- Thiết kế, tổ chức dạy học bài học Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu theo hướng phát triển năng lực - Tiến hành thực nghiệm sư phạm IV – Giả thiết khoa học của đề tài Nếu những
Trang 1S GIÁO D C VÀ ĐÀO T O HÀ TĨNH Ở GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH ỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH ẠO HÀ TĨNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài
D Y H C TÁC PH M CHI C THUY N NGỒI XA ẠO HÀ TĨNH ỌC TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGỒI XA ẨM CHIẾC THUYỀN NGỒI XA ẾC THUYỀN NGỒI XA ỀN NGỒI XA
C A NGUY N MINH CHÂU THEO Đ NH H ỦA NGUYỄN MINH CHÂU THEO ĐỊNH HƯỚNG ỄN MINH CHÂU THEO ĐỊNH HƯỚNG ỊNH HƯỚNG ƯỚNG NG
PHÁT TRI N NĂNG L C H C SINH ỂN NĂNG LỰC HỌC SINH ỰC HỌC SINH ỌC TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGỒI XA
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ LỆ THANH
Đơn vị: Trường THPT Lê Quảng Chí
Năm học 2015 – 2016
Trang 2MỤC LỤC
Trang
A – ĐẶT VẤN ĐỀ ………. 2
I – Lí do chọn đề tài ……… 2
II – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 2
III – Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài ……… 2
IV – Giả thiết khoa học của đề tài ……… 3
V – Phương pháp nghiên cứu ……… 3
VI – Đóng góp mới của đề tài ……… 3
VII – Cấu trúc của đề tài ……… 3
B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……… 4
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI…… 4
1.Cơ sở lí luận……… 4
1.1 Vài nét cơ bản về dạy học theo định ……… 4
1.2 Vài nét về văn học sau 1975 và truyện ngắn ……… 11
2 Cơ sở thực tiễn……… ……… 15
2 1 Thực tế dạy học theo định hướng phát triển năng lực ……… 15
2.2 Thực tế dạy học tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” ……… 16
CHƯƠNG II – DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU ………
17 1 Phương pháp dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa ……… 17
1 1 Vận dụng phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn……… 17
1.2 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực ……… 25
2 Thiết kế bài học Chiếc thuyền ngoài xa theo ……… ……… 28
3 Xây dựng hệ thống câu hỏi/bài tập để dạy học ……… 34
CHƯƠNG III – THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 38
1.Thực nghiệm sư phạm……… 38
1 1 Mục đích thực nghiệm……… 38
1.2 Đối tượng thực nghiệm……… 38
1.3 Kế hoạch thực nghiệm……… 38
1.4 Nội dung dạy học thực nghiệm……… 38
2 Đánh giá thực nghiệm ……… 49
2.1 Các tiêu chí đánh giá ……… 49
2.2 Phương tiện đánh giá ……… 50
2.3 Kết quả thực nghiệm ……… 50
2.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm ……… 50
C – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 52
Trang 3A – ĐẶT VẤN ĐỀ
I – Lí do chọn đề tài
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang bước vào công cuộc đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục Với tinh thần: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu
tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “ Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực của công dân, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh” Hơn nữa, chương trình giáo dục hiện hành là chương trình giáo dục
định hướng nội dung nên rất khó phát huy được vai trò trung tâm của người học.Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực họcsinh là một nhu cầu tất yếu của thời đại
Tuy nhiên dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh không phải giáoviên nào cũng có thể thích nghi và đáp ứng kịp thời được Muốn làm tốt, đạt hiệuquả cao thì người giáo viên phải hiểu và vận dụng phương pháp đó một cách linhhoạt qua từng bài học, từng hoàn cảnh địa phương nhất định Chính vì vậy, tôi chọnvấn đề này, như một kinh nghiệm nhỏ cùng trao đổi với đồng nghiệp để hiểu hơn
về phương pháp mới, để việc dạy học đạt hiệu quả cao hơn
Đối với môn Ngữ văn, đó là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệthống chương trình giáo dục phổ thông Đây cũng là môn học có nhiều sự đổi mớitrong cách dạy – học – kiểm tra đánh giá Trong định hướng phát triển chương trìnhsau 2015, môn Ngữ văn được coi là môn công cụ, chính vì vậy việc xác định dạy
và học những gì, như thế nào để đáp ứng được các năng lực cho học sinh là cực kìquan trọng Trong hệ thống kiến thức môn Ngữ văn hiện nay, có đưa vào chươngtrình văn học sau 1975, văn học giai đoạn này mang hơi thở của cuộc sống đươngđại và có sự đổi mới rất lớn Tuy nhiên, để giúp học sinh tiếp cận được kiến thức
phần văn học này cũng gặp rất nhiều khó khăn Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
của nhà văn Nguyễn Minh Châu là một đại diện tiêu biểu cho sự đổi mới của vănhọc giai đoạn này
Từ tiếp cận xu hướng đổi mới, đến thực tế giảng dạy tôi quyết định chọn đề
tài “Dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu theo định hướng phát triển năng lực học sinh” Thông qua đề tài này, tôi muốn đánh giá lại
nhận thức của mình về phương pháp dạy học mới, cách thức tổ chức dạy học mới,
cũng như trao đổi kinh nghiệm để dạy tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa nói riêng và
văn học sau 1975 nói chung được tốt hơn, hướng tới mục tiêu phát triển năng lựccho học sinh
II – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học
sinh
Trang 42 Phạm vi nghiên cứu: tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu
III – Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
1 Mục tiêu của đề tài: Đề tài đặt ra vấn đề phương pháp để dạy học theo
hướng phát triển năng lực của học sinh Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, qua truyện
ngắn Chiếc thuyền ngoài xa người viết muốn rút ra một số kinh nghiệm để giảng
dạy phần văn học sau 1975 tốt hơn, đặc biệt hình thành được cho học sinh các nănglực cơ bản như:
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực hợp tác
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp tiếng Việt
+ Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ
2 Nhiệm vụ của đề tài
- Xây dựng hệ thống phương pháp để dạy tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
của Nguyễn Minh Châu theo hướng phát triển năng lực học sinh
- Thiết kế, tổ chức dạy học bài học Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu theo hướng phát triển năng lực
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm
IV – Giả thiết khoa học của đề tài
Nếu những phương pháp dạy học mà tôi đã vận dụng để tổ chức dạy bài
Chiếc thuyền ngoài được sử dụng linh hoạt, tùy vào đối tượng học sinh và điều
kiện của từng địa phương, đơn vị thì sẽ góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng dạyhọc văn trong nhà trường THPT Đặc biệt là hình thành cho HS các năng lực cơbản để đáp ứng được những yêu cầu của thực tế
V – Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp lí luận nhằm tìmhiểu cơ sở lí luận của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, thống kê, thựcnghiệm sư phạm
VI – Đóng góp mới của đề tài
Đề tài có sự nghiên cứu các phương pháp, định hướng thiết kế giáo án, tổ
chức dạy học và hệ thống câu hỏi để dạy bài Chiếc thuyền ngoài xa nhằm phát triển
năng lực học sinh Đây là vấn đề khá mới mẻ và còn nhiều bỡ ngỡ trong quá trìnhtiếp cận xu hướng dạy học mới hiện nay Vì vậy, đề tài sẽ là một trong những tàiliệu tham khảo tốt cho giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học
VII – Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm những nội dung chính sau:
Trang 5Chương I – Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương II – Dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa theo định hướng phát
triển năng lực học sinh
Chương III – Thực nghiệm sư phạm
Trang 6B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lí luận
1.1 Vài nét cơ bản về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
1.1.1 Khái niệm năng lực
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên(NXB Đà Nẵng 1998) có giải
thích: Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm
2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực
thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiếnthức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thựchiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người
lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi” Định
hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định một sốnăng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như:
– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: Năng lực tự học; Nănglực giải quyết vấn đề; Năng lực sáng tạo; Năng lực quản lí bản thân
– Năng lực xã hội, bao gồm: Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác
– Năng lực công cụ, bao gồm: Năng lực tính toán; Năng lực sử dụng ngônngữ; Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC)
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cảnhững yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) đểgiải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống
1.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triểnnăng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từnhững năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực ngườihọc
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học địnhhướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là
“sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học
Trang 7chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả họctập của HS.
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung
và chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm củachương trình dạy học định hướng phát triển năng lực:
Chương trình định hướng nội dung
Chương trình định hướng phát triển năng lực
Mục tiêu
giáo dục
Mục tiêu dạy học được mô tảkhông chi tiết và không nhấtthiết phải quan sát, đánh giáđược
Kết quả học tập cần đạt được mô tảchi tiết và có thể quan sát, đánh giáđược; thể hiện được mức độ tiến bộcủa HS một cách liên tục
Nội dung
giáo dục
Việc lựa chọn nội dung dựavào các khoa học chuyênmôn, không gắn với các tìnhhuống thực tiễn Nội dungđược quy định chi tiết trongchương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạtđược kết quả đầu ra đã quy định, gắnvới các tình huống thực tiễn Chươngtrình chỉ quy định những nội dungchính, không quy định chi tiết
– GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ
HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức.Chú trọng sự phát triển khả năng giảiquyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;– Chú trọng sử dụng các quan điểm,phương pháp và kỹ thuật dạy học tíchcực; các phương pháp dạy học thínghiệm, thực hành
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lựcđầu ra, có tính đến sự tiến bộ trongquá trình học tập, chú trọng khả năngvận dụng trong các tình huống thựctiễn
1.1.3 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến
* Năng lực giải quyết vấn đề
Trang 8Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về năng lực giảiquyết vấn đề (GQVĐ) Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều thống nhất chorằng GQVĐ là một NL chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhậnthức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống màkhông có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để giải quyết nhữngvấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trongviệc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu.
Với môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triển khaicác nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hìnhthành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản)của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Với một số nội dung dạyhọc trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếpnhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượngđời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giácác hiện tượng văn học,… quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giảiquyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyết vấn đề trong mônNgữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong mộtchủ đề dạy học
* Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việcsuy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộcsống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thựchiện ý tưởng Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ óc tò mò,niềm say mê tìm hiểu khám phá
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu màmôn học Ngữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác định cáctình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các vănbản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìnkhác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của HS trước một vẻđẹp, một giá trị của cuộc sống Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê
và khát khao được tìm hiểu của HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức.Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao là HS, với tư cách làngười đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có được nhữngcách cảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm; cócách trình bày, diễn đạt giàu sắc thái cá nhân trước một vấn đề,…)
* Năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ đểhoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộclẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làm việc
Trang 9cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghengười khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ Đây là hìnhthức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thànhtích học tập.
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân
và tập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việchiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợlẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cần thiếttrong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một khônggian rộng mở của quá trình hội nhập
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ,phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ họctập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiệnnhững suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghenhững ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình Đây lànhững yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinhtrong bối cảnh mới
* Năng lực tự quản bản thân
Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con người trong việc kiểm soátcảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập
kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vicủa cá nhân trong các bối cảnh khác nhau Khả năng tự quản bản thân giúp mỗingười luôn chủ động và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình,sống có kỉ luật, biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình
Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn cũng cần hướng đến việc rènluyện và phát triển ở HS năng lực tự quản bản thân Trong các bài học, HS cần biếtxác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch đểđạt được mục tiêu đặt ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thukiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tíchcực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cầnthiết trong những tình huống của cuộc sống
* Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằmđạt được một mục đích nào đó Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiềuphương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao tiếp làngôn ngữ Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của
hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đờisống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhấtđịnh trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội
Trang 10Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngônngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp nhữnghiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích.
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực giaotiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tínhđặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HS đượchiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trongcác tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huống hội thoại theonghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếngViệt trong các hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường,bối cảnh để HS được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, đượchiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học Đây cũng là mụctiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theoquan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếngViệt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ
năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy
vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống
* Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việcnhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống,thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướngnhững suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện Như vậy, năng lực cảmthụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ sốcảm xúc của mỗi cá nhân Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định,đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhómcảm xúc
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắnvới tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc vớitác phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tácphẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình Nănglực cảm xúc, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trìnhngười học tiếp nhận tác phẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể hiện ở nhữngphương diện sau:
– Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hìnhảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sốngqua ngôn ngữ nghệ thuật
– Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học:cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn,….từ đó cảm nhận được
Trang 11những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tácphẩm.
– Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm vănhọc; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảmnhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có nhữnghành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quanthẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương
Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cáiđẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hìnhtượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sốngtốt đẹp hơn
Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp HS hình thành và pháttriển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rènluyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Trong quá trình hướng dẫn HStiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn còn giúp HS từng bước hình thành và nâng cao
các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết).
1.1.4 Phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực
a) Các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn
* Dạy học đọc hiểu:
Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, môn học bắt buộc ở cả 3 cấp,hướng tới việc hình thành và phát triến các năng lực đọc, viết tiếng Việt (năng lựctiếp nhận và xử lí thông tin, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực trình bày, tạo lậpcác kiểu loại văn bản cần thiết trong cuộc sống) Để phát huy vai trò công cụ củamôn học, một trong những điểm nhấn quan trọng khi vận dụng các PPDH bộ môn
là cần có quan niệm mới hơn về việc dạy đọc – hiểu trong môn học Ngữ văn
Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Nếu như trước đây chúng tacoi phân tích tác phẩm hay giảng văn là một phương pháp đặc thù của dạy văn thìhiện nay đã có những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề này của chương trình vàSGK Ngữ văn mới Cách dạy đọc – hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho họcsinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học, mà hướng đến việc cungcấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệthuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực, chủđộng, có sắc thái cá nhân Hoạt động đọc – hiểu của HS cần được thực hiện theomột trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọcthông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo Khi hình thành năng lực đọc– hiểu của học sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mĩ, khơi gợiliên tưởng, tưởng tượng và tư duy Năng lực đọc - hiểu của học sinh còn được hiểu
Trang 12là sự tích hợp những kiến thức và kĩ năng của các phân môn cũng như toàn bộ kĩnăng và kinh nghiệm sống của học sinh
Mặt khác, môn Ngữ văn không chỉ nhằm giúp HS hình thành và phát triểnnăng lực đọc – hiểu các văn bản theo thể loại với phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ,
mà còn hướng dẫn học sinh cách đọc và tìm hiểu các loại văn bản với các phươngtiện biểu đạt đa dạng, sử dụng nhiều yếu tố phi ngôn ngữ (sơ đồ, bản đồ, biểu bảng,hình ảnh,…) Nội dung thông tin trong các văn đọc hết sức phong phú, có liên quanđến nhiều lĩnh vực cuộc sống và nhiều môn học khác, do vậy, cần chú ý đến nhữngvấn đề liên môn trong việc dạy đọc – hiểu, đồng thời cần giúp HS có phương phápđọc, khả năng tự tìm kiếm nguồn thông tin đã dạng của cuộc sống để đáp ứng năng
lực, sở thích của cá nhân
Đọc hiểu bất kì một văn bản nào, người đọc cũng phải thực hiện các nhiệm
vụ sau đây:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểubiết chung về văn bản
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại vănbản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống
* Dạy học tích hợp
Để đáp ứng với yêu cầu dạy học Ngữ văn theo hướng hình thành và pháttriển năng lực, cần chú ý đến việc tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo hướng tíchhợp Quá trình dạy học tích hợp lấy chủ thể người học làm xuất phát điểm và đíchđến, trong đó tích hợp là việc tổ chức nội dung dạy học của GV sao cho học sinh cóthể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằmgiải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kĩnăng mới, từ đó phát triển được những năng lực cần thiết Trong môn học Ngữ văn,dạy học tích hợp là việc tổ chức các nội dung của các phân môn văn học, tiếngViệt, làm văn trong các bài học, giúp HS từng bước nâng cao năng lực sử dụngtiếng Việt trong việc tiếp nhận và tạo lập các văn bản thuộc các kiểu loại vàphương thức biểu đạt
Mặt khác, tính tích hợp của CT và SGK Ngữ văn còn thể hiện ở mối liênthông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống (qua việc tìm hiểu các văn bảnvăn học, đặc biệt là các văn bản nhật dụng, văn bản hành chính, qua chương trìnhdành cho địa phương), liên thông giữa kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với cácmôn học thuộc ngành khoa học xã hội nhân văn và các ngành học khác, nhằm giúp
HS có được kiến thức và kĩ năng thực hành toàn diện, góp phần giáo dục đạo đứccông dân, kĩ năng sống, hiểu biết xã hội, Như vậy, tích hợp trong môn học Ngữvăn không chỉ là phối hợp các kiến thức và kĩ năng của tiếng Việt và văn học mà
Trang 13còn là sự tích hợp liên ngành để hình thành một “phông” văn hoá cho HS trongviệc đọc - hiểu tác phẩm văn học và tạo lập những văn bản theo các phương thứcbiểu đạt khác nhau, có nghĩa là để thực hiện các mục tiêu đặt ra trong môn học Ngữvăn, HS cần vận dụng tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ, văn hoá, văn học,lịch sử, địa lí, phong tục, vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm của bản thân Điềunày cũng thể hiện rõ một trong những nhiệm vụ của môn học là hướng đến việc cáthể hoá người học.
do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểmbất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyếtvấn đề khó khăn
* Đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày nhữngsuy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây là phương pháp giảngdạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗđứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các emquan sát được từ vai của mình
Trong môn học Ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một sốnội dung học tập sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học; chuyển thểmột văn bản văn học thành kịch bản sân khấu, xử lí một tình huống giao tiếp giảđịnh, trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau
Phương pháp dạy học dự án có một số đặc điểm nổi bật như sau:
- Định hướng thực tiễn
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội
- Định hướng hứng thú người học
Trang 14- Dự án học tập mang nội dung tích hợp
- Định hướng hành động
- Tính tự lực cao của người học
- Tinh thần cộng tác làm việc
- Tạo ra sản phẩm:
1.2 Vài nét về văn học sau 1975 và truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
của Nguyễn Minh Châu.
1.2.1 Đặc điểm cơ bản của văn học sau 1975
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước bước vào một kỷ nguyên mới:độc lập – thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa
xã hội, đất nước gặp những khó khăn, thử thách mới Từ sau 1986, nền kinh tế, vănhóa có bước chuyển mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự mở rộng giao lưu vănhóa thế giới Trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội ấy, văn học có những đặcđiểm riêng:
- Văn học vận động và phát triển qua hai chặng:
+ Từ 1975 đến 1985: Đây là giai đoạn văn học chuyển mình, tìm kiếm conđường đổi mới phù hợp với yêu cầu của xã hội sau chiến tranh Đa phần các sángtác văn học có sự chuyển đổi về nội dung từ đề tài sử thi sang đề tài đời tư thế sự,nhưng giọng điệu và phương thức thể hiện vẫn chưa thay đổi: TP vẫn chưa thoátkhỏi “từ trường” của cách viết sử thi ở giai đoạn trước
+ Từ 1986 đến hết thế kỉ XX: Văn học chặng đường này đã hòa vào nhịp độhối hả của sự phát triển xã hội Cuộc sống mới với không khí dân chủ trong đờisống xã hội và “cơn gió” thị trường đã thổi vào văn học, làm xuất hiện hai xuhướng chống tiêu cực và ngợi ca những nhân cách cao đẹp
- Trong quá trình vận động và phát triển, văn học giai đoạn này đã bộc lộnhững đặc điểm cơ bản:
+ Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa với sự ý thức của chủ thể sángtạo, từ đó tạo điều kiện cho văn học phát triển phong phú, đa dạng, hướng tới tínhhiện đại
+ Văn học chịu sự chi phối của qui luật đời thường: Văn học giai đoạn nàykhơi sâu vào cuộc sống đa chiều, đi vào những cái nhỏ nhặt thường ngày, về nhữngcon người nhỏ bé có tên hoặc không tên Đưa cái đời thường vào tác phẩm, các nhàvăn đã mở rộng tối đa khả năng tiếp xúc của văn học đối với đời sống Quan tâmđến vấn đề xã hội, các nhà văn đề cao khát vọng về đạo đức tốt đẹp, về sự hoànthiện nhân cách con người Văn học bắt đầu đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc: sốphận cá nhân, bi kịch cá nhân, mối quan hệ cá nhân và cộng đồng
+ Sự thức tỉnh cá nhân và tinh thần nhân bản là cảm hứng bao trùm của vănhọc giai đoạn này
Trang 15Tóm lại, sự đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 ngày càng sâu sắc vàtoàn diện từ đề tài (quan tâm đến đề tài thế sự, số phận cá nhân, giá trị nhân bản)đến thi pháp, phong cách, trên cơ sở sự đổi mới của người viết trong quan niệm vềhiện thực và con người (hiện thực không đơn giản, một chiều mà phức tạp, thậmchí chứa đựng những nghịch lí; không chỉ có con người trong quan hệ chính trị vớicộng đồng, mà còn có con người trong quan hệ cá nhân, gia đình, con người vănhoá…), quan niệm về nhà văn và độc giả (quan niệm đối thoại bình đẳng), trong sựtiếp nhận ngày càng rộng rãi văn học nước ngoài.
Tinh thần đổi mới như trên thực chất là tinh thần dân chủ trong quan niệm vềsáng tác và tiếp nhận văn học Công cuộc đổi mới ngày càng đạt được thành tựutrên nhiều thể loại, nhưng nổi trội hơn cả là văn xuôi
Nhạy cảm với những vấn đề của đời sống, một số cây bút đã bộc lộ ý thứcmuốn đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống như
Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng, Thái Bá Lợi với Hai người trở lại trung đoàn.
Từ những năm 80 tình hình văn đàn trở nên sôi nổi hơn với những tiểu thuyết
Đứng trước biển và Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Cha và con và Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu; những tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê của Nguyễn Minh Châu.
1.2.2 Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và đặc điểm sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Có thể mượn lời nhà văn Nguyên Ngọc để nói về vị trí của Nguyễn MinhChâu trên văn đàn: “Nguyễn Minh Châu là nhà văn có vị trí rất đặc biệt trong đờisống văn học ta khoảng vài ba chục năm trở lại đây, đặc biệt trong khoảng thời gianhơn mười năm nay, tức là thời kì mà văn học đang có những sự chuyển động rấtphong phú, sâu sắc và phức tạp, một thời kì trở mình, trở dạ quằn quại của đấtnước, của xã hội, của con người, của văn học
Nói đến Nguyễn Minh Châu, chúng tôi nghĩ, trước hết là nói đến vị trí rấtđặc biệt, rất đặc sắc của anh trong cuộc trở dạ đau đớn và sinh thành ấy NguyễnMinh Châu là nhà văn thuộc lớp giữa, lớp bắt đầu cầm bút từ những năm miền Bắchòa bình và xuất hiện trên văn đàn trong thời kì chiến tranh chống Mĩ Trong thế hệ
đó, anh là người cảm nhận ra sớm nhất, sâu xa nhất, tận máu thịt tâm tưởng mìnhcái yêu cầu bức bách sống còn của cuộc trở dạ nọ, mà ngày nay chúng ta gọi làcôngcuộc đổi mới Đổi mới xã hội, đổi mới con người, đời sống, tâm tưởng, thân phậncon người, đổi mới văn học Và lặng lẽ, âm thầm, khiêm nhường mà cực kì dũngcảm, anh kiên định đi vào con đường đầy chồng gai và hiểm nguy đó Lặng lẽ, bởi
vì cuộc tìm kiếm thật sự nào, nhất là với những người đi tiên phong, bao giờ cũng íthay nhiều là đơn độc, lắm khi lẻ chiếc đến cô đơn Dũng cảm, bởi vì đối với nhà
Trang 16văn, mỗi sự đổi thay có tính khám phá, như chính lời anh nói, bao giờ trước hếtcũng là sự đổi thay, tự đổi mới, “tự thay máu” của chính mình”.
* Đặc điểm của nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
Đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là kết cấu tâm lí chất
“chuyện” mờ nhạt Truyện được triển khai theo sự vận động của tâm trạng, ít sựkiện, ít tình huống, biến cố Chính phương thức trần thuật này, giúp nhà văn cóđiều kiện xâm nhập vào thế giới bên trong của con người mà không cần dài lời.Nếu trước năm 1975, nhiều tác phẩm còn thiên về sự kiện, còn chú trọng đến cốttruyện, thì sau 1975 nhà văn đã di chuyển của tiểu thuyết và truyện ngắn từ cốttruyện sang nhân vật Tư tưởng chủ đề của tác phẩm được thể hiện chủ yếu qua tínhcách nhân vật, qua sự va chạm tác động lẫn nhau giữa các nhân vật, qua tâm trạngchứ không chủ yếu qua một số cốt truyện có đầu đuôi (Bến quê, Chiếc thuyềnngoài xa )
Trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, các sự kiện tình tiết khôngphát triển trực tuyến và sắp xếp theo thứ tự thời gian một chiều Nhiều tác phẩmkhông lấy chiều vận động thời gian khác quan làm chiều vận động của câu chuyện.Thời gian bị đảo lộn, hoặc cùng lúc xuất hiện nhiều chiều thời gian Trong nhiềutác phẩm Nguyễn Minh Châu sử dụng thành công kĩ thuật dòng ý thức, đồng hiệnthời gian, đi sâu vào thế giới tâm hồn, mở rộng dung lượng của truyện, mà khôngcần kể lể dài dòng
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, Nguyễn Minh Châu tỏ ra thành công trongviệc phân tích và diễn tả tâm lí nhân vật Nhân vật chủ yếu của truyện ngắn NguyễnMinh Châu là kiểu nhân vật tự ý thức, với đời sống nội tâm phong phú, Người họa
sĩ trong truyện ngắn Bức tranh, Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nhĩ trong Bến quê, người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa
đều là nhân vật tự ý thức, thể hiện cái nhìn đa chiều về con người của nhà văn
Ngòi bút của Nguyễn Minh Châu thật tinh tế khi khơi sâu vào những ngócngách sâu kín của tâm hồn con người Xây dựng nhân vật tự ý thức, nhà văn ít khi
sử dụng câu đối thoại, nhân vật ít hành động mà luôn suy nghĩ, chìm đắm trong suynghĩ Độc thoại, độc thoại bên trong vì thế trở thành biện pháp hữu hiệu giúp nhàvăn mổ xẻ quá trình tự ý thức của nhân vật Với Nguyễn Minh Châu, có thể nói lầnđầu tiên trong văn học sau 1975, con người tự đối diện với chính minh một cáchchân thật
Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giàu chất triết lí Ở nhiều truyện ngắn, nhânvật mang bóng dáng của chính nhà văn Vì vậy, những triết lí về lẽ đời, về nhân sinh,
về nghệ thuật đều bắt nguồn từ trái tim của một nhà văn luôn trăn trở với nghề, vớiđời Dẫu viết về người lính, trí thức hay nông dân, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu
đề lóe lên những tư tưởng sâu sắc Vì vậy có những truyện ngắn của Nguyễn MinhChâu mang tính luận đề - nhà văn bàn bạc về đạo đức nhân sinh, về tâm lí xã hội
Trang 17Truyện ngắn Bức tranh là luận đề về đạo đức xã hội, Chiếc thuyền ngoài xa là luận đề
về mối quan hệ giữ nghệ thuật và cuộc sống Những luận đề của tác phẩm được thểhiện qua hình tượng nhân vật, những nhân vật có máu thịt và có quá trình phát triểntính cách
Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đa giọng điệu Ngôn ngữ, giọng điẹu củangười kẻ chuyện sinh động, luôn biến hóa nhiều sắc thái biểu cảm (đan xen lời nửatrực tiếp, nửa độc thoại; giọng điệu tự nhiên, lúc nghiêm trang, lúc hài hước, dídỏm, lúc giàu chất triết lí ) Ngôn ngữ nhân vật được cá thể hóa, ngôn ngữ đốithoại sống động, tự nhiên như lời nói ngoài đời
* Vài nét về truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Minh Châu ở chặng đường sau 1975 Truyện ngắn được rút từ tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), sau đó được in lại trong tập Chiếc thuyền ngoài
xa (1987)
Tác phẩm được đưa vào tập truyện ngắn Tình yêu sau chiến tranh – tuyển
tập truyện ngắn Việt Nam đương đại do hai nhà văn Wayne Karlin và Hồ Anh Tháichủ biên, được nhà xuất bản Curbstone ấn hành ở Mĩ (bằng tiếng Anh)
Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm tiêu biểu cho truyện ngắn về đề tài đời tư
– thế sự của Nguyễn Minh Châu sau 1975 Những trang đời sinh động, đầy nghịch
lí đã hắt bóng vào những trang văn của Nguyễn Minh Châu Qua tác phẩm ngườiđọc thấy được những vấn đề phức tạp của đời sống, kể cả bi kịch số phận conngười
Chiếc thuyền ngoài xa thuộc dạng truyện luận đề Nguyễn Minh Châu đặt ra
mối quan hệ giữa văn học và đời sống Tuy vậy, Nguyễn Minh Châu không biếnnhân vật thành cái loa để phát biểu luận đề Thông qua một số cốt truyện nhiều tìnhhuống bất ngờ với một hệ thống nhân vật đa dạng, nhà văn đề cập tính trung thựccủa người nghệ sĩ, nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và hiện thực
Trang 18máy móc mà phát triển được năng lực tiềm ẩn của bản thân qua các hoạt động trãinghiệm sáng tạo của môn học Môn Ngữ văn được các em nhìn nhận thực tế hơn,gần gũi và “đời” hơn.
Tuy nhiên, dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh là chươngtrình dạy học mới, nên việc dạy và học cũng còn nhiều bất cập Giáo viên còn gặpnhiều lúng túng, chưa xác định được các phương pháp dạy học phù hợp Qua thực
tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy việc dạy – họctại đơn vị chưa thật sự phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh Điều
đó, thể hiện ở những tồn tại sau:
Thứ nhất, đối với dạy học đọc – hiểu chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ một
chiều những cảm nhận của giáo viên về văn bản, chưa hướng tới việc cung cấp chohọc sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuậtcủa văn bản Dạy học chú trọng đến cung cấp nội dung tư tưởng của văn bản vănhọc, ít chú trọng đến các phương tiện nghệ thuật Tóm lại, vẫn là chú trọng dạykiến thức hơn là hình thành kỹ năng
Thứ hai, đối với dạy học tích hợp vẫn mang tính khiên cưỡng, thiếu tự
nhiên, tức là giáo viên thường áp đặt những nội dung tích hợp vào bài học như bảo
vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống… một cách lộ liễu Chưa phát huy học sinhhuy động kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết cácnhiệm vụ học tập Chủ yếu tích hợp liên môn, chưa chú trọng tích hợp các phânmôn… chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tấtnhiên các năng lực của học sinh chưa được phát triển
Thứ ba, đối với việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực Trong những năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấp
thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến; việc
áp dụng những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện Tuy nhiên cáchthực hiện, hiệu quả giảng dạy để đạt được mục tiêu của nó là chưa cao, cụ thể như:
– Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vàomột vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉlại chưa thực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được – tính dânchủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhậnquan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân
– Phương pháp đóng vai thực sự là phương pháp chưa được giáo viên chútrọng Nếu có thực hiện thì chỉ là dạng bài viết (chẳng hạn nhập vai một nhân vật
để kể lại nội dung của tác phẩm), việc chuyển thể thành kịch bản, xử lí tình huốnggiả định, trình bày một vấn đề chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy mà học sinh
ít có cơ hội bày tỏ thái độ, chưa hứng thú, chưa hình thành được các kỹ năng vànăng lực của người học
Trang 19Những tồn tại và thiếu sót này đã được tôi nhìn nhận, rút kinh nghiệm và sẽtiếp tục khắc phục trong từng giờ giảng tiếp theo.
2.2 Thực tế dạy học tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Trong chương trình Ngữ Văn THPT Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm đại
diện cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu Tác phẩm thuộc văn học sau 1975, thểhiện rõ phong cách, đặc điểm sáng tác của Nguyễn Minh Châu Đồng thời, truyện
ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cũng nằm trong nội dung thi ĐH – CĐ nên được giáo
viên và học sinh chú ý nhiều Tỷ lệ đề thi ở các kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh ĐH– CĐ là rất cao Điều đó chứng tỏ giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tácphẩm là rất lớn, rất đa chiều Tuy nhiên, đây là tác phẩm mới nên chưa có nhiều tàiliệu, sách tham khảo về truyện ngắn này, nên gây khó khăn cho giáo viên và họcsinh trong quá trình đọc hiểu, khám phá tác phẩm Đây là tác phẩm hay, nhưng haythì thường khó dạy, giáo viên thường lúng túng trong cách dạy, mạch dạy của bài
Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy tác phẩm này không chỉ tiêu biểu choquan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975, cho văn học Việt Namđương đại mà nó còn có sự kế thừa, ảnh hưởng từ văn học Việt Nam trước 1945 Đặcbiệt hơi thở của cuộc sống hiện đại hiện rõ trong mỗi trang văn của truyện ngắn, rấtthích hợp để rèn luyện phát huy các năng lực cho học sinh Hơn nữa, vị trí của tácphẩm này lại nằm giữa chương trình học kì II lớp 12, (tiết theo phân phối của đơn vị làtiết 70 và 71) nên các em đã có sự trang bị về kiến thức cũng như kỹ năng của mônhọc khá tốt Vì thế, rất thích hợp để người học vận dụng giải quyết các vấn đề đặt ratrong tác phẩm Chính vì vậy tôi quyết định nghiên cứu, ứng dụng các phương phápdạy học phù hợp để có thể thông qua tác phẩm này phát triển các năng lực cho họcsinh
Trang 20CHƯƠNG II – DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI
XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
1 Phương pháp dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu nhằm phát triển năng lực học sinh
Phát triển các năng lực cho học sinh là hoạt động mang tính hệ thống, toàndiện trong toàn bộ quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh Vì vậy qua mộtbài học, hay một chủ đề giáo viên ngoài xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng,thái độ thì cần phải xác định được những năng lực mà bài học học sẽ hướng tới chohọc sinh Về cơ bản, với bài học này là một tác phẩm lớn, chứa đựng nhiều giá trịnội dung và nghệ thuật, đặc biệt lại phản ánh hiện thực cuộc sống đương đại nên rấtgần gũi với học sinh Do đó, vận dụng tốt các phương pháp dạy học truyền thống
và hiện đại sẽ giúp các em phát triển các năng lực: Năng lực giải quyết vấn đề;Năng lực sáng tạo; Năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ; Năng lực hợptác; Năng lực tự quản bản thân; Năng lực giao tiếp tiếng Việt
1 1 Vận dụng phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn
1.1.1 Dạy học đọc – hiểu
Phương pháp dạy học đọc hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được tôi
tiến hành như sau:
* Công tác chuẩn bị: Học sinh đọc trước văn bản ở nhà, tóm tắt được vănbản; huy động những hiểu biết đã có về tác giả, về thể loại, về hiện tượng đời sống
xã hội… để sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ trên lớp
* Hoạt động trên lớp, tôi yêu cầu học sinh thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản:
+ Các ý chính của văn bản (tóm tắt văn bản): Theo yêu cầu của trưởngphòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơianh đã từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho bộ lịch năm sau Sau nhiều ngày
“phục kích” Phùng đã chụp được “một cảnh đắt trời cho” – đó là hình ảnh chiếcthuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương Nhưng khi chiếc thuyềnvào bờ anh đã kinh ngạc hết mức khi chứng kiến cảnh gã chồng vũ phu đánh đậpngười vợ hết sức dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình.Những ngày sau cảnh đó lại tiếp diễn, và anh đã ra tay can thiệp… Theo lời mờicủa chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng) người đàn bà hàng chài đãđến tòa án huyện Tại đây, người phụ nữ ấy đã chối từ sự giúp đỡ của Phùng vàĐẩu, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu Chị đã kể lại câu chuyện cuộc đờimình và coi đó như là lí do giải thích cho sự từ chối trên Rời vùng biển, ngườinghệ sĩ đã có được tấm ảnh chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền vàbiển” năm ấy Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện
Trang 21lên màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũng thấyhình ảnh người đàn bà, nghèo khổ lam lũ ấy bước ra từ bức tranh.
+ Các chi tiết quan trọng: Hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng; câu chuyện củangười đàn bà hàng chài; tấm ảnh trong bộ lịch năm ấy; hình ảnh “chiếc thuyền ngoàixa”…
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
+ Giải thích cắt nghĩa: Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo yêucầu của trưởng phòng, Phùng đã về chiến trường cũ, đã dự tính bố cục, đã phụckích mấy buổi sáng để “chộp” được một cảnh thật ưng ý Một cảnh đẹp mà trời bancho người nghệ sĩ tâm huyết Như đã nói ở phần tóm tắt, phát hiện thứ nhất của
người nghệ sĩ nhiếp ảnh tại vùng biển này là “một cảnh đắt trời cho”, em hiểu
“một cảnh đắt trời cho”ở đây nghĩa là thế nào và vì sao người nghệ sĩ lại gọi cảnh tượng ấy như vậy? Cảm nhận của người nghệ sĩ khi được “chiêm ngưỡng bức ảnh nghệ thuật của tạo hóa” là thế nào? Vì sao trong lúc cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh, Phùng lại nghĩ đến lời đúc kết của một ai đó: “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”? Chứng kiến cảnh tượng về gia đình hàng chài, nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ: “Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đế mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn” Người nghệ sĩ như “chết lặng” không tin vào
những gì đang diễn ra trước mắt Tại sao người nghệ sĩ lại có thái độ như vậy?Người đàn bà hàng chài có làm theo gợi ý, đề nghị của Phùng và Đẩu không? Vìsao? (GV lưu ý HS phân tích các biểu hiện về thái độ, lời nói, suy nghĩ của ngườiđàn bà hàng chài khi từ chối sự giúp đỡ của chánh án Đẩu.) Trước khi nghe câuchuyện của người đàn bà vùng biển, thái độ của chánh án Đẩu là rất cương quyết.Nhưng khi nghe những gì mà người phụ nữ vùng biển ấy giãi bày, Đẩu cảm thấythế nào? Vì sao? Mỗi khi ngắm bức ảnh được chọn, người nghệ sĩ nhiếp ảnh thườngthấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó đã nói lên điều gì (suy luận)?
+ Mối liên hệ giữa các thông tin trong văn bản: Qua hai phát hiện của ngườinghệ sĩ nhiếp ảnh: Bức tranh thiên nhiên “toàn bích”của vùng phá nước làng chài
và bức tranh cuộc sống đầy bất ngờ và nghịch lí, tác giả muốn gửi gắm thông điệp:Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí Cuộc sốngluôn tồn tại những mặt đối lập, những mâu thuẫn: đẹp – xấu, thiện – ác, hiển nhiên– bất ngờ; Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, sơ lược mà
“cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử”, cần có cái
nhìn đa diện nhiều chiều phát hiện ra bản chất sau vẻ bề ngoài hiện tượng; Nghệthuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời Câu chuyện của người đàn bàhàng chài tại tòa án huyện: Đừng bao giờ nhìn nhận cuộc đời và con người mộtcách dễ dãi xuôi chiều Cần phải nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng trong hoàncảnh cụ thể của nó và trong mối quan hệ với nhiều yếu tố khác nữa Tấm ảnh trong
Trang 22bộ lịch năm ấy: Nghệ thuật chân chính không bao giờ rời xa cuộc đời Nghệ thuậtchính là cuộc đời và phải luôn luôn vì cuộc đời Muốn hay không muốn thì conngười vẫn là “tâm điểm” và họ mới là cái đẹp đích thực nhưng không dễ thấy Họvẫn sống quanh ta, bình dị, tự tin và chính họ mới là linh hồn, là sức sống của nghệthuật Nghệ thuật chân chính đừng bao giờ bằng lòng với vẻ đẹp hư ảo, vờn vẽ kiểu
Chiếc thuyền ngoài xa Nghệ thuật chính là cuộc đời và nghệ sĩ cần có cái nhìn
nhiều chiều trước cuộc sống
+ So sánh mối quan hệ giữa các nhân vật: Phùng và Đẩu là kiểu nhân vật tự
ý thức Cả hai đều có sự chuyển biến trong nhận thức về cuộc đời và nghệ thuật.Đối với Phùng qua hai phát hiện đầy nghịch lí anh đã hiểu ra chân lí về mối quan
hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời Đây là kiểu nhân vật tư tưởng của nhà văn Đối vớiĐẩu, chính cuộc đối thoại với người đàn bà nhẫn nhục, thất học đã khiến Đẩu hiểu
ra một điều mà không cuốn sách luật nào đề cập: rằng trong cuộc đời này con baonhiêu ngang trái; rằng cuộc đời vốn thế, ngổn ngang phi lí nhưng đôi khi con ngườiphải chấp nhận những điều phi lí đó Còn người đàn bà và lão chồng đều là nạnnhân của cái đói, cái nghèo; chị em thằng Phác – nạn nhân của bạo lực gia đình
+ Phân tích được mô hình tổ chức của văn bản: Cấu trúc của tác phẩm đượcxây dựng dựa trên các mặt đối lập: nửa đầu của truyện là cái đẹp nhìn bên ngoài,cái đẹp của thiên nhiên thuần khiết, nửa sau của tác phẩm là sự đối nghịch, là bứctranh cuộc đời loang lổ trắng đen, xấu tốt; Các tình huống truyện cũng sự đối lập:bên ngoài – bên trong, nghệ thuật – cuộc đời; Tính cách của các nhân vật cũngđược xây dựng trên các mặt đối lập: người đàn bà hàng chài; người đàn ông vũphu; thằng Phác, viên chánh án Đẩu; kể cả nhân vật kể chuyện tôi – Phùng đều cónhững mặt đối lập “Nhân vật không trùng khít với chính nó” – đây chính là quanđiểm mới mẻ của Nguyễn Minh Châu trong cái nhìn đa dạng về con người
+ Đưa ra được kết luận chung về văn bản: Qua hai phát hiện nghịch lí, quacâu chuyện của người đàn bà vùng biển, qua sự chuyển đổi nhận thức của Phùng vàĐẩu nhà văn định hướng cách tiếp cận cuộc đời cho người nghệ sĩ, cách nhìn đờicho con người nói chung
- Phản hồi và đánh giá các thông tin trong văn bản:
+ Cảm xúc của tác giả: luôn trăn trở về cuộc đời, cuộc sống của từng conngười qua đó cho ta thấy rõ tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
+ Làm rõ phong cách của tác giả: tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng thế
sự trong phong cách Nguyễn Minh Châu: tình huống độc đáo, ngôn ngữ điêu luyện,giọng kể khách quan…
- Vận dụng:
+ Tìm đọc các văn bản ngoài chương trình, giải quyết được các vấn đề trongcuộc sống như: vấn đề bạo lực gia đình, tìm được những giải pháp nâng cao đờisống (tinh thần) cho con người, hoàn cảnh gia đình và sự hình thành nhân cách của
Trang 23những đứa con…; Tìm đọc những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu sau 1975 (Bếnquê, Bức tranh), so sánh với sáng tác của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân vànhững truyện viết trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ(Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu; Những đứa con trong gia đình…) để thấy rõ đượcphong cách độc đáo cũng như quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời của ông Đồngthời cũng thấy được sự “mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học Việt Namđương đại”.
+ Viết sáng tạo:
Nếu là chánh án Đẩu, anh (chị) sẽ ứng xử như thế nào trước những lý do màngười phụ nữ vùng biển ấy đưa ra? Hãy viết một bài luận ngắn trình bày các giảipháp của anh (chị) cho vấn đề bạo hành gia đình?
So với một số tác phẩm của các tác giả khác viết trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ (Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình,…), Chiếc thuyền ngoài xa cho thấy những đổi mới nào của Văn học
Việt Nam sau năm 1975 (về đề tài, bút pháp, cái nhìn nghệ thuật về con người,…)?
Tóm lại: Cách dạy đọc hiểu giúp học sinh biết cách đọc, cách tiếp cận, khám
phá nội dung và nghệ thuật của văn bản theo các mức độ khác nhau từ đọc đúng,đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo, khơi dậy ở học sinh khảnăng liên tưởng, tưởng tượng, giúp học sinh thực sự được đắm mình trong thế giớivăn chương Từ đó, khơi dậy ở các em tình cảm mang tính thẩm mỹ, biết hướng tớigiá trị chân-thiện-mĩ Việc dạy đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh năng lựcđọc - hiểu mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản đặc biệt là năng lực viết sángtạo Tức là học sinh có khả năng trình bày, thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của bảnthân trước đối tượng, vấn đề đặt ra
1.1.2 Phương pháp dạy học tích hợp
Với phương pháp này tôi dự kiến sẽ thực hiện việc tích hợp theo hai hướng:tích hợp các phân môn trong môn Ngữ văn và tích hợp với các môn học khác cóliên quan để phục vụ công tác dạy học Do chương trình môn Ngữ văn đã đượcbiên soạn theo tinh thần tích hợp các phân môn, vì vậy giáo viên phải chú trọnggiữa dạy văn với tiếng Việt và làm văn Với bài học này tôi cũng sẽ thực hiện trêntinh thần đó
1.1.2.1 Tích hợp trong phân môn
a) Tích hợp với tiếng Việt và làm văn
Thông qua việc đọc – hiểu văn bản Chiếc thuyền ngoài xa GV cần kết để rèn
luyện tiếng Việt và kĩ năng tạo lập văn bản nhằm giúp học sinh phát triển và nângcao năng lực sử dụng tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học Ví dụ cụ thể nhưsau:
* Ví dụ 1: Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi: “Trước mặt tôi là một bức tranh
mực tàu của một danh họa thời cổ Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu
Trang 24sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong tim như có cái gì bóp thắt vào”.
- Hãy đặt tiêu đề cho đoạn văn trên?
- Đoạn văn trên tác giả chủ yếu sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào?
- Giọng điệu chủ đạo của đoạn văn trên là gì?
* Ví dụ 2: Cho đoạn văn: “Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước
chỗ tôi đứng, Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền Họ phải lội qua một quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối Bất giác tôi nghe người đàn ông nói chõ lên thuyền như quát: “Cứ ngồi nguyên đấy Động đậy tao giết cả mày
đi bây giờ” Chắc chắn họ không thấy tôi Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch.
Mụ rỗ mặt Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới tái ngắt và dường như đang buồn ngủ Người đàn ông đi sau Tấm lưng rộng và cong như một chiếc thuyền Mái tóc tổ quạ Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rũ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà.”
- Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn trên?
- Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên?
- Đoạn văn trên được viết theo giọng kể của ai?
- Người đàn bà trong đoạn trích trên được miêu tả như thế nào? Nhận xét vềngoại hình và tính cách của bà ta? …
* Ví dụ 3: Về nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu, có ý kiến cho rằng: nét nổi bật ở người nghệ sĩ này là một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp thơ mộng của cảnh vật Ý kiến khác thì nhấn mạnh: vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là một tấm lòng đầy trăn trở, lo âu
về thân phận con người Từ cảm nhận của mình về nhân vật Phùng, anh/chị hãy
bình luận những ý kiến trên
Như vậy bằng việc trả lời được các câu hỏi trên học sinh đã được củng cốkiến thức về tiếng Việt và làm văn
b) Tích hợp chủ đề:
* Ví dụ 4: Vì sao trong lúc cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh, Phùng lại nghĩ
đến lời đúc kết của một ai đó: “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”? Hãy lí giải và
liên hệ vấn đề với quan niệm của một số nhà văn khác khi họ cũng bàn đến tácdụng của nghệ thuật, của cái đẹp?
Trang 25Để giải quyết vấn đề này học sinh cần có sự liên hệ đến quan niệm về cái đẹp
của các nhà văn khác như: Thạch Lam: “Văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có thể vừa tố cáo, thay đổi thế giới giả dối, tàn
ác vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”; Nguyễn Tuân: qua chi tiết cuối truyện Chữ người tử tù “Ngục quan cảm động,vái người tù một cái mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”
Với truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện quan điểm nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu rất rõ: nghệ thuật chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ cuộcsống, phục vụ cuộc sống; tài năng và tấm lòng của nghệ sĩ là những nhân tố khôngthể thiếu được trong sự sáng tạo nghệ thuật Mối quan hệ giữa văn học và đời sống
luôn là vấn đề nóng bỏng Trước năm 1945, trong truyện ngắn Trăng sáng, qua nhân vật Điền, Nam Cao đã quan tâm đến vấn đề muôn thuở này: “văn chương không cần và không nên là ánh trăng lừa dối Văn chương chỉ có thể là những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” Hay Vũ Trọng Phụng cũng đã tuyên bố: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết, còn tôi và các nhà văn cùng chí hướng với tôi muốn tiểu thuyết phải là sự thực ở đời”
Ngoài ra trong cách xây dựng nhân vật và tình huống truyện ta còn thấy
Chiếc thuyền ngoài xa còn có sự gặp gỡ với các nhân vật trong sáng tác của Nam Cao như: Chí Phèo, Hộ, Từ trong Đời thừa và Chí Phèo?
*Ví dụ 5: “Nghệ thuật chân chính không bao giờ rời xa cuộc đời Nghệ thuật
chính là cuộc đời và phải luôn luôn vì cuộc đời” Quan niệm này của Nguyễn MinhChâu gợi chúng ta nhớ đến những nhà văn nào có cùng quan niệm hoặc khác quanniệm với ông?
* Ví dụ 6: Có ý kiến cho rằng: sự nhẫn nhục của nhân vật Từ (Đời thừa
-Nam Cao) không đáng trách, chỉ đáng thương; còn sự nhẫn nhục của người đàn bà
hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu) thì vừa đáng thương vừa
đáng trách Từ cảm nhận của mình về hai nhân vật này, anh/chị hãy bình luận ý
kiến trên
Trong chương trình Ngữ văn 12 học kì II, học sinh được học rất nhiều truyệnngắn được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, mỗi tácphẩm đều là những tiêu biểu cho thành tựu văn học các giai đoạn Học sinh nắmđược các kiến thức về đề tài, nhân vật, giá trị hiện thực và nhân đạo, quan điểmnghệ thuật về con người… Giáo viên cũng cần tích hợp kiến thức về đặc trưng thểloại, đề tài, giá trị hiện thực và nhân đạo, quan niệm nghệ thuật về con người đểcho học sinh thấy được sự sáng tạo của mỗi nhà văn, mỗi thời kì Đặc biệt là thấyđược sự đổi mới của văn học sau 1975
* Ví dụ 7: So với một số tác phẩm của các tác giả khác viết trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ (Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu,
Trang 26Những đứa con trong gia đình,…), Chiếc thuyền ngoài xa cho thấy những đổi mới
nào của Văn học Việt Nam sau năm 1975 (về đề tài, bút pháp, cái nhìn nghệ thuật vềcon người,…)?
Với việc giao các vấn đề, các nhiệm vụ học tập trên cơ sở gợi ý, hướng dẫncách giải quyết, GV đã tích hợp được kiến trong phân môn một tự nhiên, không quánặng nề và ôm đồm Học sinh khi giải quyết tốt các vấn đề này, không những chỉ
hiểu kiến thức của bài Chiếc thuyền ngoài xa mà cùng với việc tạo lập văn bản, học
sinh được rèn luyện tổng hợp các kĩ năng để có thể phát triển các năng lực về giảiquyết vấn đề, sáng tạo, sự dụng tiếng Việt và thưởng thức văn học
1.1.2.2 Tích hợp kiến thức lịch sử - xã hội
- Tích hợp kiến thức lịch sử: Bối cảnh nước ta năm 1983: nước ta lâm vào
cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề, đòi hỏi cần có cơ chế mới thích hợp để thay thế
cơ chế quan liêu bao cấp lỗi thời lạc hậu, kể cả lối bao cấp về tư tưởng Cơ chế đóphù hợp cho thời chiến nhưng khi thời bình đến, chúng ta vẫn duy trì cơ chế đó quálâu nên làm kìm hãm sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội Do đó đòi hỏi phảithay đổi trên mọi phương diện Qua đó, cũng thấy được sự cấp thiết trong việc đổimới đề tài, cách tiếp cận đời sống đối với văn học nghệ thuật…
- Khi tìm hiểu về phát hiện thứ hai – bức tranh nghịch lí của cuộc sống,
người đàn bà hàng chài, bé Phác GV có thể liên hệ các vấn đề xã hội: nạn bạo hành
gia đình, sự xuống cấp của đạo đức xã hội qua hệ thống câu hỏi sau:
+ Hãy tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực trong gia đình hàng chàitrong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Tình trạng đógây hậu quả như thế nào đối với trẻ em?
+ Từ truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu anh/chị cósuy nghĩ về nạn bạo hành gia đình trong xã hội hiện nay? Theo anh/chị cần làm gì
để có một gia đình êm ấm, hạnh phúc?
+ Qua câu chuyện người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyềnngoài xa của Nguyễn Minh Châu anh/chị có suy nghĩ về nạn bạo hành gia đình ởnhững vùng quê nghèo hiện nay?
- Tích hợp vấn đề bình đẳng giới: GV cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu
nguyên nhân, hậu quả của nạn bạo hành gia đình được nhà văn khái quát trong tácphẩm trên một vấn đề sau:
+ Phân tích tình trạng bạo hành của người chồng đối với vợ và sự cam chịucủa người vợ trong một cuộc sống lầm than, người vợ đã chấp nhận tình trạng khốnkhổ của mình để cho con có cha, để cho gia đình có người đàn ông Suy nghĩ nàycòn khá phổ biến trong những người phụ nữ bị bạo lực, họ không tự nhận thức làphải chống lại nạn bạo hành mà họ là nạn nhân, và đây là yếu tố góp phần làm chonạn bạo hành phụ nữ vẫn tồn tại dai dẳng
Trang 27+ Bạo lực xuất phát từ sự mông muội về nhận thức của cả người chồng lẫn
người vợ trong truyện của Nguyễn Minh Châu
+ Chúng ta có thể ca ngợi sự chịu đựng của người vợ bị bạo hành nhưngchúng ta cũng phải cho thấy sự thiếu nhạy cảm về tình trạng đáng phẫn nộ của bạohành phụ nữ
+ Người vợ trong Chiếc thuyền ngoài xa luôn bị người chồng bạo hành vô
cớ với "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng" nhưng người vợ luôn "camchịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cáchtrốn chạy" Và bạo lực lại sinh ra bạo lực: để bênh vực mẹ, người con trai đánh trả
bố mình, thậm chí sẵn sàng dùng dao để giết bố nhưng được người mẹ ngăn lại thì bên cạnh việc ca ngợi sự hy sinh, chịu đựng của người vợ chúng ta nên cónhững định hướng rõ ràng trong cách giải quyết vấn đề để không dẫn đến tình trạngbạo lực nối tiếp bạo lực
+ Từ những vấn đề trên ta thấy nguyên nhân của sự mất bình đẳng giới đó là:Người phụ nữ là nạn nhân chủ yếu của những vụ bạo hành trong gia đình, có lẽ lí
do lớn nhất cần nói đến chính là tư tưởng đã ăn sâu và trong suy nghĩ không chỉ củariêng những người đàn ông, mà còn cả trong tư tưởng của những người phụ nữ, đó
là phụ nữ là những người yếu đuối, phải phụ thuộc vào đàn ông Tư tưởng và suynghĩ này bị chi phối bởi nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu là do ảnh hưởng từ tư tưởngphong kiến lạc hậu, vẫn còn bám rễ trong suy nghĩ của những người phương Đông
Từ xưa, người phụ nữ trong xã hội phong kiến đã thấp cổ bé họng, lại luôn phảiphụ thuộc vào người đàn ông, người chồng Họ không được đi học, không đượctham gia chính trị, không được giao lưu tự do ngoài xã hội, chỉ thu mình trongkhuôn khổ hà khắc, với tư tưởng “xuất giá tòng phu” Không thể phủ nhận rằng tưtưởng của Nho giáo nói riêng và phong kiến phương Đông nói chung có nhiềuđiểm tiến bộ, nhưng về quyền lợi của người phụ nữ thì quả là không công bằng sovới nam giới trong gia đình, xã hội Ta có thể bắt gặp nhiều hình ảnh của người phụ
nữ xưa trong xã hội cũ, với kiếp hồng nhan truân chuyên cơ cực (Dẫn chứng: ThúyKiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; Vũ Nương trong “Chuyện người congái Nam Xương” của Nguyễn Dữ; nữ thi sĩ như Hồ Xuân Hương và nhân vật Mịtrong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài;…) Thử hỏi rằng những thân phận đó, họ cóbao giờ được hưởng đủ đầy một hạnh phúc đời thường, có bao giờ được yêuthương trọn vẹn không? Đáng buồn thay, người phụ nữ xưa bị chà đạp về nhânphẩm, họ thường bị coi rẻ, bạo hành bởi người chồng, bị chà đạp nhân phẩm khiphải chịu kiếp chồng chung
+ Qua đó giáo dục cho học sinh thấy được tình cảm gia đình là tình cảm thật
thiêng liêng, nó kết nối mọi thành viên trong gia đình với nhau, kết nối mọi ngườitrở thành một thể thống nhất Gia đình có hòa thuận, hạnh phúc ấm no thì xã hộimới ổn định, văn minh Mọi người đối xử với nhau tốt đẹp thì cả cộng đồng sẽ thật
Trang 28an ấm, tươi vui Từ khi đất nước đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiềuchính sách và pháp luật để chống bạo lực trong gia đình, cũng như đảm bảo nhiềuquyền lợi về bình đẳng giới của người phụ nữ trong xã hội.
+ “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu hẳn không chỉ kết thúc ở
đó, nó còn để lại biết bao bài học cho mỗi người Câu chuyện về cuộc đời ngườiđàn bà hàng chài mở ra cho mỗi chúng ta những suy nghĩ đau đáu về cuộc đời vàhạnh phúc của mỗi thành viên trong gia đình Bạo hành trong gia đình - vấn đềnhức nhối của mỗi cộng đồng, mỗi đất nước liệu có bao giờ kết thúc? Câu trả lờinằm ở mỗi chúng ta - là những chủ nhân tương lai của đất nước Khi bình vấn đềnày cần tạo lập một niềm tin vững chắc cho học sinh vào tương lại, tin vào bản thânmình: Các em chính là những chủ nhân trong tương lai, là những thế hệ mang đủniềm tin, nghị lực và ý chí để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹphơn Hạnh phúc gia đình là động lực cho sự thành công của mỗi con người, là sựthịnh vượng của mỗi xã hội, là bằng chứng văn minh cho sự tiến bộ của loài người!
Tóm lại: Dạy học tích hợp là tổ chức nội dung dạy học của giáo viên sao chohọc sinh có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành kiến thức, kĩnăng, từ đó phát triển được các năng lực cần thiết Dạy học tích hợp diễn ra ở baphân môn Làm văn, tiếng Việt, Văn học Có thể tích hợp ba phân môn hoặc tíchhợp môn Ngữ văn với các môn học khác như Lịch sử, Địa lý, GDCD, Ngoài giờlên lớp, tích hợp giữa kiến thức trong sách vở với kiến thức thực tiễn cuộc sống.Nếu chương trình ngữ văn THCS lấy trục tích hợp là các kiểu văn bản như miêu tả,
tự sự, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng để học sinh hiểu đặc trưng văn bản theokiểu loại, từ đó có khả năng tạo lập văn bản thì chương trình ngữ văn THPT lấytrục tích hợp là nội dung đọc-hiểu văn bản và tạo lập văn bản, giúp học sinh pháttriển, nâng cao năng lực thưởng thức văn học và năng lực sử dụng tiếng Việt trongcác tình huống giao tiếp
- Tìm hiểu về phần tiểu dẫn với 3 nội dung cơ bản:
+ Nhóm 1: Trình bày những tìm hiểu về tiểu sử của Nguyễn Minh Châu.+ Nhóm 2: Trình bày kết quả tìm hiểu về sự nghiệp sáng tác của NguyễnMinh Châu
+ Nhóm 3: Trình bày kết quả tìm hiểu của nhóm mình về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (xuất xứ,vị trí)
Trang 29(Lưu ý: HS đã được học về nhà văn Nguyễn Minh Châu ở THCS, cho nên
GV có thể giao nhiệm vụ này trước để HS tự chuẩn bị Với nội dung này GV có thể
áp dụng ở những lớp HS trung bình hoặc yếu, nên sử dụng bảng phụ)
- Tìm hiểu về hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng: GV nêu vấn đề và
tổ chức cho HS thảo luận nhóm, với các câu hỏi gợi ý sau:
+ Phát hiện thứ nhất là gì? Cảm nhận của người nghệ sĩ trước cảnh ấy nhưthế nào?
+ Phát hiện thứ hai là gì? Động thái của người nghệ sĩ trước cảnh ấy như thếnào?
+ Đặt hai cảnh tượng trái ngược liền kề nhau, tác giả muốn người đọc nhậnthức gì về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời?
+ Từ đó cho thấy Nguyễn Minh Châu có sự kế tục Nam Cao như thế nào?
(Lưu ý: Với nội dung này GV có thể sử dụng trong quá trình hình thành kiến thức mới, nên áp dụng ở những lớp HS khá giỏi)
- Tìm hiểu về nạn bạo lực gia đình qua câu chuyện của gia đình hàng chài:
GV nêu vấn đề và tổ chức cho HS thảo luận nhóm Với nội dung GV yêu cầu HSphải có sự liên hệ đến thực tế xã hội hiện nay Các nhóm phải thảo luận về các vấnđề:
1.2.2 Đóng vai
Đối với phương pháp này GV có thể chọn một số vấn đề sau để học sinh thểhiện:
* Tìm hiểu về nhân vật bé Phác:
- Cho học sinh hóa thân vào nhân vật để nêu cảm xúc và suy nghĩ của Phác
khi thấy mẹ bị bố hành hạ, sau hành động đánh lại bố và lúc lau nước mắt cho mẹ?
- Giáo viên tổ chức cho học sinh đóng vai phỏng vấn (PV) và người trả lờiphỏng vấn (TLPV) để rút ra vấn đề xã hội qua nhân vật này
+ PV: Vì sao Phác giật chiếc thắt lưng quật lại bố rồi cầm dao ngăn bố?+ TLPV: Vì bố hành hạ mẹ, tôi muốn bảo vệ mẹ
+ PV: nhưng người đó lại là bố, Phác không sợ mất bố sao?