- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài : Chuyên đề trên có thể được áp dụng rộng rãi với các trường THCS cả nước vàđáp ứng được yêu cầu đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HẢO
XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 9
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Sinh học)
Mã số : 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Quang Báo
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầyhướng dẫn GS.TS Đinh Quang Báo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giảtrong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tác giả xin cảm ơn BGH, các đồng chí tổ Tự nhiên, nhóm trưởng nhómSinh học ở các trường THCS thuộc địa bàn huyện Thanh Trì đã tạo điều kiệnthuận lợi và hợp tác cùng tác giả thực hiện tốt đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
có những ý kiến góp ý cho tôi hoàn chỉnh luận văn, ủng hộ tôi về mặt tinh thần
và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốtnghiệp
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên
Phạm Thị Hảo
i
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Quần xãPhương pháp dạy họcSách giáo khoa
Sinh thái họcTiếp cận hệ thống
Tổ chức sốngTrung học cơ sởTrung học phổ thôngThực nghiệm
Trắc nghiệm khách quanTrắc nghiệm tự luậnVật chất và năng lượng
Ví dụ
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục sơ đồ, hình vẽ, biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan về bồi dưỡng học sinh giỏi 5
1.1.1 Về bồi dưỡng học sinh giỏi cấp THCS 5
1.1.2 Lược sử nghiên cứu việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi -Sinh học 9 7
1.2 Cơ sở lý luận 9
1.2.1 Học sinh giỏi 9
1.2.2 Học sinh giỏi sinh học lớp 9 với kiến thức phần Sinh thái học 12
1.2.3 Khái niệm chuyên đề 16
1.2.4 Bồi dưỡng 17
1.2.5 Vai trò của chuyên đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi 18
1.2.6 Tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học 19
1.3 Cơ sở thực tiễn 25
1.3.1 Chương trình và sách giáo khoa sinh học 9 phần Sinh thái học 25
1.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại huyện 29
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 9 35
2.1 Xây dựng cấu trúc, nội dung chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi phần sinh thái học 35
2.1.1 Căn cứ xây dựng chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi 9 môn Sinh học 35 2.1.2 Nguyên tắc xây dựng nội dung chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi 9 môn Sinh học 36
2.1.3 Yêu cầu sư phạm của chuyên đề trong dạy HSG sinh học 9 38
2.1.4 Quy trình xây dựng chuyên đề 39
iii
Trang 52.1.5 Cấu trúc chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi phần sinh thái học – Sinh
học 9 43
2.2 Biện pháp sử dụng chuyên đề trong dạy HSG sinh học 9 phần STH 75
2.2.1 Biện pháp sử dụng chuyên đề trong dạy HSG nghiên cứu tài liệu phục vụ bài học mới 75
2.2.2 Biện pháp sử dụng chuyên đề trong ôn tập, hệ thống hóa kiến thức 81
2.2.3 Biện pháp sử dụng chuyên đề trong kiểm tra, đánh giá HSG 82
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84
3.1 Mục đích thực nghiệm 84
3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 84
3.2.1 Chọn trường thực nghiệm 84
3.2.2 Chọn học sinh thực nghiệm 84
3.3.3 Chọn giáo viên dạy thực nghiệm 84
3.3 Nội dung thực nghiệm: 85
3.4 Bố trí thực nghiệm 85
3.5 Xử lý số liệu 85
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 86
3.6.1 Phân tích định lượng các bài kiểm tra 86
3.6.2 Phân tích định tính 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 98
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh nội dung dạy học phần Sinh thái học ở lớp HS đại trà và lớp
HSG 13
Bảng 1.2 Kết quả điều tra thực trạng công tác bồi dưỡng HSG của GV 29
Bảng 1.3 Kết quả điều tra thực trạng học tập của HSG trong đội tuyển 32
Bảng 2.1 So sánh các câu hỏi, bài tập dành cho lớp đại trà và lớp học sinh giỏi 64
Bảng 2.2 Bảng mối quan hệ giữa nội dung kiến thức và câu hỏi, bài tập 73
Bảng 3.1 Thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN 86
Bảng 3.2 Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN 87
Bảng 3.3 Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 2 trong TN 88
Bảng 3.4 Kiểm định X điểm các bài kiểm tra trong TN lần1 89
Bảng 3.5 Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong TN lần 1 90
Bảng 3.6 Kiểm định X điểm các bài kiểm tra trong TN lần2 91
Bảng 3.7 Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong TN lần 2 91
Bảng 3.8 Tổng hợp điểm các bài kiểm tra độ bền kiến thức sau TN 92
v
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa hệ thống và môi trường 24
Hình 1.4 Các thành tố của hệ thống sống 25
Sơ đồ 1: Lôgic cấu trúc nội dung chương trình STH 28
Sơ đồ 1: Lôgic cấu trúc nội dung chương trình STH 76
Hình 3.1 Đồ thị điểm trung bình các bài kiểm tra lần 1 trong TN 87
Hình 3.2 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN 87
Hình 3.3: Đồ thị điểm trung bình các bài kiểm tra lần 2 trong TN 88
Hình 3.4 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra lần 2 trong TN 89
Hình 3.5 Đồ thị điểm trung bình các bài kiểm tra sau TN 92
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát vai trò quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Chúng ta đang ở những năm đầu của thế kỷ 21, giữa kỷ nguyên của thời đạibùng nổ thông tin với nền kinh tế tri thức Trước sự phát triển của thế giới, ngành giáodục Việt Nam đang mang trên vai một trọng trách nặng nề, cần có những bước pháttriển đúng hướng và nhảy vọt để tạo ra được nguồn nhân lực trình độ và hàm lượngchất xám cao, đó là yêu cầu cấp bách của đất nước nhằm đáp ứng các yêu cầu trongnước và hội nhập quốc tế Báo cáo của Ban chấp hành TW toàn quốc lấn thứ IV đãchỉ rõ “Nâng cao chất lượng giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển nhâncách XHCN của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có văn hóa, có kỹ thuật và giàutính sáng tạo, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với phân công lao động của xã hội”
1.2 Xuất phát từ thực trạng trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi cấp THCS
Thực tế cho thấy rằng, nền giáo dục có ảnh hưởng rất to lớn đến sự hình thành
và phát hiện nhân tài của quốc gia Các trường THCS là bước khởi nguồn, nơi pháthiện và đào tạo nhân tài cho đất nước Vì nhân tài không chỉ là những những phẩmchất bẩm sinh mà cần phải được bồi dưỡng, tạo điều kiện để các em phát huy được tối
đa phẩm chất và thiên hướng đó ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông,trong đó cấp THCS là giai đoạn rất bản lề
1.3 Xuất phát từ công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp THCS của môn Sinh học
Trong chương trình Sinh học cấp THCS lượng kiến thức được đưa ra khánhiều nhưng chỉ dừng lại ở mức thông hiểu là chính, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
là công tác giáo dục có tính mũi nhọn đào tạo chất lượng cao của mọi cấp học
Thực tế cho thấy việc bồi dưỡng học sinh giỏi thường chú trọng ở một số điểm:
Phát hiện và chọn nhân tố thường được tiến hành ngay từ năm lớp 8, nhờ đóngười giáo viên có thể lập một kế hoạch và chiến lược cho việc bồi dưỡng học sinhgiỏi, đồng thời bước đầu tạo cho các em sự định hướng và hứng thú đối với môn Sinhhọc
Bên cạnh việc phát hiện và chọn nhân tố, việc lựa chọn nội dung, tìm phươngpháp bồi dưỡng có tính quyết định đối với chất lượng đội tuyển Trong đó nội dung,bài tập phần môi trường và hệ sinh thái là một trong những nội dung trọng tâm thi
1
Trang 9lựa chọn và phát hiện những học sinh có năng khiếu môn Sinh học, cũng là nguồnhọc sinh giỏi cho cấp học tiếp theo.
Sinh học là môn học đặc thù có những tính chất rất riêng trong phương phápnhận thức và phương pháp dạy học, đòi hỏi người giáo viên sinh học phải có nhữngnăng lực và kỹ năng đặc thù tương ứng Đặc biệt, với công việc dạy và bồi dưỡng họcsinh giỏi môn sinh học lớp 9, đỏi hỏi người giáo viên cần có trình độ, không chỉchuyên môn sâu mà còn cần có khả năng sư phạm tốt, đòi hỏi sự chịu khó, tìm tòi và
sự nhạy bén trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Tuy nhiên hiện nay, không phảibất kì giáo viên nào khi mới vào nghề hay khi giảng dạy cũng đáp ứng được nhữngđiều này, đa số giáo viên ôn Sinh học cấp THCS còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng,con đường thực hiện còn mang tính tự phát, dựa vào kinh nghiệm là chính Mặt khác,
ở cấp THCS chưa có chương trình, tài liệu do cấp quản lý quy định chính thức màchủ yếu do sự tìm tòi và tự biên soạn nội dung bồi dưỡng của giáo viên các trường
Do đó công tác bồi dưỡng học sinh giỏi gặp những khó khăn, hạn chế nhất định Đểtháo gỡ phần nào những khó khăn ấy và nhằm đáp ứng được yêu cầu bồi dưỡng độituyển học sinh giỏi môn Sinh học với nội dung quan trọng của phần sinh thái học, tôi
chọn đề tài luận văn là: “Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái
học – Sinh học 9”.
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái học – Sinh học 9nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Cơ sở lý luận của đề tài Trong phần này, đề tài sẽ hệ thống hóa cơ
sở lý luận và thực tiễn về: chuyên đề, xây dựng chuyên đề; học sinh giỏi và công tácbồi dưỡng học sinh giỏi
Thứ hai: Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố, đặc biệt là nội dung ảnh
hưởng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học
Thứ ba: Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái học –
Sinh học 9
Thứ tư : Xây dựng mục tiêu, nội dung, quy trình tổ chức thực nghiệm sử dụng
chuyên đề đã soạn để bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái học – Sinh học 9 4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Dạy học Sinh thái học cho HSG lớp 9.
Trang 104.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái học – Sinh học 9
5 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:
phần Sinh thái học – Sinh học 9?
9 như thế nào?
nâng cao nếu học sinh được học theo một chuyên đề được xây dựng theo tiếp cận cấutrúc hệ thống
Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành trên phạm vi trường THCS Liên Ninh
và THCS Tứ Hiệp huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội
Số liệu sử dụng để nghiên cứu đề tài này được thu thập trong khoảng thờigian từ năm 2011 đến năm 2013, những số liệu khảo sát mới được điều tra trong năm2014
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận của đề tài :
Cung cấp một cách rõ ràng và hệ thống cơ sở lý luận những vấn đề cơ bản vềxây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :
Chuyên đề trên có thể được áp dụng rộng rãi với các trường THCS cả nước vàđáp ứng được yêu cầu đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái học –Sinh học 9 trong giai đoạn hiện nay
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu các công trình
nghiên cứu để phân tích, lựa chọn những nội dung làm cơ sở lý luận cho đề tài 9.2.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
9.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát
3
Trang 119.2.2 Phương pháp thực nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 tại trường THCS
Tứ Hiệp, THCS Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội theo chuyên đề bồi dưỡng HSG đã xây dựng.
9.2.3 Phương pháp phỏng vấn giáo viên và học sinh.
9.2.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
9.2.5 Phương pháp thống kê toán học : xử lý các số liệu thu được từ khảo sát thực nghiệm.
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡnghọc sinh giỏi phần Sinh thái học – Sinh học 9
Chương 2: Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh thái học –Sinh học 9
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về bồi dưỡng học sinh giỏi
1.1.1 Về bồi dưỡng học sinh giỏi cấp THCS
Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt nam, từ đời xưa ông cha ta đã rất chú trọng đếnviệc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đúc rút thành một kinh nghiệm quý báu “Hiền tài lànguyên khí quốc gia” Đến thăm Văn miếu Quốc Tử Giám chúng ta thấy trên văn biacòn ghi: “Các bậc hiền nhân là yếu tố cốt tử đối với một chỉnh thể Khi yếu tố này dồidào thì đất nước tăng tiến mạnh mẽ và phồn thịnh Khi yếu tố này kém thì quyền lựcđất nước bị suy giảm” và “Những người tài giỏi, có học thức là một sức mạnh đặcbiệt đối với đất nước” Ngay sau khi Cách mạng tháng tám thành công, ngày
20/11/1946, trong bài viết “Tìm người tài đức”, Hồ Chủ Tịch khẳng định: “Nước nhà
còn phải kiến thiết, kiến thiết phải có người tài, trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu gì người có tài, có đức…”.
Thực tiễn quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thấy, dân tộc Việt Nam cótiềm năng, trí tuệ vô cùng phong phú, có điều chúng ta chưa phát hiện, chăm sóc, bồidưỡng để có thể phát huy hết tiềm năng trí tuệ còn tiềm ẩn Ngày nay, GD&ĐT được
ưu tiên, đặt giáo dục ở vị trí quốc sách hàng đầu Nhà nước và xã hội có cơ chế, chínhsách khuyến khích cho giáo dục phổ thông và hệ thống giáo dục quốc dân Nghịquyết 14 – NQ/TW của Bộ chính trị về cải cách giáo dục (tháng 1 - 1979) đã chỉ rõ:
“Cần coi trọng việc hứng thú, thói quen và phương pháp tự học của học sinh, hướng dẫn họ biết cách nghiên cứu sách giáo khoa, sách báo khoa học, thảo luận chuyên
đề, tập làm thực nghiệm khoa học” [25], từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu vận
dụng vào dạy học và bồi dưỡng giáo viên phục vụ thay sách cải cách giáo dục
Bồi dưỡng HSG là nhiệm vụ trọng tâm của của ngành giáo dục và đào tạo,cũng là một hoạt động mang tính đặc thù cao: Người học là học sinh giỏi, có năngkhiếu theo môn học; người dạy là những giáo viên có tay nghề cao, giàu kinh nghiệmgiảng dạy Trong những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo đã đóng góp nhiều nhântài cho xã hội Nhờ có các nội dung giáo dục toàn diện mà các em có điều kiện bộc lộnăng khiếu, tài năng Nếu cha mẹ, bạn bè và đặc biệt là thầy, cô giáo cảm nhận, pháthiện, nâng đỡ, bồi dưỡng mầm mống năng khiếu, kích thích niềm say mê học tập thìbiểu hiện của năng khiếu ngày càng rõ hơn Năng khiếu
5
Trang 13được bồi dưỡng sẽ phát triển và ngược lại năng khiếu không được phát hiện, bồidưỡng thì sẽ mất dần Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS là để phát huyhết khả năng phát triển “tiềm tàng” ở học sinh, là tạo nguồn học sinh giỏi cho các cấphọc tiếp theo, thực hiện chiến lược “Bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước Mặt khác, kếtquả học sinh giỏi là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển của một trường THCS.Thành tích học sinh giỏi khẳng định uy tín của nhà trường.
Công tác đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi, đội ngũ công dân tương lai củađất nước đồng hành với sự phát triển trí tuệ vượt bậc, toàn diện là mục tiêu quantrọng của ngành giáo dục và đào tạo, đã được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong
ba mục tiêu chiến lược của nền giáo dục nước nhà
Bồi dưỡng học sinh giỏi giúp học sinh hoàn thiện tri thức, phát huy hơn nữanhững năng lực, năng khiếu của mình Thực hiện công việc bồi dưỡng học sinh giỏitức là giáo viên trực tiếp tác động đến học sinh bằng việc truyền thụ tri thức, rènluyện kỹ năng, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề, bổ sung kiến thức còn thiếu ởcác em, định hướng và phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu…Việc bồi dưỡng họcsinh giỏi là cần thiết bởi nó quyết định đến hiệu quả cuối cùng là học sinh được trang
bị những kiến thức vững chắc và cũng từ đó tính sáng tạo của các em mới được pháttriển Thực tế đã cho thấy, ở các trường THCS hiện nay, việc bồi dưỡng học sinh giỏi
đã được thực hiện với sự đầu tư khá lớn và mang lại những kết quả rất khả quan
Hiện nay, nhận thức và xác định rõ vai trò công tác giảng dạy và bồi dưỡnghọc sinh giỏi cấp Trung học cơ sở, Nghị quyết số 44/2009/NQ- HĐND ngày02/12/2009 của HĐND - UBND huyện Thanh Trì đã thông qua 03 Đề án, trong đó có
Đề án “Bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu trong các trường Tiểu học và
Trung học cơ sở huyện Thanh Trì giai đoạn 2009- 2015”, với mục tiêu phấn đấu mỗi
năm huyện Thanh Trì đạt được số lượng học sinh giỏi các cấp là:
-Cấp Thành phố có từ 30 - 50 học sinh đạt giải (Đối với cấp Tiểu học) và có từ 50
- 70 học sinh đạt giải (Đối với cấp THCS ở 10 môn học trong đó có bộ môn Sinh học)
380 - 400 học sinh đạt giải (Đối với cấp THCS ở 10 môn học trong đó có bộ mônSinh học) [26]
Để thực hiện hiệu quả Đề án, Phòng giáo dục và đào tạo đã quan tâm chútrọng chỉ đạo đổi mới công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, từ việc xây
Trang 14dựng kế hoạch đến việc triển khai thực hiện kế hoạch, kết quả học sinh giỏi lớp 9 cáccấp được coi là một trong các tiêu chí thi đua trong các nhà trường, trong đó có bộmôn Sinh học.
Như vậy, vấn đề bồi dưỡng HSG cấp THCS hầu như chưa có công trìnhnghiên cứu nào, và ở huyện Thanh Trì cũng mới chỉ có Nghị quyết của HĐND-UBND huyện liên quan đến hoạt động này
1.1.2 Lược sử nghiên cứu việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi - Sinh học 9
- Nghiên cứu về vai trò của chuyên đề như một biện pháp dạy học:
Bàn về vấn đề nghiên cứu việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏitrong dạy học Sinh học 9, đã có không ít các nhà nghiên cứu quan tâm Trong đó phải
kể đến tác giả Huỳnh Quốc Thành với cuốn “Bồi dưỡng học sinh giỏi 9 và luyện thi
vào lớp 10 chuyên môn Sinh học” năm 2011, sách được biên soạn nhằm hệ thống hóa,
mở rộng và nâng cao kiến thức Sinh học để tham dự kỳ thi HSG môn sinh học lớp 9
và thi vào lớp 10 chuyên sinh Trong đó, tác giả đã xây dựng phần thứ hai – Sinh vật
và môi trường với 3 chuyên đề: Sinh vật và môi trường; hệ sinh thái; con người, dân
số, môi trường, bảo vệ môi trường Mỗi chuyên đề được tác giả trình bày theo mộttrình tự thống nhất: Câu hỏi lý thuyết, phân loại dạng bài tập, bài tập mở rộng và nângcao [33] Cũng đề cập đến vấn đề trên, cần phải kể đến các tác giả Nguyễn Văn Sang,
Trần Tân Phú, Lê Sơn Hà với cuốn "108 câu hỏi và bài tập Sinh học 9 – THCS" năm
2005 [33], tác giả Ngô Văn Hưng với cuốn “Giới thiệu đề thi và đáp án thi chọn học
sinh giỏi quốc gia môn Sinh” năm 2005 [18], tác giả Vũ Đức Lưu với cuốn "Luyện tập Sinh học 9" năm 2008 [22], các tác giả Mai Sỹ Tuấn, Cù Huy Quảng với cuốn
“Tài liệu chuyên sinh học trung học phổ thông – Sinh thái học” năm 2011[35], Phạm Văn Lập, Đỗ Thị Thanh Huyền với cuốn "Ôn thi vào lớp 10 trung học phổ thông
chuyên môn sinh học" năm 2013 [20], hay cuốn "Phương pháp giải nhanh các dạng bài tập Sinh học" năm 2013 của tác giả Phan Khắc Nghệ [24], cuốn "Một số vấn đề phương pháp dạy học sinh học" của các tác giả Đinh Quang Báo, Đặng Thị Dạ Thủy,
Đỗ Thị Phượng, Nguyễn Thị Nghĩa năm 2006 [3], Tất cả những tài liệu trên, ít
nhiều đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi dưới dạng các chuyên đề, câu hỏi
và bài tập , nội dung kiến thức cũng như hệ thống các bài tập được sắp xếp theo từngchương hoặc phân loại rõ ràng, nhằm mục đích phục vụ hiệu quả trong việc ôn luyện
và khắc sâu, nâng cao kiến thức phù hợp với đối tượng học sinh
7
Trang 15- Nghiên cứu dạy học phần Sinh thái học ở phổ thông
Trong những năm gần đây cũng có nhiều đề tài đề cập đến nội dung phầnSinh thái học Có thể kể đến những luận văn, luận án đã bảo vệ thành công có liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi như:
qua dạy học STH lớp 11- THPT” Tác giả đã kết hợp được những nghiên cứu lý
thuyết cơ bản với nghiên cứu khoa học giáo dục để xây dựng một hướng nhìn nhậnmới về quá trình dạy học STH, trong đó tiếp cận cấu trúc - hệ thống là phương phápluận cho việc phân tích nội dung, xác định các phương pháp tích hợp giáo dục môitrường qua dạy học STH không chỉ ở mức khái quát toàn bộ chương chình, mà cònđược thể hiện ở việc tổ chức cho từng bài học, từng khái niệm cụ thể theo hướng pháthuy cao độ tính tích cực chủ động của người học, từ đó cho phép tích hợp hữu cơgiữa quá trình dạy - học STH với giáo dục môi trường; trong đó tác giả xây dựng và
sử dụng hệ thống câu hỏi tìm tòi theo cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống Hệ thống câuhỏi này đã tỏ ra có hiệu quả khi tổ chức chuyên đề cho HS nghiên cứu các nội dungSTH tích hợp với giáo dục môi trường ở trường trung học [32]
cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy - học STH lớp 11 - THPT” Đây là
công trình nghiên cứu có tính hệ thống từ cơ sở lý luận đến việc đề xuất các nguyêntắc và xác lập một quy trình thiết kế và sử dụng CH – BT với từng bài, từng chương
cụ thể; để từ đó giúp GV có những định hướng về phương pháp và kĩ năng thiết kế
CH - BT theo những chuyên đề và như một phương pháp để tổ chức, hướng dẫn HS
tự lực phát hiện kiến thức mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học STH [27]
động học tập tự lực trong dạy học STH 11- THPT” Luận văn đề cập tới những biện
pháp tổ chức học sinh hoạt động học tập tự lực nhằm nâng cao chất lượng dạy họcSTH ở trường THPT, góp phần đổi mới phương pháp dạy học sinh học hiện nay,trong đó có biện pháp sử dụng câu hỏi phát huy tính tích cực, tự lực của HS Sau khiphân loại câu hỏi căn cứ vào mức độ tư duy, tác giả đã chỉ ra các bước tiến hành tổchức sử dụng câu hỏi phát huy tính tích cực, tự học của HS trong dạy học STH Với
hệ thống câu hỏi đã được phân loại trong đề tài ta có thể sử dụng thành chuyên đềmột cách phù hợp [23]
Trang 16- Luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Thị Hà (2002): “Sử dụng tiếp cận hệ thống
hình thành các khái niệm STH trong chương trình STH 11- CCGD” đã đề xuất cách
phân tích nội dung STH theo logic cấu trúc hệ thống, từ đó thiết kế mẫu vận dụng tiếpcận cấu trúc - hệ thống hình thành các khái niệm STH Ứng với việc dạy mỗi kháiniệm, tác giả đã thành công trong việc đưa ra các tình huống dạy học điển hình, để từ
đó bằng hệ thống câu hỏi vấn đáp gợi mở, GV tổ chức hoạt động nhận thức cho HStheo hướng tích cực hóa hoạt động của người học Đề tài tuy không phải là xây dựngchuyên đề nhưng tác giả đã tập trung nghiên cứu chuyên sâu những khái niệm STHtheo từng chương, từng bài như một dạng chuyên đề [14]
Hay đề tài "Xây dựng CH – BT để tổ chức hoạt động học tập tự lực của HS
trong dạy học Sinh thái học" của tác giả Đỗ Thị Phượng (2005) [29], cuốn sách
"Thực hành trắc nghiệm Sinh học 9" của tác giả Đỗ Thu Hòa – Lê Hoàng Ninh
(2008) [34] Các đề tài đã đưa ra hệ thống các câu hỏi, bài tập theo từng bài, từngchương như một dạng chuyên đề với các đơn vị kiến thức ở các mức độ từ cơ bản tớinâng cao, là nguồi tài liệu phong phú, hữu ích cho giáo viên, phụ huynh và học sinh,đặc biệt là các em học sinh giỏi để ôn luyện, bồi dưỡng đạt kết quả cao trong học tập
và cá kỳ thi học sinh giỏi
Như vậy, ở Việt Nam đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vai trò của chuyên đề
và vấn đề dạy học nội dung kiến thức phần Sinh thái học trong dạy học Sinh học Tuynhiên việc xây dựng nội dung dạy học mang tính chuyên biệt dành riêng cho đốitượng HSG lớp 9 hiện nay còn rất hạn chế, đây là một trong những nguyên nhân gâykhó khăn cho GV và HS trong đội tuyển bồi dưỡng, bởi thiếu nguồn tài liệu cũng nhưsách tham khảo cụ thể Chính vì vậy, với đề tài "Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng họcsinh giỏi phần Sinh thái học - Sinh học 9", chúng tôi mong muốn có thể góp phần bổsung nguồn tư liệu, làm tiền đề cho việc biên soạn một hệ thống chuyên đề dành chođội tuyển HSG trong dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi cho môn Sinh học 9 sau này,đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy cũng như các kỳ thi HSG
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Học sinh giỏi
Có thể nói, hầu như tất cả các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡnghọc sinh giỏi trong chiến lược phát triển giáo dục phổ thông Nhiều nước ghi riêngthành một mục dành cho HSG hoặc coi đó là một dạng của giáo dục đặc biệt
9
Trang 17Một số quan niệm về giáo dục HSG trên thế giới:
sân Rồng để học tập và được giáo dục bằng những hình thức đặc biệt
-Ở châu Âu trong suốt thời Phục hưng, những người có tài năng về nghệ thuật, kiến trúc, văn học… đều được nhà nước và các tổ chức cá nhân bảo trợ, giúp đỡ
năng Đầu tiên là hình thức giáo dục linh hoạt tại trường St.Public Schools Louis
1868 cho phép HSG học chương trình 6 năm trong vòng 4 năm: sau đó lần lượt là cáctrường Woburn, Elizabeth, Cambridge… Và trong suốt thế kỷ XX, HSG đã trở thànhmột vấn đề của nước Mỹ với hàng hoạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu, bồidưỡng học sinh giỏi ra đời Năm 2002 có 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dụcHSG trong đó có 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc giáo dục học sinh giỏi [38]
tài năng trẻ và Hiệp hội quốc gia dành cho học sinh giỏi, bên cạnh Webiste hướng dẫn
GV dạy cho HSG và học sinh tài năng (http://WWW.nc.uk.net/gt/)
chiến lược HSG
nhằm giúp chính qauyền phát hiện HS tài năng từ rất sớm Năm 1994 có khoảng57/174 cơ sở giáo dục ở Hàn Quốc tổ chức chương trình đặc biệt dành cho HSG
biệt dành cho hai loại đối tượng HS yếu kém và HSG, trong đó cho phép các HSG cóthể học vượt lớp
dục và đào tạo là phát hiện và bồi dưỡng HS tài năng Nhìn chung các nước đều dùnghai thuật ngữ chính là gift (giỏi, có năng khiếu) và talent (tài năng)
Theo luật bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa HSG như sau: "HSG là học sinhchứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơhọc tập mãnh liệt và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết, khoa học Người
Trang 18cần một sự giáo dục đặc biệt và sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứngvới năng lực của ngowì đó "- (Georgia Law)
Cơ quan giáo dục Hoa Kỳ miêu tả khái niệm "Học sinh giỏi" như sau: Đó lànhững học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnhvực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật, hoặc các lĩnh vực lý thuyếtchuyên biệt Những học sinh này thể hiện tài năng đặc biệt của mình từ tất cả các bìnhdiện xã hội, văn hóa và kinh tế" Nhiều nước có quan niệm: HSG là những đứa trẻ cónăng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặclĩnh vực lý thuyết, những học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động khôngtheo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các nănglực nêu trên
1965, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định giao cho Bộ Giáo dục tổ chức lớp bồidưỡng học sinh năng khiếu Toán học và lớp Toán đặc biệt đầu tiên (thuộc khóa Toántrường Đại học Tổng hợp Hà Nội) đã ra đời Liền sau đó, năm học 1966 – 1967, lớpchuyên Toán thuộc khoa Toán trường ĐHSP Hà Nội được thành lập với nhiệm vụphát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu Toán học bậc trung học phổ thông, tạonguồn đào tạo những cán bộ khoa học giỏi Cho đến nay, Việt Nam vẫn tiếp tục mởrộng quy mô đào tạo đối với những HS tài năng như: Xây dựng hệ thống trườngchuyên ở mỗi tỉnh thành trong cả nước, mở rộng quy mô đào tạo (mở thêm các lớpchuyên Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Ngoại ngữ )
Theo quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trunghọc phổ thông (Ban hành kèm theo Quyết định số: 40/2006/QĐ- BGDĐT ngày 05tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) một HS được công nhận
là danh hiệu HSG cần đạt những tiêu chuẩn sau đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó: đối với học sinhTHPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với học sinh THCS và THPTkhông chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên;
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5
c) Xếp loại hạnh kiểm tốt
11
Trang 19Như vậy mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn đều có cách nhìn riêng về HSG Theochúng tôi HSG là những học sinh đạt kết quả xuất sắc trong rèn luyện, học tập, năngkhiếu và nhất là HSG là học sinh có khả năng từ duy và giải quyết vấn đề sáng tạotrong quá trình rèn luyện.
1.2.2 Học sinh giỏi sinh học lớp 9 với kiến thức phần Sinh thái học
Trước khi tuyển chọn các em vào đội tuyển HSG chúng tôi tiến hành kiểm tra
IQ Theo chúng tôi những em học sinh đạt điểm 100 trở lên trong bài kiểm tra IQ sẽđược tuyển chọn vào đội tuyển, vì những em có IQ điểm 100 được cho là sáng dạ.Bài kiểm tra IQ chúng tôi lấy từ "Trắc nghiệm của hiệp hội Mensa Đan Mạch" trênwebsite: www.iqtest.dk với khoảng tin cậy IQ từ 80 – 120 Do hiện nay chúng tôichưa tìm được nguồn tài liệu về các bài kiểm tra IQ nên chúng tôi tiến hành kiểm tra
IQ của các em trực tuyến trên website Tại trường THCS Tứ Hiệp, chúng tôi kiểm tra
10 HS đăng ký vào đội tuyển HSG lớp 9 được huyện Thanh Trì tổ chức hàng năm,trong đợt kiểm tra có 5 HS đạt điểm trên 100 Các em đó đủ điều kiện để tham gia lớphọc bồi dưỡng HSG
Tuy nhiên, ngoài việc các em đạt điểm kiểm tra IQ 100 trở lên, những HSđược coi là HSG nội dung di truyền và biến dị ở cấp độ phân tử còn phải đạt đượcnhững yêu cầu nhất định trong quá trình học tập và kiểm tra đánh giá Để đưa ra đượcyêu cầu này chúng tôi phân tích nội dung kiến thức Sinh học lớp 9 cụ thể là trong nộidung chương trình Sinh học 9 gồm 2 phần :
Phần I: Di truyền và biến dị
Phần II: Sinh vật và môi trường
Nội dung kiến thức Sinh thái học (Sinh vật và môi trường) tương đối mới đối vớihọc sinh lớp 9 Nhất là đối với HSG lượng kiến thức mà GV cần cung cấp phải sâu,
dễ hiểu giúp các em đạt được những mục tiêu mà GV đề ra
Chúng tôi đưa ra những so sánh về mặt kiến thức mà một HSG ở nội dung phầnsinh thái học cần đạt được so với HS đại trà như sau:
Trang 20Bảng 1.1 So sánh nội dung dạy học phần Sinh thái học ở lớp HS đại trà và lớp HSG
- Phát biểu được khái niệm vềmôi trường sống, nêu các loạimôi trường sống của sinh vật,cho ví dụ
- Trình bày được khái niệm vàphân loại về nhân tố sinh thái
- Nêu được khái niệm giới hạnsinh thái Nêu ví dụ
- Nêu được ảnh hưởng của nhân
tố ánh sáng đến các đặc điểmhình thái, giải phẫu, sinh lý và
tượng về đặc điểm sinh lý và tậptính của sinh vật
- Học sinh trình bày được nhữngmối quan hệ giữa các sinh vậtcùng loài và khác loài, cho ví dụ
và nêu ý nghĩa mối quan hệ,gồm các mối quan hệ: cùng loài
có quan hệ cạnh tranh, hỗ trợ;quan hệ khác loài có quan hệcộng sinh, hội sinh, kí sinh, ănthịt sinh vật khác
niệm quần thể và lấy được ví dụsinh
minh hoạ về một quần thể sinh vật.thái
Trang 21minh hoạ cho các đặc trưng cơ
bản của quần thể
đặc điểm cơ bản của quần thể
người, phân biệt quần thể người
với quần thể sinh vật khác Nhận
thức về vấn đề dân số và phát
triển xã hội
niệm quần xã; phân biệt được
quần xã và quần thể Nêu được
các tính chất cơ bản của quần xã
và cho ví dụ: Số lượng và thành
phần loài trong quần xã
hoạ các mối quan hệ sinh thái
trong quần xã
+ Học sinh mô tả được một số
dạng biến đổi phổ biến trong
quần xã, thấy được sự biến đổi
ổn định và chỉ ra một số biến
đổi có hại do tác động của con
người gây nên
- Trình bày được thế nào là một
hệ sinh thái, lấy được ví dụ minh
hoạ các kiểu hệ sinh thái, chuỗi
và lưới thức ăn
- Giải thích được ý nghĩa của các
biện pháp nông nghiệp nâng cao
năng suất cây trồng đang sử dụng
hiện nay
- Học sinh nhận biết được các thành
quần thể, quần xã Cần phải phân biệt quần thể với một tập hợp cá thể ngẫu nhiên.
+ Nêu được đặc trưng nào của quần thể là cơ bản nhất và giải thích.
+Nêu được các dạng biến động số lượng cá thể của quần thể sinh vật và nguyên nhân gây biến động.
+ Nêu được thế nào là diễn thế sinh thái.
+ Biết phân loại chuỗi thức ăn Xây dựng và xác định các bậc dinh dưỡng trong lưới thức ăn Dự đoán diễn thế sinh thái có thể xảy ra và giải thích.
+ Nêu và giải thích được sự chuyển hóa năng lượng trong chuỗi thức ăn.
Vận dụng linh hoạt công thức tính hiệu suất sinh thái để giải bài tập liên quan.
+ Nêu được quy luật tháp sinh thái và biết tính toán số liệu, vẽ các dạng tháp sinh thái.
Trang 22nhiên và xây dựng được những
chuỗi thức ăn, lưới thức ăn đơn
giản
- Học sinh nêu được những ảnh
hưởng của con người đến môi
trường ở mỗi giai đoạn
- Học sinh nêu được các biện
pháp của con người nhằm khắc
phục ô nhiễm, suy thoái môi
trường, từ đó có ý thức trách
nhiệm bảo vệ môi trường
- Nêu được khái niệm “ô nhiễm
môi trường, hiểu được các
nguyên nhân chính gây ô nhiễm
và tác hại của việc ô nhiễm môi
của
con
người
trong
việc
làm
mấtcâ
Trang 23dụng
quá
mức
năng
lượng
Trang 24tài
nguyên
và
suy
thoái
Trang 25công
nghiệp
hoá
và
đô
thị
Trang 26trường
15
Trang 27- Học sinh phân biệt và lấy được
các kiểu hệ sinh thái chủ yếu
các biện pháp bảo vệ đa dạng các
hệ sinh thái từ đó đề xuất đ-ược
những biện pháp bảo vệ phù hợp
với hoàn cảnh của địa phương
của chương II và chương III của
luật bảo vệ môi trường
luật bảo vệ môi trường
vệ môi trường
1.2.3 Khái niệm chuyên đề
Theo “Từ điển tiếng Việt phổ thông” – Viện ngôn ngữ học, NXB Phương
Đông, thuật ngữ chuyên đề được hiểu theo nghĩa: là vấn đề chuyên môn có giới hạnđược nghiên cứu riêng [36]
Dạy học chuyên đề hay dạy học bồi dưỡng là một hình thức khá phổ biến ở tất
cả các trường trung học phổ thông Thông qua học chuyên đề học sinh sẽ có đượckiến thức cơ bản và hệ thống kiến thức mở rộng nâng cao rất chi tiết và đầy đủ, có ýnghĩa rất lớn đặc biệt đối với thi học sinh giỏi, thi cao đẳng, đại học Nền tảng và cơ
sở để dạy học chuyên đề là sách giáo khoa [9] Đối với sách giáo khoa mônSinh họcđược chia thành nhiều phần, nhiều bài và nhiều chương Dựa trên cơ sở đó mỗichuyên đề có thể là một chủ đề nội dung liên quan đến nhiều bài và cũng có thể
Trang 28là một chương, một phần Vậy để xây dựng chuyên đề cần căn cứ vào những cơ sởnhất định, như chúng ta biết môn Sinh học 9 - sách cơ bản được chia làm hai phần:phần I là di truyền và biến dị, phần II là Sinh vật và môi trường Trong đó, phần II cóthể xây dựng thành chuyên đề Sinh thái học để bồi dưỡng HSG Đối với các em họclớp 9, trước khi dạy chuyên đề cần dạy cho các em các kĩ năng học tập, chẳng hạn: Kĩnăng thực hành gồm: kĩ năng nhận dạng và vẽ các dạng sơ đồ, kĩ năng phân tích bảng
số liệu, nhận dạng và cách trả lời các câu hỏi trong học môn Sinh học gồm 4 dạng câuhỏi: dạng câu hỏi tại sao, dạng câu hỏi so sánh, dạng câu hỏi chứng minh và dạng câuhỏi thiết lập quan hệ nguyên nhân – kết quả Khi giảng dạy chuyên đề, phải có haiphần: Phần I là kiến thức cơ bản, kiến thức cơ bản này vừa phải bám sát sách giáokhoa, vừa bổ sung nâng cao so với lớp đại trà; phần II là hệ thống câu hỏi và bài tậpcủa chuyên đề đó bao gồm các câu hỏi để nâng cao kiến thức Khi xây dựng hệ thốngcâu hỏi nên chia theo các dạng câu hỏi lí thuyết gồm câu hỏi dạng giải thích, câu hỏidạng chứng minh, câu hỏi dạng so sánh và câu hỏi dạng thiết lập quan hệ nguyênnhân – kết quả để học sinh nhận dạng và cách trả lời Với các câu hỏi đó giáo viênhướng dẫn học sinh tìm tòi, nghiên cứu để trả lời
Tuy nhiên, bồi dưỡng HSG là công việc khó khăn và đòi hỏi nhiều công sứccủa thầy và trò Công tác bồi dưỡng thường gặp những khó khăn như: về thời gian,người thầy phải đảm bảo số tiết nghĩa vụ và trò phải học đủ tất cả các môn theochương trình qui định Do đó, thầy và trò đều cần có thời gian cho hoạt động này
Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của các trường THCS hiện nay thườnggặp những hạn chế về kết quả Điều đó xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu như:nội dung bồi dưỡng, vì không phải là trường chuyên nên không có chương trình dànhcho lớp chuyên, thiếu định hướng trong hệ thống chương trình Tất cả
17
Trang 29giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn, tự nghiên cứu và tự sưu tầm tài liệu Học sinhnăng khiếu, số học sinh này thường không nhiều và chỉ do giáo viên trực tiếp dạy pháthiện được Học sinh say mê bộ môn, các học sinh này có thể chưa thật giỏi nhưng vì say
mê, yêu thích bộ môn nên dễ trở thành học sinh giỏi nếu được hướng dẫn và bồi dưỡng
Việc phát hiện và chọn HSG được dựa trên các cơ sở sau: căn cứ vào các thànhtích đã đạt ở các năm học trước; căn cứ vào đề nghị của giáo viên trực tiếp giảng dạytrên lớp; căn cứ vào kết quả kỳ thi HSG trong toàn trường (được tổ chức đúng quiđịnh và nghiêm túc); và một khi được chọn, học sinh sẽ được bồi dưỡng liên tục trong
ba năm Qua các đợt kiểm tra sàng lọc, giáo viên có thể bổ sung một số học sinh mớithay cho học sinh không đạt yêu cầu trong quá trình bồi dưỡng
Về đội ngũ giáo viên, có thể nói đây là một đội ngũ có yếu tố quyết định quantrọng về kết quả bồi dưỡng HSG Do đó, lãnh đạo nhà trường bằng mọi cách phảithuyết phục cho được giáo viên giỏi của trường tham gia công tác bồi dưỡng HSG.Đội ngũ giáo viên dạy bồi dưỡng cần được bố trí như sau: một giáo viên chính dạybồi dưỡng theo suốt ba năm để nắm toàn bộ chương trình toàn cấp Như thế giáo viên
sẽ đầu tư lâu dài, chủ động trong kế hoạch bồi dưỡng, nắm được mặt mạnh, mặt yếucủa học sinh, nhờ đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm Giáo viên này sẽ chịu tráchnhiệm trực tiếp với trường Một giáo viên phụ trách chuyên môn ra đề theo từng khối
để giúp học sinh chuyên sâu và nâng cao trình độ Để hỗ trợ cho công tác bồi dưỡngHSG có hiệu quả, các bộ phận gián tiếp như: chi bộ, ban giám hiệu, công đoàn, Đoànthanh niên, giáo viên chủ nhiệm… cũng cần quan tâm đặc biệt và có những biện pháp
hỗ trợ đúng mức như: tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng;quan tâm theo dõi và đáp ứng các nghiên cứu chính đáng của giáo viên và học sinh vềphòng học, mua tài liệu, photo bài học, bài tập…; phải xem đây là một nhiệm vụchiến lược cần đầu tư lâu dài Để chương trình bồi dưỡng HSG có hiệu quả, vấn đềthời gian bồi dưỡng cũng góp phần không nhỏ Kế hoạch bồi dưỡng phải rải đềutrong năm, không nên dạy dồn ở tháng cuối khi thi Đặc biệt nên xây dựng cácchuyên đề để bồi dưỡng học sinh chuyên sâu
1.2.5 Vai trò của chuyên đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
Chuyên đề được xây dựng với mục đích hệ thống hóa, mở rộng và nâng caokiến thức Sinh học phần Sinh thái học – Sinh học 9 nhằm rèn luyện, bồi dưỡng họcsinh giỏi để tham dự các kỳ thi học sinh giỏi môn Sinh học lớp 9 Thực hiện công
Trang 30việc bồi dưỡng học sinh giỏi tức là giáo viên trực tiếp tác động đến học sinh bằngviệc truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề, bổsung kiến thức còn thiếu ở các em, định hướng và phát huy năng lực tự học, tự nghiêncứu…Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là cần thiết bởi nó quyết định đến hiệu quả cuốicùng là học sinh được trang bị những kiến thức vững chắc và cũng từ đó tính sáng tạocủa các em mới được phát triển.
Một danh ngôn được nhiều người tán thưởng nói rằng tài năng (năng khiếu)5% là do trời phú, 95% do lao động mà có Việc bồi dưỡng học sinh giỏi được thựchiện theo chuyên đề sẽ mang lại những kết quả rất khả quan Trong dạy học bồidưỡng, việc sử dụng chuyên đề để phát huy tính tích cực của học sinh một cách hợp
lý, đúng nguyên tắc, phù hợp xu hướng phát triển của PPDH hiện nay, có vai trò và ýnghĩa lớn trong dạy học bồi dưỡng
Câu hỏi, bài tập trong chuyên đề là yếu tố tham gia vào quá trình tổ chức hìnhthành kiến thức mới cho người học, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh Với hệthống câu hỏi, bài tập của chuyên đề mà giáo viên đặt ra trong bài học sẽ đưa học sinhvào chủ thể của quá trình nhận thức, chủ động tiếp nhận kiến thức thông qua việc trảlời câu hỏi và làm các baì tập trong chuyên đề Từ đó khắc phục được tình trạng dạyhọc lấy GV làm trung tâm
Câu hỏi, bài tập trong chuyên đề không những giúp HS lĩnh hội kiến thức mới,củng cố hoàn thiện nâng cao kiến thức mà còn giúp học sinh tái hiện lại kiến thức cũ
và xác lập mối quan hệ giữa cái đã biết và chưa biết từ đó tìm ra cách giải quyết trongmâu thuẫn nhận thức Thông qua đó, học sinh được lĩnh hội hệ thống kiến thứcchuyên sâu và có điều kiện thuận lợi phát triển tối đa khả năng của bản thân trong họctập Do vậy học sinh sẽ hứng thú, ham học học, biết cách học và nâng cao chất lượngdạy học
1.2.6 Tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học
1.2.6.1 Khái niệm tiếp cận hệ thống
Tiếp cận được hiểu là cách tiến đến đối tượng, nghiên cứu đối tượng theo cáchnào đó Tiếp cận hệ thống (TCHT) là xem xét một đối tượng nghiên cứu như là một
hệ thống lớn bao gồm những hệ con Hệ con gồm những hệ nhỏ hơn, giữa các bộphận trong một hệ con và giữa các hệ con với nhau cũng như giữa hệ lớn với môitrường cũng có mối tương tác xác định Nhờ mối tương tác này mà hệ thống có
19
Trang 31những thuộc tính mới, những chất lượng mới vốn không có ở các bộ phận riêng lẻ,chưa từng có trước đó và không phải là số cộng các tính chất của các bộ phận(nguyên lý tính trồi - Emergence) Đó là những chất lượng mới mang tính toàn vẹnhay tính tích hợp của hệ thống Toàn hệ thống là một chỉnh thể có khả năng tự điềuchỉnh tự thân vận động và phát triển không ngừng.
TCHT trong học thuyết của Benalanffy là sự kết hợp giữa phương pháp phântích và tổng hợp Bertalanffy cho rằng tất cả các hệ thống được các nhà vật lý nghiên
cứu là hệ thống cô lập - hệ thống không có tương tác gì (trao đổi VC&NL) với môi
trường bên ngoài [23]
Tuy nhiên, là một nhà sinh học, Bertalanffy biết rằng những giả thuyết nhưvậy là không thể áp dụng cho hầu hết các hiện tượng tự nhiên Tách rời khỏi môitrường xung quanh, SV sống sẽ nhanh chóng đi đến cái chết vì thiếu ôxy, nước vàthức ăn Các cấp TCS là những hệ thống mở: chúng không thể tồn tại nếu thiếu sựtrao đổi liên tục VC&NL với môi trường Điểm đặc trưng của hệ thống mở là sựtương tác với các hệ thống bên ngoài khác Sự tương tác này có hai thành phần: Đầuvào - những gì từ bên ngoài đi vào hệ thống - và đầu ra - những gì từ bên trong rờikhỏi hệ thống ra môi trường Khi nói đến bên trong và bên ngoài của một hệ thống,chúng ta cần phân biệt được hệ thống và môi trường của nó Hệ thống và môi trườngđược phân biệt bởi một ranh giới được gọi là ranh giới của hệ thống
TCHT là phương pháp luận để nghiên cứu hệ sống trên cơ sở phân tích nhữngdấu hiệu bản chất của hệ sống: hệ có tổ chức trong mối quan hệ mật thiết giữa cấutrúc – cấu trúc và cấu trúc - chức năng Hệ mở có khả năng tự điều chỉnh duy trìnhững hằng số sinh học ổn định tương đối, mang các đặc trưng cơ bản của sự sống và
hệ luôn vận động để phát triển, được thể hiện trong mỗi cấp độ TCS
Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu đã phát biểu khái niệm TCHT một cách
ngắn gọn như sau: TCHT là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc
và động lực của chúng, đó là một cách tiếp cận toàn diện và động [17].
1.2.6.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Có hai hướng tiếp cận vấn đề khi thực hiện các nghiên cứu trong thực tế: tiếpcận dựa trên các thành tố và tiếp cận dựa trên tổng thể, thực chất đây là phương phápphân tích và phương pháp tổng hợp Sự thống nhất giữa hai phương pháp phân tíchcấu trúc và tổng hợp hệ thống đã sản sinh ra phương pháp TCHT
Trang 32Tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp không những không đối lập nhau, hayloại trừ nhau mà còn bổ sung cho nhau Tiếp cận phân tích phân chia hệ thống thànhcác thành tố cơ bản nhằm nghiên cứu các chi tiết và tìm hiểu các loại quan hệ tồn tạigiữa chúng Thông qua việc biến đổi từng yếu tố, tiếp cận phân tích tìm ra các quyluật chung cho phép người phân tích dự đoán các tính chất của hệ thống trong cácđiều kiện khác nhau Để có thể dự đoán thì cần phải tìm ra được các quy luật về sự tổhợp của các thuộc tính cơ bản Khi đó các quy luật thống kê có thể được áp dụng, chophép nhà phân tích hiểu được hành vi của một tập hợp đơn giản [17].
Quy luật về sự tổ hợp các thuộc tính cơ bản không áp dụng được với các hệthống có tính phức tạp cao, cấu thành bởi các thành tố đa dạng liên kết với nhauthông qua các tương tác mạnh mẽ Các hệ thống đó phải được tiếp cận bằng cácphương pháp mới trong TCHT Mục đích của các phương pháp mới nhằm nghiên cứu
hệ thống dựa trên tính tổng thể, phức tạp và luôn vận động của hệ thống Thông qua
mô phỏng hệ thống, nhà nghiên cứu có thể quan sát các tác động của các loại hìnhtương tác khác nhau giữa các thành tố của hệ thống trong một khoảng thời gian.Nghiên cứu về hành vi theo thời gian giúp xác định các quy luật để thay đổi hệ thốnghoặc thiết kế các hệ thống
Cách tiếp cận tổng hợp về cơ bản khác với cách tiếp cận phân tích bộ phận.Phân tích đối tượng tập trung vào việc tách bạch từng phần của đối tượng đượcnghiên cứu Ngược lại tiếp cận tổng hợp tập trung vào cách đối tượng được nghiêncứu tương tác với các thành phần khác của hệ thống chứa nó Điều này có nghĩa làthay vì cô lập những phần ngày càng nhỏ hơn của hệ thống được nghiên cứu thì tiếpcận tổng hợp làm việc bằng cách mở rộng góc nhìn, tính tới sự tương tác giữa cácthành phần và môi trường Chính sự tương tác này làm nảy sinh những kết luận đángchú ý so với những kết luận do phân tích thành phần mang lại
1.2.6.3 Tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học
Tính hệ thống của sinh giới: Tính hệ thống của sinh giới được trình bày lần đầu
tiên trong tác phẩm “Lí thuyết hệ thống sống của James Grier Miler Theo Miler, một “hệthống sống” phải chứa 20 hệ thống con quan trọng, từ các tế bào đơn giản đến các SV,các quốc gia và xã hội Ông đã xây dựng một lí thuyết chung của hệ thống sống bằngcách tạp trung cụ thể vào các hệ thống không ngẫu nhiên tích lũy năng lượng vật chấttrong không gian – thời gian, tổ chức thành các tương tác, hệ thống con
21
Trang 33hoặc các thành phần liên quan đến nhau Hơn 10 năm sau, ông lại bổ sung cho quanniệm ban đầu về sinh giới Ông cho rằng: Hệ thống sống được cấu tạo theo các cấp độnhỏ đến lớn theo phương thức lồng nhau, tức là mỗi cấp độ cao hơn có các cấp độthấp hơn Tám cấp độ lồng nhau bao gồm: tế bào, cơ quan, SV, nhóm, tổ chức, cộngđồng, xã hội và hệ thống siêu quốc gia[40].
Về sau, những nghiên cứu về tính hệ thống của sinh giới càng được phát triển
và hoàn thiện Hiện nay, có nhiều quan điểm phân chia hệ thống sinh giới nhưng đềutuân theo những nguyên tắc nhất định
Hệ thống sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc gồm nhiều cấp TCS từnhỏ đến lớn TCS cấp dưới làm nền tảng để xây dựng nên TCS cấp trên Người tachia hệ thống sống thành những cấp độ cơ bản bao gồm: phân tử-tế bào Cơ thể
QT - loài QX HST SQ Đan xen giữa các cấp tổ chức cơ bản là những cấp tổchức trung gian Các cấp tổ chức cơ bản tồn tại như một đơn vị sống, biểu hiện cácđặc tính sống Các cấp tổ chức trung gian không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cấp
tổ chức chính, các đặc trưng sống chỉ biểu hiện khi tồn tại trong tế bào
Một cấp tổ chức vừa được cấu thành từ cấp tổ chức thấp hơn vừa là thành phầncấu tạo nên tổ chức cấp cao hơn Ví dụ, cơ thể được cấu thành từ các tế bào nhưngđồng thời cũng là đơn vị cấu thành nên QT Cấp tổ chức cao hơn không những có cácđặc điểm của các cấp tổ chức thấp hơn cấu thành mà còn có những đặc tính nổi trội
mà cấp tổ chức thấp hơn không có Đặc tính này được hình thành do sự tương tácgiữa các bộ phận cấu thành nên cấp tổ chức đó
Mỗi cấp TCS từ tế bào, cơ thể, QT, QX đến hệ SQ đều là các hệ thống mở và
tự điều chỉnh Hệ thống mở có nghĩa là chúng luôn luôn có sự tương tác với môitrường, cụ thể là luôn trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với môi trường Các
hệ thống sống chỉ có thể tồn tại khi có sự liên hệ thường xuyên với các hệ vô cơ vàhữu cơ bao quanh nó Khả năng tự điều chỉnh của các cấp TCS là khả năng phản ứnglại các tác nhân bất lợi làm cho tổ chức đó trở lại trạng thái cân bằng Bất kì hệ thốngsống nào cũng có khả năng tự điều chỉnh để tạo ra trạng thái cân bằng tương đối trongmôi trường xác định vào những thời điểm nhất định gọi là sự cân bằng động Các đặctrưng của một hệ thống sống được duy trì nhờ quá trình tự điều chỉnh về thành phầncấu trúc, về tốc độ trao đổi chất và năng lượng với môi trường trong quá trình pháttriển và tiến hoá Ví dụ: Ở cơ thể động vật, cơ chế duy trì cân bằng
Trang 34nội môi có sự tham gia phối hợp của thể dịch và hệ thần kinh, hệ tuần hoàn; các cơquan: gan, thận Nhờ đó, áp suất thẩm thấu, độ pH trong cơ thể luôn ổn định đảm bảocho sự tồn tại và hoạt động chức năng của cơ thể.
Trong mỗi cấp TCS đều thể hiện mối liên quan mật thiết giữa cấu trúc và chứcnăng, giữa TCS với môi trường Thông qua mối quan hệ tương hỗ với môi trườngphức tạp, đa dạng mà các hệ thống khác nhau biểu hiện những đặc điểm riêng biệt vềcấu trúc, phương thức trao đổi chất và năng lượng, trao đổi thông tin trong quá trìnhphát triển và tiến hoá Các đặc trưng của hệ thống sống được chương trình hoá trongvật chất di truyền Nhờ đó nó được duy trì qua các thế hệ nhờ đặc tính sinh sản
1.2.6.4 Vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học
Quán triệt quan điểm hệ thống trong nghiên cứu và dạy học Sinh học chính là
sử dụng phương pháp tiếp cận cấu trúc - hệ thống
Tiếp cận (approach) là cách đến gần một đối tượng để nghiên cứu đối tượngtheo cách như thế nào, là hệ phương pháp để nghiên cứu một đối tượng
Cấu trúc là những mối liên hệ bền vững bên trong của một sự vật, quy địnhđặc tính của sự vật đó Trong khái niệm cấu trúc cái toàn thể nổi lên so với bộ phận
Tiếp cận cấu trúc - hệ thống là việc nghiên cứu khách thể với tư cách là một hệthống bằng một hệ thống phương pháp Hệ thống phương pháp này có bản chất là sựthống nhất giữa hai phương pháp phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống một cáchkhoa học, phù hợp với quy luật tự nhiên
Phương pháp phân tích cấu trúc là thao tác tư duy đi từ cái toàn thể đến cái bộphận thông qua xác định thành phần và cấu tạo của hệ thống Cách tiếp cận này giúp
ta nghiên cứu sâu hơn, chi tiết hơn các thông số và đặc tính của hệ thống
Phương pháp tổng hợp hệ thống là thao tác tư duy đi từ cái bộ phận đến cáitoàn thể thông qua việc xác định cấu trúc và hệ thống Phương pháp này xem xét đốitượng trong hệ thống như một hệ toàn vẹn, thông qua giải quyết những mâu thuẫnbên trong, do sự tương tác hợp quy luật giữa các thành phần trong hệ thống từ đó tìm
ra bản chất toàn vẹn của hệ thống
Phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống luôn gắn liền với nhau đem lại cáchnhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Điều này có nghĩa
23
Trang 35là trong một hệ thống các yếu tố luôn được xem xét trong một chỉnh thể thống nhất,thống nhất giữa các yếu tố trong hệ thống, thống nhất giữa các yếu tố của hệ thốngvới môi trường (hình 1.3).
Môi trường
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa hệ thống và môi trường
Phân tích cấu trúc giúp ta đi sâu vào nghiên cứu các bộ phận của chỉnh thể còntổng hợp hệ thống lại chỉ ra phương hướng cho sự phân tích tiếp theo, giống nhưngười đi rừng nếu chỉ mải mê với từng cây trong rừng mà không chú ý tới việc xácđịnh lại phương hướng thì bị lạc lối hoặc dù không lạc lối cũng sẽ khó bao quát hếtđược cả khu rừng
Cách TCHT không chỉ là tổng hợp và phân tích thuần tuý mà còn là phân tíchsâu Nếu như phân tích thuần tuý (phân tích bộ phận) chỉ tập trung vào việc tách bạchtừng phần của đối tượng được nghiên cứu thì TCHT tập trung vào cách đối tượngđược nghiên cứu tương tác với các thành phần khác của hệ thống có chứa nó Phântích thuần tuý bị hạn chế là thấy cây mà không thấy rừng, tổng hợp thuần tuý thì bịhạn chế là thấy rừng mà quên cây Chỉ có tiếp cận cấu trúc - hệ thống mới khắc phụcđược những hạn chế của hai phương pháp trên đồng thời còn khắc phục được sựtương tác giữa cấu trúc và chức năng của hệ thống Vì muốn hiểu được chức năngphải hiểu được sự tương tác giữa các bộ phận cấu trúc, mặt khác qua sự tương tác bộphận đó mỗi bộ phận cấu trúc sẽ bộc lộ chức năng của nó Sự tương tác giữa các bộphận trong hệ thống sẽ tạo cho hệ thống những thuộc tính nổi trội vốn không có ở các
bộ phận riêng lẻ [15]
Vận dụng TCHT khi nghiên cứu các cấp độ TCS cần làm rõ: Thành phần, cấutrúc, cấu tạo, toàn thể (hình 1.4)
Trang 36Thành phần Cấu TạoToàn Thể
Hệ thống Cấu trúc
Hình 1.4 Các thành tố của hệ thống sống
bộ phận cấu tạo nên toàn thể, những bộ phận này được xác định bằng con đường phântích toàn thể thành những bộ phận khác nhau Khi nghiên cứu cấp độ TCS ta phải xácđịnh đầy đủ các bộ phận cấu thành đồng thời phải chú ý mối liên hệ giữa các bộ phậnbên trong của cấp độ TCS và mối liên hệ giữa hệ thống sống với môi trường
cách thức tương tác giữa chúng Sự tác động qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã sinh
ra động lực tự thân vận động, phát triển của hệ thống Khi nói đến cấu trúc là nói đếncác bộ phận có quan hệ với nhau tạo nên một hệ thống về mặt không gian
về mặt không gian
những thuộc tính mới không có ở bộ phận thành phần của hệ Mức độ toàn vẹn củamột cấp độ TCS cao bao giờ cũng cao hơn so với mức toàn vẹn của một cấp độ TCSthấp hơn Sự tồn tại, phát triển của mỗi hệ thống được vận động điều hoà bởi sự phânhuỷ và kiến tạo của các hệ cấu thành của cấp độ thấp hơn
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Chương trình và sách giáo khoa sinh học 9 phần Sinh thái học
môn học “tìm hiểu tự nhiên và xã hội”, “tiếng Việt” Cấp THCS, các tri thức sinh tháihọc được cung cấp theo các phần: hình thái giải phẫu và sinh lý thực vật, động vậtkhông xương sống, động vật có xương sống, sinh lý người Trong tất cả các phần trên,các tri thức sinh thái về mối quan hệ tác động qua lại giữa các sinh vật với môitrường, vấn đề bảo vệ thiên nhiên và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đều
đã được tích luỹ một cách hợp lý và phần nào đã được hệ thống lại trong mấy bài cuốicủa chương trình động vật ở cuối lớp 7 Sinh học lớp 8 giới thiệu giải
25
Trang 37phẫu và sinh lý người Những vấn đề cơ bản về giáo dục giới tính và đời sống giađình, giáo dục dân số đã được đề cập đến Lên lớp 9, chương trình sinh thái học đượctrình bày ở dạng nâng cao với các kiến thức mang tính tổng hợp, trừu tượng và kháiquát, kiến thức được trình bày ở dạng khái niệm và quy luật.
Học sinh phổ thông nói chung, học sinh cấp trung học cơ sở nói riêng, là lớpthế hệ ngay tiếp sau này, các em là người “thừa hưởng” chính yếu nhất những tácđộng của môi trường, vậy trách nhiệm giữ gìn môi trường chính thuộc về các em.Chúng ta đã dạy cho các em biết yêu quý thiên nhiên, các sinh vật khác, biết tôn trọng
và bảo vệ chúng; như để chắc chắn phần 2 chương trình Sinh học 9, phần “Sinh tháihọc” được viết, như là kiến thức sinh học phổ thông để các em hiểu về Sinh thái học
và là tiền đề để các em tiếp tục học nội dung sinh thái học ở phần bảy sinh học 12.Nội dung phần sinh thái học là một trong những nội dung trọng tâm trong kỳ thi họcsinh giỏi cấp thành phố - Sinh học 9 Nhưng vấn đề lại được đặt ra, làm sao học sinhhọc phần sinh thái thật “dễ”, thật “sâu”, nhớ lâu, dễ áp dụng và thi HSG đạt điểmcao? Chuyên đề bồi dưỡng HSG phần sinh thái học ra đời nhằm giải quyết tận gốccác vấn đề trên Bởi vì chuyên đề vừa có tính hệ thống lại vừa có tính khái quát, trừutượng và hệ thống cao lí thuyết đồng thời có hệ thống bài tập vận dụng cơ bản vànâng cao với từng đơn vị kiến thức Qua chuyên đề, người học sẽ thấy được từng chitiết cụ thể trong hệ thống toàn diện, tránh cái nhìn phiến diện cục bộ hay quá “vĩ mô”.Dạy học theo chuyên đề luôn bám sát quá trình học tập từ việc: hình thành kiến thứcmới, củng cố hoàn thiện kiến thức, kiểm tra đánh giá thức sau mỗi bài, mỗi chươnghay mỗi phần một cách sáng tạo, buộc học sinh luôn đặt tư duy trong hoạt động vìvậy dạy theo chuyên đề còn gián tiếp rèn luyện tư duy logic cho học sinh Phần sinhthái học cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức khoa học vững chắc về môi trường,các thành tố môi trường, sự tương tác, vận động phát triển và kết quả của chúng Vìvậy các tri thức sinh thái rất thuận lợi được hệ thống bằng chuyên đề, trong đó giớithiệu các đơn vị kiến thức được liệt kê các với nội dung ngắn gọn, có logic, thể hiệnmối quan hệ toàn thể bộ phận, giữa “ giống – loài”, giữa cái chung – cái riêng Nhưvậy các ngôn ngữ nội dung trong sinh thái học đều diễn đạt trong chuyên đề một cáchngắn gọn, logic và dễ hiểu Vì vậy chúng ta cần tăng sử dụng chuyên đề trong dạyhọc sinh học nói chung và dạy phần sinh thái học nói riêng để nâng cao chất lượngdạy học phần sinh thái
Trang 38Trong quá trình học tập ở trong và ngoài nhà trường cũng như quá trình lớnlên trong gia đình và xã hội, học sinh đã có vốn phong phú về thiên nhiên, về xã hội
và các mối quan hệ tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường, cụ thể: phân tích nộidung, cấu trúc chương trình sinh thái học Chương trình sinh học 9 THCS hiện hànhbao gồm 3 chương, trình bày các cấp độ tổ chức sống từ cá thể sinh vật lên quần thể,quần xã, hệ sinh thái và bảo vệ môi trường Trong đó chú ý đến các mối quan hệ giữacác yếu tố trong hệ thống sống, các quy luật và các quá trình xảy ra trong các hệthống sống đó: Chương I: Sinh vật và môi trường: Trình bày những vấn đề cơ bản củacác mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường: khái niệm môi trường, các loại môitrường và các nhân tố sinh thái của môi trường, ảnh hưởng của các nhân tố sinh tháilên đời sống sinh vật ; Chương II: Hệ sinh thái: Trình bày quần thể các đặc trưng củaquần thể Mỗi cá thể đều bị tác động của các nhân tố vô sinh và hữu sinh có thể làtrực tiếp hoặc gián tiếp và hình thành quy luật về giới hạn sinh thái Trên cơ sở cácyếu tố sinh thái cùng tác động lên sinh vật xem xét sự tác động tổng hợp của các nhân
tố sinh thái Các khái niệm quần xã, các đặc trưng cơ bản cảu quần xã sinh vật Mốiquan hệ giữa các loài trong quần xã Hiểu biết khái quát về hệ sinh thái, các thànhphần của hệ sinh thái, các kiểu hệ sinh thái trên trái đất Các kiểu hệ sinh thái đượcgiới thiệu với các nội dung tập trung vào mối quan hệ dinh dưỡng trong hệ sinh thái:chuỗi và lưới thức ăn Trao đổi chất và năng lượng trong hệ sinh thái ; Chương III:Con người, dân số và môi trường: Trình bày những tác động của con người tới môitrường, biết các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, tìm hiểu tình hình thực trạng môitrường ở địa phương
Có thể hình dung lôgíc nội dung chương trình STH ở trường THCS như sau:
27
Môi trường
Trang 39Các cấp độ tổ
chức sống
Sơ đồ 1: Lôgic cấu trúc nội dung chương trình STH
( Mũi tên hai chiều chỉ sự tương tác, VS: vô sinh, HS: hữu sinh, CN: con người)
Sơ đồ trên phản ánh rõ tính hệ thống của các cấp độ tổ chức sống; chúng luôn
có mối quan hệ tương hỗ với nhau và với môi trường thể hiện ở những quy luật sinhthái cơ bản Quá trình dạy học STH nếu tuân theo lôgic cấu trúc - hệ thống và có kếthừa hợp lý các tri thức sinh học ở các lớp dưới, thì sẽ nâng cao hiệu quả DH bộ môn.Theo cấu trúc đó, sau khi xác định rõ đối tượng và mục đích nghiên cứu của mônSTH, nội dung chương trình giới thiệu khái quát về môi trường trong đó có nhữngNTST, cần cho HS lấy các ví dụ về các hiện tượng sinh thái để chứng minh cho sự tácđộng qua lại của các NTST trong môi trường với nhau và với SV Những mối tácđộng qua lại giữa các cấp độ tổ chức sống với môi trường được lần lượt nghiên cứu ởmức đơn giản nhất là mức cá thể, tiếp đó ở mức độ QT QX HST Khi hướng dẫn
HS nghiên cứu các cấp độ tổ chức sống nhất thiết phải đặt chúng trong MTS của nó
để tìm hiểu các điều kiện cân bằng và biến động, đặc biệt luôn luôn phải chú ý đặtcon người là thành viên của các HST để thấy rõ vai trò và những tác động của họ làmmất cân bằng sinh thái Trên cơ sở nội dung bài giảng được nghiên cứu một cáchnhuần nhuyễn, giáo viên có thể mạnh dạn nâng cao vai trò của chủ thể của học sinhtrong quá trình học tập qua chuyên đề sinh thái học với những dự kiến có định hướng,tạo điều kiện cho học sinh gỏi tham gia đạt kết quả cao
Phần sinh thái học là một phần học mới ở THCS, do đó kết quả dạy học của
nó càng phụ thuộc vào sự giảng dạy của giáo viên Mặt khác những khái niệm sinh
28
Trang 40thái học được trình bày theo một hệ thống chặt chẽ, có tính kế thừa cao, học sinhkhông nắm vững khái niệm của các chương trình sinh thái học cá thể thì sẽ ảnh hưởngđến sự tiếp thu khái niệm ở chương sau là quần xã và hệ sinh thái Chính vì vậy khigiáo viên nắm vững các khái niệm sinh thái học một cách hệ thống và thực hiện bàigiảng theo một quá trình hay chương trình hoá một cách linh hoạt nôi dung bài giảngmang lại hiệu quả dạy học cao Chuyên đề này sẽ giúp chúng ta nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học sinh thái học chính là ở gốc độ đó Để sử dụng chuyên đề trongdạy học sinh thái học, trước hết người giáo viên phải nắm vững cấu trúc hệ thống củachương trình sinh thái học và tính hệ thống của từng chương, từng bài, từng mục
1.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại huyện
1.3.2.1 Thực trạng công tác bồi dưỡng HSG ở một số trường THCS
Thực tế giáo viên dạy bồi dưỡng vẫn phải hoàn tất công tác giảng dạy như cácgiáo viên khác, đôi khi còn kiêm nhiệm nhiều công tác khác như: chủ nhiệm, tổtrưởng bộ môn, công đoàn… đó là một thực tiễn Do vậy, việc đầu tư cho công tác bồidưỡng HSG cũng có phần hạn chế Chúng tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của 15 GVtham gia công tác bồi dưỡng HSG lớp 9 của 5 trường THCS thuộc huyện Thanh Trì –
Hà Nội Chúng tôi tập trung tìm hiểu về những thuận lợi, khó khăn trong công tác bồidưỡng HSG, phương pháp bồi dưỡng HSG, mức độ rèn luyện kỹ năng học tập choHS… thông qua 2 hình thức:
Bảng 1.2 Kết quả điều tra thực trạng công tác bồi dưỡng HSG của GV
dưỡng do GV dạy ở trường