp lại thành các oligomer (là dimer hoặc trimer), chúng dường như là các chất độc thần kinh, không hòa tan xung quanh các tế bào thần kinh và dần dần thành các mảng β-amyloid [4, 17]

Trang 16

7

Phân tử APP và quá trình chuyển hóa gây AD được mô tả ở hình 1.1:

Hình 1.1: Sơ đồ phân tử APP và quá trình gây AD [17]

Chú thích: ADDLs: Các oligomer có nguồn gốc βAP

ROS : Các phần tử oxy hoạt động CTF: Đoạn cuối C trong phân tử APP

AICD: Phần APP trong tế bào

Ngoài ra, sự đột biến PS1 ở nhiễm sắc thể 14, PS2 ở nhiễm sắc thể 1 có trong secretase cũng đóng vai trò làm hình thành Aβ Kể từ khi phát hiện ra, hơn 100 đột biến

γ-đã được xác định trong PS1 và 6 đột biến trong PS2 Phần lớn các trường hợp AD khởi phát sớm (<65 tuổi) dường như là gây ra bởi đột biến PS1 [57]

Giả thuyết cholinergic và những bất thường về các chất dẫn truyền thần kinh khác

Rối loạn chức năng và thoái hóa tế bào lan tỏa dẫn đến một loạt các khiếm khuyết dẫn truyền thần kinh, trong đó, các bất thường trên hệ cholinergic là nổi bật nhất Sự mất hoạt động của hệ cholinergic tương quan thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh Alzheimer Vào giai đoạn muộn của bệnh Alzheimer, số lượng các tế bào thần kinh cholinergic và số lượng các thụ thể nicotinic trong vùng hải mã và vỏ não giảm xuống Thụ thể nicotinic trước synap có vai trò kiểm soát việc giải phóng của acetylcholin, cũng

Trang 17

như các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng khác cho bộ nhớ và tâm trạng, bao gồm: glutamat, serotonin và norepinephrin Giả thuyết cholinergic lý giải việc mất tế bào cholinergic là nguyên nhân suy giảm nhận thức trong bệnh Alzheimer [14, 55]

 Giả thuyết đám rối thần kinh (Neurofibrilary Tangles - NFTs)

NFTs đều được tìm thấy bệnh Alzheimer và một số bệnh suy giảm trí nhớ khác [14, 55] Protein Tau là một protein liên kết vi chất được tìm thấy trong hầu hết các mô

và tồn tại rất cao trong hệ thần kinh trung ương và ngoại vi Trong khi xác định mảng βAP, các nhà nghiên cứu khác cho thấy NFTs thường được tìm thấy trong các tế bào của hồi hải mã và vỏ não ở những người mắc AD và được cấu tạo từ protein Tau tăng phospho bất thường Protein Tau cung cấp hỗ trợ cấu trúc cho các vi ống, hệ thống vận chuyển tế bào và hỗ trợ xương Khi các sợi Tau trải qua quá trình phosphoryl hóa bất thường tại một vị trí cụ thể, chúng không thể liên kết hiệu quả với các vi ống và các vi ống bị sụp đổ, tế bào không thể hoạt động bình thường và cuối cùng sẽ chết Mật độ của NFTs tương quan với mức độ nghiêm trọng của chứng mất trí nhớ [57]

 Giả thuyết các chất trung gian gây viêm

Giả thuyết cho rằng, khi βAP tích tụ, các thực bào tiểu thần kinh đệm (microglia) được kích hoạt và tăng cường phản ứng của các tế bào hình sao với các mảng bám Các thực bào tiểu thần kinh đệm làm giảm βAP bằng cơ chế thực bào Đây có thể là cơ chế

để bảo vệ khỏi độc tính do tích lũy βAP Tuy nhiên, việc kích hoạt mạn tính các tiểu thần kinh đệm dẫn tới giải phóng các cytokin làm tổn thương các tế bào thần kinh và thúc đẩy quá trình viêm liên tục Trên thực tế, nhiều cytokin và chemokin tăng lên trong não bệnh nhân Alzheimer [9, 14, 31, 55]

 Suy giảm trí nhớ thể Lewy (DLB)

DLB (thể suy giảm trí nhớ phố biến thứ 2- sau AD) được cho là có mối liên quan với AD, 60% AD được tìm thấy ở DLB Suy giảm trí nhớ thể Lewy được cho là do kết hợp của thể Lewy, AD, mất tế bào thần kinh hay do sự thiếu hụt các chất thần kinh Thể Lewy (LB) là sự tích lũy bao gồm tế bào thần kinh, bạch cầu ái toan, tế bào thần kinh

có hình cầu cổ điển nhưng có thể có hình dạng đa bào hoặc hình thoi Các tế bào thần kinh LB chủ yếu bao gồm các tập hợp của α- synuclein và một số protein khác như

Trang 18

9

ubiquitin Giả thuyết cho rằng sự thay đổi trong α- synuclein và / hoặc tương tác của nó với các chất kích thích thần kinh có thể dẫn đến thoái hóa tế bào thần kinh ở DLB [57]

 Suy giảm trí nhớ mạch máu (VaD)

Esiri và các cộng sự cho rằng tổn thương vi mạch có thể là một nguồn gây tổn thương não nghiêm trọng đến mất trí nhớ mạch máu Hai phần ba các trường hợp sa sút trí tuệ mạch máu có liên quan đến bệnh mạch máu nhỏ và bệnh não chất trắng dưới màng cứng liên quan Tuy nhiên cơ chế hóa sinh vẫn chưa được biết rõ Một dạng khác của bệnh lý mạch máu là bệnh lý mạch máu amyloid Cơ chế hóa sinh bệnh lý mạch máu amyloid tương tự như cơ chế tích lũy các mảng amyloid của AD [57]

 Suy giảm trí nhớ trước trán (FTD)

Nghiên cứu chỉ ra các cấu trúc giống protein Tau tăng cao được tìm thấy trong chất xám và chất trắng của vỏ não bị ảnh hưởng, cũng như hạch nền, đồi thị Ngoài ra, sự mất cần bằng giữa 2 loại vi ống- protein Tau dẫn đến hình thành các đám rối thần kinh (NFTs) có thể là con đường dẫn đến suy giảm trí nhớ trước trán [57]

1.1.4 Thuốc điều trị

Hiện tại không có phương pháp điều trị nào để chữa chứng mất trí nhớ hoặc thay đổi tiến trình tiến triển của nó Nhiều phương pháp điều trị mới đang được nghiên cứu trong các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng khác nhau Việc điều trị nên được tiếp cận kết hợp biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc [58]

Một số thuốc nghiên cứu điều trị suy giảm trí nhớ đã và đang được tiến hành Tuy nhiên, hầu hết các thuốc vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng [17, 57] Hiện chỉ

có 5 thuốc được FDA chấp thuận cho việc điều trị AD, suy giảm trí nhớ liên quan đến bệnh Parkinson Trong đó có 4 thuốc được chấp thuận điều dựa trên cơ chế ức chế hế thống cholinergic đó là donezepil, tacrine, rivastigmine, galantamine còn thuốc memantine là chất đối kháng receptor NMDA Ngoài ra còn một số hướng đi khác cũng được cho là tiềm năng để góp phần điều trị suy giảm trí nhớ như vaccine ADN, liệu pháp miễn dịch, liệu pháp dựa trên nền tảng ADN/ARN hay ức chế enzym [57]

Các chất ức chế acetylcholinesterase, như là tacrine, donepezil, rivastigmine và galantamine có thể có hữu ích cho bệnh nhân Alzheimer và chứng mất trí nhớ ở bệnh Parkinson, DLB và chứng mất trí nhớ mạch máu Tuy nhiên bằng chứng cho việc sử dụng này còn ít và kém hiệu quả trong khi đem lại một số tác dụng không mong muốn

Trang 19

như chậm nhịp tim, đột quỵ hay ngất xỉu [23, 57] Tacrine là thuốc đầu tiên được nghiên cứu tuy nhiên có các báo cáo cho thấy sự tăng độc tính trên gan khi sử dụng thuốc này kéo dài Memantine có ít tác dụng phụ như là nhầm lẫn, tuy nhiên tình trạng này tệ hơn

ở những người bị bệnh nhẹ Một số bệnh nhân gặp tình trạng quá kích khi sử dụng thuốc

và buộc phải ngừng sử dụng [57]

Tuy nhiên, nhiều điều có thể được cung cấp để hỗ trợ và cải thiện cuộc sống của những người mắc chứng mất trí nhớ và người chăm sóc và gia đình của họ Các mục tiêu chính cho chăm sóc mất trí nhớ là: chẩn đoán sớm để thúc đẩy quản lý sớm và tối ưu; tối ưu hóa sức khỏe thể chất, nhận thức, hoạt động và hạnh phúc; xác định và điều trị bệnh vật lý kèm theo; phát hiện và điều trị các triệu chứng hành vi và tâm lý đầy thách thức; cung cấp thông tin và hỗ trợ lâu dài cho người chăm sóc [60]

1.1.5 Một số mô hình suy giảm trí nhớ trên thực nghiệm

1.1.5.1 Một số mô hình nghiên cứu

Đầu tiên là nghiên cứu các chất có tác dụng ức chế hoạt tính enzym acetylcholinesterase Đây là mô hình đơn giản, dễ làm và ít tốn kém Chuột sẽ bị tách vùng vỏ não để tiến hành định lượng hoạt tính enzym AChE theo phương pháp của tác giả Ellman và cộng sự Có thể định lượng acetylcholin (ACh) và acetylcholinesterase (AChE) thông qua trung gian enzym cholin oxidase xúc tác các phản ứng [11, 24]

Trên mô hình tế bào, bằng cách gây độc các tế bào bởi protein β-amyloid hoặc glutamat, các tế bào thần kinh vỏ não hoặc các dòng tế bào thần kinh (NG 108-15) được nuôi cấy nguyên phát cũng được sử dụng để đánh giá thuốc điều trị Alzheimer, đối tượng nghiên cứu được dùng để đánh giá khả năng bảo vệ tế bào thần kinh đó bằng cách định lượng lượng tế bào sống sót [33, 34, 38, 39] Ngoài ra việc sử dụng tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPSC) cũng là công nghệ mới mang nhiều triển vọng để nghiên cứu về các bệnh thoái hóa thần kinh trong đó có suy giảm trí nhớ [48]

Trên mô hình động vật, một số mô hình chuyển gen cũng được tiến hành như

chuột Tg2576, PSAPP, đột biến gen APP và protein Tau Nghiên cứu trên mô hình động

vật chuyển gen mang bệnh ở người là cần thiết để hiểu rõ về cơ chế phân tử và thúc đẩy nghiên cứu tiền lâm sàng Bệnh Alzheimer được gây trên mô hình chuột chuyển gen thế

hệ thứ 1 (Tg), trên chuột chuyển gen này có sự tăng cường biểu hiện của protein có liên quan đến bệnh Alzheimer có tính chất gia đình hoặc sử dụng mô hình chuột chuyển gen

Trang 20

11

thế hệ thứ 2 là APP mang đột biến protein tiền thân amyloid (APP), hoặc đột biến cả APP và presenilin (PS) Các chủng chuột chuyển gen này thể hiện bệnh lý Alzheimer nhưng mô hình tăng cường biểu hiện có thể dẫn tới các kiểu hình bổ sung không liên quan đến Alzheimer Mô hình chuột chuyển gen thế hệ thứ 2 APP chứa các trình tự gen người và đột biến gen APP nội sinh trên lâm sàng Những chuột này cho thấy sự tích tụ β-amyloid không có kiểu hình liên quan đến tăng cường biểu hiện nhưng chưa phải là biểu hiện Alzheimer trên lâm sàng của người [35, 52] Hay mô hình chuyển gen gây bệnh Alzheimer không chỉ tiến hành trên chuột mà nó được trên ruồi giấm, mô hình cũng đang được triển khai ở Viện Dược liệu

Một số hóa chất cũng được sử dụng để gây mô hình suy giảm trí nhớ như tiêm scopolamin (chất đối kháng receptor muscarinic hệ cholinergic) bằng đường phúc mạc, hoặc truyền colchicin vào não chuột cống [7, 15, 16, 42, 61] hay tiêm màng bụng MK

801 (chất đối kháng NMDA) cũng được sử dụng [7]

Bên cạnh đó, các mô hình phẫu thuật gây mất trí nhớ cho chuột cũng được nghiên cứu, trong đó có mô hình gây mất trí nhớ do thiếu máu não cục bộ bằng cách thắt 2 động mạch cảnh đồng thời gây hạ huyết áp bằng cách rút máu đuôi chuột đã được giáo sư Kinzo Matsumoto sử dụng để nghiên cứu thuốc điều trị suy giảm trí nhớ từ năm 2000 [39] Đây cũng là mô hình đã triển khai thành công tại Viện Dược liệu Ngoài ra, một

mô hình mới cũng được sử dụng hiện nay là mô hình gây suy giảm khả năng học và nhớ trên chuột mất vùng khứu giác của giáo sư Kinzo Matsumoto áp dụng từ năm 2011, chuột sau khi bị loại bỏ vùng khứu giác sẽ bị suy giảm khả năng học tập và trí nhớ [39] 1.1.5.2 Mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng trimethyltin

Trimethyltin (TMT), một hợp chất hữu cơ của thiếc có tác dụng gây độc thần kinh được định vị một cách chọn lọc trong hệ thống limbic và đặc biệt được đánh dấu ở vùng hải mã, được coi là một công cụ hữu ích để có được một mô hình thí nghiệm về thoái hóa thần kinh Động vật tiếp xúc với TMT phát triển các thay đổi hành vi (hiếu động và hung hăng), suy giảm nhận thức (mất trí nhớ và suy giảm khả năng học tập) và co giật

tự phát TMT gây ra chết neuron chọn lọc liên quan đến các tế bào thần kinh dạng hạt của fascia dentata (vùng đầu của vùng đồi thị nối với vỏ não) và các tế bào hình chóp sừng Amon, với một mô hình khác nhau về mức độ nghiêm trọng và mở rộng theo các loài khác nhau và lịch dùng thuốc được nghiên cứu Trong khi các cơ chế mà TMT gây

Trang 21

ra thoái hóa thần kinh vẫn chưa được hiểu rõ, nhiều giả thuyết dường như cho thấy rằng tổn thương tế bào thần kinh có thể do thay đổi cân bằng nội môi canxi, viêm thần kinh

và sự chết tế bào theo chương trình [37] Nhiều nghiên cứu đã đánh giá được độc tính của TMT đối với chuột, đặc biệt là vùng đồi thị, vùng chi phối khả năng học tập cũng như là trí nhớ Độc tính này được quan sát ở cả mô hình động vật cũng như là mô hình

tế bào [19, 21, 47]

Trong một nghiên cứu về trimethyltin gây ra bệnh lý thần kinh ở chuột, tế bào thần kinh ở vỏ não và trong ống khứu giác cực kỳ nhạy cảm với độc tính TMT cho thấy những thay đổi hoại tử đáng kể 3 ngày sau khi tiếp xúc; trong vùng đồi thị, các tế bào hạt của fascia dentata cho thấy những thay đổi sớm; tuy nhiên, sự hủy diệt độc hại ở khu vực này không rộng rãi Mặt khác, sự phá hủy các tế bào thần kinh hình chóp trong sừng Amon ngày càng nhiều, đặc biệt là vùng CA1 và CA3, dẫn đến mất tế bào trong cấu trúc này [8]

1.1.6 Phương pháp nhuộm Nissl

Phương pháp mô học được giới thiệu bởi nhà thần kinh học người Đức (Franz Nissl), được sử dụng rộng rãi bởi các nhà thần kinh học và bệnh lý học để nghiên cứu hình thái và bệnh lý học của các tế bào thần kinh và cũng để hiểu cấu trúc tế bào vùng não khác nhau Thuốc nhuộm có thể là khác nhau, tuy nhiên tím tinh thể là thành phần phổ biến

Nhuộm Nissl là phương pháp nhuộm acid nucleic cổ điển được dùng cho các mô

tế bào thần kinh Những thuốc nhuộm này có thể liên kết với ADN của nhân tế bào và cũng liên kết với ARN tập trung nhiều ở mạng lưới nội chất thô và ribosome trong tế bào chất Vì các tế bào thần kinh là các tế bào tổng hợp thần kinh rất nhiều nên tế bào chất của các tế bào này chứa nồng độ cao của lưới nội chất thô Do đặc tính đặc biệt này của tế bào thần kinh, nhuộm Nissl có thể nhuộm đặc hiệu tế bào chất của tế bào thần kinh mà không nhận ra perikarya (màng nhân) của các yếu tố tế bào khác trong não Đây

là một lợi thế của nhuộm Nissl so với các phương pháp đối kháng khác, chẳng hạn như nhuộm đỏ trung tính cũng dán nhãn tế bào hình sao Do đó, nhuộm Nissl là phương pháp rất hữu ích để nghiên cứu bệnh lý của các tế bào thần kinh và tìm hiểu cấu trúc tế bào của các vùng não khác nhau [32]

Trang 22

13

1.2 Tổng quan về dược liệu nghiên cứu: Rau má (Centella asiatica (L.) Urb.)

Hình 1.2: Cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urb.)

1.2.1 Tên gọi.

Ở Việt Nam, Rau má còn có một số tên như lôi công thảo, tỉnh tuyết, liên tiền thảo

Nó cũng được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Tích tuyết thảo (Trung Quốc), Phanok (Lào), Gotu kola (SriLanka, Ấn Độ), Pegagan (Indonesia), Takip-kohol (Philippine) hay Bua-bok (Thái Lan) [30, 50]

Rau má có tên khoa học: Centella asiatica (L.) Urb Ngoài ra, tên khoa học đồng nghĩa của Rau má là Hydrocotyle asiatica L hay Trisanthus cochinchinensis Lour Rau

má thuộc họ Hoa tán (Apiaceae)

1.2.2 Đặc điểm thực vật, phân bố

Rau má là loài cây một năm, thân thảo, mọc bò, có rễ ở các mấu, thân gầy, nhẵn

Lá hình mắt chim, khía tai bèo, rộng 2-4cm, cuống dài 2-4cm trong những nhánh mang hoa và dài 10-12cm trong những nhánh thường Hoa Rau má có màu đỏ hoặc trắng, được bao phủ bởi các lá và 3-6 hoa sắp xếp trong cùng 1 mấu Quả nhỏ, hình cầu, có nhiều rãnh dọc Hạt dẹp Lá mầm hình trứng rộng hay hình bầu dục

Rau má mọc hoang tại khắp nơi ở Việt Nam và các nước vùng nhiệt đới như Lào, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ v.v…[3] Ở Việt Nam, Rau má mọc tự nhiên ở trên các bãi đất hoang ven đường, ven ruộng tại nhiều địa phương suốt từ Bắc vào Nam

1.2.3 Bộ phận dùng làm thuốc

Toàn bộ cây được sử dụng cho mục đích làm thuốc Rau má có thể được thu hái quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa Hạ hoặc đầu mùa Thu khi cây đang xanh tốt [3]

Trang 23

Ngoài ra, trong dịch chiết tổng Rau má có chứa sterol thực vật, flavonoid và các thành phần khác không có hoạt tính dược lý, như là tannin, một số acid (β-chariophylen, trans-β-pharnesen và mamachren D), phytosterol (campesterol, sitosterol, stigmasterol), chất nhầy, nhựa, aminoacid tự do (alanin, serin, aminobutyrat, aspartat, glutamat, lysin

và treonin), một thành phần đắng (vallerin), acid béo (acid linoleic, linolnelic, oleic, palmitic và acid stearic) [25]

1.2.5 Tác dụng dược lý

1.2.5.1 Tác dụng làm lành da và xương

Rau má thúc đẩy lành da và vết thương bằng cách làm tăng hàm lượng collagen và

độ dày của biểu mô Asiaticosid, một thành phần trong rau má, đã được báo cáo là có hoạt động chữa lành vết thương bằng cách tăng sự hình thành collagen, sự hình thành mạch [6, 25] và tăng độ bền của da mới hình thành [25]

Cao tiêu chuẩn của Rau má được báo cáo điều trị u xương không đau trong thử nghiệm lâm sàng [6]

Trang 24

15

có hiệu quả trong bệnh lý vi mạch tăng huyết áp, suy tĩnh mạch và giảm tốc độ lọc mao mạch bằng cách cải thiện các thông số vi tuần hoàn [25]

1.2.5.3 Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương

Tác dụng an thần và giải lo âu: tác dụng được đề xuất chủ yếu là do các thành phần brahmoside và brahminosid, giả thuyết cho rằng hoạt động giải lo âu có thể một phần

do liên kết các thành phần này với các thụ thể cholecystokinin (CCK B), một nhóm các thụ thể kết hợp protein G liên kết với peptid hoặc gastrin và được cho là có vai trò tiềm năng trong việc điều chế chứng lo âu, sự hấp thụ, trí nhớ và cơn đói ở động vật và con người [25]

Tác dụng chống trầm cảm: một nghiên cứu chỉ ra rằng số triterpen từ Rau má đã làm giảm thời gian bất động và làm giảm sự mất cân bằng nồng độ acid amin giúp xác nhận hoạt động chống trầm cảm của Rau má [10] Một nghiên cứu khác chỉ ra các triterpen Rau má giúp tăng chất dẫn truyền thần kinh monoamin và chất chuyển hóa của chúng ở vỏ não, đồi thị và làm giảm nồng độ corticosteron, tăng hàm lượng 5-HT, NE,

DA và chất chuyển hóa của chúng 5-HIAA ở đồi thị, MHPG trong não chuột giúp chứng minh thêm sự tham gia của các triterpen Rau má trong việc cải thiện chức năng trục HPA và tăng số lượng các chất dẫn truyền thần kinh monoamin cho khả năng chống trầm cảm của Rau má [25]

Chống động kinh: Rau má làm tăng mức độ GABA não giúp giải thích cho việc sử dụng Rau má cho giải lo âu và chống co giật Ngoài ra các nghiên cứu cũng cho thấy Rau má giảm sự hình thành các sản phẩm peroxid hóa của lipid, giảm hoạt động vận động tự phát, tăng cường hoạt động do diazepam gây ra, giảm thân nhiệt và tăng thời gian ngủ của pentobarbiton, hỗ trợ giảm mức độ các triệu chứng của động kinh [25]

Giảm sự thiếu hụt nhận thức và chất chống oxy hóa: Ở liều điều trị 200 và 300 mg/kg, cao chiết nước Rau má cho thấy sự giảm đáng kể về MDA và sự gia tăng nồng

độ glutathion và catalase Vì stress oxy hóa hoặc cơ chế chống oxy hóa nội sinh bị suy yếu là một yếu tố quan trọng liên quan đến bệnh Alzheimer (AD), sự thiếu hụt nhận thức

ở người già, phát hiện trên cho thấy hiệu quả tiềm tàng của Rau má trong việc ngăn ngừa

sự thiếu hụt nhận thức cũng như stress oxy hóa [25]

Trang 25

1.2.5.4 Tác dụng chống loét

Giả thiết cho rằng chiết xuất Rau má đã củng cố hàng rào niêm mạc dạ dày và làm giảm tác dụng gây hại của các gốc tự do Giả thiết khác cho rằng Rau má và thành phần của nó, asiaticosid có đặc tính chống viêm được tạo ra do ức chế oxit nitric (NO) do đó tạo điều kiện chữa lành vết loét Rau má được chỉ ra là gây ra các hiệu quả chống loét ở

cả trường hợp loét dạ dày do stress, do aspirin hay loét tiêu hóa cho hẹp môn vị với cơ chế có thể là làm tăng các yêu tố bảo vệ hoặc liên quan đến hoạt động điều hòa GABA [6]

1.2.5.5 Tác dụng chống viêm

Chất chiết xuất từ dịch chiết Rau má có các hoạt động chống viêm Madecassosid

có thể là thành phần hoạt động chính của Rau má chịu trách nhiệm cho việc sử dụng lâm sàng trong viêm khớp dạng thấp và các cơ chế hoạt động cơ bản có thể chủ yếu thông qua việc điều hòa miễn dịch tế bào và tế bào bất thường để bảo vệ khỏi sự phá hủy chung Madecassosid làm giảm bớt các tế bào viêm và tăng sản hoạt dịch cũng như bảo

vệ chống lại sự phá hủy khớp [25]

1.2.5.6 Tác dụng chống ung thư

Dịch chiết Rau má cho thấy tác dụng chống ung thư liên quan đến cấu trúc trong nguyên bào sợi phổi của chuột là thông qua cơ chế kích hoạt hệ thống miễn dịch, bằng chứng là sự thay đổi của lympho bào ở nồng độ dịch chiết thấp [6, 25]

1.2.6 Tính vị, công năng

Nhân dân ta coi rau má là một vị thuốc mát, vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc, có tính chất giải nhiệt, giải độc, thông tiểu, dùng để chữa thổ huyết, tả, lỵ, khí hư, bạch đới, lợi sữa [3]

Ở Ayurveda, Rau má là một loại thuốc phổ biến và được sử dụng trong các rối loạn thần kinh trung ương như động kinh, tâm thần phân liệt và rối loạn chức năng nhận thức Rau má cũng tìm thấy sử dụng trong sỏi thận, bệnh phong và bệnh ngoài da, chán ăn và hen suyễn [50]

Trong các hệ y học cổ truyền khác, Rau má đã được sử dụng bổ sung trong điều trị tiêu chảy, dịch tả, sởi, vàng da, bệnh bạch cầu, xuất huyết, viêm gan, viêm niệu đạo, đau

Trang 26

1.2.7 Một số bài thuốc cổ truyền có Rau má

Rau má là thảo dược được sử dụng phố biến trong y học cổ truyền Nó được sử dụng trong một số bài thuốc sau:

 Chữa rôm sẩy mẩn ngứa: Hằng ngày ăn Rau má trộn dầu giấm hoặc Rau má hái

về, giã nát, vắt lấy nước, thêm đường vào uống hằng ngày [3]

 Đau bụng đi cầu lỏng, lỵ: Rau má tươi toàn cây đem rửa sạch, thêm một ít muối, nhai sống Mỗi ngày khoảng 30-40g Có thể luộc ăn như rau [1, 3]

 Phụ nữ hành kinh đau bụng, đau lưng: Cả cây Rau má (lấy vào lúc có hoa, quả) rửa sạch phơi khô, tán bột Mỗi ngày uống một lần 30 g vào buổi sáng, mỗi lần hai thìa

cà phê gạt ngang [1, 3]

 Chữa viêm loét dạ dày tá tràng: Rau má sao vàng 10g, đảng sâm 16g, hoài sơn,

ý dĩ, hà thủ ô, huyết dụ, kê huyết đằng, cam thảo dây, mộc thông, mỗi vị 12g Sắc uống ngày 1 thang [1]

1.2.8 Một số nghiên cứu về mỗi liên quan giữa Rau má với suy giảm trí nhớ

1.2.8.1 Nghiên cứu trong nước

Từ xưa, rau má được nhân dân sử dụng như món ăn bổ dưỡng như dùng để ăn sống, ép nước uống, vò nát để đắp vào vết thương… Theo y học cổ truyền, rau má có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, lợi tiểu giải độc Hiện nay, trên thị trường

có một số chế phẩm chứa rau má với tác dụng cải thiện tuần hoàn, giúp cải thiện trí nhớ như Neurovidan hay bột Rau má…

Mặc dù có nhiều nghiên cứu tác dụng của rau má, hiện chưa có nghiên cứu đánh giá tác dụng cũng như tìm hiểu cơ chế hóa sinh của rau má trên hệ thần kinh, đặc biệt là đối với suy giảm trí nhớ mà các nghiên cứu về Rau má phần nhiều đi theo vào phân tích khả năng kích hoạt các quá trình sinh học trong việc phân chia tế bào và tái tạo mô liên kết của Rau má

Trang 27

1.2.8.2 Nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu về tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của Rau má

Trên thế giới, nhiều bài nghiên cứu về Rau má với vai trò như là một cây thuốc có vai trò bảo vệ thần kinh, tăng cường khả năng học tập, duy trì khả năng ghi nhớ Nghiên cứu gần đây, dịch chiết Rau má trong nước được chứng minh khả năng cải thiện chức năng ty thể hồi hải mã, cải thiện trí nhớ không gian ở chuột do βAP gây ra và được đánh giá tác dụng thông qua một số thử nghiệm như thử nghiệm đồ vật thay đổi, lẩn tránh thụ động hay thử nghiệm đảo ngược phân biệt mùi [27] Trên mô hình Tg2576, Rau má đã được báo cáo rằng giúp giảm sự stress oxy hóa, góp phần cải thiện sức khỏe và nhận thức thần kinh [43]

Các nghiên cứu in vivo đã chỉ ra rằng toàn bộ chiết xuất và cả các hợp chất riêng

lẻ của Rau má có tác dụng bảo vệ chống lại các bệnh thần kinh khác nhau Hầu hết các

nghiên cứu in vivo về tác dụng bảo vệ thần kinh đã tập trung vào bệnh Alzheimer, bệnh

Parkinson, học tập và tăng cường trí nhớ, nhiễm độc thần kinh và các bệnh tâm thần khác như trầm cảm và lo âu và động kinh [40]

Nghiên cứu về cơ chế hóa sinh cải thiện suy giảm trí nhớ của Rau má

Yếu tố phiên mã điều hòa chống oxy hóa NRF2 (nuclear factor erythroid-derived 2) có vai trò đã được đánh giá đối với việc duy trì chức năng synap, ty thể, duy trì chức năng nhận thức, kiểm soát biểu hiện cơ bản và cảm ứng của nhiều loại enzym chống oxy hóa và giải độc Việc kích hoạt yếu tố này giúp điều chỉnh năng lượng sinh học tế bào

và cải thiện sức khỏe thần kinh trong quá trình thoái hóa thần kinh [66] Ở mô hình chuột Tg256, chuột 5XFAD, chiết xuất nước Rau má (CAW) với các thành phần như acid asiatic, asiaticosid và madecassosid… cải thiện chức năng nhận thức của mô hình bệnh Alzheimer (AD) tăng NRF2 trong vùng hải mã và các NRF2 khác và các dấu hiệu mật

độ synap tăng nhẹ ở vùng đồi thị và vỏ não trước trán SOD1 (superoxide dismutase 1), một chỉ số của stress oxy hóa liên quan đến mảng bám, đã thấy giảm ở vùng đồi thị [27, 43] Ngoài ra,thông qua việc tăng cường biểu hiện NRF2 cũng như các enzym chống oxy hóa, chức năng ty thể của hồi hải mã được cải thiện [27]

AMP vòng (cAMP) là một thành phần trung tâm của các con đường truyền tín hiệu nội bào điều chỉnh một loạt các chức năng sinh học, bao gồm cả bộ nhớ Trong số các

Trang 28

19

hành động khác, cAMP kích hoạt quá trình phosphoryl hóa và kích hoạt protein liên kết yếu tố đáp ứng cAMP (CREB), một yếu tố phiên mã quy định sự biểu hiện của các gen quan trọng đối với trí nhớ dài hạn Việc tăng cường cAMP có thể có vai trò tăng cường nhận thức thần kinh trong AD và trong các rối loạn thần kinh khác, cũng như vai trò có thể của cAMP trong việc điều hòa tái tạo tế bào thần kinh Đặc biệt, việc điều hòa nồng

độ cAMP và protein Tau, thúc đẩy sự phát triển thần kinh và biệt hóa tế bào thần kinh

và ngăn chặn sự oligome hóa và độc tính thần kinh của βAP Rau má cho thấy khả năng làm tăng sự phosphoryl hóa protein liên kết với yếu tố đáp ứng AMP vòng (CREB) được tăng cường trong cả dòng tế bào u nguyên bào thần kinh biểu hiện βAP42 và trong nuôi cấy tế bào nguyên phát vỏ não của chuột và có thể do sự điều chỉnh con đường dẫn truyền tín hiệu ERK/ RSK [26, 62] Sự điều chỉnh con đường dẫn truyền tín hiệu này cũng có thể là lý do dẫn đến việc gia tăng tế bào hình gai và synap mà Rau má tác động [26]

Các dẫn xuất của acid asiatic đã được chứng minh là có tác dụng bảo vệ thần kinh quan trọng đối với các tế bào vỏ não được nuôi cấy bằng cách tạo ra cơ chế bảo vệ oxy hóa tế bào Các dẫn xuất asiaticosid có khả năng chống độc tính thần kinh β-amyloid khi thử nghiệm trên nuôi cấy tế bào B103 và lát hồi hải mã, trong đó acid asiatic cho thấy

sự ức chế mạnh mẽ của β-amyloid và sự phá hủy tế bào gốc tự do [46]

Các nghiên cứu gần đây đã bắt tay vào việc tìm kiếm cơ chế phân tử bảo vệ thần kinh bằng chiết xuất Rau má Tuy nhiên, khả năng của Rau má trong việc tăng cường tái tạo thần kinh chưa được nghiên cứu nhiều và chỉ giới hạn trong việc tái tạo các dây thần kinh tọa bị nghiền nát và bảo vệ khỏi tổn thương thần kinh trong điều kiện thiếu oxy [40]

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyên liệu và thiết bị

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cao chiết cồn Rau má Rau má được thu hái ở Thanh Hóa

vào tháng 8/2019, được giám định đúng tên khoa học là Centella asiatica (L.) Urban

bởi khoa Tài nguyên- Viện Dược liệu Hiệu suất của quá trình chiết là 6%

8 Các hóa chất khác Đạt tiêu chuẩn phòng thí nghiệm

Các trang thiết bị được sử dụng trong nghiên cứu được liệt kê ở bảng 2.2

Ngày đăng: 29/10/2020, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Huy Bích, Đàm Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mã, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn,(2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, quyển II. NXB.Khoa học và kỹ thuật. tr.586 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, quyển II
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Đàm Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mã, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn
Nhà XB: NXB. Khoa học và kỹ thuật. tr.586
Năm: 2004
2. Hoàng Thị Kim Huyền, J.R.B.J.B.,(2014), Dược lâm sàng- Những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lâm sàng- Những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị
Tác giả: Hoàng Thị Kim Huyền, J.R.B.J.B
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
3. Đỗ Tất Lợi,(2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học Hà Nội. tr.631-632 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội. tr.631-632
Năm: 2004
4. Hoàng Thị Bích Ngọc, Hóa sinh của bệnh Alzheimer, Tạp chí Thần Kinh học. Hội thần kinh học Việt Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa sinh của bệnh Alzheimer, Tạp chí Thần Kinh học
6. Arora, D., M. Kumar, and S. Dubey, (2002), "Centella asiatica-a Review of It's Medicinal Uses and Pharmacological Effects." Journal of Natural remedies, 2(2), p.143-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centella asiatica-a Review of It's Medicinal Uses and Pharmacological Effects
Tác giả: Arora, D., M. Kumar, and S. Dubey
Năm: 2002
7. Assini, F.L., M. Duzzioni, and R.N. Takahashi, (2009), "Object location memory in mice: pharmacological validation and further evidence of hippocampal CA1 participation." Behavioural brain research, 204(1), p. 206-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Object location memory in mice: pharmacological validation and further evidence of hippocampal CA1 participation
Tác giả: Assini, F.L., M. Duzzioni, and R.N. Takahashi
Năm: 2009
8. Chang, L. and R. Dyer, (1983), "A time-course study of trimethyltin induced neuropathology in rats." Neurobehavioral toxicology and teratology, 5(4), p. 443-459 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A time-course study of trimethyltin induced neuropathology in rats
Tác giả: Chang, L. and R. Dyer
Năm: 1983
10. Chen, Y., et al., (2003), "Effect of total triterpenes from Centella asiatica on the depression behavior and concentration of amino acid in forced swimming mice." Zhong yao cai= Zhongyaocai= Journal of Chinese medicinal materials, 26(12), p. 870-873 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of total triterpenes from Centella asiatica on the depression behavior and concentration of amino acid in forced swimming mice
Tác giả: Chen, Y., et al
Năm: 2003
11. Cheng, K.K., et al., (2013), "Highly stabilized curcumin nanoparticles tested in an in vitro blood–brain barrier model and in Alzheimer’s disease Tg2576 mice." The AAPS journal, 15(2), p. 324-336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Highly stabilized curcumin nanoparticles tested in an in vitro blood–brain barrier model and in Alzheimer’s disease Tg2576 mice
Tác giả: Cheng, K.K., et al
Năm: 2013
12. Crane, P.K., et al., (2013), "Glucose levels and risk of dementia." New England Journal of Medicine, 369(6), p. 540-548 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Glucose levels and risk of dementia
Tác giả: Crane, P.K., et al
Năm: 2013
13. Dobbing, J. and J. Sands, (1979), "Comparative aspects of the brain growth spurt." Early human development, 3(1), p. 79-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative aspects of the brain growth spurt
Tác giả: Dobbing, J. and J. Sands
Năm: 1979
14. Ellman, G.L., et al., (1961), "A new and rapid colorimetric determination of acetylcholinesterase activity." Biochemical pharmacology, 7(2), p. 88-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new and rapid colorimetric determination of acetylcholinesterase activity
Tác giả: Ellman, G.L., et al
Năm: 1961
15. Evon Linstow Roloff, E., et al., (2007), "Dissociation of cholinergic function in spatial and procedural learning in rats." Neuroscience, 146(3), p. 875-889 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dissociation of cholinergic function in spatial and procedural learning in rats
Tác giả: Evon Linstow Roloff, E., et al
Năm: 2007
16. Evrard, P.A., et al., (1998), "Simultaneous microdialysis in brain and blood of the mouse: extracellular and intracellular brain colchicine disposition." Brain research, 786(1-2), p. 122-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simultaneous microdialysis in brain and blood of the mouse: extracellular and intracellular brain colchicine disposition
Tác giả: Evrard, P.A., et al
Năm: 1998
17. Farooqui, A.A.,(2017), Neurochemical aspects of Alzheimer's disease: risk factors, pathogenesis, biomarkers, and potential treatment strategies. Academic Press.p.9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neurochemical aspects of Alzheimer's disease: risk factors, pathogenesis, biomarkers, and potential treatment strategies
Tác giả: Farooqui, A.A
Năm: 2017
18. Farooqui, A.A., (2019), "Molecular Mechanisms of Dementia." ScienceDirect, p. 73-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular Mechanisms of Dementia
Tác giả: Farooqui, A.A
Năm: 2019
19. Fiedorowicz, A., et al., (2001), "Dentate granule neuron apoptosis and glia activation in murine hippocampus induced by trimethyltin exposure." Brain research, 912(2), p.116-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dentate granule neuron apoptosis and glia activation in murine hippocampus induced by trimethyltin exposure
Tác giả: Fiedorowicz, A., et al
Năm: 2001
20. Gadahad, M.R.K., M. Rao, and G. Rao, (2008), "Enhancement of hippocampal CA3 neuronal dendritic arborization by Centella asiatica (Linn) fresh leaf extract treatment in adult rats." Journal of the Chinese Medical Association, 71(1), p. 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enhancement of hippocampal CA3 neuronal dendritic arborization by Centella asiatica (Linn) fresh leaf extract treatment in adult rats
Tác giả: Gadahad, M.R.K., M. Rao, and G. Rao
Năm: 2008
21. Geloso, M.C., V. Corvino, and F. Michetti, (2011), "Trimethyltin-induced hippocampal degeneration as a tool to investigate neurodegenerative processes."Neurochemistry international, 58(7), p. 729-738 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trimethyltin-induced hippocampal degeneration as a tool to investigate neurodegenerative processes
Tác giả: Geloso, M.C., V. Corvino, and F. Michetti
Năm: 2011
22. Ghosh, K. and N. Indra, (2014), "Phytochemistry, in vitro free radical scavenging, chelating and toxicity of Centela asiatica L.(Apiaceae) ethanolic leaf extract." Int J Pharm Sci Rev Res, 29, p. 328-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phytochemistry, in vitro free radical scavenging, chelating and toxicity of Centela asiatica L.(Apiaceae) ethanolic leaf extract
Tác giả: Ghosh, K. and N. Indra
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w