1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt thực tế tại tỉnh tây ninh và một số kiến nghị

79 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 724,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này không đồng nghĩa với việc vô hình chung tạo nên sự không cân bằng về vị trí cũng như quyền và nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng mu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP Hồ Chí Minh

VÕ NGUYỄN TRÚC BẠCH

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN

PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SINH HOẠT THỰC TẾ TẠI TỈNH TÂY NINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP Hồ Chí Minh

VÕ NGUYỄN TRÚC BẠCH

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN

PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SINH HOẠT THỰC TẾ TẠI TỈNH TÂY NINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Chuyên ngành: Luật Kinh tế Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng

Mã số: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ ANH

TP Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 3

mục đích sinh hoạt – thực tế tại tỉnh Tây Ninh và một số kiến nghị” do TS Nguyễn Thị Anh hướng dẫn, là kết quả từ quá trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là rõ ràng và minh bạch

Tây Ninh, ngày 10 tháng 6 năm 2020

Tác giả

Võ Nguyễn Trúc Bạch

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

TÓM TẮT

ABSTRACT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SINH HOẠT 8

1.1 Những vấn đề cơ bản về hợp đồng mua bán điện 8 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán điện 8

1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán điện 8

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán điện 10

1.1.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán điện 13

1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán điện 16

1.2 Một số nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt 17 1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng 17

1.2.2 Hình thức của hợp đồng 19

1.2.3 Bên bán điện 20

1.2.4 Bên mua điện 21

1.2.5 Đối tượng của hợp đồng 24

1.2.6 Giá điện 25

1.2.7 Việc ghi chỉ số và thanh toán tiền điện 28

1.2.8 Xử lý hành vi vi phạm hợp đồng 29

1.2.9 Phương thức giải quyết tranh chấp 32

Tiểu kết Chương 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN ĐIỆN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SINH HOẠT TẠI TỈNH TÂY NINH - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 36

2.1 Khái quát về tỉnh Tây Ninh và ngành điện tỉnh Tây Ninh 36

Trang 5

2.1.2 Khái quát ngành điện tỉnh Tây Ninh 37

2.2 Thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt tại tỉnh Tây Ninh 39 2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt 43

2.3.1 Hoàn thiện các quy định về hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt 43

2.3.1.1 Hình thức hợp đồng 43

2.3.1.2 Điều kiện bán điện cho khách hàng sử dụng điện 44

2.3.1.3 Giá điện 45

2.3.1.4 Chất lượng điện năng 46

2.3.1.5 Mức phạt vi phạm hợp đồng 47

2.3.1.6 Xử lý hành vi vi phạm hợp đồng 48

2.3.1.7 Phương thức giải quyết tranh chấp 49

2.3.2 Hoàn thiện các quy định khác của pháp luật có liên quan 50

2.3.2.1 Hoàn thiện các khái niệm trong lĩnh vực điện lực 50

2.3.2.2 Hoàn thiện các quy định về thị trường điện lực cạnh tranh 53 Tiểu kết Chương 2 57

KẾT LUẬN 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Điện năng là một loại hàng hóa đặc biệt ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong cuộc sống hằng ngày cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người Hoạt động mua bán điện diễn ra trên thị trường điện lực với nhiều mối quan hệ được xác lập giữa các đối tượng khác nhau, giữa bên bán điện và bên mua điện nhằm phục vụ nhiều mục đích khác nhau Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ký kết giữa đơn vị điện lực và khách hàng sử dụng điện có đối tượng của hợp đồng là điện năng và nhằm phục vụ mục đích sinh hoạt Bằng phương pháp phân tích luật học và phân tích số liệu thực tế tại tỉnh Tây Ninh, trên cơ sở quan điểm cá nhân, tác giả đã xác định một số điểm bất cập, vướng mắc

và trên cơ sở quan điểm cá nhân nêu lên một vài kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động mua bán điện, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thúc đẩy hình thành và hoàn thiện thị trường điện lực cạnh tranh trở thành động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế của đất nước./

Từ khóa: lĩnh vực điện lực; mua bán điện; hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt; hợp đồng mẫu; tỉnh Tây Ninh

Trang 7

Electricity is a special commodity increasingly asserting its important role

in daily life as well as production and business activities of people Electricity trading activities take place on the electricity market with many relationships established between different subjects, between electricity sellers and electricity buyers in order to serve many different purposes Electricity trading contracts for daily-life purposes is signed between the electricity unit and the electricity user whose electricity is used for the purpose of the contract By using the methods of analyzing jurisprudence and analyzing actual data in Tay Ninh province, the author has identified some inadequacies, problems and based on this I gave some recommendations to complete the provisions of the law on electricity trading contracts for domestic purposes Thereby, it would improve the efficiency of electricity trading activities, protect consumer rights, promote the formation and the completion of the competitive electricity market that would become a strong driving force for the country's economic development

Key words: electricity sector; electricity trading; Electricity trading contracts for daily-life purposes; sample contract; Tay Ninh province

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Ngày nay, điện năng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật cũng như trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người Điện năng cung cấp năng lượng để các thiết bị sử dụng điện như cái quạt điện tạo ra gió làm mát, bếp điện dùng để nấu nướng thức ăn… phục vụ cho con người; đến những máy móc, dây chuyền kỹ thuật hiện đại sản xuất ra hàng nghìn, hàng triệu sản phẩm mỗi ngày mang đến doanh thu cho các công ty và thu nhập cho người lao động Từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân trong xã hội Vì thế, mgành điện được xem là ngành công nghiệp giữ vai trò làm nền tảng của hầu hết các nền kinh tế và việc quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia trên thế giới

Cũng như các loại sản phẩm, hàng hóa khác, đối với sản phẩm điện năng thì thị trường điện lực xuất hiện cùng với việc hình thành quan hệ mua bán giữa chủ thể sản xuất điện với chủ thể sử dụng điện Tuy nhiên, điện năng là loại hàng hóa đặc biệt, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, có sự ràng buộc chặt chẽ với nhau, không có tiêu thụ thì không thể sản xuất được; hoạt động giao dịch mua bán điện trên thị trường điện lực rất phức tạp, không chỉ có sự liên hệ với lĩnh vực thương mại, tài chính mà còn có mối quan hệ trực tiếp với quá trình sản xuất, tiêu thụ điện, công nghệ, kỹ thuật truyền tín hiệu Hoạt động cung ứng điện không chỉ đơn giản là phát điện và tiêu thụ mà về cơ bản bao gồm bốn khâu như sau: (1) sản xuất, (2) truyền tải, (3) phân phối và (4) bán lẻ điện

Để hoạt động mua bán điện được diễn ra giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng điện thì các thỏa thuận, giao kết của họ được ghi nhận bởi các hợp đồng mua bán điện và đặc biệt hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt chiếm

đa số trong các loại hợp đồng mua bán điện Thế nhưng, với đặc điểm nước ta đang trong quá trình xây dựng hoàn chỉnh một thị trường điện lực cạnh tranh, thì hợp đồng mua bán điện sinh hoạt hiện nay nói riêng và lĩnh vực điện lực nói chung vẫn còn chịu sự điều tiết của Nhà nước ở một mức độ nhất định Thậm chí trong một vài trường hợp thì việc tìm hiểu và tiếp cận các quy định của pháp luật trong lĩnh vực điện lực cũng gặp phải nhiều rào cản và khó khăn

Trang 9

Trên thực tế, khách hàng sử dụng điện dường như chỉ quan tâm đến việc nhu cầu sử dụng điện của họ được đáp ứng mà có thái độ thờ ơ với các quy định của pháp luật liên quan đến những điều khoản trong hợp đồng mua bán điện khi ký kết Bởi lẽ, sự lựa chọn một tổ chức, đơn vị nào khác có khả năng cung cấp điện để bán cho họ sử dụng gần như là hoàn toàn không thể xảy ra trong giai đoạn này của thị trường điện lực nước ta Dẫn đến việc người tiêu dùng trong mối quan hệ này khó

có khả năng để thỏa thuận về những nội dung quan trọng như: giá điện, cách thức ghi điện, kỳ thanh toán và nhìn chung, họ chỉ thực hiện động tác “ký tên” vào hợp đồng mua bán điện đã được “mẫu hóa” sẵn như một dạng thủ tục Hoặc thậm chí trong một vài trường hợp khi có hành vi vi phạm hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, bên bán có quyền ngừng cung cấp điện thì khách hàng sử dụng điện đành “bắt buộc đồng ý” mà không có sự lựa chọn nào khác nếu muốn có điện

để tiếp tục sử dụng Qua đó, rõ ràng trong thực tiễn đang tồn tại sự bất cân đối giữa

vị trí của bên bán điện và bên mua điện khi tham gia vào quan hệ mua bán điện sinh hoạt Bên cạnh đó, cũng phải kể đến nguyên nhân xuất phát từ việc những yêu cầu, kiến nghị của bên mua điện đã được bên bán giải quyết thỏa đáng bằng dịch vụ chăm sóc khách hàng Vì vậy, số lượng khiếu nại, khởi kiện các đơn vị điện lực phát sinh từ tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán điện cũng tương đối ít

Với vị trí công tác tại Sở Công Thương - cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Tây Ninh, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực điện lực trên địa bàn tỉnh; qua quá trình tham mưu cho Chánh Thanh tra Sở tiến hành hoạt động thanh kiểm tra hoạt động mua bán điện trên địa bàn quản lý, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực cũng như làm việc trực tiếp với chủ thể có hành vi vi phạm; người nghiên cứu đã có cơ hội tiếp xúc và ghi nhận những ý kiến thắc mắc từ khách hàng sử dụng điện Từ đó, đối chiếu các quy định của pháp luật và thực tiễn, theo quan điểm của cá nhân thì việc kiến nghị, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán điện sinh hoạt là hết sức cấp thiết nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng nói riêng cũng như tạo hành lang pháp lý cho việc hình thành thị trường điện lực cạnh tranh ở nước ta nói chung

Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua

bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt - Thực tế tại tỉnh Tây Ninh và một số

Trang 10

kiến nghị” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế hệ ứng dụng để nghiên cứu và

từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp hoàn thiện

2 Tổng quan nghiên cứu

Qua quá trình tổng hợp, tôi nhận thấy rằng những đề tài nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa đã được nhiều cá nhân thực hiện như: Nguyễn Công Đại,

2017, Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng

mẫu ở Việt Nam hiện nay Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội;

Trương Thị Thùy Dương, 2018, Hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt

Nam Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật- Đại học Huế; Trần Văn Phấn, 2018, Pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Luận

văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật - Đại học Huế;

Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng mua bán điện sinh hoạt nói riêng cũng như pháp luật trong lĩnh vực điện lực được lựa chọn thực hiện khá ít xuất phát từ những

lý do như: (1) điện năng là một loại hàng hóa đặc biệt; (2) lĩnh vực điện lực ở Việt Nam là một lĩnh vực vẫn còn chịu sự quản lý và điều tiết của Nhà nước; (3) thị trường điện lực cạnh tranh tại Việt Nam hiện nay đang trong quá trình xây dựng và vẫn chưa hoàn thiện Một số các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực điện lực thường xoay quanh nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh, dịch vụ chăm sóc khách hàng, cơ cấu nhân sự từ góc nhìn của kinh tế học hay nói cách khác là hướng tập trung vào hoạt động kinh doanh nội tại bên trong của đơn vị điện lực, có thể kể đến

như: Mân Thanh Tùng, 2016, Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị nguồn nhân

lực tại Công ty Điện lực Cần Thơ Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Tây Đô; Cao

Thị Ly Na, 2018, Pháp luật về thị trường bán buôn điện cạnh tranh từ thực tiễn

Tổng Công ty Điện lực Miền Trung Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Học viện Khoa

học Xã hội; Nguyễn Hoài Nam, 2018, Phát triển thị trường điện lực Việt Nam

Luận án Tiến sĩ kinh tế phát triển, Học viện Hành chính quốc gia TP.HCM,

Từ đó, có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu dường như vẫn chưa dành sự quan tâm đến hành lang pháp lý đối với hợp đồng mua bán điện sinh hoạt, trong khi

số lượng đối tượng bị tác động bởi các quy định pháp luật trong mối quan hệ này là rất lớn Những quy định này tác động trực tiếp đến đối tượng khách hàng sử dụng điện, là khâu cuối cùng trong chuỗi cung ứng điện và là chủ thể tiêu dùng loại hàng hóa đặc biệt này

Trang 11

Thêm nữa, một trong những khó khăn khi thực hiện luận văn này chính là quá trình tập hợp và nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong lĩnh vực điện lực, cùng một nội dung nhưng lại được điều chỉnh rải rác trong các văn bản khác nhau Bên cạnh đó, số lượng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực điện lực cũng gia tăng rất nhiều để sửa đổi, bổ sung kịp thời với sự biến động của công nghệ, kỹ thuật hay phát sinh từ nhu cầu của thực tiễn Và điều đáng lưu

ý nữa là một số quy định trong lĩnh vực điện lực thường gắn liền với những thuật ngữ mang tính chuyên môn về kỹ thuật cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình nghiên cứu

3 Mục đích - phạm vi nghiên cứu

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu đặt ra là nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành đối với hợp đồng mua bán điện sinh hoạt đang được thực hiện trên thị trường điện lực Từ đó xác định những nội dung đặc trưng của loại hợp đồng này so với các loại hợp đồng mua bán điện khác như về hình thức, các bên tham gia, đối tượng, giá điện, xử lý hành vi vi phạm Người thực hiện đề tài đứng

ở góc độ xem xét điện năng như một loại hàng hóa có những tính chất đặc thù riêng biệt mà không hướng đến việc xác định hợp đồng mua bán điện sinh hoạt là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại

Trên cơ sở phân tích một số nội dung của hợp đồng mua bán điện sinh hoạt

và từ thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh, kết hợp với kinh nghiệm cá nhân rút ra từ thực tiễn quá trình công tác tại Thanh tra Sở Công Thương, người nghiên cứu nhận diện và xác định những bất cập, vướng mắc đang tồn tại hoặc có thể phát sinh trong tương lai gần Từ đó, đưa ra được những đề xuất, kiến nghị giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán điện sinh hoạt cũng như những vấn đề khác có liên quan trong lĩnh vực điện lực

Trong hoạt động mua bán điện có nhiều loại hợp đồng mua bán điện được ký kết giữa các chủ thể như: hợp đồng mua điện với nhà máy phát điện, hợp đồng bán buôn điện, hợp đồng mua bán điện mặt trời ; tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của

đề tài chỉ giới hạn đối với loại hợp đồng mua bán điện sinh hoạt Đây là loại hợp đồng có liên quan trực tiếp đến đối tượng khách hàng sử dụng điện hay nói cách khác là đối tượng trực tiếp tiêu thụ, sử dụng điện trong mối quan hệ mua bán điện với đơn vị bán lẻ điện

Trang 12

Bên cạnh đó, đề tài này chỉ dừng lại ở việc phát hiện, nhận diện những vấn

đề bất cập, vướng mắc phát sinh từ thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và quan điểm cá nhân của tác giả qua quá trình nghiên cứu mà không đặt ra mục tiêu xác định nguyên nhân, lý do để từ

đó những quy định của pháp luật có liên quan được ban hành

Thời gian lấy số liệu được thu thập, tổng hợp trong 05 năm từ ngày 01/01/2015 đến hết ngày 31/12/2019

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, người nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích luật học truyền thống kết hợp với phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật xoay quanh vấn đề nghiên cứu đặt ra của đề tài này với thực tế

Điều tiên quyết để thực hiện đề tài này là người nghiên cứu phải tập hợp và cập nhật đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn

có liên quan trong lĩnh vực điện lực cũng như trực tiếp quy định đối với nội dung nghiên cứu là hợp đồng mua bán điện sinh hoạt

Thu thập, phân tích, xử lý và đối chiếu các số liệu do Công ty Điện lực Tây Ninh cung cấp có liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện sinh hoạt tại địa bàn tỉnh Tây Ninh cùng với một số đặc thù riêng biệt về điều kiện kinh tế - xã hội và ngành điện của tỉnh

Từ những bất cập, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện sinh hoạt, cũng như những vấn đề mới đặt ra trong bối cảnh thị trường điện lực cạnh tranh được hình thành và ngày càng hoàn chỉnh hơn; chúng

ta cần đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm giải quyết, khắc phục những hạn chế và góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật đối với hợp đồng mua bán điện sinh hoạt nói riêng và lĩnh vực điện lực nói chung

5 Câu hỏi nghiên cứu

1 Hợp đồng mua bán điện là gì? Hợp đồng mua bán điện có những đặc điểm gì? Có những loại hợp đồng mua bán điện nào?

2 Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt có những nội dung nào cần lưu ý?

3 Thực trạng hoạt động mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt tại tỉnh Tây Ninh?

Trang 13

4 Kiến nghị của người nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt và pháp luật trong lĩnh vực điện lực?

6 Ý nghĩa

Điện lực là một ngành quan trọng cần có sự quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước và điện năng là một loại hàng hóa đặc thù được pháp luật quy định những nội dung liên quan đến hoạt động mua bán loại hàng hóa này Tuy nhiên, việc quản

lý Nhà nước đối với lĩnh vực này không đồng nghĩa với việc vô hình chung tạo nên

sự không cân bằng về vị trí cũng như quyền và nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt, mà cụ thể là Công ty Điện lực với khách hàng sử dụng điện

Với những kiến thức đã được trang bị, tích lũy từ chương trình học Thạc sỹ ứng dụng Luật Kinh tế, xuất phát từ công tác cụ thể của cá nhân tại đơn vị, tôi muốn thực hiện luận văn này để nâng cao hiệu quả công việc của mình tại Thanh tra Sở Công Thương và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý đối với ngành điện tại địa bàn tỉnh Tây Ninh

Qua luận văn này, từ việc xác định và phân tích những bất cập, vướng mắc đang tồn tại trong thực tiễn hoặc dự báo có khả năng phát sinh để đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt cũng như phần nào đối với lĩnh vực điện lực đang đứng trước những thách thức và nhiều biến động Mặt khác, việc nghiên cứu cũng giúp nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động mua bán điện sinh hoạt khi khách hàng sử dụng điện là bên mua điện, là chủ thể trực tiếp tiêu thụ điện Việc hoàn thiện những quy định của pháp luật có liên quan giúp tạo tiền đề, chuẩn bị hành lang pháp lý cho sự hoàn chỉnh thị trường điện lực cạnh tranh mà Việt Nam đang xây dựng, phần nào hạn chế những “lỗ hỏng pháp luật” có thể xuất hiện

Trang 14

Chương 2: Thực trạng hoạt động mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt tại tỉnh Tây Ninh - Một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 15

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN

PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SINH HOẠT

1.1 Những vấn đề cơ bản về hợp đồng mua bán điện

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán điện

1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán điện

Điện năng cũng như các loại sản phẩm, hàng hóa khác, thị trường điện lực là nơi diễn ra quan hệ mua bán nhằm để thỏa mãn nhu cầu giữa bên bán điện và bên mua điện Trên thị trường điện lực có nhiều đối tượng tham gia và tồn tại những loại hợp đồng mua bán điện khác nhau được giao kết theo những cặp chủ thể với

những đặc điểm đặc thù của mối quan hệ mua bán đó

Theo nhà Kinh tế học David Begg: “Thị trường là sự dàn xếp giữa người

Theo nhà Kinh tế học Paul Anthony Samuelson: “Thị trường là một quá

trình trong đó người mua và người bán cùng một thứ hàng hoá tác động qua lại với

Tiến sĩ Nguyễn Hoài Nam trong Luận án Tiến sĩ Phát triển thị trường điện lực Việt Nam được ông thực hiện năm 2018 cũng đã đưa ra quan điểm cá nhân về

thị trường điện lực như sau: “Thị trường điện lực là hệ thống cho phép nhà cung

ứng điện năng và nhu cầu sử dụng gặp nhau được xác định bằng giá mua điện trên

Thế nhưng, thị trường điện lực không hoàn toàn giống như các thị trường giao dịch hàng hóa, dịch vụ khác; bởi lẽ, quá trình cung ứng loại sản phẩm này không thể chỉ có bên bán điện mà đến trực tiếp tay người tiêu dùng là bên mua điện được Nó bắt buộc phải thông qua nhiều khâu, nhiều đơn vị trung gian như đơn vị truyền tải, phân phối, điều độ cùng tác động cộng hưởng một cách nhịp nhàng, cân bằng giữa sản xuất với tiêu dùng, đảm bảo các điều kiện về kỹ thuật - công nghệ và khó có đối tượng khác thay thế mà thực hiện được Thậm chí còn phải xét đến tính đặc thù của loại hàng hóa điện năng khi người tiêu dùng không thể cầm,

1 David Begg, Stanley Fischer, 2007, Kinh tế học, Nhà xuất bản thống kê;

2Paul A Samuelson, 2009, Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê;

3 Nguyễn Hoài Nam, 2018, Phát triển thị trường điện lực Việt Nam Luận án Tiến sĩ kinh tế phát triển, Học

viện Hành chính quốc gia TP.HCM (trang 34)

Trang 16

nắm, nhìn, ngửi hay lựa chọn mà điện được tiêu dùng thông qua quá trình hoạt động của các thiết bị sử dụng điện chuyển hóa thành các dạng năng lượng khác Đồng thời, việc mua bán điện còn có một đặc điểm riêng biệt của loại hàng hóa này chính

là quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ diễn ra gần như song song với nhau hoặc dẫu có cũng chỉ là một quãng thời gian cực kỳ ngắn

Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận

giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Từ

đây có thể thấy rằng hợp đồng dân sự được hình thành dựa trên các yếu tố cơ bản bao gồm:

- Thứ nhất, hợp đồng phải có sự tham gia của các bên, ít nhất là hai bên tham gia vào vị trí hai bên của hợp đồng Điều này khác với hành vi pháp lý đơn phương chỉ đơn thuần là sự bày tỏ công khai ý chí của một bên khi tham gia vào một giao dịch dân sự;4

- Thứ hai, hợp đồng được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận và thống nhất ý chí mà các bên tham gia vào hợp đồng đạt được Sự thỏa thuận này hoàn toàn xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện của các chủ thể tham gia vào hợp đồng, nếu không thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực;5

- Thứ ba, hậu quả pháp lý của hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên

Tính đến thời điểm thực hiện đề tài này, Văn bản hợp nhất Luật Điện lực số 03/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018 (sau đây gọi tắt là Luật Điện lực) vẫn chưa đưa ra quy định chính thức về khái niệm hợp đồng mua bán điện Tuy nhiên, tại Khoản 4 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện có đưa ra khái niệm hợp đồng mua bán điện dưới hình thức liệt

kê các loại hợp đồng: “Hợp đồng mua bán điện bao gồm hợp đồng mua bán điện

phục vụ mục đích sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hành chính sự nghiệp, bơm nước tưới tiêu và hợp đồng bán buôn điện thuộc đối tượng áp dụng giá bán điện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Do đó, trên cơ sở những

nội dung nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm hợp đồng mua bán điện như sau: Hợp

4 Điều 116 Bộ luật dân sự năm 2015;

5 Điểm b Khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015

Trang 17

đồng mua bán điện là thỏa thuận giữa bên bán điện và mua bán điện về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên về đối tượng là điện năng

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán điện

Một là, hợp đồng song vụ

Hợp đồng mua bán điện luôn tồn tại ít nhất hai bên gồm bên bán và bên mua, trong đó các bên đều có nghĩa vụ với nhau mà không có trường hợp một bên chỉ có quyền và một bên chỉ có nghĩa vụ hay nói cách khác hợp đồng mua bán điện là một dạng hợp đồng song vụ.6 Căn cứ vào thời hạn do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật mà mỗi bên thực hiện nghĩa vụ tương ứng của mình theo nội dung hợp đồng mua bán điện đã được giao kết theo quy định Việc thực hiện hợp đồng song vụ và các trường hợp được miễn trừ theo quy định tại Điều 410, Điều

411 và Điều 413 Bộ luật Dân sự năm 2015

Hai là, hình thức của hợp đồng

Trước đây, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định riêng về hình thức của hợp đồng; tuy nhiên, đến khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành thì quy định trên đã được xóa bỏ Mặc dù vậy, căn cứ theo quy định về các hình thức của giao dịch dân sự tại Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng dân sự được thể hiện dưới 03 hình thức: lời nói, văn bản và hành vi cụ thể

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Luật Điện lực có hai hình thức mua bán điện trên thị trường điện lực bao gồm:

“(1) Mua bán thông qua hợp đồng có thời hạn giữa bên bán điện và bên mua điện;

(2) Mua bán giao ngay giữa bên bán điện và bên mua điện thông qua đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực.”

Hay nói cách khác, việc mua bán điện trên thị trường điện lực đều được thực hiện thông qua việc giao kết hợp đồng mua bán điện, xác nhận sự thỏa thuận giữa bên bán điện và bên mua điện Điểm khác nhau cốt lõi giữa hai hình thức mua bán điện là việc hình thức hợp đồng mua bán điện có thời hạn được thể hiện bằng văn bản7 còn hình thức mua bán giao ngay thì không Hợp đồng mua bán điện giao ngay theo thời điểm giao dịch, tức là bên bán chỉ cần đăng ký mua điện bằng điện thoại,

6 Khoản 1 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015;

7 Điều 22 Luật Điện lực

Trang 18

fax, với đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực và đơn vị này có trách nhiệm thực hiện.8

Ba là, thời hạn của hợp đồng

“Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời

thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng Khoảng thời gian này được tính từ thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực đến thời điểm xuất hiện các căn cứ làm chấm dứt hợp đồng có thể theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì thời hạn là một trong số những nội dung tùy nghi được xác định trong nội dung hợp đồng mà không phải là yếu tố bắt buộc.10 Thế nhưng, trên cơ sở quy định hai hình thức mua bán điện trên thị trường điện lực gồm: (1) mua bán điện theo hợp đồng có thời hạn

và (2) mua bán điện giao ngay giữa bên bán điện và bên mua điện thông qua đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực thì yếu tố có thời hạn là yếu tố bắt buộc nếu giao kết bằng hợp đồng mua bán điện thể hiện bằng văn bản

Nếu hợp đồng mua bán điện giao ngay thời hạn được xác định tại thời điểm thực hiện việc “khớp lệnh” do đơn vị điều hành giao dịch trên thị trường điện lực quyết định thì với hợp đồng mua bán điện có thời hạn yếu tố này được ghi nhận theo nhiều cách khác nhau như: ghi nhận thời gian cụ thể được tính bằng tháng hoặc năm, do hành vi làm chấm dứt hợp đồng của một trong các bên Hợp đồng mua bán điện được xác định thời hạn khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: loại hợp đồng được ký kết, mục đích sử dụng của bên mua điện, khả năng cung cấp của bên bán điện, nhu cầu của bên mua điện, thỏa thuận giữa bên bán điện và bên mua điện hoặc theo quy định của pháp luật; nhưng tuyệt nhiên, không có loại hợp đồng mua bán điện không xác định thời hạn hay nói cách khác là vô hạn

Bốn là, giá điện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Khi giao kết hợp đồng thì giá hàng hóa, dịch vụ thông thường do các bên thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu của họ hoặc dựa vào các loại hàng hóa, dịch vụ tương

tự trên thị trường Thế nhưng, đối với hợp đồng mua bán điện thì việc thỏa thuận

8 Vụ Công tác lập pháp, 2005, Những Nội dung cơ bản của Luật Điện lực, Nhà xuất bản Tư pháp (trang 44);

9 Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 2015;

10 Khoản 2 Điều 39 Bộ luận Dân sự năm 2015

Trang 19

giá điện giữa bên mua điện và bên bán điện đều bị giới hạn trên cơ sở tuân thủ theo

quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Dẫu vậy, trong Chính sách giá điện

cũng đã xác định phải: “Bảo đảm quyền tự quyết định giá mua, bán điện trong

khung giá, cơ cấu biểu giá bán lẻ điện do Nhà nước quy định của các đối tượng mua bán điện trên thị trường điện lực; Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các

việc hình thành thị trường điện lực cạnh tranh ở nước ta thế nhưng tại thời điểm này chưa thật sự được triển khai đầy đủ trong thực tiễn

Tùy theo đối tượng bán điện, đối tượng mua điện, mục đích sử dụng điện, thời gian sử dụng điện, khu vực mua bán điện, cấp điện áp, hình thức mua bán điện mà giá điện và khả năng để các bên tự thỏa thuận giá điện được quy định khác nhau Khái quát có bốn loại giá điện trong hoạt động mua bán điện bao gồm: (1) giá bán lẻ điện, (2) giá phát điện, (3) giá bán buôn điện và (4) giá mua bán điện giao ngay

Giá bán lẻ điện được giao cho đơn vị bán lẻ điện xác định căn cứ vào khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán

lẻ điện do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp với từng cấp độ phát triển của thị trường điện lực Trừ trường hợp tại khu vực mà việc đầu tư và hoạt động điện lực không có hiệu quả kinh tế thì giá bán lẻ điện sinh hoạt do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng không được ngoài khung giá trong biểu giá bán lẻ điện.12

“Khung giá phát điện, khung giá bán buôn điện, giá truyền tải điện, giá dịch

vụ phụ trợ hệ thống điện, phí điều độ vận hành hệ thống điện và phí điều hành giao dịch thị trường điện lực do đơn vị điện lực có liên quan xây dựng; cơ quan điều tiết điện lực thẩm định trình Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt theo sự phân công của Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều

62 của Luật Điện lực

Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn phương pháp lập khung giá phát điện, khung giá bán buôn điện, giá truyền tải điện, giá dịch vụ

11 Khoản 4, 5 Điều 29 Luật Điện lực;

12 Khoản 1 Điều 31 Luật Điện lực

Trang 20

phụ trợ hệ thống điện, phí điều độ vận hành hệ thống điện và phí điều hành giao dịch thị trường điện lực.” 13

Do đó, trong việc giao kết hợp đồng mua bán điện có thời hạn giữa các đơn

vị điện lực, giá phát điện và giá bán buôn điện do các bên thỏa thuận nhưng không được phép vượt quá khung giá đã được Bộ Công Thương quy định “Trong quá trình đàm phán, trường hợp chưa thỏa thuận được về giá phát điện, giá bán buôn điện để ký hợp đồng mua bán điện có thời hạn, Bộ Công Thương quyết định mức giá tạm thời để áp dụng cho đến khi bên mua điện và bên bán điện thỏa thuận được mức giá chính thức.”14

“Giá mua bán điện giao ngay được hình thành theo thời điểm giao dịch trên thị trường điện lực và do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực công bố

Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam vẫn đang hoàn thiện dần thì giá bán lẻ điện và giá bán buôn điện được ghi nhận trong hợp đồng bằng hình thức áp dụng trực tiếp theo quy định tại Phụ lục Giá bán điện ban hành kèm theo Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/3019 của Bộ Công Thương

mà bên mua điện và bên bán điện thường không thỏa thuận lại

1.1.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán điện

Hiện nay, Luật Điện lực vẫn chưa quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán điện; do đó, căn cứ vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, tác giả xác định các điều kiện như sau:

Như đã trình bày ở trên, hợp đồng mua bán điện được thực hiện theo hai hình thức gồm mua bán điện giao ngay và hợp đồng mua bán điện có thời hạn; trong đó, chỉ có hợp đồng mua bán điện có thời hạn phải thể hiện bằng văn bản để đảm bảo tính hiệu lực về mặt hình thức của hợp đồng

Hai là, điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng 17

13 Khoản 2 Điều 31 Luật Điện lực;

14 Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực;

15 Khoản 4 Điều 31 Luật Điện lực

16 Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Trang 21

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật Điện lực thì chỉ có bốn đối tượng có thể trở thành chủ thể tham gia vào hợp đồng mua bán điện trong số bảy đối tượng thamg gia vào thị trường điện lực18, bao gồm: (1) Đơn vị phát điện; (2) Đơn vị bán buôn điện; (3) Đơn vị bán lẻ điện và (4) Khách hàng sử dụng điện Mỗi chủ thể này đều có những quy định riêng về điều kiện cũng như quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào hợp đồng mua bán điện

* Đơn vị phát điện

Đơn vị phát điện là đơn vị trực tiếp thực hiện hoat động sản xuất điện, là khâu đầu tiên trong chuỗi cung ứng điện; thế nhưng, sản phẩm là điện năng được sản xuất ra cũng như đơn vị thực hiện việc phát điện phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật thì đơn vị sản xuất điện mới trở thành đơn vị phát điện tham gia thị trường điện lực Khái niệm về đơn vị phát điện không được quy định trong Luật Điện lực mà được quy định trong phần giải thích từ ngữ ở nhiều Thông tư khác nhau vẫn còn hiệu lực của Bộ Công Thương; tuy nhiên, nội hàm của khái niệm có một số điểm khác nhau Khoản 11 Điều 3 Thông tư số 42/2015/TT-BCT ngày 01/12/2015 của Bộ Công Thương quy đo đếm điện năng trong hệ thống

điện: “Đơn vị phát điện là đơn vị điện lực sở hữu một hoặc nhiều nhà máy điện đấu

nối vào hệ thống điện quốc gia, được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh

vực phát điện” Điều kiện cấp Giấy phép hoạt động phát điện được quy định tại

Điều 28, Điều 29 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực

* Đơn vị bán buôn điện

Khái niệm về đơn vị bán buôn điện không được quy định trong Luật Điện lực

mà chỉ được quy định tại Khoản 12 Điều 3 Thông tư số 25/2016/TT-BCT ngày

30/11/2016 của Bộ Công Thương quy định hệ thống điện truyền tải: “Đơn vị bán

buôn điện là đơn vị điện lực được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực bán buôn điện” Điều kiện cấp Giấy phép hoạt động bán buôn điện được quy định

tại Điều 28, Điều 32 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính

17 Điểm a Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015;

18 Khoản 2 Điều 3 Luật Điện lực

Trang 22

phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực

Điều kiện cụ thể đối với đơn vị bán lẻ điện và khách hàng sử dụng điện sẽ được phân tích ở phần sau của đề tài

Ba là, ý chí của các chủ thể khi tham gia vào hợp đồng mua bán điện phải

Cũng như nguyên tắc chung của các loại hợp đồng mua bán khác, việc tham gia phải hoàn toàn tự nguyện là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng Mặc dù vậy, trong giao kết hợp đồng mua bán điện tại nước ta hiện nay thì điều kiện này vẫn chưa được đảm bảo thực chất Bởi vì, việc lựa chọn đơn vị phát điện là có thể thực hiện trong bối cảnh đã có thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam hiện nay; thế nhưng, khách hàng sử dụng điện vẫn chưa thể có sự lựa chọn đối với đơn vị bán lẻ điện để đáp ứng nhu cầu của mình

Đối với hợp đồng mua bán điện có đối tượng là điện năng nên không phát sinh trường hợp vô hiệu do “mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán điện không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.20

1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán điện

Thứ nhất, căn cứ theo hoạt động mua bán điện

- Hợp đồng bán buôn điện: hợp đồng được ký kết giữa đơn vị điện lực này với đơn vị điện lực khác để bán lại cho bên thứ ba;21

- Hợp đồng bán lẻ điện: hợp đồng được ký kết giữa đơn vị bán lẻ điện với khách hàng sử dụng điện, không bán lại cho bên thứ ba.22

Thứ hai, căn cứ theo mục đích sử dụng

- Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt;

- Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sản xuất;

- Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích kinh doanh;

- Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích chiếu sáng công cộng;

- Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích hoạt động của khối hành chính,

sự nghiệp

19 Điểm b Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015;

20 Điểm c Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015

21 Khoản 4 Điều 3 Luật 9 Điện lực;

22 Khoản 5 Điều 3 Luật 9 Điện lực

Trang 23

Thứ ba, căn cứ theo cấp điện áp

- Hợp đồng mua bán điện với cấp điện áp từ 22kV trở lên;

- Hợp đồng mua bán điện với cấp điện áp từ 6 kV đến dưới 22kV;

- Hợp đồng mua bán điện với cấp điện áp dưới 6 kV

Thứ tư, căn cứ theo thời hạn của hợp đồng

- Hợp đồng mua bán điện ngắn hạn (dưới 12 tháng);

- Hợp đồng mua bán điện trung hạn (từ 12 tháng đến dưới 60 tháng);

- Hợp đồng mua bán điện dài hạn (từ 60 tháng trở lên);

- Hợp đồng mua bán điện giao ngay.23

Thứ năm, căn cứ theo hình thức hợp đồng mua bán điện

- Hợp đồng mua bán điện thể hiện bằng văn bản;

- Hợp đồng mua bán điện giao ngay không thể hiện bằng văn bản

Thứ sáu, căn cứ theo chủ thể bán điện

- Hợp đồng mua bán điện giữa đơn vị phát điện với đơn vị bán buôn điện;

- Hợp đồng mua bán điện giữa đơn vị bán buôn điện với đơn vị bán lẻ điện;

- Hợp đồng mua bán điện giữa đơn vị bán buôn điện với khách hàng sử dụng điện;

- Hợp đồng mua bán điện giữa đơn vị bán lẻ điện với khách hàng sử dụng điện

1.2 Một số nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt

1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng

Bên mua điện thông qua Giấy đề nghị cấp điện (theo mẫu của đơn vị bán lẻ điện) thể hiện nhu cầu sử dụng điện của mình với bên bán điện Sau khi tiếp nhận được thông tin từ bên mua điện, bên bán điện sẽ đến địa điểm mà giấy đề nghị cấp điện đăng ý để tiến hành việc khảo sát về việc đáp ứng các điều kiện bán điện sinh hoạt theo quy định của pháp luật Nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện thì bên bán điện sẽ cung cấp bảng tính các chi phí mà bên mua phải trả Khi bên mua điện đồng

ý và thanh toán đầy đủ số tiền trên, bên bán điện sẽ đến tiến hành các công việc như

23 Điểm b Khoản 2 Điều 20 Luật Điện lực

Trang 24

kéo đường dây, lắp đặt công tơ để cung cấp điện cho bên mua sử dụng và đồng thời ký kết hợp đồng mua bán điện tại thời điểm đó

Thời hạn ký kết hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt là khoảng thời gian mà pháp luật cho phép để Bên bán điện ký kết hợp đồng với khách hàng sử dụng điện sinh hoạt Trong thời hạn 07 ngày làm việc khi có đủ các điều kiện theo quy định, Bên bán điện phải ký kết hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt và cấp điện cho bên mua điện.24 Nếu vi phạm thời hạn này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 134/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết

kiệm và hiệu quả: “Phạt tiền Đơn vị bán lẻ điện từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000

đồng đối với hành vi Không ký hợp đồng mua bán điện sau 07 ngày làm việc mà không có lý do chính đáng kể từ khi bên mua điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã bảo đảm các điều kiện theo quy định và thỏa thuận về các nội dung trong dự thảo hợp đồng.”

Quy trình cấp điện sinh hoạt được khái quát như sau:25

- Bước 1: Khách hàng có nhu cầu sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt gửi

hồ sơ đề nghị cấp mới từ lưới điện từ hạ áp cho Công ty Điện lực với thành phần hồ

sơ do quy trình của Công ty ban hành trên cơ sở quy định của pháp luật và Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

- Bước 2: Công ty Điện lực liên hệ với khách hàng để tiến hành việc khảo sát tại địa điểm đăng ký mua điện Nếu kết quả khảo sát đảm bảo theo quy định thì hai bên tiến hành thỏa thuận và thống nhất về các nội dung: vị trí và thời gian lắp đặt công tơ, chi phí mà bên khách hàng phải trả và bên Công ty Điện lực hỗ trợ;

- Bước 3: Hoàn thành các nội dung tại Bước 2, bên bán sẽ tiến hành lắp đặt công tơ (có Biên bản treo tháo công tơ) đồng thời ký kết hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt tại thời điểm đóng điện (tức là khách hàng đã có điện để

Trang 25

Và bên mua điện chịu trách nhiệm quản lý tài sản, đảm bảo an toàn đối với đường dây dẫn điện từ sau thiết bị đo đếm (công tơ) đến nơi sử dụng điện.26

Như vậy, việc đề nghị giao kết hợp đồng mua bán điện không giống như

thông thường theo quy định tại Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đề

nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng” Hiện nay, thời gian cấp điện mới được Công ty Điện lực tính từ thời gian

bên mua điện có giấy đề nghị đến thời điểm hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ký kết Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả thì đề nghị giao kết hợp đồng trong hoạt động mua bán điện sinh hoạt này được xác định tại thời điểm bên bán điện gửi bảng tính chi phí lắp đặt đường dây và công tơ đến khách hàng Bởi những lý do sau đây:

- Nếu có bảng tính này thì đồng nghĩa với việc bên mua điện đã đáp ứng đầy

đủ điều kiện cấp điện theo quy định của pháp luật;

- Mức chi phí phải trả là một trong những yếu tố tác động đến việc bên mua điện có tiếp tục hay không nhu cầu sử dụng điện của mình;

- Ngay sau khi thanh toán đầy đủ chi phí, bên bán điện sẽ tiến hành các thao tác kỹ thuật để cung cấp điện và đồng thời ký kết hợp đồng với bên mua điện

Bên cạnh đó, có một bất cập phát sinh là dường như bên mua điện hay nói cách cách là khách hàng sử dụng điện không có thời gian để xem xét hay thỏa thỏa thuận gì thêm với bên bán điện về các điều khoản trong hợp đồng trước khi ký kết

Tại Điều 4 Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương ban hành mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh họat, thời hạn của hợp đồng được xác định như sau:

- Một là, thời hạn hợp đồng do hai bên thỏa thuận;

- Hai là, trường hợp hai bên không thỏa thuận cụ thể thì thời hạn của Hợp đồng mua bán điện sinh hoạt được tính từ ngày ký kết (hay nói cách khác là thời điểm bên mua điện có điện để sử dụng) đến ngày các bên sửa đổi, bổ sung hoặc chấm dứt Hợp đồng

1.2.2 Hình thức của hợp đồng

26 Khoản 6 Điều 7 Phần các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương

Trang 26

Điều 22 Luật Điện lực quy định “Hợp đồng mua bán điện có thời hạn phải

được thể hiện bằng văn bản” Đây là đặc điểm thể hiện sự khác biệt về mặt hình

thức xác lập các thỏa thuận giữa bên bán điện và bên mua điện theo hình thức hợp đồng mua bán điện có thời hạn so với hình thức mua bán điện giao ngay trên thị trường điện lực Hợp đồng mua bán điện sinh hoạt là một dạng của hợp đồng mua bán điện có thời hạn được phân loại trên cơ sở mục đích sử dụng điện năng của bên mua điện Do đó, hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt phải thể hiện bằng văn bản.27

Theo Điều 1 Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương, mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư này áp dụng đối với Hợp đồng mua bán điện giữa đơn vị bán lẻ điện và khách hàng sử dụng điện phục vụ mục đích sinh hoạt Như vậy, bên cạnh việc hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt phải được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản thì còn phải tuân thủ theo hợp đồng mẫu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành mà cụ thể là Bộ Công Thương.28

Ngoài ra, xuất phát từ mục tiêu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tại phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng

ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung lại xác định “Cung cấp điện sinh

hoạt” thuộc danh sách hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu,

điều kiện giao dịch chung Hay nói cách khác là mẫu hợp đồng mua bán điện phục

vụ mục đích sinh hoạt muốn được áp dụng vào thực tiễn phải thực hiện theo trình

tự, thủ tục đăng ký hợp đồng theo mẫu theo quy định của pháp luật liên quan

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, nếu xem “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng

gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận

mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt dẫu được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành mẫu vẫn không hẳn toàn bộ nội dung đều được quy định sẵn Có

27 Điều 22 Luật Điện lực;

28 Khoản 4 Điều 11 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực;

29 Khoản 1 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 27

một số nội dung của hợp đồng các bên vẫn được trao quyền để các bên có thể thỏa thuận với nhau để xác định hoặc bổ sung vào phần những thỏa thuận khác mà các bên cho là cần thiết.30

1.2.3 Bên bán điện

Luật Điện lực và các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực điện lực không quy định khái niệm về đơn vị bán lẻ điện mà chỉ có khái niệm Đơn vị phân phối và bán lẻ điện được quy định tại Khoản 15 Điều 3 Thông tư số 25/2016/TT-

BCT ngày 30/11/2016 của Bộ Công Thương quy định hệ thống điện truyền tải:

“Đơn vị phân phối và bán lẻ điện là đơn vị điện lực được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phân phối điện và bán lẻ điện, mua buôn điện từ Đơn vị bán buôn điện hoặc Đơn vị phân phối điện để bán lẻ điện cho Khách hàng sử dụng điện” Qua đó, có thể đưa ra khái niệm: Đơn vị bán lẻ điện là đơn vị điện lực được

cấp Giấy phép hoạt động bán lẻ điện để bán lẻ điện cho khách hàng sử dụng điện

Đơn vị bán lẻ điện có các quyền sau đây:31

“- Hoạt động bán lẻ điện theo giấy phép hoạt động điện lực;

- Cạnh tranh mua, bán điện trên thị trường điện lực;

- Định giá bán trên thị trường bán lẻ điện cạnh tranh theo quy định tại khoản

1 Điều 31 của Luật Điện lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật Điện lực;

- Sử dụng dịch vụ truyền tải điện, phân phối điện phù hợp với từng cấp độ của thị trường điện lực;

- Được vào khu vực quản lý của bên mua điện để kiểm tra, ghi

công tơ và liên hệ với khách hàng;

- Được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động bán lẻ điện;

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.”

Điều kiện cấp Giấy phép hoạt động bán lẻ điện được quy định tại Điều 28, Điều 33 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực Hiện nay, trong thực tiễn hợp đồng mua bán điện phục vụ mục

30 Điều 2 Những thỏa thuận khác Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương;

31 Khoản 1 Điều 44 Luật Điện lực

Trang 28

đích sinh hoạt được ký kết bởi bên bán điện là Công ty Điện lực ở các tỉnh, thành với đại diện theo pháp luật là chức danh Giám đốc công ty

1.2.4 Bên mua điện

Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật Điện lực: “Khách hàng sử dụng điện

là tổ chức, cá nhân mua điện để sử dụng, không bán lại cho tổ chức, cá nhân khác”

hay nói cách khác, khách hàng sử dụng điện là khâu cuối cùng trong chuỗi cung ứng điện, là chủ thể trực tiếp sử dụng điện, tiêu thụ điện thông qua các thiết bị sử dụng điện mà không bán lại cho các tổ chức, cá nhân khác Khách hàng sử dụng điện cũng có thể được xem là đối tượng quan trọng nhất trong thị trường điện lực; bởi lẽ, nếu không có khách hàng sử dụng điện thì chuỗi cung ứng điện sẽ không hoàn chỉnh; sản phẩm được tạo ra từ hoạt động phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn và bán lẻ điện sẽ bị mất đi mà không có đối tượng để đáp ứng nhu cầu; sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, không có tiêu thụ thì không thể sản xuất được; gây ảnh hưởng đến quá trình vận hành cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh mua bán điện Thêm nữa, khách hàng sử dụng điện cũng chỉ xuất hiện với tư cách là bên mua điện trong hoat động bán lẻ điện32, trong hoạt động bán buôn điện không sử dụng thuật ngữ này; do đó, giá bán điện áp dụng đối với khách hàng sử dụng điện là giá bán lẻ điện

Theo quy định tại Khoản 8 Điều 2 Quyết định số 505/QĐ-EVN ngày 15/5/2017 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam về việc ban hành Quy định cung cấp

các dịch vụ điện áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam: “Khách

hàng mua điện sinh hoạt là khách hàng mua điện để sử dụng tiêu dùng cho các nhu cầu sinh hoạt gia đình hàng ngày” hay nói cách khác, bên mua điện trong hợp đồng

mua bán điện sinh hoạt chỉ có chủ thể là hộ sử dụng điện tồn tại với tư cách như cá nhân mà không có chủ thể là tổ chức trong mối quan hệ này

Cụ thể các dạng bên mua điện trong hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt như sau:33

(1) Hộ sử dụng điện cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình mình có hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt trực tiếp với bên bán điện;

32 Khoản 5 Điều 3 Luật Điện lực:“Bán lẻ điện là hoạt động bán điện của đơn vị điện lực cho khách hàng sử dụng điện”;

33 Điều 10 Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-BCT ngày 16/10/2019 của Bộ Công Thương quy định về thực hiện giá bán điện

Trang 29

(2) Bên mua điện sinh hoạt có các hộ sử dụng điện dùng chung công tơ (có

hộ khẩu riêng);

(3) Bên mua điện sử dụng vào mục đích sinh hoạt cho nhà ở tập thể của cán

bộ, công nhân viên chức, lực lượng vụ trang, nhà ở của người tu hành; ký túc xá học sinh, sinh viên;

(4) Bên mua điện sử dụng vào mục đích sinh hoạt của người thuê nhà để ở,

có hai dạng như sau:

(4.1) Bên thuê nhà là hộ gia đình: Chủ nhà trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt hoặc chủ nhà ủy quyền cho hộ gia đình thuê nhà

ký kết hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt với bên bán điện (có cam kết thanh toán tiền điện);

(4.2) Bên thuê nhà không phải là hộ gia đình:

+ Bên thuê nhà có hợp đồng thuê nhà từ 12 tháng trở lên và có đăng ký tạm trú thì chủ nhà ký trực tiếp hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt hoặc đại diện bên thuê nhà ký hợp đồng (có cam kết thanh toán tiền điện của chủ nhà);

+ Thời hạn thuê nhà dưới 12 tháng thì chủ nhà ký trực tiếp hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt;

Cũng lưu ý rằng, tại mỗi địa chỉ nhà cho thuê, bên bán điện chỉ ký một hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt duy nhất

(5) Khách hàng mua điện qua máy biến áp riêng sử dụng vào mục đích sinh hoạt;

(6) Khách hàng mua điện tạm thời và mua điện ngắn hạn sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt qua việc dùng công tơ thẻ trả trước

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, bên mua điện trong hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

- “Có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật”

Bên mua điện phải cung cấp Bản sao (kèm bản chính đối chiếu) của một trong các loại giấy sau: Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Hộ chiếu, Chứng minh công an nhân dân, Chứng minh quân đội nhân dân để chứng minh

Trang 30

cho năng lực hành vi dân sự của cá nhân người ký kết hợp đồng, đại diện cho hộ sử dụng điện

- Cung cấp bản sao (kèm bản chính đối chiếu) của một trong các loại giấy tờ sau: hộ khẩu thường trú hoặc giấy tờ đăng ký tạm trú của một hoặc nhiều hộ gia đình dùng chung công tơ mua điện; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trên đất đã

có nhà ở); giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc hợp đồng mua bán nhà; giấy

ủy quyền có chữ ký của các hộ dùng chung công tơ; hợp đồng thuê nhà có thời hạn

từ 12 tháng trở lên; hợp đồng ủy quyền quản lý và sử dụng nhà được công chứng hoặc chứng thực

1.2.5 Đối tượng của hợp đồng

Xuất phát từ những đặc điểm của điện năng cũng như quá trình sản xuất, cung ứng điện mà hiện nay chưa có sự phân định rõ ràng rằng đối tượng của hợp đồng mua bán điện là hàng hóa hay dịch vụ Mục đích mà hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt hướng đến là sự đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu sử dụng điện của khách hàng sử dụng điện; thế nhưng, điện năng không phải là một sản phẩm đơn thuần của quá trình sản xuất hàng hóa Không chỉ con đường từ sản xuất đến cung ứng điện đến từng hộ gia đình, cá nhân phải có sự tham gia của nhiều bộ phận như truyền tải, phân phối, điều hành mà ngay cả khi đã có điện để tiêu dùng thì khách hàng vẫn phải duy trì việc tuân thủ các quy định về an toàn điện cũng như

sử dụng điện Tuy nhiên, với phạm vi của đề tài này người nghiên cứu không đưa ra kết quả cụ thể đối tượng của hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt là hàng hóa hay dịch vụ mà chỉ xác định đối tượng là điện năng với chất lượng được pháp luật quy định cụ thể, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Tại Điều 1 phần Các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương ghi nhận điện áp và tần số phải đàm bảo chất lượng theo quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, cụ thể:

“- Về điện áp: Trong điều kiện bình thường, độ lệch điện áp cho phép trong khoảng ± 5% so với điện áp danh định của lưới điện và được xác định tại vị trí đặt

Trang 31

thiết bị đo đếm điện hoặc tại vị trí khác do hai bên thỏa thuận Đối với lưới điện chưa ổn định sau sự cố, độ lệch điện áp cho phép từ +5% đến -10%;

- Về tần số: Trong điều kiện bình thường, độ lệch tần số hệ thống điện cho phép trong phạm vi ± 0,2Hz so với tần số danh định là 50Hz Đối với lưới điện chưa

ổn định sau sự cố đơn lẻ, độ lệch tần số cho phép là ± 0,5Hz.”

1.2.6 Giá điện

Theo Phụ lục Giá bán điện kèm theo Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/2019 của Bộ Công Thương về điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân và

quy định giá bán điện, “Giá bán lẻ điện là giá bán điện của đơn vị điện lực bán cho

- Giá bán lẻ điện cho các ngành sản xuất được xác định dựa trên yếu tố cấp điện áp (từ 110kV trở lên, từ 22kV đến dưới 110kV, từ 6kV đến dưới 22kV và dưới 6kV) và thời gian sử dụng điện trong ngày (giờ bình thường, giờ thấp điểm và giờ cao điểm)35;

- Giá bán lẻ điện cho khối hành chính sự nghiệp được xác định dựa trên đối tượng (nhóm bệnh viện, nhà trẻ, mẫu giáo, trường phổ thông và nhóm chiếu sáng công cộng, đơn vị hành chính sự nghiệp) và cấp điện áp ( từ 6kV trở lên và dưới 6kV);

- Giá bán lẻ điện cho kinh doanh xác định dựa trên cấp điện áp (từ 22kV trở lên, từ 6kV đến dưới 22kV và dưới 6kV) và thời gian sử dụng điện trong ngày;

- Giá bán lẻ điện cho sinh hoạt được quy định thành hai dạng:36

+ Giá bán lẻ điện sinh hoạt được quy định theo cách tính giá điện bậc thang tương ứng với sản lượng điện tiêu thụ, gồm có 06 bậc cụ thể như sau:

Bậc Sản lượng điện tiêu thụ

(kWh) Giá điện (đồng/kWh)

Bậc 2 51 - 100 1.734

Bậc 3 101 - 200 2.014

34 Khoản 18 Điều 3 Luật Điện lực;

35 Khoản 1 Điều 5 Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-BCT ngày 16/10/2019 của Bộ Công Thương quy định về thực hiện giá bán điện;

36 Mục 4 Phụ lục Giá bán điện kèm theo Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/2019 của Bộ Công Thương

về điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân và quy định giá bán điện

Trang 32

Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng trong việc ký kết hợp đồng mua bán; tuy nhiên, đối với điện năng thì các bên trong hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt không có “cơ hội” để thỏa thuận về giá mà chỉ áp dụng trực tiếp giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và thậm chí cách thức áp giá trong một số trường hợp cụ thể cũng được quy định pháp luật điều chỉnh, bao gồm:

Một là, bên mua điện sử dụng điện cho nhiều mục đích khác nhau:

- Đối với khách hàng ký hợp đồng sử dụng điện sinh hoạt nhưng có sử dụng một phần cho các mục đích khác thì áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt cho toàn bộ sản lượng điện năng đo đếm được tại công tơ đó;37

- Đối với khách hàng ký hợp đồng sử dụng điện ngoài mục đích sinh hoạt nhưng có sử dụng cho nhiều mục đích khác thì hai bên mua, bán điện căn cứ theo tình hình sử dụng điện thực tế để thỏa thuận tỷ lệ điện sử dụng đối với từng loại mục đích.38

Hai là, giá bán điện tùy theo bên mua điện cụ thể: 39

(1) Hộ sử dụng điện cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình mình có hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt trực tiếp với bên bán điện: áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt theo 06 bậc thang;

37 Điểm a Khoản 2 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-BCT ngày 16/10/2019 của Bộ Công Thương quy định về thực hiện giá bán điện;

38 Điểm b Khoản 2 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-BCT ngày 16/10/2019 của Bộ Công Thương quy định về thực hiện giá bán điện;

39 Điều 10 Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-BCT ngày 16/10/2019 của Bộ Công Thương quy định về thực hiện giá bán điện

Trang 33

(2) Bên mua điện sinh hoạt có các hộ sử dụng điện dùng chung công tơ (có

hộ khẩu riêng): áp dụng nguyên tắc định mức chung của bên mua điện bằng định mức của từng bậc trong giá bán lẻ điện sinh hoạt nhân với số lượng hộ sử dụng điện dùng chung công tơ;

(3) Bên mua điện sử dụng vào mục đích sinh hoạt cho nhà ở tập thể của cán

bộ, công nhân viên chức, lực lượng vụ trang, nhà ở của người tu hành; ký túc xá học sinh, sinh viên; được chia thành hai dạng:

(3.1) Nếu có thể kê khai được số người (căn cứ vào sổ tạm trú hoặc danh sách cán bộ, chiến sỹ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị đối với lực lượng vũ trang) thì cứ bốn người được tính là một định mức theo giá bán lẻ điện sinh hoạt 06 bậc thang;

(3.2) Nếu không thể kê khai được số người thì áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt của bậc 3: từ 101 - 200 kWh trong 06 bậc thang của giá bán lẻ điện sinh hoạt cho toàn bộ sản lượng điện đo đếm được tại công tơ

(4) Bên mua điện sử dụng vào mục đích sinh hoạt của người thuê nhà để ở,

có hai dạng như sau:

(4.1) Bên thuê nhà là hộ gia đình: dù chủ nhà hay hộ gia đình thuê nhà được

ủy quyền ký hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt với bên bán điện thì vẫn áp dụng một định mức đối với giá bán lẻ điện sinh hoạt theo 06 bậc thang;

(4.2) Bên thuê nhà không phải là hộ gia đình:

+ Trường hợp kê khai được đầy đủ số người sử dụng điện (căn cứ theo sổ tạm trú hoặc chứng từ xác nhận tạm trú của cơ quan Công an quản lý địa bàn của người thuê nhà) thì áp dụng theo nguyên tắc cứ 01 người được tính là 1/4 định mức,

02 người được tính là 1/2 định mức, 03 người được tính là 3/4 định mức và 04 người được tính 01 định mức theo 06 bậc thang giá bán lẻ điện sinh hoạt

+ Trường hợp không kê khai được đầy đủ số người sử dụng điện thì áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt của bậc 3: từ 101 - 200 kWh trong 06 bậc thang của giá bán lẻ điện sinh hoạt cho toàn bộ sản lượng điện đo đếm được tại công tơ

(5) Khách hàng mua điện qua máy biến áp riêng sử dụng vào mục đích sinh hoạt: áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt theo 06 bậc thang;

(6) Khách hàng mua điện tạm thời và mua điện ngắn hạn sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt: áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt dùng công tơ thẻ trả trước

Trang 34

Ba là, trường hợp khu đô thị, chung cư cao tầng, chủ đầu tư đã bàn giao nhà cho khách hàng nhưng chưa làm thủ tục thanh quyết toán để bàn giao lưới điện cho ngành điện quản lý

Trong giai đoạn này, bên mua điện và bên bán điện thỏa thuận tỷ lệ sản lượng điện áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt và sản lượng điện áp dụng giá bán lẻ điện phục vụ cho các mục đích ngoài sinh hoạt như sản xuất, kinh doanh, hành chính sự nghiệp căn cứ theo tình hình sử dụng điện thực tế Đối với sản lượng điện phục vụ cho mục đích sinh hoạt được áp dụng giá bán điện theo nguyên tắc định mức chung của bên mua điện bằng định mức theo từng bậc của giá bán lẻ điện sinh hoạt nhân với số hộ sử dụng điện sinh hoạt (trên cơ sở hợp đồng mua bán nhà, biên bản bàn giao căn hộ, số hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc chứng từ xác nhân tạm trú của cơ quan Công an quản lý địa bàn).40

1.2.7 Việc ghi chỉ số và thanh toán tiền điện

* Việc ghi chỉ số công tơ

Tại Điều 3 phần Các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương ghi nhận việc ghi chỉ số công tơ được thực hiện vào ngày ấn định hàng tháng, có thể dịch chuyển thời điểm ghi chỉ số trước hoặc sau một ngày, trừ trường hợp bất khả kháng Ngày ghi chỉ số được thể hiện là ngày cuối của chu kỳ ghi chỉ số trên hóa đơn tiền điện.41 Bên bán điện phải bảo đảm tính chính xác của chỉ số công tơ điện đã ghi.42

* Việc thanh toán tiền điện

Hóa đơn thanh toán tiền điện đối với hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được lập mỗi tháng một lần, tương ứng với kỳ ghi chỉ số công tơ điện.43 Điều 5 phần Các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương ghi nhận việc thanh toán được thực hiện mỗi tháng

40 Điểm c Khoản 2 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-BCT ngày 16/10/2019 của Bộ Công Thương quy định về thực hiện giá bán điện;

41 Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực;

42 Khoản 5 Điều 17 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực;

43 Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực

Trang 35

một lần bằng tiền Việt Nam theo hình thức và trong thời hạn đã thỏa thuận Bên mua điện có trách nhiệm thanh toán đủ số tiền ghi trong hóa đơn

Trong việc thanh toán tiền điện, bên bán điện và bên mua điện có các quyền

và nghĩa vụ theo quy định như sau:

- Bên mua điện được lựa chọn hình thức thanh toán bao gồm: trả tiền mặt hoặc nộp tiền vào tài khoản bên bán điện và hình thức thông báo thanh toán bao gồm: văn bản, fax, điện thoại, thư điện tử, tin nhắn sms

- Nghĩa vụ của bên mua điện: Khách hàng sử dụng điện có nghĩa vụ phải thanh toán đầy đủ số tiền ghi trong hóa đơn, nếu khách hàng sử dụng điện chậm trả tiền điện thì phải trả cả tiền điện và tiền lãi của khoản tiền chậm trả cho bên bán điện.44

- Nghĩa vụ của bên bán điện: Bên bán điện thu thừa tiền điện phải hoàn trả cho bên mua điện bao gồm cả tiền lãi của khoản tiền thu thừa.45

- “Lãi suất của số tiền chậm trả hoặc thu thừa do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng mà bên bán điện có tài khoản ghi trong hợp đồng tại thời điểm thanh toán.”46

Trong trường hợp bên mua điện không trả tiền điện và đã được bên bán điện thông báo hai lần thì sau mười lăm ngày (kể từ ngày thông báo lần đầu tiên), bên bán điện có quyền ngừng cấp điện Bên bán điện phải thông báo thời điểm ngừng cấp điện cho bên mua điện trước 24 giờ và không chịu trách nhiệm về thiệt hại do việc ngừng cấp điện gây ra.47

1.2.8 Xử lý hành vi vi phạm hợp đồng

Trên cơ sở Điều 8 Phần các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương, quy định những nội dung sau:

* Hành vi vi phạm hợp đồng của bên bán điện

(1) Không đảm bảo chất lượng điện năng, trừ trường hợp bất khả kháng; (2) Bán điện cao hơn giá quy định;

(3) Ghi sai chỉ số công tơ, tính sai tiền điện trong hóa đơn;

44 Khoản 1, 2 Điều 23 Luật Điện lực;

45 Khoản 3 Điều 23 Luật Điện lực;

46 Khoản 4 Điều 23 Luật Điện lực;

47 Khoản 6 Điều 23 Luật Điện lực

Trang 36

(4) Khi bên mua điện có thông báo việc tăng số hộ dùng chung mà bên bán điện không thực hiện điều chỉnh;

(5) Các hành vi khác vi phạm các quy định về mua bán điện

* Hành vi vi phạm hợp đồng của bên mua điện

Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 8 Phần các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông

tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương, các hành vi vi phạm của bên bán điện bao gồm:

(1) Sử dụng điện sai mục đích có mức giá cao hơn mức giá đã thỏa thuận trong hợp đồng;

(2) Chậm trả tiền điện theo quy định mà không có lý do chính đáng;

(3) Khi giảm số hộ dùng chung mà không thông báo cho bên bán điện;

(4) Các hành vi khác vi phạm các quy định về mua bán điện

* Biện pháp xử lý hành vi vi phạm hợp đồng

Theo quy định trong Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt, hành vi vi phạm hợp đồng của cả bên bán điện và bên mua điện đều phải chịu

cả chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm hợp đồng

- Bồi thường thiệt hại

“Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành

vi vi phạm gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất

do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được

Số tiền bồi thường được xác định theo phương pháp do Bộ Công Thương ban hành tại các điều: Điều 29, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện Tùy thuộc vào hành vi vi phạm hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt và

48 Khoản 1 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện

Trang 37

đối tượng vi phạm là bên bán điện hay bên mua điện, pháp luật quy định cụ thể phương pháp xác định số tiền bồi thường gồm những nội dung có liên quan như: thời gian tính bồi thường, sản lượng điện năng các thiết bị điện tiêu thụ trong thời gian vi phạm, giá điện áp dụng, sản lượng điện năng phải bồi thường

Điện năng là một loại hàng hóa đặc thù; do đó, việc tính toán số tiền bồi thường phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo sự điều tiết của Nhà nước vào hoạt động này giúp tạo nên sự cân bằng tương đối giữa lợi ích của bên bán điện và bên mua điện, không để xảy ra trường hợp áp đặt ý chí

cá nhân của chủ thể đến việc tính toán bồi thường thiệt hại Có thể trong một số trường hợp cụ thể việc xác định số tiền bồi thường theo quy định của pháp luật là chưa hợp lý nhưng các bên hoàn toàn có quyền cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh và làm cơ sở tính toán như số lượng, công suất, thời điểm mua, tình trạng thực tế của thiết bị sử dụng điện, thời gian tạm ngừng sử dụng điện có lý do, Theo quan điểm của người nghiên cứu, việc pháp luật đưa ra những quy định như vậy là hợp lý và cần thiết để các bên có căn cứ để tính toán số tiền bồi thường khi có hành vi vi phạm xảy ra và phần nào hạn chế được những tranh chấp có thể phát sinh

- Phạt vi phạm hợp đồng

“Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi

Đề tài này không hướng đến mục tiêu xác định hợp đồng mua bán điện phục

vụ mục đích sinh hoạt là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại do tính chất đặc thù của điện năng cũng như giai đoạn phát triển của thị trường điện lực cạnh tranh tại Việt Nam hiện nay Loại hợp đồng này vừa có những đặc điểm của một hợp đồng dân sự vừa có những đặc điểm của một hợp đồng thương mại Vì vậy, việc quy định phạt vi phạm hợp đồng trong hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt cũng có những đặc điểm riêng của nó

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các bên trong hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt có quyền thỏa thuận mức phạt vi phạm, trừ trường hợp pháp luật liên quan quy định khác Và theo Khoản 1 Điều 28 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công

49 Khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 38

Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện thì mức phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng căn cứ theo thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị

vi phạm

Thế nhưng, Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt ghi nhận: Bên bán điện phải bồi thường cho bên mua điện và bị phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng với mức phạt bằng 8% phần giá trị hợp đồng bị vi phạm.50 Hay nói cách khác, các bên không có quyền thỏa thuận lại mức phạt vi phạm hợp đồng theo ý chí của mình mà phải áp dụng cố định mức 8% phần giá trị hợp đồng bị vi phạm theo hợp đồng mẫu

Ngoài ra, bên cạnh các chế tài dân sự thì hành vi vi phạm hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt còn có thể phát sinh trách nhiệm hành chính theo quy định tại Điều 11, 12 Nghị định số 134/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hoặc trách nhiệm hình sự

1.2.9 Phương thức giải quyết tranh chấp

Theo Khoản 2, 3 Điều 9 Phần các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương ghi nhận các phương thức để bên bán điện và bên mua điện giải quyết tranh chấp gồm:

(1) Thương lượng

Đây là bước bắt buộc mà các bên phải tự tiến hành khi phát sinh tranh chấp

về hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt.51Việc thương lượng do các bên tự tiến hành để cùng nhau đạt được những thỏa thuận nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh

51 Khoản 1 Điều 26 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện

Trang 39

Thương giải quyết tranh chấp.52 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện được xác định theo cấp điện áp dưới 110kV và từ 110kV trở lên.53

Hồ sơ đề nghị giải quyết tranh chấp, cụ thể gồm:

“a) Văn bản đề nghị giải quyết tranh chấp;

b) Biên bản làm việc hoặc tài liệu khác chứng minh tranh chấp không tự giải quyết được;

c) Bản sao Hợp đồng mua bán điện;

d) Bản sao Giấy phép hoạt động điện lực (nếu có);

đ) Các tài liệu chứng minh cho yêu cầu giải quyết tranh chấp là có căn cứ

và hợp pháp;

e) Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc.” 54

Trình tự, thủ tục và thời hạn tổ chức hòa giải được quy định cụ thể tại Điều

26 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện

(3) Khởi kiện tại Tòa án

Trong trường hợp không đề nghị hòa giải hoặc hòa giải không thành, một trong hai bên hoặc các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

Cũng cần lưu ý, hai bên thỏa thuận trong thời gian chờ giải quyết, bên mua điện vẫn phải thanh toán tiền diện và bên bán điện không được ngừng cấp điện.55

52 Khoản 3 Điều 25 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện;

53 Điều 5 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện;

54 Khoản 3 Điều 26 Văn bản hợp nhất số 24/VBHN-BCT ngày 06/11/2018 của Bộ Công Thương quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện

55 Khoản 4 Điều 9 Phần các điều khoản chung Mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18/6/2014 của Bộ Công Thương

Ngày đăng: 29/10/2020, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w