ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC DƯƠNG ĐẶNG PHƯƠNG HOA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHÉP NHÂN VÀ PHÉP CHIA CÁC ĐA THỨC” ĐẠI SỐ 8
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG ĐẶNG PHƯƠNG HOA
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHÉP NHÂN VÀ PHÉP CHIA CÁC ĐA THỨC” ĐẠI SỐ 8
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG ĐẶNG PHƯƠNG HOA
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHÉP NHÂN VÀ PHÉP CHIA CÁC ĐA THỨC” ĐẠI SỐ 8
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Châu
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc
nghiệm khách quan trong dạy học chương phép nhân và phép chia các đa thức, Đại số lớp 8 ” được hoàn thành tại trường Đại học Giáo Dục – Đại học
Quốc gia Hà Nội Có được bản luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơnchân thành và sâu sắc đến tập thể các giảng viên, cán bộ trường Đại học Giáodục, đặc biệt là GS.TS Nguyễn Hữu Châu, người đã trực tiếp hướng dẫn, dìudắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trìnhtriển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi tới Ban Giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viên các trường THCSĐinh Tiên Hoàng, THCS Ninh Mỹ huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình lời cảm tạsâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả thu thập số liệu cũngnhư những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài này
Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu và nhiệt tình củacác học viên lớp cao học Lý luận và Phương pháp dạy học (bộ môn Toán),khóa 10 trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã đóng góp ýkiến và giúp đỡ tác giả triển khai, điều tra thu thập số liệu Xin chân thànhcảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả
Dương Đặng Phương Hoa
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục ii
Danh mục bảng biểu vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Một số vấn đề về đánh giá trong dạy học 6
1.1.1 Khái niệm đánh giá 6
1.1.2 Mục đích của đánh giá 6
1.1.3 Nội dung đánh giá 7
1.1.4 Những chức năng và yêu cầu đánh giá học sinh 9
1.1.5 Các phương pháp đánh giá 9
1.1.6 Qui trình đánh giá 10
1.2 Trắc nghiệm 11
1.2.1 Khái niệm về trắc nghiệm 11
1.2.2 Trắc nghiệm tự luận 12
1.3.3 Trắc nghiệm khách quan 13
1.2.4 So sánh trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 14
1.2.5 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan 17
1.2.6 Một số kỹ thuật trong xây dựng câu hỏi trắc nghiệm 21
1.2.7 Các tiêu chí của một bài trắc nghiệm khách quan 26
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 31
2.1 Mục đích nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn tác giả đã sử dụng các phương pháp sau: 31 2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 31
Trang 62.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn điều tra, quan sát 31
2.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 32
2.3 Kết quả khảo sát 32
2.3.1 Mức độ hiểu biết của giáo viên đối với phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá trong môn Toán 32
2.3.2 Mức độ sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá chủ đề phép nhân và phép chia đa thức của giáo viên 33
2.3.3 Các hình thức sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá chương ”Phép nhân và phép chia các đa thức” 34
2.3.4 Mức độ sử dụng các loại câu hỏi 34
2.3.5 Những khó khăn khi sử dụng phương phápTNKQ trong đánh giá chươ ng: “Phép nhân và phép chia các đa thức” Đại số 8 35
2.3.6 Thực trạng học sinh khi học chương phép nhân, phép chia đa thức 36
Kết luận chương 2 38
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN VỀ CHƯƠNG PHÉP NHÂN VÀ PHÉP CHIA CÁC ĐA THỨC – ĐẠI SỐ 8 39
3.1 Câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong chủ đề phép nhân các đa thức 39
3.1.1 Nội dung và yêu cầu về kiến thức kỹ năng 39
3.1.2 Thể hiện của từng mức độ 40
3.1.3 Những lưu ý đối với giáo viên 40
* Những khó khăn của học sinh có thể gặp khi tiếp thu tri thức trong bài 40
3.1.4 Một số câu hỏi theo từng mức độ 40
3.2 Câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong chủ đề các hằng đẳng thức đáng nhớ 45
3.2.1 Nội dung và yêu cầu về kiến thức kỹ năng 45
3.2.2 Thể hiện của từng mức độ 46
3.2.3 Những lưu ý đối với giáo viên 46
* Những khó khăn của học sinh có thể gặp khi tiếp thu tri thức trong bài 46
3.2.4 Một số câu hỏi theo từng mức độ 46
Trang 73.3 Câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong chủ đề các phương pháp phân tích
đa thức thành nhân tử 52
3.3.1 Nội dung và yêu cầu về kiến thức kỹ năng 52
3.3.3 Những lưu ý đối với giáo viên 52
* Những khó khăn của học sinh có thể gặp khi tiếp thu tri thức trong bài 53
3.3.4 Một số câu hỏi theo từng mức độ 53
3.4 Câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong chủ đề phép chia các đa thức 61
3.4.1 Nội dung và yêu cầu về kiến thức kỹ năng 61
3.4.2 Thể hiện của từng mức độ 61
3.4.3 Những lưu ý đối với giáo viên 61
* Những khó khăn của học sinh có thể gặp khi tiếp thu tri thức trong bài 61
- Cho HS ôn lại phép trừ hai đa thức theo hàng dọc 62
- Khi thực hiện ví dụ mẫu GV nên cho HS làm từng bước một 62
- Nhắc lại quy tắc về dấu, quy tắc chia 2 lũy thừa cùng cơ số 62
3.4.4 Một số câu hỏi theo từng mức độ 62
Kết luận chương 3 67
CHƯƠNG 4 68
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
4.1 Mục đích và tổ chức thực nghiệm 68
4.2 Phương pháp thực nghiệm 68
4.3 Kế hoạch thực nghiệm 69
4.4 Nội dung thực nghiệm 69
4.5 Kết qủa thực nghiệm và đánh giá 82
Kết luận chương 4 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Bảng so sánh hai loại câu hỏi TNTL và câu hỏi TNKQ 15
Bảng 2.1 Bảng thống kê mức độ hiểu biết của giáo viên đối với phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá trong môn Toán 32
Bảng 2.2 Bảng thống kê mức độ tập huấn về cách thức ra đề đánh giá bằng phương pháp TNKQ 32
Bảng 2.3 Thống kê mức độ sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá chủ đề phép nhân và phép chia đa thức 33
Bảng 2.4 Thống kê cách thức ra đề kiểm tra TNKQ của giáo viên 33
Bảng 2.5 Bảng thống kê các hình thức sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá chương ”Phép nhân và phép chia các đa thức” 34
Bảng 2.6 Thống kê mức độ sử dụng các loại câu hỏi trắc nghiệm trong đánh giá chương ”Phép nhân và phép chia các đa thức” 34
Bảng 2.7 Thống kê những khó khăn khi sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá chương “Phép nhân và phép cha các đa thức” Đại số 8 của giáo viên 35
Bảng 2.8 Thực trạng học sinh khi học 7 hằng đẳng thức 36
Bảng 2.9 Thực trạng học sinh khi học phép nhân, phép chia đa thức 36
Bảng 2.10 Những khó khăn của học sinh khi học chương phép nhân và phép chia các đa thức 37
Bảng 4.1 Kết quả kiểm tra 15 phút TNKQ tại các lớp thực nghiệm 82
Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra viết 15 phút của các lớp đối chứng 83
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra 45 phút TNKQ tại các lớp thực nghiệm 84
Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra 45 phút tự luận tại các lớp đối chứng 85
Biểu 4.1 Biểu đồ xếp loại điểm kiểm tra 15 phút (tính theo %) giữa thực nghiệm và đối chứng 85
4.2 Biểu đồ xếp loại điểm kiểm tra 15 phút (tính theo %) giữa thực nghiệm và đối chứng 86
Bảng 4.5 Thống kê ý kiến của giáo viên 86
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, yêu cầu của sự hội nhập quốc tế đòi hỏi nền giáo dục Việt Namcần phải đổi mới một cách căn bản và toàn diện từ mục tiêu giáo dục, nộidung đến phương pháp, phương tiện dạy học Đảng ta đã xác định: gắn kếtchặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, côngnghệ, giáo dục và đào tạo là một trong ba khâu đột phá để đưa nước ta cơ bảntrở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, tạo tiền đềvững chắc cho phát triển cao hơn trong giai đoạn sau Nghị quyết số29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội…”.
Đánh giá kết quả học học tập của học sinh là một khâu có vai trò quantrọng trong dạy học nói chung và dạy học bộ môn toán nói riêng Nó đảm bảomối liên hệ ngược trong quá trình dạy học bộ môn, giúp giáo viên điều chỉnhviệc dạy và giúp học sinh kịp thời điều chỉnh việc học của mình, góp phầncủng cố, đào sâu, hệ thống hoá kiến thức và có tác dụng giáo dục học sinh vềtinh thần trách nhiệm, thói quen đào sâu suy nghĩ, ý thức vươn lên trong họctập, thái độ làm việc nghiêm túc, trung thực Thực tiễn cho thấy trong tìnhhình hiện nay phần lớn giáo viên vẫn dạy học theo kiểu thuyết trình, học sinhnghe theo, làm theo, bị động và hoàn toàn lệ thuộc vào thầy trong quá trìnhhọc tập, các kỳ kiểm tra, đánh giá thi cử đa số là kiểm tra viết tự luận, kiểmtra vấn đáp Phương pháp đánh giá bằng TNKQ đã tỏ ra có một số ưu điểm
Trang 10nổi trội: Đảm bảo được tính khách quan, trung thực, công bằng, tránh học tủ,học lệch, tiết kiệm thời gian chấm bài, dễ dàng sử dụng các phương phápthống kê toán học trong việc xử lý kết quả kiểm tra Nhiều nước đã nghiêncứu vận dụng loại hình đánh giá này, ở nước ta một số môn cũng đã vận dụngđánh giá bằng phương pháp TNKQ.
Chương 1 “ Phép nhân và phép chia các đa thức – Đại số 8” có vai trò rấtquan trọng với học sinh lớp 8 và lớp 9 Bởi vì nội dung kiến thức của chương
có liên hệ chặt chẽ với các kiến thức của chương sau Nếu học sinh không biếtnhân, chia các đa thức, không thuộc các hằng đẳng thức, không biết phân tích
đa thức thành nhân tử học sinh sẽ không làm được các phép tính về phân thức,không giải được phương trình, bất phương trình…và sẽ khó học tiếp được cáclớp sau Với nhận thức và kinh nghiệm của bản thân, tôi thấy: Nếu xây dựngđược một hệ thống câu hỏi TNKQ đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và biết cách
sử dụng hợp lý trong giờ học thì giáo viên sớm có được thông tin phản hồi từhọc sinh trong mỗi giờ học Góp phần thay đổi PPDH “Phát huy tính tích cực
tự giác của người học”, nâng cao hiệu quả giờ lên lớp và nâng cao chất lượngdạy học Chính vì những lí do đã nêu ở trên tôi đã chọn đề tài:
“ Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học
chương phép nhân và phép chia các đa thức, Đại số lớp 8”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đánh giá bằng trắcnghiệm
Xây dựng và sử dụng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạyhọc chương “phép nhân và phép chia các đa thức – Đại số 8” nhằm hỗ trợtrong quá trình dạy và đánh giá quá trình học tập của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm kháchquan, nghiên cứu chương trình, nội dung chương phép nhân và phép chia các đathức – Đại số 8
Trang 11- Định hướng cách thức biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan và xâydựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về chương “phép nhân và phépchia các đa thức”.
- Đề xuất giải pháp sư phạm về sử dụng hệ thống câu hỏi một cách có hiệuquả
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Chương trình sách giáo khoa đại số lớp 8 và thực tiễn sử dụng câu hỏi trắcnghiệm khách quan ở các trường THCS
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Qui trình xây dựng và sử dụng trắc nghiệm khách quan về nội dung kiếnthức chương I- Phép nhân và phép chia các đa thức – Đại số 8.Học sinh lớp 8trường THCS Đinh Tiên Hoàng, Hoa Lư, Ninh Bình
- Học sinh: 180 học sinh của các lớp 8A, 8B, 8C tại Trường THCS ĐinhTiên Hoàng, lớp 8A, 8B, 8C trường THCS Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá, về câu hỏi trắc nghiệm kháchquan, tổng quan về các kết quả nghiên cứu đã công bố và liên quan gần gũi
với đề tài
- Nghiên cứu chương trình nội dung, sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáoviên, và các tài liệu tham khảo về Đại số lớp 8
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tổng kết kinh nghiệm công tác giảng dạy của bản thân , học tập và tiếp thu kinh nghiệm các đồng nghiệp
- Nghiên cứu về đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá mônToán tại trường THCS Đinh Tiên Hoàng, THCS Ninh Mỹ huyện Hoa Lư, tỉnhNinh Bình
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm tại các lớp 8A, 8B, 8C tại trường THCS Đinh TiênHoàng, lớp 8A, 8B, 8C trường THCS Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh NinhBình nhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài
7 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một hệ thống câu hỏi TNKQ đảm bảo được những yêucầu cơ bản như đã chỉ ra trong lý luận thì sẽ góp phần nâng cao kết quả dạy vàhọc chương 1 “Phép nhân và phép chia các đa thức, Đại số 8” Góp phần tíchcực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá Đápứng yêu cầu định hướng đổi mới theo nghị quyết số 29, NQ/TW về đổi mớicăn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
8 Đóng góp của luận văn
- Mô tả và phân tích được một số vấn đề cơ bản về lý thuyết và thực tiễnliên quan tới đánh giá trong dạy học và sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ trongkiểm tra đánh giá
Trang 13- Xây dựng được hệ thống câu hỏi TNKQ sử dụng trong dạy học và đánh giá học sinh trong chương “Phép nhân và phép chia các đa thức – Đại số 8”.
- Một số giáo án có sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm hỗ trợ để đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về chương
“Phép nhân và phép chia các đa thức – Đại số lớp 8”
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số vấn đề về đánh giá trong dạy học
1.1.1 Khái niệm đánh giá
Có thể nói rằng: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phánđoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đốichiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyếtđịnh thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệuquả công việc” [9, tr.5]
Theo tác giả, đánh giá bao gồm một hệ thống các hoạt động nhằm thu thập
số liệu, sản phẩm, báo cáo có giá trị thực về sự hiểu biết và nắm vững nhữngmục tiêu đã đề ra Trong dạy học, quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xácđịnh mức độ thực hiện các mục tiêu trong quá trình dạy học
Như vậy, trong dạy học đánh giá là một quá trình được tiến hành có hệthống để xác định mức độ đạt được của học sinh về mục tiêu đào tạo Nó cóthể bao gồm những sự mô tả, liệt kê về mặt định tính hay định lượng nhữnghành vi (kiến thức, kỹ năng, thái độ) của người học, đối chiếu với những tiêuchí của mục đích dự kiến mong muốn, nhằm có những quyết định thích hợp
để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học
1.1.2 Mục đích của đánh giá
Theo tài liệu [9, tr.322 - 323], trong dạy học việc đánh giá học sinh nhằmcác mục tiêu sau:
Việc kiểm tra và đánh giá có hệ thống, thường xuyên sẽ kích thích hoạtđộng học tập, cung cấp cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập,khuyến khích năng lực tự đánh giá Về tri thức và kỹ năng, việc đánh giá chỉcho mỗi học sinh thấy mình đã lĩnh hội những kiến thức vừa được học đếnmức độ nào, còn những sai sót, lỗ hổng nào cần phải bổ khuyết…
Trang 15Việc đánh giá, nếu được khai thác tốt sẽ kích thích học tập không những vềmặt lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn cả về mặt phát triển năng lựctrí tuệ, tư duy sáng tạo và trí thông minh Về mặt giáo dục, việc kiểm tra, đánhgiá nếu được tổ chức và tiến hành nghiêm túc sẽ giúp học sinh nâng cao tinhthần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt những kết quả học tập caohơn, củng cố lòng tự tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắcphục tính chủ quan, tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự đánh giá, mộtnăng lực quan trọng đối với việc học tập của học sinh.
Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cần thiết, giúp người dạyxác định đúng điểm xuất phát hoặc điểm kế tiếp của quá trình dạy học, phânnhóm học sinh, chỉ đạo cá biệt và kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học.Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả của những cảitiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang thựchiện
* Đối với cán bộ quản lý giáo dục
Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạyhọc trong một cơ sở, đơn vị giáo dục để có thể chỉ đạo kịp thời, uốn nắnnhững lệch lạc; khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến, bảo đảm thực hiện tốtmục tiêu giáo dục Như vậy việc kiểm tra, đánh giá học sinh có ý nghĩa vềnhiều mặt: Nhằm nhận định thực trạng, định hướng và điều chỉnh hoạt độngcủa học sinh đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và định hướng hoạtđộng dạy của giáo viên
1.1.3 Nội dung đánh giá
Theo các tài liệu [9, tr.24] ta có thể đánh giá nhận thức của học sinh theo 6mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Trongđó:
- Mức độ nhận biết là sự ghi nhận lại các dữ liệu, thông tin đã có trướcđây; nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại
Trang 16một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp Đây làmức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức, thể hiện ở chỗ học sinh cóthể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên thông tin cótính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiện tượng.
- Mức độ thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các kháiniệm, sự vật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm,
sự vật, hiện tượng; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất củaviệc thấu hiểu sự vật, hiện tượng liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữacác khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết Điều
đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạngkhác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ướclượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng)
- Mức độ vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàncảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặtra; là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng
phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó Ở mức
độ vận dụng yêu cầu học sinh áp dụng được các quy tắc, phương pháp, kháiniệm, nguyên lý, định lý, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề tronghọc tập hoặc của thực tiễn Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thônghiểu trên
- Mức độ phân tích là khả năng phân chia một thông tin thành các phầnthông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mốiliên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
- Mức độ tổng hợp là khả năng tổng hợp các thông tin nhỏ, có mối liên hệvới nhau thành một thông tin tổng thể, khái quát
- Mức độ đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét,nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, mộtphương pháp Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được
đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng
Trang 171.1.4 Những chức năng và yêu cầu đánh giá học sinh
Đánh giá học sinh đảm bảo 3 chức năng và 4 yêu cầu sau đây [9, tr314]
- Chức năng khoa học: Nhận định chính xác một mặt nào đó trong thựctrạng dạy và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến nào đó trong dạy học.Tuỳ mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức năng nào đó sẽ được đặt
lên hàng đầu
b) Yêu cầu
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh cần đảm bảo bốn yêu cầu:
khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai
1.1.5 Các phương pháp đánh giá
1.1.5.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này mang nặng tính chất định tính, thường được dùng
trong đánh giá kết quả thực hành và được giáo viên thực hiện thường xuyêntrong suốt quá trình dạy học
1.1.5.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này vừa mang tính chất định tính vừa mang tính chất định lượng, độ chính xác tương đối cao, có giá trị về nhiều mặt Nhưng không thích hợp cho việc đánh giá một lượng lớn kiến thức, trên nhiều học sinh, trong một thời gian ngắn Do đó, giáo viên thường sử dụng xen kẽ, kết hợpvới các phương pháp khác khi tiến hành giảng dạy một bài cụ thể trên lớp
1.1.5.3 Phương pháp viết
Bao gồm hai loại tự luận và TNKQ (sẽ được trình bày trong mục 1.2).Trong luận văn này chỉ tập trung vào đánh giá bằng TNKQ
Trang 181.1.5.4 Đánh giá qua hồ sơ học tập
Hồ sơ học tập là bộ sưu tập có hệ thống các hoạt động học tập của HS trongthời gian liên tục Nó giúp GV và HS đánh giá sự phát triển và trưởng thànhcủa HS.Thông qua hồ sơ học tập, HS hình thành ý thức sở hữu hồ sơ học tậpcủa bản thân, từ đó biết được bản thân tiến bộ đến đâu, cần hoàn thiện ở mặtnào Đánh giá qua hồ sơ là sự theo dõi, trao đổi ghi chép được của chính họcsinh Những gì chúng nói, hỏi, làm cũng như thái độ, ý thức của học sinh vớiquá trình học tập của mình cũng như đối với mọi người nhằm làm cho họcsinh thấy những tiến bộ rõ rệt của chính mình cũng như giáo viên thấy đượckhả năng của từng học sinh để từ đó giáo viên có thể điều chỉnh phương phápdạy học cho phù hợp
số theo thang đơn vị, thang tỉ lệ
Chú ý: Trong đánh giá học tập, cần cố gắng sao cho việc cho điểm ít nhất cũng thoả mãn yêu cầu của thang đơn vị
b) Lượng giá
Trang 19Sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh Có hai cách lượng giá:
+ Lượng giá theo tiêu chuẩn: Giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹnăng hoặc thái độ của học sinh được so sánh tương đối trong một tập hợp nào
đó (chẳng hạn trong toàn lớp hay trong một khối lớp của một trường, của một huyện, của một tỉnh)
+ Lượng giá theo tiêu chí: Sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kĩ năng hoặc thái độ của học sinh đối chiếu với những tiêu chí nhất định
Đánh giá không dừng lại ở một sự giải thích thông tin về trình độ, kiếnthức, kĩ năng hoặc thái độ của học sinh mà còn gợi ra những định hướng “bổkhuyết sai sót hoặc phát huy kết quả” Đánh giá vào 3 giai đoạn với 3 chứcnăng: đánh giá chuẩn đoán (trước khi học một nội dung nào đó); đánh giátừng phần (trong quá trình dạy học); đánh giá tổng kết (sau quá trình dạy học)
d) Ra quyết định
Giáo viên quyết định những biện pháp cụ thể để giúp đỡ học sinh, hoặcgiúp đỡ chung cho cả lớp về những thiếu sót phổ biến hoặc có những sai sótđặc biệt
1.2 Trắc nghiệm
1.2.1 Khái niệm về trắc nghiệm
Trắc nghiệm mà đối tượng là con người thì ta có thể hiểu theo định nghĩasau : “Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học cho phép dùng một loạtnhững động tác xác định để nghiên cứu một hay nhiều đặc điểm nhân cáchphân biệt được bằng thực nghiệm với mục đích đi tới những mệnh đề lượnghoá tối đa có thể được về mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cầnnghiên cứu” [9, tr.341] Như vậy, ta có thể hiểu về trắc nghiệm như sau:
Trang 20+ Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học, trắc nghiệm được phát triểndựa trên những qui tắc có căn cứ khoa học như: thử nghiệm trắc nghiệm, phântích, đánh giá độ tin cậy, xác định tính hiệu quả …
+ Dựa trên một loạt những động tác xác định, dễ thao tác, dễ tiến hành.+ Trắc nghiệm có thể được sử dụng để nghiên cứu, xác định một hay nhiềuđặc điểm
+ Đối tượng nghiên cứu của trắc nghiệm là những đặc điểm nhân cáchphân biệt được bằng thực nghiệm Những đặc điểm này được hiểu rất rộng,
đối với học sinh thường là kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, năng lực…
+ Mục tiêu của trắc nghiệm là đi tới những mệnh đề lượng hoá tối đa có thểđược, kết quả được biểu thị bằng những con số
1.2.2 Trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm tự luận là dạng trắc nghiệm dùng những câu hỏi mở còn gọi làcâu hỏi tự luận (ngược với TNKQ), đòi hỏi người học tự xây dựng câu trả lời.Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn, một bài tóm tắt, một bài diễn giảihoặc một tiểu luận Dạng này được xem là trắc nghiệm chủ quan vì việc đánhgiá, cho điểm câu trả lời có thể tuỳ thuộc rất nhiều vào chủ quan người chấm,
từ khâu xây dựng đáp án, biểu điểm, xác định các tiêu chí đánh giá đến khâuđối chiếu bài trả lời với đáp án, biểu điểm… Vì vậy việc cho điểm thườngkhông có tính tin cậy cao[9, tr 343]
Trang 21chọn lọc) Đánh giá được năng lực nhận thức: phân tích, tổng hợp, khái quáthoá, hệ thống hoá …
- Kiểm tra bằng TNTL tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy lôgic *
Nhược điểm
Qua kiểm tra TNTL mỗi học sinh chỉ bộc lộ họ nắm vững kiến thức như thếnào về một phần nội dung trong chương trình vì các học sinh chỉ phải trả lờimột số lượng ít câu hỏi Câu hỏi TNTL thường chỉ bao gồm một số nội dunghạn chế trong chương trình dễ dẫn tới khuynh hướng học lệch, học tủ của họcsinh Thông thường một bài trắc nghiệm tự luận gồm ít câu hỏi hơn một bàiTNKQ nên chỉ kiểm tra được phạm vi hẹp của kiến thức
1.3.3 Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi
có kèm theo câu trả lời sẵn Loại câu hỏi này cung cấp cho học sinh một phầnhay tất cả thông tin cần thiết và đòi hỏi học sinh phải chọn một câu để trả lờihoặc chỉ cần điền thêm một vài từ (loại này còn gọi là câu hỏi đóng), đượcxem là TNKQ vì hệ thống cho điểm là khách quan Có thể coi là kết quả chấmđiểm sẽ không phụ thuộc vào ai chấm bài TNKQ đó TNKQ phải được xâydựng sao cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng hoặc một câu trả lời “tốtnhất”, mỗi câu hỏi thường được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản Thực ranội dung của bài TNKQ cũng có một phần chủ quan theo nghĩa là nó đại diệncho một sự phán xét của một người nào đó về bài TNKQ
- Trong một khoảng thời gian ngắn, kiểm tra được nhiều nội dung kiến thức
cụ thể, có thể đi vào nhiều khía cạnh khác nhau của một nội dung kiến thức
- Nội dung kiểm tra rộng, có tác dụng chống khuynh hướng học lệnh, học
tủ của học sinh
- Số lượng câu hỏi nhiều, đủ độ tin cậy và đủ cơ sở đánh giá chính xác trình
độ của học sinh
Trang 22- Tuy việc soạn câu hỏi tốn nhiều thời gian, xong việc chấm bài nhanhchóng và chính xác Ngoài ra có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật để
chấm bài một cách nhanh và chính xác
- Gây hứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh
- Giúp học sinh phát triển kỹ năng nhận biết, hiểu, ứng dụng và phân tích
- Với phạm vi kiểm tra rộng, bao quát chương trình thí sinh không thểchuẩn bị tài liệu để quay cóp Việc áp dụng công nghệ mới vào việc soạn thảo
đề thi TNKQ cũng hạn chế đến mức thấp nhất tiêu cực trong thi cử
* Nhược điểm
- Kết quả kiểm tra bằng phương pháp TNKQ phụ thuộc rất nhiều vào chấtlượng các câu hỏi của người biên soạn câu hỏi Nếu là người ít kinh nghiệm,trình độ chuyên môn không cao thì phương pháp TNKQ ít phát huy được cáckhả năng tư duy của học sinh như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
mà chỉ rèn luyện được trí nhớ máy móc
- Phương pháp TNKQ thường không đánh giá được tư tưởng, nhiệt tình hứng thú, thái độ của học sinh
- Phương pháp TNKQ không đánh giá được năng lực vận dụng kiến thứccủa học sinh trong trường hợp học sinh chọn câu trả lời đúng một cách ngẫu nhiên,
vì vậy thông tin để lựa chọn phải đủ để ngăn ngừa việc ngẫu nhiên chọn đúng
1.2.4 So sánh trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luận cho phép một sự tương đối tự do nào đó để trả lời mộtcâu hỏi được đề ra, nhưng đồng thời đòi hỏi học sinh phải nhớ lại, hiểu đượchơn là nhận biết thông tin, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của họ mộtcách chính xác Bài trắc nghiệm tự luận thường được chấm một cách chủ quan
và các điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất.Thông thường một bài trắc nghiệm tự luận gồm ít câu hỏi hơn một bài trắcnghiệm khách quan do phải cần nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi
14
Trang 23Trắc nghiệm khách quan thường có nhiều phương án trả lời được cung cấpcho mỗi câu hỏi nhưng chỉ có một phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất,phù hợp nhất Bài trắc nghiệm được chấm điểm bằng cách đếm số lần màngười làm trắc nghiệm đã lựa chọn phương án trả lời đúng trong số cácphương án đã được cung cấp Bài trắc nghiệm được gọi là khách quan vì việccho điểm là khách quan chứ không mang tính chủ quan của người chấm nhưbài trắc nghiệm tự luận Thông thường một bài TNKQ có số lượng câu hỏinhiều hơn bài trắc nghiệm tự luận Một câu hỏi đặt ra: Trong hai hình thức thikiểm trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan thì hình thức nào hiệuquả hơn? Trước hết có thể khẳng định ngay rằng dù hình thức, phương phápkiểm tra, đánh giá tối ưu đến đâu cũng không thể có hình thức phương phápnào hoàn hảo tuyệt đối; mỗi hình thức phương pháp đều có các ưu điểm,nhược điểm nhất định.
Thông thường điểm mạnh của phương pháp này lại là điểm hạn chế củaphương pháp kia, do vậy cần có sự kết hợp các phương pháp trong quá trìnhkiểm tra đánh giá một cách có hiệu quả Ta có thể so sánh ưu điểm, hạn chếcủa trắc nghiệm tự luận và TNKQ thông qua bảng so sánh sau
Bảng 1.1 Bảng so sánh hai loại câu hỏi TNTL và câu hỏi TNKQ
- HS chọn câu đúng nhất - HS có thể tự diễn đạt ý tưởng,trong số các phương án trả câu văn nhờ kiến thức và kinhlời cho sẵn, hoặc viết thêm nghiệm học tập đã có
Về khả năng một vài từ đến một câu để - Có thể đo lường khả năng suy
- Có thể đo những khả năng diễn, so sánh …
suy luận như: sắp đặt ý - Không đo lường kiến thức vềtưởng, suy diễn, so sánh và những sự kiện một cách hữu
Trang 24- Có thể kiểm tra và đánhgiá kiến thức của học sinh
về các sự kiện một cách hữuhiệu
Lĩnh vực - Có thể bao gồm nhiều lĩnh - Có thể kiểm tra, đánh giákiểm tra đánh vực rộng rãi trong mỗi bài được một lĩnh vực nhỏ tronggiá thi Với nhiều câu hỏi bao mỗi bài thi Các câu trả lời
quát khắp nội dung, chương thường dài, tốn thời gian Vìtrình giảng dạy, độ tin cậy vậy trong khoảng thời gian hạncủa trắc nghiệm tăng lên định một bài thi hoặc kiểm tra
chỉ gồm một số ít câu hỏi
- Khuyến khích học sinh - Khuyến khích HS phát triểnẢnh hưởng phát triển kiến thức hiểu khả năng tổ chức, sắp xếp vàđối với học biết về các vấn đề riêng biệt cách trình bày các ý tưởng mộtsinh và phân biệt giữa chúng cách có hiệu quả
Nếu được thiết kế tốt có thểkhuyến khích phát triển các
kỹ năng suy luận ở mức độcao hơn
- Có thể viết nhiều câu hỏi - Chỉ cần viết một số ít câu hỏiViệc soạn cho mỗi bài kiểm tra hay bài cho mỗi bài kiểm tra hay bài
- Việc soạn thảo rất công - Việc soạn thảo nhanh chóngphu và mất nhiều thời gian không mất nhiều thời gian.Việc chấm - Chấm điểm nhanh chóng, - Chấm điểm thường mất nhiềuđiểm chính xác, khách quan thời gian hơn, tính khách quan
không cao, đôi khi kết quả phụ
Trang 25thuộc vào người chấm.
1.2.5 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Có nhiều hình thức đặt câu hỏi TNKQ khác nhau, đó là:
- Câu hỏi đúng – sai
- Câu hỏi có nhiều lựa chọn
- Câu ghép đôi
- Câu điền khuyết
- Câu trả lời ngắn
Là những câu hỏi (hoặc câu xác định) được trả lời hoặc là “đúng” (Đ) hoặc
là “sai” (S) cũng có thể có những câu trả lời là “có” hoặc “không” Loại câuhỏi này thường đơn giản, ít tốn công soạn thảo và có thể đạt được nhiều câuhỏi trong một khoảng thời gian nhất định
Ví dụ 1.1 Xác định tính đúng , sai của các khẳng định sau:
(A) Bình phương của một tổng bằng tổng các bình phương
(B) Bình phương của một tích bằng tích các bình phương
(C) Bình phương của một thương bằng thương các bình phương
(D) Bình phương của một hiệu bằng hiệu các bình phương
Đáp án : (A),(D)- Sai;
(C), (B) - Đúng
Loại câu TNKQ này chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức sựkiện (mốc lịch sử, địa danh, tên nhân vật…) cũng có thể dùng đối với địnhnghĩa, khái niệm, các công thức….Chúng thường đòi hỏi trí nhớ, ít kích thíchsuy nghĩ, khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh yếu, kém thấp Khi viếtloại câu TNKQ này cần chú ý:
- Chỉ nên sử dụng loại câu này một cách hạn chế Trong nhiều trường hợp
có thể cải biến thành câu hỏi nhiều lựa chọn mà không làm giảm tính chính xáccủa việc đo lường
Trang 26- Không nên chép nguyên văn những câu trong sách giáo khoa, vì làm nhưvậy chỉ khuyến khích học sinh học thuộc lòng một cách máy móc.
- Cần đảm bảo tính đúng sai của câu là chắc chắn, không phụ thuộc vào quan niệm riêng của từng người
- Tránh dùng những cụm từ như “tất cả” , “không bao giờ” , “không mộtai” , “đôi khi”… có thể dễ dàng nhận ra là câu đúng hay sai
- Tránh số lượng câu đúng và câu sai bằng nhau trong một bài TNKQ, vị trícác câu đúng cần xếp đặt một cách ngẫu nhiên
- Đề phòng trường hợp mà câu trả lời đúng lại tuỳ thuộc vào một chữ, một
từ hay một câu tầm thường, vô nghĩa
Câu hỏi thuộc loại này gồm 2 phần: Phần gốc (phần câu dẫn) và phần lựachọn Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa được hoàn tất).Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hoặc 5) câu trả lời hay câu bổ sung đểhọc sinh lựa chọn
- Phần gốc phải tạo ra cơ sở cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho sự lựa chọn được dễ dàng
- Phần lựa chọn gồm có nhiều lựa chọn, trong đó có một lựa chọn được dựđịnh cho là đúng (hoặc là đúng nhất) Những phần còn lại được xem là câu
“nhiễu” hoặc “mồi nhử” hoặc “gài bẫy”, học sinh phải nắm vững kiến thứcmới phân biệt được Điều quan trọng là làm sao những “mồi nhử” đều hấpdẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa đọc kỹ hay chưa hiểu kỹ bàihọc
- Cũng có khi phần gốc của câu trắc nghiệm là một câu phủ định Trongtrường hợp này ta nên gạch dưới hay in đậm những chữ diễn tả ý phủ định đểhọc sinh khỏi nhầm lẫn vì vô ý
Ví dụ 1.2 Giá trị lớn nhất của đa thức 4x - x2 - 5 là:
Trang 27Đáp án: B.
Đối với loại câu hỏi có nhiều lựa chọn rất thông dụng, có khả năng áp dụngrộng rãi và cũng là loại câu hỏi có khả năng phân biệt học sinh giỏi với họcsinh kém nhiều nhất, mức độ tin cậy cũng cao hơn nhiều so với câu đúng –sai Tuy vậy loại này tương đối khó soạn vì mỗi câu hỏi phải kèm theo một sốcâu trả lời, tất cả đều hấp dẫn ngang nhau nhưng trong đó chỉ có một câu trảlời là đúng Vì vậy cần tránh những điều sau đây:
- Câu bỏ lửng không đặt ra vấn đề hay một câu hỏi rõ rệt làm cơ sở cho sựlựa chọn
- Những “mồi nhử” sai một cách rõ rệt, không hấp dẫn
- Câu trả lời có nhiều hơn 1 đáp án đúng (hoặc không có câu nào đúng)trong khi ta dự định chỉ có 1 câu trả lời đúng
- Phần gốc quá ruờm rà, gồm nhiều chi tiết không cần thiết
- Khi soạn thảo những câu lựa chọn, vô tình tiết lộ câu dự định trả lời đúngqua lối hành văn, dùng từ, cách sắp đặt, câu lựa chọn
Loại này thường gồm hai dãy (dạng cột, bảng) thông tin, một dãy là nhữngcâu hỏi (hay câu dẫn), một dãy là những câu trả lời (hay câu lựa chọn) Họcsinh phải tìm ra từng cặp câu trả lời ứng với câu hỏi (cũng có thể câu trả lờiđược dùng hai hay nhiều lần để ghép với một câu hỏi)
Ví dụ 1.3 Ghép mỗi ý ở cột A với một ý ở cột B để được mệnh đề đúng:
Trang 28h (a – 4) (a + 4)
Đáp án: 1 – c; 2 - e; 3 - d; 4 - g; 5 - a; 6 - b.
Khi biên soạn câu hỏi trắc nghiệm này ta cần lưu ý một số điểm sau:
- Dãy thông tin đưa ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên quan với nhau
- Cột câu hỏi và câu trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời
dư ra hoặc có thể dùng một câu trả lời cho hai hay nhiều câu hỏi
- Thứ tự các câu trả lời không ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây thêmkhó khăn cho sự lựa chọn
d) Câu điền khuyết
Loại câu hỏi này thì câu dẫn có thể để một vài chỗ trống, học sinh phải điềnvào chỗ trống những từ, cụm từ thích hợp (có thể cho trước một số từ, cụm từ
để học sinh lựa chọn)
Ví dụ 1.4 Viết các biểu thức sau dưới dạng bình phương của một tổng hoặc
một hiệu rồi điền vào …
a) 25x2 + 80xy + 64y2b) 81 – 36 y + 4y2c) 100 + 16y2 – 80yd) 24xy + 16x2 + 9y2
Đáp án: a) (5x + 8y)2; b) (8 – 2y)2; c) (10 – 4y)2 ; d)(4x + 3y)2
Trong câu điền khuyết, câu dẫn có thể để một vài chỗ trống Khi lập câu
TNKQ loại này cần chú ý:
- Bảo đảm cho mỗi chỗ để trống chỉ có thể điền một từ hoặc một cụm từ thích hợp
- Tránh lấy lại ý tưởng, câu văn của bài học hay sách giáo khoa
- Chữ phải điền là chữ có ý nghĩa nhất câu
Trong các kiểu câu TNKQ đã nêu trên, kiểu câu đúng – sai và kiểu câunhiều lựa chọn có cách trả lời đơn giản nhất Với nhiều loại câu hỏi TNKQnhư thế, giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm, công dụng của mỗi loại để lựa chọn
Trang 29loại nào là có lợi nhất, thích hợp với mục tiêu khảo sát, hay loại nào mà mìnhthấy có đủ khả năng sử dụng một cách có hiệu quả hơn cả Từ sự phân tíchtừng loại câu hỏi trắc nghiệm trên, chúng tôi thấy rằng tốt nhất là nên sử dụngloại câu hỏi nhiều lựa chọn vì:
- Phạm vi sử dụng rộng rãi, dễ thực hiện đối với học sinh
- Đo đuợc nhiều mức độ nhận thức khác nhau: Biết, hiểu, vận dụng…
- Khả năng phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém lớn
- Đánh giá được kiến thức của học sinh thu nhận được trong quá trình học tập trên một diện rộng Hạn chế được khả năng học tủ, học lệch của học sinh
- Chấm điểm khách quan, nhanh chóng, chính xác (có thể chấm bằng máycho khối lượng lớn học sinh) Có độ tin cậy cao hơn hẳn các phương pháp
kiểm tra, đánh giá khác
- Đảm bảo tính kinh tế: Khi đã lập được bộ câu hỏi thì có thể sử dụng ởnhiều địa phương Có thể áp dụng những phương tiện hiện đại (như máy vitính) vào các khâu làm bài thi, chấm điểm, lưu trữ và xử lý kết quả Đảm bảotính khách quan, chính xác, tiện lợi
1.2.6 Một số kỹ thuật trong xây dựng câu hỏi trắc nghiệm
Để xây dựng được một bài TNKQ tốt, cần phải:
- Xác định rõ các mục tiêu giáo dục;
- Biên soạn các câu hỏi TNKQ phải gắn chặt với các mục tiêu Để soạn mộtbài TNKQ, người ta thường thực hiện theo các bước sau:
* Bước 1: Xác định các mục tiêu trong bài TNKQ
Trước khi soạn thảo bài TNKQ, ta cần phải biết rõ những điều ta sẽ phảikhảo sát và những mục tiêu nào ta đòi hỏi học sinh phải đạt được Muốn vậy
ta phải liệt kê các mục tiêu giảng dạy cụ thể, hay các năng lực cần phải đolường Sau đó phải xác định là cần bao nhiêu câu hỏi cho từng mục tiêu Sốlượng câu hỏi cần thiết sẽ tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của từng mục tiêu
Trang 30và các vấn đề khác nhau cần phải được kiểm tra Trong một bài TNKQ cũng cần phải lưu ý đến 2 yếu tố quy định số câu hỏi cần thiết đó là
- Thời gian dành cho bài TNKQ
- Sự chính xác của điểm số trong việc đo lường kiến thức hay học lực mà tamuốn khảo sát
Ma trận 2 chiều là một công cụ hữu ích có thể giúp cho những người soạnthảo trắc nghiệm chuẩn bị các câu hỏi phù hợp với các mục tiêu giảng dạy củamình Nó phân loại từng câu hỏi TNKQ ra thành hai chiều cơ bản
- Một chiều là chủ đề dạy học, các đề mục, hay nội dung quy định trongchương trình
- Một chiều là các mục tiêu giảng dạy hay các năng lực đòi hỏi ở học sinh
* Bước 3: Viết các câu hỏi trắc nghiệm
Dựa vào ma trận 2 chiều để soạn thảo các câu hỏi TNKQ
Điều quan trọng nhất là các câu TNKQ soạn thảo ra phải phát hiện, đo, đánhgiá được những điều giáo viên cần tìm kiếm qua TNKQ Khi viết các câu hỏiTNKQ cũng cần lưu ý tới một số điểm sau:
- Câu TNKQ cần được diễn đạt chính xác, gọn, không gây hiểu lầm, sai
- Không nên đưa vào câu TNKQ nhiều thông tin, nhất là những thông tin không cùng thuộc một loại kiến thức
- Tránh cung cấp những thông tin đầu mối, gợi ý dẫn đến câu trả lời
- Tránh những câu dẫn dập khuôn sách giáo khoa sẽ khuyến khích học sinh học vẹt để tìm ra câu trả lời đúng
- Tránh những câu TNKQ chỉ mang tính chất đánh lừa hay gài bẫy
- Đề phòng những câu thừa giả thiết hoặc có nhiều phương án trả lời đúng
- Tránh loại câu hỏi trắc nghiệm chỉ tra cứu đáp số, đòi hỏi học sinh phảitính toán công phu Các phương án lựa chọn không phải đưa ra một cách tùy tiện mà phải căn cứ vào những sai lầm của học sinh có xảy ra thực sự
Trang 31Cuối cùng là duyệt lại câu hỏi một cách cẩn thận đọc kỹ lại câu hỏi, xem xét đối chiếu với mục tiêu, nội dung bài giảng, cũng như số lượng các câu hỏi
ở mỗi phần có phù hợp không? Mỗi câu TNKQ soạn thảo cần được dùng thửtrên nhóm nhỏ để điều chỉnh, hoàn thiện trước khi dùng cho một số đông họcsinh Do phạm vi sử dụng rộng rãi cùng với tính ưu việt của câu TNKQ cónhiều lựa chọn, chúng tôi đưa ra kỹ thuật xây dựng bài TNKQ gồm các câuhỏi nhiều phương án lựa chọn như sau : Loại câu hỏi nhiều phương án lựachọn gồm 2 phần, phần câu dẫn (hay phát biểu câu) và phần lựa chọn, thườnggồm 4 hay nhiều hơn 4 phương án đưa ra, mà học sinh phải chọn một và chỉmột phương án đúng nhất, để trả lời cho câu hỏi hay hoàn thiện phát biểu.Loại này đòi hỏi phải xây dựng tốt cả phần câu dẫn lẫn phần lựa chọn
- Xây dựng phần câu dẫn
+ Phần câu dẫn phải biểu thị vấn đề hay bài toán đơn lẻ, trung tâm Mỗi câu hỏi loại này có thể sử dụng một cách độc lập
+ Phát biểu phần câu dẫn phải đơn giản, chính xác và phải chứa đựng những
dữ kiện thích hợp, cần thiết cho lời giải số của nó
+ Trong phần lớn các trường hợp, phần câu dẫn hay bài toán đặt ra chỉ nên chứa các dữ kiện liên quan đến lời giải
+ Phần câu dẫn nên được đưa ra dưới dạng câu hỏi trực tiếp hay phát biểu trực tiếp hơn là dạng phát biểu chưa hoàn thành
Ví dụ 1.5 Xây dựng đề kiểm tra 15 phút sau khi học xong 7 hằng đẳng thức
đáng nhớ
- Học sinh nhận dang và phân biệt được 7 hằng đẳng thức
- Biết sử dụng 7 hằng đẳng thức để thu gọn biểu thức hoặc tính toán
- Vận dụng 7 hằng đẳng thức để thu gọn, tính nhanh, tính nhẩm giá trị của biểu thức
Trang 33Câu 1.1 Thêm vào 4y2 + 9 biểu thức nào dưới đây để được bình phương của
Trang 341.2.7 Các tiêu chí của một bài trắc nghiệm khách quan
Chất lượng của một quá trình đo lường nói chung, của mỗi bài TNKQ nóiriêng, qua sử dụng được đánh giá bằng hai đặc trưng chính: Độ tin cậy và độgiá trị Ngoài ra còn có các đặc trưng khác như độ khó, độ phân biệt cho cáccâu hỏi trong bài TNKQ và tính tiêu chuẩn của bài TNKQ [10, tr62] Một bàiTNKQ được gọi là đáng tin cậy đối với một tập hợp các thí sinh trong chừngmực mà điểm thu được cho các thí sinh trong tập hợp đó là không bị ảnhhưởng bởi các sai số biến hay sai số ngẫu nhiên Loại sai số này là do các yếu
tố ảnh hưởng đến bài TNKQ một cách không dự đoán được, do đó đôi lúcchúng làm cho thí sinh đạt điểm cao hơn hoặc thấp hơn so với trình độ của thí
Trang 35sinh ấy Nếu nhiều phép đo lường độc lập, được sử dụng đồng thời cho mộtthí sinh và điểm được lấy là điểm trung bình thì những sai số đó tự loại trừ lẫnnhau Và như vậy sai số biến không ảnh hưởng trực tiếp đến phép đo lườngnhưng ảnh hưởng đến độ chính xác của chúng Những yếu tố đó làm cho sự
đo lường quan sát được (điểm) khác với giá trị duy nhất mà ta hy vọng chomỗi phép đo là không có sai số Đối với phần lớn các đặc tính bề mặt củangười, đồ vật hay sự kiện thì có thể thiết kế các công cụ có độ tin cậy (chínhxác) cao Trong khi đó việc thiết kế các công cụ tin cậy cho phép đo các đặctính về tinh thần như kết quả học tập, trí tuệ thì khó hơn rất nhiều Trongnhững trường hợp như thế sai số ngẫu nhiên được đưa vào quá trình đo theocác yếu tố liên quan đến thí sinh như điều kiện TNKQ chung, quá trình chođiểm và những gì liên quan đến công cụ đo lường Một số đặc tính của họcsinh có thể làm thay đổi kết quả của học sinh đó trong các lần đo là tình trạngsức khoẻ, mức độ động cơ, độ quan tâm , khả năng tập trung, may mắn trongđoán mò phương án trả lời… Một công thức phổ biến để tính độ tin cậy củamột bài trắc nghiệm là “công thức 20” của Kuder – Richardson, thường đượcgọi tắt là KR20
k: Số lượng cần TNKQ (số các câu hỏi trong bài TNKQ) pi : Tỉ lệ thí
sinh trả lời đúng câu hỏi thứ i
qi : Tỉ lệ thí sinh trả lời sai câu hỏi thứ i
S: Là độ lệch chuẩn của bài TNKQ
* Độ giá trị (độ hiệu lực)
Độ giá trị của một bài TNKQ là khả năng của bài TNKQ cho phép ta đođược cái mà ta định đo Kết luận về độ giá trị được xác định chỉ tuỳ thuộc vàodạng suy diễn nào đó (hay sự diễn dịch điểm số của bài TNKQ) Với bất kỳ
Trang 36công cụ đo lường nào, TNKQ nói riêng cũng có thể là có giá trị đối với kếtluận này nhưng lại kém giá trị đối với các kết luận khác Độ tin cậy và độ giátrị trong đo lường giáo dục là rất phức tạp Một quá trình đo lường (TNKQnói riêng) có thể có độ tin cậy cao, nhưng giá trị lại thấp.
Điều đó có nghĩa là nếu bài TNKQ có độ tin cậy thấp thì không thể có độ giátrị cao ([10, tr.70])
Độ phân biệt là khả năng phân biệt của một câu hỏi TNKQ đối với người
có năng lực cao, với người có năng lực thấp Độ phân biệt của câu hỏi TNKQthường được tính là hệ số tương quan giữa tổng số điểm của các thí sinh vớiviệc trả lời đúng câu hỏi đó Trong việc thiết kế, xây dựng cấu trúc câu hỏi,đòi hỏi phải có độ phân biệt dương (tức là các thí sinh có tổng số điểm cao cókhả năng trả lời đúng câu hỏi này hơn là những thí sinh có tổng số điểm thấp)
2 K1 n
Trong đó:
K1: Số thí sinh trả lời đúng của nhóm cao (nhóm có học lực khá , giỏi)
K2: Số thí sinh trả lời đúng của nhóm thấp (nhóm có học lực trung bình,yếu)n: Là số lượng HS (số bài) trong mỗi nhóm (số học sinh ở các nhóm bằng nhau)
E: độ phân biệt của câu hỏi Chỉ số E của một câu TNKQ từ:
+ 40% trở lên là rất tốt
+ 30% -39% là khá tốt nhưng có thể làm cho tốt hơn
+ 20% - 29% là tạm được, có thể cần phải hoàn chỉnh
+ Dưới 19% là kém, cần loại bỏ hay sửa chữa lại cho tốt hơn
Độ khó của mỗi câu hỏi được tính bằng tỉ số giữa thí sinh trả lời đúng câuhỏi đó trên tổng số thí sinh tham dự Một nhược điểm là giá trị độ khó sẽ phụ thuộc vào mẫu các nghiệm thể được chọn Ta có thể thấy rằng cùng một câu
Trang 37hỏi, nhưng đối với nhóm thí sinh yếu thì sẽ có độ khó cao, ngược lại với nhómhọc sinh có khả năng khá thì nó sẽ có độ khó thấp hơn.
Độ khó P = (Số học sinh trả lời đúng câu hỏi)/ (tổng số học sinh tham dự).Khi tiến hành lựa chọn câu TNKQ, căn cứ theo độ khó của nó trước tiên taphải gạt đi những câu nào mà tất cả học sinh đều không trả lời được, vì nhưthế là quá khó, hay tất cả học sinh đều làm được vì như thế là quá dễ Nhữngcâu loại này không giúp gì cho sự phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém.Một bài TNKQ có hiệu lực và đáng tin cậy thường bao gồm những câu hỏi
có độ khó vừa phải Ta có thể phân loại độ khó theo kết quả trả lời của họcsinh như sau:
* Tiêu chuẩn để chọn câu hỏi tốt
Sau khi phân tích và tính toán các chỉ số, câu hỏi thoả mãn các tiêu chuẩn sau được xếp vào loại câu hỏi hay [10,tr 73]
- Độ khó nằm trong khoảng 40% < P < 60%
- Độ phân biệt E < 0,30 trở lên là thoả mãn về độ phân biệt Trong thực tế,công việc phân tích câu hỏi được thực hiện dễ dàng nhờ các phần mềm vi tính, docác nhà chuyên môn soạn thảo (như chương trình QUEST &
BIGSTEP) Tuy nhiên các chỉ số thống kê trên chỉ có ý nghĩa tương đối Mụctiêu chính của kiểm tra đánh giá thành quả học tập của học sinh về các mụctiêu, nội dung học đã đưa ra, nên việc so sánh bản thân nội dung của câu hỏivới các mục tiêu dạy học mới có ý nghĩa quyết định
Độ khó của bài TNKQ được tính như sau: Đối chiếu điểm số trung bình củabài TNKQ với điểm số trung bình lí tưởng, điểm trung bình lí tưởng là
Trang 38trung bình cộng của điểm số tối đa có thể có được và điểm may rủi mong đợi.Điểm may rủi mong đợi bằng số câu hỏi của bài TNKQ chia cho số lựa chọncủa mỗi câu Như vậy, với một bài TNKQ 50 câu hỏi, mỗi câu có 5 lựa chọn,thì điểm may rủi mong đợi là 50 : 5 = 10 và trung bình lý tưởng sẽ là (50+10): 2 = 30 Nếu trung bình thực sự của bài TNKQ ấy trên hay dưới 30 quá xa, thì bài TNKQ ấy có thể quá dễ hay quá khó ([10, tr.237]).
Kết luận chương 1
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình phức tạp và đòi hỏinhiều công phu, cần có một hệ quy tắc và chuẩn mực, đồng thời phải lựa chọnphương pháp đánh giá phù hợp Những kết quả nghiên cứu về TNKQ trongkiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đã được nghiên cứu tương đốichặt chẽ, đầy đủ, khoa học, thực tiễn Tính ưu việt của phương pháp TNKQ sovới phương pháp trắc nghiệm tự luận trong kiểm tra đánh giá đã được cácnước phát triển và các nước trong khu vực quan tâm từ giữa thế kỷ trước Vấn
đề là ở chỗ cần triển khai vận dụng như thế nào phương pháp kiểm tra bằngTNKQ trong dạy học môn toán THCS
Trang 39CHƯƠNG 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng dạy chương “Phép nhân và phép chia đa thức” Đại
số lớp 8 của giáo viên THCS huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
- Nghiên cứu cách ra đề kiểm tra môn Toán của đại đa số giáo viên THCS huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
- Nghiên cứu thực trạng học chương “Phép nhân và phép chia đa thức”Đại số lớp 8 của học sinh trường THCS Đinh Tiên Hoàng (trường trọng điểm chấtlượng cao) và học sinh trường THCS Ninh Mỹ (trường ở tốp trung bình) củahuyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn tác giả đã sử dụng các phươngpháp sau:
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá, về câu hỏi trắc nghiệm kháchquan, tổng quan về các kết quả nghiên cứu đã công bố và liên quan gần gũi
với đề tài
- Nghiên cứu chương trình nội dung, sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáoviên, và các tài liệu tham khảo về Đại số lớp 8
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn điều tra, quan sát
- Tổng kết kinh nghiệm công tác giảng dạy của bản thân , học tập và tiếp thu kinh nghiệm các đồng nghiệp
- Dự giờ, quan sát, lập phiếu điều tra về việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan của giáo viên trong chủ đề “Phép nhân và phép chia đa thức”
- Nghiên cứu về đổi mới phương pháp giảng dạy, đánh giá môn Toán tạitrường THCS Đinh Tiên Hoàng, THCS Ninh Mỹ huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Trang 402.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm tại các lớp 8A, 8B, 8C tại Trường THCS Đinh TiênHoàng, lớp 8A, 8B trường THCS Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bìnhnhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài
2.3 Kết quả khảo sát
Để đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trongkiểm tra, đánh giá của giáo viên về chủ đề: “Phép nhân, phép chia đa thức”,trong học kì I năm học 2015 - 2016 chúng tôi đã tiến hành điều tra 25 giáoviên toán ở 3 trường: Trường THCS Đinh Tiên Hoàng, THCS Ninh Mỹ,THCS Ninh Vân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (Xem phiếu điều tra ở phụlục 1) Kết quả thu được trên các mặt như sau:
2.3.1 Mức độ hiểu biết của giáo viên đối với phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá trong môn Toán
Bảng 2.1 Bảng thống kê mức độ hiểu biết của giáo viên đối với phương pháp trắc nghiệm trong đánh giá trong môn Toán