Việc sửdụng những câu hỏi yêu cầu học sinh phải dùng tri thức đã biết để tìm tòi pháthiện tri thức mới hoặc phải tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực,phải trăn trở suy ngẫm để
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - -
NGUYỄN THỊ LOAN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN
ĐỀ TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN 1930 – 1945 CHO HỌC SINH LỚP 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - -
NGUYỄN THỊ LOAN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN 1930 – 1945 CHO HỌC SINH LỚP 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
( BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60140111
Người hướng dẫn khoa học: TS Tôn Quang Cường
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS.Tôn QuangCường, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận vănnày
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐH Giáo Dục – Đạihọc Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THPTLương Thế Vinh đã tạo kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luậnvăn
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, đồngnghiệp và đặc biệt là gia đình, những người luôn kịp thời động viên và giúp
đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợinhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 1 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.7.1 Thang điểm đánh giá 70Bảng 3.7.2.Kết quả bài kiểm tra lớp 11A1 70Bảng 3.7.3 Kết quả bài kiểm tra lớp 11A2 ………… 70
Bảng 3.7.4 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài “ Hai đứa trẻ”
….70
Bảng 3.7.5 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài “Chữ người tửtù” 71
Trang 61.1.2 Đặc điểm và nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề 10
1.1.4 Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn chương 191.1.5 Tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 ở lớp 11 với việc ứng dụng
1.2.2 Thực trạng áp dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học hiện nay 321.2.3 Học sinh với việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn xuôi
iv
Trang 7CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC TÁC
2.1 Phân tích mục tiêu dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945
2.1.2 Mục tiêu dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 trong
2.3 Những yêu cầu chính đối với câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học các tác
2.3.1 Câu hỏi nêu vấn đề trong tình huống có vấn đề 412.3.2 Câu hỏi nêu vấn đề phải bám sát giá trị nội dung, nghệ thuật 432.3.3 Câu hỏi nêu vấn đề phải dựa vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh
Trang 82.6 Điều kiện để vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các tác
3.5.2 Mô tả hoạt động triển khai dạy học thực nghiệm 643.6 Thuyết minh hệ thống câu hỏi trong bài thực nghiệm 66
3.7.1 Đánh giá khả năng tiếp thu bài của học sinh bằng bài kiểm tra 693.7.2 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương
3.7.3 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương
Trang 9Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tựhọc, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, pháttriển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Đểthực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo theoNghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mớiphương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một
số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
Luật giáo dục (điều 28) yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp vớiđặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rènluyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
Trang 10lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Đổi mới PPDH là một trọng tâm củađổi mới giáo dục.
Môn Ngữ Văn ở trường THPT nói chung, ở chương trình Ngữ Văn 11nói riêng là sự tích hợp ba phân môn: Đọc Văn, Tiếng Việt và Làm Văn Mỗiphân môn có vai trò, nhiệm vụ và vị trí khác nhau trong việc trang bị tri thứckhoa học, rèn luyện kỹ năng và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, thái độ cho họcsinh Trong đó, phân môn Đọc Văn, nhất là các giờ đọc- hiểu Văn bản vănhọc (VBVH) có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, tìnhcảm và năng lực thẩm mỹ cho học sinh Ở một mức độ nhất định, các giờ đọc-hiểu VBVH khơi gợi được nhiều hứng thú cho giáo viên và học sinh tronghoạt động dạy cũng như hoạt động học Sự yêu thích môn Ngữ Văn phần lớncũng bắt nguồn từ niềm say mê các giờ Đọc-hiểu này Tạo được tình huống cóvấn đề trong giảng văn là tạo được một trạng thái tâm lí văn học cần thiết để
mở đầu cho quá trình giảng văn đạt được hiệu quả mong muốn Xây dựngđược tình huống có vấn đề là một hoạt động sư phạm phù hợp với mục đíchdạy học mới hiện nay, vừa thích ứng với quy luật cảm thụ văn học và đặctrưng của văn học
Tuy thế, trong một số năm gần đây, không khí và hiệu quả dạy- họcNgữ Văn ở nhiều Nhà trường thực sự không được như mong muốn của cảngười dạy lẫn người học Không khí nhiều giờ đọc- hiểu trở nên tẻ nhạt, nặng
nề, “thiếu lửa” Nhiều giáo viên dạy cho hoàn thành nhiệm vụ còn học sinh thìthụ động, lười đọc, lười suy nghĩ, ngại phát biểu xây dựng bài hoặc nếu bịbuộc phát biểu thì trả lời cho qua chuyện Khi làm văn, học sinh viết nhữngcâu văn, bài văn nghèo nàn, ngô nghê về ý tứ, lủng củng trong diễn đạt Hiệuquả dạy học Ngữ Văn vì thế bị ảnh hưởng nghiêm trọng Qua hoạt động dựgiờ các đồng nghiệp tôi thấy là do nhiều nguyên nhân: Nhiều giáo viên vănchưa sử dụng được hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài đủ sức lôi cuốn họcsinh tham gia giờ học với tinh thần chủ động, tích cực và say mê Cá biệt, cógiáo viên thường xuyên nêu những câu hỏi không đạt yêu cầu về tính khoa
2
Trang 11học, tính sư phạm khiến học sinh và đôi khi cả giáo viên dự giờ cũng khôngbiết phải trả lời như thế nào, hay có những câu hỏi chỉ mang tính chất tái hiệnkiến thức, không phong phú, đa dạng Thậm chí, có giáo viên chưa biết khaithác, tận dụng triệt để và linh hoạt các câu hỏi có sẵn trong SGK Ở trườngTHPT Lương Thế Vinh là một trường dân lập, chất lượng đầu vào của họcsinh thấp nên việc sử dụng các câu hỏi nhằm phát huy sự sáng tạo, tích cực,chủ động trong giờ học của học sinh là một vấn đề cần chú trọng Việc sửdụng những câu hỏi yêu cầu học sinh phải dùng tri thức đã biết để tìm tòi pháthiện tri thức mới hoặc phải tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực,phải trăn trở suy ngẫm để mở rộng, xoáy sâu vấn đề hoặc vận dụng, liên hệVBVH vào thực tế xã hội, thực tiễn đời sống lại càng khiêm tốn.
Để học sinh chủ động, tích cực, sôi nổi, hào hứng trong giờ học văncũng như nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn, tôi đãtích cực sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong đọc-hiểu VBVH Và đặc biệt hơnchúng tôi quan tâm tới việc giảng dạy tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -
1945 bởi việc dạy các tác phẩm này đang gặp nhiều khó khăn do cách biệt vềhoàn cảnh lịch sử, đời sống, quan điểm nghệ thuật giữa các nhà văn, giữa cácthời đại khác nhau Bên cạnh đó, tình trạng thầy đọc trò chép, thầy giảng trònghe là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh không hứngthú trong giờ học Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi nhằm kích thích sự suy nghĩtìm tòi của học sinh, buộc các em phải vận dụng những thao tác tư duy khácnhau, phải sáng tạo, tìm tòi, phát hiện, giải thích, chứng minh và kết luận vấn
đề Rõ ràng đây là dạng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực và hoạt động tưduy của học sinh qua giờ học Vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đề trong phântích tác phẩm văn học ở bậc THPT đã được thực hiện từ khá lâu Thế nhưngkhông phải tiết dạy nào cũng thành công bởi cái khó nhất là làm thế nào nêulên tình huống có vấn đề nhằm đưa học sinh (đối tượng trung tâm) vào quátrình tư duy Một bài văn, một tác phẩm văn chương, một số phận nhân vậtchỉ trở thành đối tượng suy tư của mỗi người khi chính người
Trang 12đó nhận ra trong đó có một tình huống, một vấn đề, một tâm trạng có liênquan đến tầm suy nghĩ hay rung động của mình Tác phẩm nào cũng có vấn
đề cả Nhưng không phải bất kì vấn đề nào trong tác phẩm cũng tự nhiên trởthành tình huống có vấn đề đối với chủ thể người đọc - học sinh
Thực tế nhiều giáo viên khi đặt câu hỏi lại mặc định là có vấn đề nhưngthực chất lại không có vấn đề Vì vậy thông qua đề tài của mình, chúng tôi sẽxác lập một hệ thống khoa học về việc đặt câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học
và áp dụng lý thuyết đó vào việc “Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đềtrong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 cho học sinh lớp 11”nhằm nâng cao hiệu quả của giờ học
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học không còn là vấn đề mớitrên thế giới Ngay từ những năm trước Công nguyên vấn đề này đã gắn liềnvới tên tuổi của nhà triết học Socrát (470 - 390 TCN) Khổng Tử (551 - 479TCN) cho rằng khi dạy học là đưa người học vào tình huống mâu thuẫn, tức làđặt ra cho họ những câu hỏi bẫy để kích thích cho người học
Trong phương pháp luận dạy học văn của Z.Rez (Bản dịch của Nxb
GD – Hà Nội,1983).Tác giả đã trình bày khái niệm dạy học nêu vấn đề vàcâu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn chương Tác giả cũng chỉ rõ:Câu hỏi nêu vấn đề là nhân tố tạo ra tình huống có vấn đề Câu hỏi phải đảmbảo tiêu chí: “có mâu thuẫn”, “phát hiện được bình diện thứ hai của sự kiện”,
“phù hợp với bản chất của tác phẩm nghệ thuật và được học sinh quan tâm.”
Bàn về hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, V A Kôvalépcho rằng: Mỗi chương sách giáo khoa được kết thúc bằng một hệ thống câuhỏi và bài tập Hệ thống câu hỏi và bài tập này sẽ giúp cho các bạn học sinhphân tích sâu hơn tác phẩm, hiểu thấu đáo những nội dung trong các phần củasách giáo khoa… Làm những câu hỏi và bài tập này bạn sẽ nắm được tri thứcmột cách hệ thống Những câu hỏi và bài tập này được sắp xếp một cách có
4
Trang 13thứ tự Mỗi câu hỏi mới lại phức tạp hơn, vì nó đều có lôgíc bắt nguồn từ cácbài tập và câu hỏi trước đó.
Qua ý kiến trên, V A Kôvalép chú ý tới hệ thống câu hỏi và bài tậptrong sách giáo khoa với mục đích, yêu cầu, tác dụng và đặc điểm của nó
Khẳng định vai trò, tầm quan trọng của hệ thống câu hỏi, bài tập trongsách giáo khoa văn học, tác giả A.C.Acbaseva quan niệm: Những câu hỏi, bàitập xếp đặt trong sách giáo khoa văn học có thể góp phần kích thích và pháttriển tình cảm, đạo đức của học sinh; hình thành phương pháp lịch sử văn họcđối với các tác phẩm nghệ thuật; giúp đỡ học sinh phát triển và làm phongphú lời nói
Ở Liên Xô, các tài liệu đề cập đến phương pháp xây dựng và sử dụngcâu hỏi trong dạy học của các tác giả như: P.B Gophman, O.Karlinxki,B.P.Exipop, M.A.Danilop, N.M.Veczilin Cũng đi sâu vào nghiên cứu và vấn đềnày còn có một số nhà giáo dục như: Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan) Gần đây
đáng chú ý có công trình Đặt câu hỏi có hiệu quả cao (HEO) cách thức giúp học
sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập của Ivan Hanel
Ở nước ta vấn đề nghiên cứu phương pháp xây dựng câu hỏi trong dạy
học môn văn được đề cập trong một số công trình như: “Phương pháp dạy học Văn” của Phan Trọng Luận (Chủ biên), tác giả đề cập tới đặc điểm, vai trò và
nguyên tắc của việc xây dựng hệ thống câu hỏi gắn với phương pháp dạy học Tácgiả bàn nhiều đến tiêu chí câu hỏi nêu vấn đề và điều đó có đóng góp đáng kể, làmphong phú thêm cho đề tài nghiên cứu
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường” (2009) của Nguyễn Viết Chữ Tác giả đề cập đến các loại câu hỏi
trong dạy học các thể loại như: tự sự, trữ tình, dân gian Tác giả cũng phânloại hệ thống câu hỏi cảm xúc vật chất, câu hỏi nội dung, câu hỏi tưởngtượng, sáng tạo
Đi sâu vào trình bày những biện pháp nhằm rèn luyện tư duy cho họcsinh, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã đưa ra cuốn “Rèn luyện tư duy sáng tạotrong dạy học tác phẩm văn chương” Tác giả có phân loại các loại câu hỏitrong dạy học Văn Theo tác giả, “Việc đặt câu hỏi đối với học sinh trong quá
Trang 14trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nóicách khác là mở tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt họcsinh vào các yêu cầu của việc nhận thức”.
Khi tiến hành biên soạn sách giáo khoa cải cách, nói về Phương hướngbiên soạn sách giáo khoa cải cách lớp 10, Nguyễn Lộc đã đề cập đến vấn đềcâu hỏi và bài tập: Tuyệt đối tránh những câu hỏi mà học sinh không cầnnghiên cứu văn bản cũng có thể trả lời được đại khái, hay những câu hỏi chỉchú trọng mặt đạo đức xã hội của tác phẩm mà hoàn toàn coi nhẹ giá trị thẩm
mỹ của tác phẩm Phải nghiên cứu thật kỹ các văn bản giảng văn để nêu lênnhững câu hỏi cụ thể, gợi mở để học sinh có thể trả lời từng bước từ chi tiếtđến khái quát Bám sát câu hỏi, học sinh tự mình phát hiện ra cái hay, cái đẹpcủa văn bản Ý kiến trên đã thể hiện quan niệm về vai trò, ý nghĩa và tầmquan trọng của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Văn học kể cả nội dungkhoa học cũng như phương pháp sư phạm
Đi vào cụ thể hơn về vấn đề câu hỏi trong dạy học Văn là bài viết “Câuhỏi trong giảng văn” của Trương Dĩnh Tác giả đã phân tích khái niệm vấn đề,vấn đề trong học tập và vấn đề trong phân tích văn học Theo ông, để diễn đạtvấn đề hay đề ra nó, người ta dùng hình thức đặt câu hỏi Nội dung vấn đề và câuhỏi nêu vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau Đặt ra được các vấn đề dưới dạngcâu hỏi là một nghệ thuật của lao động sáng tạo trong phân tích nêu vấn đề
Cùng với nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, trường Đại học Giáo dục
đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo đề cập vấn đề dạy học với câu hỏi hiệu quả.Hội thảo đã cung cấp nhiều bài nghiên cứu có giá trị về vấn đề này cũng nhưđưa ra những tiêu chí đánh giá câu hỏi có hiệu quả
Trên đây là một số khái quát về vai trò của câu hỏi và trong dạy học vănqua một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Từ việc nghiên cứutrên có thể thấy việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy học văn là vấn
đề không mới Nhưng các công trình chỉ dừng lại ở việc lý luận về câu hỏi.Còn việc “xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm vănxuôi lãng mạn 1930 - 1945 cho học sinh lớp 11” thì chưa có công trình hay
6
Trang 15bài viết nào Đây là một vấn đề hoàn toàn mới mà đề tài của chúng tôi quan tâm.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945 ở THPT
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc đặt câu hỏi nêu vấn đề
- Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cho hai tác phẩm: Chữ người tử tù
và Hai đứa trẻ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học tác phẩm: Chữ người tử tù
và Hai đứa trẻ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy học hai tác phẩm: Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu lý luận có liên quan đến cơ sở phương pháp luận, cơ
sở lý luận của câu hỏi nêu vấn đề
- Đọc và phân tích các bài viết trên các tập có chuyên ngành và các luận
án, báo cáo khoa học, các tư liệu giáo trình… có liên quan tới đề tài Từ đó tổnghợp rút ra các kết luận cần thiết phục vụ cho tiến trình nghiên cứu
5.2 Phương pháp điều tra
- Thu thập những thông tin về việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề
- Thu thập những thông tin ngược của học sinh về việc học tác phẩm
Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ
5.3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Vận dụng câu hỏi nêu vấn đề để dạy tác phẩm: Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ
5.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số phương pháp như lập bảng, thống kê, kiểm định để đánhgiá kết quả thực nghiệm
6 Cấu trúc luận văn:
Luận văn gồm phần: mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và khuyếnnghị, tài liệu tham khảo, phụ lục Trong đó phần nội dung được trình bàytrong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm vănxuôi lãng mạn 1930 - 1945 ở lớp 11
Chương 3: Thực nghiệm
8
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề
Phương pháp đặt câu hỏi nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn học
đã được ra đời từ thế kỉ XIX ở phương Tây - khi chủ nghĩa tư bản phát triển.Lúc đó, khoa học kĩ thuật và công nghệ tạo ra những bộ mặt mới về đời sống
xã hội trong xã hội tư bản Các nước đó đòi hỏi giáo dục phải tạo ra nhữnghọc sinh có phẩm chất: thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ để đủ sứcthực hiện nhiệm vụ của nền kinh tế xã hội Nó phê phán mạnh mẽ nền giáodục phong kiến chỉ tạo ra những con người chỉ biết bắt chước, phục tùng màkhông thích ứng được với xã hội mới
Trong cuốn “ Phương pháp dạy học văn” GS Phan Trọng Luận chorằng: Câu hỏi nêu vấn đề là loại câu hỏi đặt ra cho chủ thể học sinh và đượchọc sinh tiếp nhận một cách có ý thức, không phải từ ngoài dội vào mà là donhu cầu khám phá tìm hiểu của bản thân và chính học sinh cũng đã có một số
dữ kiện (tri thức kinh nghiệm kĩ năng) song không thể tìm được lời giải cũbằng chính những hiểu biết cũ và theo phương thức hành động cũ
Trong bài viết “Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng văn THCS”của PGS.TS Vũ Song quan niệm: Câu hỏi nêu vấn đề không nhằm mục đíchtái hiện kiến thức cũng không nhằm khơi gợi sự tự biểu hiện của học sinh khiđánh giá chi tiết hay toàn bộ các tác phẩm văn học Câu hỏi nêu vấn đề phảilàm rõ được vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận thức chohọc sinh, phải động viên, khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu
Có thể thấy rằng câu hỏi nêu vấn đề liên quan chặt chẽ đến vấn đề vàtình huống có vấn đề Trong nhiều trường hợp khi đã xác định được vấn đề,nhờ câu hỏi mà giáo viên tạo được tình huống có vấn đề, tức là xác định đượccái chưa biết, cuốn hút được sự quan tâm của học sinh, và tiên lượng trướckhả năng giải quyết vấn đề của các em
Trang 18“Câu hỏi nêu vấn đề đặt ra từ “vấn đề” của tác phẩm Là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) nhằm tạo được tình huống có vấn đề, kích thích được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong cảm thụ văn học của học sinh Câu hỏi phù hợp với tầm đón nhận của học sinh và được các em tiếp nhận một cách có ý thức” [33].
Trong đề tài, chúng tôi quan niệm “ câu hỏi nêu vấn đề là hệ thống cấu trúcngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, đòi hỏi, một mệnh lệnh mà người học cần giảiquyết, được xác lập dựa trên những vấn đề đặt ra trong tác phẩm nhằm yêu cầuhọc sinh vận dụng cái đã biết, cái đã cho làm phương tiện để học sinh chủ động,tích cực giải quyết những yêu cầu đặt ra trong giờ học văn ”
1.1.2 Đặc điểm và nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề
Đặc điểm của câu hỏi nêu vấn đề
Thứ nhất, Câu hỏi nêu vấn đề mang bản chất sáng tạo.
Khác với câu hỏi tái hiện chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trảlời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Câu hỏi nêu vấn đề đòi hỏi học sinhphải vận dụng sáng tạo những kiến thức có sẵn để giải quyết tình huống mới.Cách chiếm lĩnh tri thức từ tình huống là cách chiếm lĩnh riêng chỉ có thể cóđược khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề Bởi vì, câu hỏi nêu vấn đề không dừng
ở kiến thức có sẵn trong tác phẩm văn học mà là cái mới, cái chưa có trongnhận thức của học sinh Kiến thức mới đó, không phải là kết quả tìm kiếm củamột vài cách thức chiếm lĩnh quen thuộc, mà phải bằng sự tổng hợp của nhiềubiện pháp tái hiện, tổng hợp, suy luận
Có thể nêu ra hai dạng câu hỏi khác nhau về một vấn đề để chúng tathấy được bản chất của hai dạng câu hỏi này :
1 Dạng câu hỏi tái hiện: Bức tranh đời sống phố huyện nghèo lúc chiều tối trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam được tác giả miêu tả như thế nào ?
2 Dạng câu hỏi nêu vấn đề:Tại sao trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” củaThạch Lam hình ảnh ngọn đèn con của chị Tý “chiếu sáng một vùng đất nhỏ” đượcnhắc đi nhắc lại nhiều lần ?
10
Trang 19Ở câu hỏi số 1 học sinh chỉ cần nhớ lại kiến thức cũ để tái hiện lại bứctranh phố huyện lúc buổi chiều tà với những đường nét, màu sắc, hình khốimang đậm nét nông thôn Việt Nam Còn đối với câu hỏi số 2 đòi hỏi học sinhphải tư duy, sáng tạo vận dụng toàn bộ kiến thức của mình để lí giải : Hìnhảnh ngọn đèn con của chị Tý có sức gợi tả đặc biệt Hình ảnh ấy có ý nghĩanhư là biểu tượng về kiếp người nhỏ bé sống leo lét trong cái xã hội cũ không
có hạnh phúc, không có tương lai Hình ảnh ấy cũng gợi nhịp sống đơn điệu,quẩn quanh, bế tắc, buồn chán
Câu hỏi nêu vấn đề ở trên tuy chưa thể bao hàm đầy đủ những đặc điểm
cơ bản của câu hỏi nêu vấn đề nhưng nó đã đặt được học sinh vào một quátrình vận động tâm lý, ý thức tích cực
Thứ hai, câu hỏi nêu vấn đề tạo ra tình huống có vấn đề - tình huống kích thích tính tích cực nhận thức ở học sinh
Câu hỏi nêu vấn đề đặt học sinh trước những mâu thuẫn về cái chưabiết và cái đã biết, cái thông thường – cái bất thường, cái cũ – cái mới… Đó làđiều kiện của câu hỏi và là cơ sở để chủ thể chấp nhận giải đáp câu hỏi Khichủ thể chấp nhận thì câu hỏi mới trở thành tình huống có vấn đề Để tạođược tình huống có vấn đề, câu hỏi phải có mâu thuẫn hay có đủ điều kiện đểnảy sinh nhu cầu nhận thức ở học sinh Tình huống sẽ khiến học sinh tích cực,chủ động, sáng tạo vận dụng kiến thức có sẵn vào giải quyết tình huống mới.Quá trình giải quyết tình huống là quá trình học sinh tự chiếm lĩnh tri thứcmới một cách chủ động, sáng tạo
Ví dụ : Khi giảng bài Chí Phèo của Nam Cao (Ngữ văn 11 tập 1), GV
có thể hỏi: Tại sao Nam Cao đã không mở đầu tác phẩm của mình bằng sựkiện Chí ra đời ở cái lò gạch cũ mà mở đầu bằng hình ảnh của sự tha hoá -Chí uống rượu say vừa đi vừa chửi?
Đối với câu hỏi này GV hướng dẫn HS tìm hiểu những vấn đề cần giảiquyết
Trang 20Cách mở đầu tác phẩm
Tiếng
Chí
Sáng tạo của Nam Cao
Ý nghĩa
tiếng chửi
Thái độ
dân làng
Câu hỏi nêu vấn đề cho thấy được bản chất phức tạp về nội dung, chứanhững băn khoăn, thắc mắc, những mâu thuẫn, những bế tắc mà học sinh gặpphải trên con đường nhận thức Nếu muốn nhận thức tiếp phải giải quyết vấn
đề đó
Thứ ba, câu hỏi nêu vấn đề thường phản ánh được tâm trạng ngạc nhiên của học sinh: Là câu hỏi được tạo ra bằng các sự kiện bất ngờ hoặc bất bình thường và bản thân câu hỏi chứa đựng yếu tố lý thú, gây hưng phấn, bất
ngờ cho học sinh
Ví dụ : Vì sao nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” có lúcnghĩ mình như con trâu, con ngựa, thậm chí không bằng con trâu con ngựatrong nhà Thống Lí Pá Tra mà không so sánh mình với thân con bọ ngựa, con
Trang 2112
Trang 22chẫu chuộc như cô gái trong truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” của đồng bào dân tộc Thái?
Ở câu hỏi nêu vấn đề này, yếu tố tạo ra sự bất ngờ cho học sinh đó là khigiáo viên đưa ra sự so sánh trong cách nghĩ của Mị và cô gái Thái Cô gái truyện thơ
“Tiễn dặn người yêu” thân con bọ ngựa, con chẫu chuộc Còn Mị ví mình như contrâu, con ngựa Học sinh gặp phải câu hỏi này sẽ băn khoăn, suy nghĩ, thắc mắc, tìmtòi câu trả lời để lí giải điều đó: vì cô gái Thái quá đau khổ khi bị cha mẹ ép gả chongười mà cô không yêu thương và đang còn ở với cha mẹ, vì vậy cô chưa bị áp bứcbóc lột sức lao động Còn Mị, với thân phận con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra,
cô phải việc quần quật suốt ngày, suốt tháng, suốt năm mà không được nghỉ ngơi Hình ảnh so sánh này vừa cho người đọc thấy Mị bị bóc lột sức lao động thật tànnhẫn, đồng thời tố cáo tội ác dã man của cường quyền phong kiến miền núi đối vớingười dân nơi đây
Nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề
Thứ nhất, câu hỏi nêu vấn đề phải dựa vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh.
Học sinh là người cộng sự trong tiến trình giảng dạy của giáo viên Họcsinh vừa là đối tượng nhận thức, vừa là chủ thể tiếp nhận văn học Mọi hoạtđộng của giáo viên trong giờ giảng văn đều có liên quan đến học sinh Mọiphương pháp giáo viên vận dụng đều ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý nhậnthức của học sinh Do đó giáo viên phải hiểu học sinh, nắm được đối tượngcộng sự với mình hay những người chịu sự tác động của phương pháp Hiểuhọc sinh là hiểu tâm lý nhận thức cũng như khả năng tư duy, trình độ văn hóa,vốn sống, kinh nghiệm, những điều kiện vật chất, tinh thần có ảnh hưởng đếnhọc tập của học sinh Trong quá trình dạy học việc vận dụng câu hỏi nêu vấn
đề càng phải quan tâm tới sự tiếp nhận của học sinh Bởi đây là loại câu hỏikhái quát, tổng hợp, có tình huống yêu cầu học sinh động não, tư duy Nhưngnếu quá chú trọng đến câu hỏi nêu vấn đề, giáo viên dễ đặt ra những câu hỏivượt khả năng giải mã của học sinh Và như thế, hậu quả ngoài mong muốn là
13
Trang 23giáo viên đưa học sinh trở lại với không khí lạnh lùng, thờ ơ, của giờ giảngvăn Sự hứng thú của học sinh là một yếu tố quan trọng đến triển khai việcvận dụng câu hỏi nêu vấn đề Trên cơ sở nắm bắt được tâm lí và khả năng tiếpnhận của học sinh, giáo viên xây dựng câu hỏi cho phù hợp, tránh những câuhỏi quá dễ hoặc quá khó.
Nguyên tắc thứ hai, câu hỏi phải gắn với vấn đề và tình huống có vấn đề Đây là
nguyên tắc đặc thù của việc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề Nhà văn M.Gooki
nhận xét: “Tác phẩm văn học nào cũng có vấn đề” [40] Vậy: Vấn đề
trong tác phẩm là gì?
“Vấn đề trong tác phẩm văn học là nhân tố chính mà tác giả phản ánh,
lý giải trong tác phẩm Vấn đề trong tác phẩm bao giờ cũng có liên quan đếnđời sống hiện thực và nằm trong ý đồ sáng tác của nhà văn Vấn đề trong tácphẩm vô cùng phong phú và đa dạng, song, tựu trung lại không ngoài hai lĩnhvực nội dung và hình thức nghệ thuật”[8]
Ở các nhà văn, nhà thơ lớn, vấn đề trong tác phẩm thường thể hiệnđược bản chất của đời sống, được phản ánh và lý giải trên quan điểm, lập trườngchính trị và tài năng nghệ thuật riêng của tác giả
Theo định nghĩa của GS Đặng Vũ Hoạt và GS Phan Trọng Luận:
“Tình huống có vấn đề là tình huống trong đó chủ thể nhận thức có trạng tháitâm lý đặc biệt: cảm thấy có cái “khó” trong nhận thức, hay nói cách khác, cómâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết, đồng thời chủ thể cóphương thức hành động mới để đạt được hiểu biết mới” [20]
“Câu hỏi nêu vấn đề đặt ra từ “vấn đề” của tác phẩm Là câu hỏi chứađựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) nhằm tạo được tình huống
có vấn đề, kích thích được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong cảm thụvăn học của học sinh Câu hỏi phù hợp với tầm đón nhận của học sinh vàđược các em tiếp nhận một cách có ý thức” [33]
Về mặt hình thức thì cả ba đều chứa đựng yếu tố “vấn đề” “Vấn đề”trong tác phẩm văn chương nào cũng có Nếu hiểu như định nghĩa đã được chấp
Trang 24nhận thì khi tìm hiểu một tác phẩm văn chương sẽ có thể có nhiều vấn đề Cóvấn đề lớn bao gồm những vấn đề trung bình, và mỗi vấn đề trung bình lại gồmmột số vấn đề nhỏ hơn, giản đơn hơn Trong dạy học, phát triển vấn đề đòi hỏi ở
GV một trình độ cao của sự phát triển trí tuệ và sự thành thục của kĩ năng
Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề là cơ sở hình thành và xuất hiện tìnhhuống có vấn đề Có vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề, mới có tình huống có vấn
đề Câu hỏi nêu vấn đề chính là phương tiện quan trọng để người giáo viênđưa vấn đề vào tình huống có vấn đề
Trong giờ học tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn
Dữ, giáo viên đặt câu hỏi: “Vũ Nương là người thương yêu chồng con Vậy tạisao khi được giải oan, Vũ Nương lại không trở về?” Đây là câu hỏi chứa nhiềumâu thuẫn giữa tâm lý muốn trở về và hành động không trở về của Vũ Nương Ýmuốn trở về là điều có sẵn trong thiên truyện, còn nguyên nhân khiến Vũ Nươngkhông trở về là điều chưa biết, học sinh cần phải khám phá Trong tình huốngnày, học sinh phải vận dụng kiến thức tác phẩm, đồng thời, phải đặt ra nhiều giảthiết để lý giải Có thể sơ đồ hóa những lí giải, suy luận của học sinh như sau:
Sống trong
lễ giáo PK, liệu có hạnh phúc?
Trang 2515
Trang 26Kiến thức tác phẩm, kiến thức thời đại và hình thức suy luận khôngnhững giúp học sinh hiểu nguyên nhân Vũ Nương không trở về mà còn giúphọc sinh thấy được ý nghĩa tố cáo xã hội phong kiến đương thời Đồng thời,tác phẩm là thể hiện tấm lòng thương cảm của nhà văn đối với những ngườiphụ nữ sống trong xá hội bất công, vô nhân đạo đó Nắm bắt được ý nghĩa củatác phẩm và tấm lòng nhân hậu của nhà văn từ việc giải quyết tình huống cóvấn đề là cách chiếm lĩnh tri thức chủ động, sáng tạo của học sinh.
Nguyên tắc thứ ba, câu hỏi phải mang tính hệ thống, liên tục Câu hỏi
nêu vấn đề nằm trong một hệ thống (không chỉ riêng hệ thống của những câuhỏi có vấn đề) có quan hệ chặt chẽ và như một tất yếu của mối quan hệnguyên nhân – hệ quả được nảy sinh trong quá trình dạy học Đặt câu hỏi nêuvấn đề trong hệ thống các câu hỏi có sự liên quan đến nhau Câu hỏi tái hiện
là cơ sở để đặt ra câu hỏi tổng hợp, khái quát Câu hỏi tổng hợp, khái quát làtiền đề để xây dựng câu hỏi nêu vấn đề Nếu không có câu hỏi tái hiện, câuhỏi tổng hợp, giáo viên sẽ không xây dựng được câu hỏi nêu vấn đề Nói cáchkhác, câu hỏi nêu vấn đề chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của câu hỏi táihiện và câu hỏi tổng hợp, khái quát Học sinh có tái hiện lại kiến thức tácphẩm, đồng thời, biết tổng hợp và khái quát kiến thức, mới có cơ sở để giảiquyết yêu cầu của câu hỏi nêu vấn đề
“Câu hỏi nêu vấn đề mang tính tổng hợp, có hệ thống, phức tạp về nộidung,…” [35] “Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng xâu chuỗi các vấn đề, chi tiết,
16
Trang 27tháo gỡ những vướng mắc cho học sinh Tái tạo hỗ trợ đắc lực cho việc pháthiện vấn đề và giải quyết vấn đề Nghiên cứu là tiếp xúc với đối tượng, tậphợp các dữ kiện về đối tượng, vạch ra giả thiết, tìm kiếm cách chứng minh,khẳng định và đi đến kết luận vấn đề Rõ ràng mỗi phương pháp lại có mộtđặc điểm, vai trò riêng Vì vậy không thể tuyệt đối hóa hay cô lập hóa mộtphương pháp cũng như một hệ thống câu hỏi.
Một nghịch lý đặt ra trong giờ dạy học tác phẩm văn chương là lượngthông tin trong tác phẩm lớn, nhưng thời gian tiếp nhận thông tin của học sinhlại có hạn Do đó, người giáo viên cần phải tính toán, vận dụng linh hoạt cácphương pháp vào dạy học Nếu sa vào một phương pháp, lạm dụng mộtphương pháp đều bất lợi Sa vào tái hiện, học sinh dễ trở thành đối tượng thụđộng Lạm dụng câu hỏi nêu vấn đề, không khí học nặng nề, tác phẩm bị cắtvụn…Bởi thế cần kết hợp linh hoạt các phương pháp và đặt trong mối tươngquan với nhiều phương pháp Tính hợp lý của câu hỏi nêu vấn đề không chỉthể hiện ở số lượng câu hỏi, mức độ nêu ra vấn đề, dung lượng kiến thức màcòn ở cách đặt câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ khi có đủ điều kiện cho phép Giáoviên phải có sự tính toán để câu hỏi phát huy được sự chủ động, sáng tạo, tíchcực của học sinh Như vậy câu hỏi mới có tác dụng
1.1.3 Vai trò của câu hỏi nêu vấn đề
Đối với học sinh : Câu hỏi nêu vấn đề phát huy được tính tích cực chủ
động sáng tạo của học sinh
Tác phẩm văn chương là một bức tranh phản ánh đầy đủ và sinh độnghiện thực cuộc sống xung quanh chúng ta Mỗi người có một cách cảm nhậnriêng về tác phẩm văn học mà mình được tiếp xúc Học sinh khi tiếp xúc vớitác phẩm văn chương, được học trong nhà trường cũng vậy Vì thế, trong giờgiảng văn cần phát huy hết năng lực tư duy, khả năng tìm tòi phát hiện cảmnhận theo những suy nghĩ riêng của HS Như vậy, tác phẩm văn học sẽ trởthành đối tượng của thầy trò trong quá trình dạy học Để giờ học tác phẩm vănchương trở nên sinh động, vai trò của học trò trong giờ học được khẳng định
và mối liên hệ qua lại thường xuyên giữa thầy và trò được duy trì thì
Trang 28không thể thiếu hệ thống câu hỏi Tuỳ vào điều kiện thực tế, tuỳ cách sáng tạocủa mỗi giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi và tiến hành thực hiện cách hỏinhằm định hướng và tổ chức điều khiển hoạt động của học sinh trong giờgiảng văn Khác với câu hỏi tái hiện nhằm yêu cầu học sinh diễn đạt lại nhữngkiến thức đã nắm bắt được hoặc vận dụng những phương thức hành động cũ,những kinh nghiệm có sẵn ở học sinh mà không cần sáng tạo trong hoàn cảnhmới Câu hỏi nêu vấn đề nhằm yêu cầu học sinh phải phát huy những tư duysáng tạo, làm rõ vấn đề hoặc đặt ra được vấn đề trong tác phẩm Câu hỏi nêuvấn đề không nhằm mục đích tái hiện kiến thức mà đòi hỏi học sinh phải vậndụng sáng tạo những kiến thức có sẵn để giải quyết tình huống mới Cáchchiếm lĩnh tri thức từ tình huống là cách chiếm lĩnh riêng chỉ có thể có đượckhi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề Bởi vì, câu hỏi nêu vấn đề không dừng ở kiếnthức có sẵn trong tác phẩm văn học mà là cái mới, cái chưa có trong nhậnthức của học sinh Kiến thức mới đó, không phải là kết quả tìm kiếm của mộtvài cách thức chiếm lĩnh quen thuộc, mà phải bằng sự tổng hợp của nhiềubiện pháp tái hiện, tổng hợp, suy luận Chính vì vậy mà nó phát huy được tínhtích cực, chủ động , sáng tạo của học sinh trong giờ học văn
Đối với giáo viên : Câu hỏi nêu vấn đề là phương tiện để giáo viên dạy
học tác phẩm văn chương
Giáo viên tài ba và giàu kinh nghiệm thường đoán được những tácphẩm văn học hoặc những hình tượng nhân vật nào, cảm xúc, giọng điệu ngônngữ nào sẽ gây được hứng thú đối với học sinh Và có bao nhiêu học sinh cảmthụ được tác phẩm, bao nhiêu học sinh còn lơ mơ, phân tích phiến diện hoặckhông có khả năng phân tích … Không chỉ có vậy, giáo viên còn dự tính đượcnhững vấn đề nào của tác phẩm sẽ trở thành tình huống tiếp nhận của họcsinh Vấn đề nào khi đưa ra sẽ gây cho học sinh nhiều tranh cãi, thắc mắc, vàchiều hướng, mức độ giải quyết vấn đề của các em Mặt khác, giáo viên cũng
dự đoán được những câu hỏi nào sẽ kích thích được tâm lý tiếp nhận của họcsinh; hỏi ở mức độ nào là quá khó hoặc vừa sức đối với các em Khi đã dựbáo được những vấn đề thuộc tâm lý và khả năng tiếp nhận của học sinh, thấy
18
Trang 29chiều hướng và mức độ giải quyết vấn đề của các em, giáo viên sẽ đặt ra đượccâu hỏi nêu vấn đề.
Quan niệm mới về học sinh là quan niệm “Bạn đọc sáng tạo” Mục đíchlớn nhất của giờ giảng văn là “dạy suy nghĩ, dạy tìm tòi sáng tạo” “Làm sao
để chủ thể học sinh dưới sự hướng dẫn của thầy tự mình cảm nhận, khám pháchiếm lĩnh được tác phẩm” Mục đích của giờ học là cơ sở dẫn tới sự thay đổicách thức dạy - học của giáo viên và học sinh Trong quá trình dạy học, giáoviên phải “tạo điều kiện cho học sinh nói lên những cảm nghĩ của mình do tácphẩm gợi ra chứ không phải chỉ biết lặp lại theo ý người khác” [4]
Khi đã coi học sinh là chủ thể, mục đích dạy văn là dạy tìm tòi suy nghĩ,cách dạy của thầy là tổ chức hướng dẫn, cách học của trò là tự khám phá thì đóchính là những tiền đề quan trọng để sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ họcvăn Câu hỏi sẽ là phương tiện để giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh học tập.Câu hỏi cũng tạo điều kiện cho học sinh phát huy vai trò chủ thể Mặt khác, câuhỏi là một hình thức rèn luyện học sinh biết tự chủ, độc lập suy nghĩ
1.1.4 Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn chương
1.1.4.1 Câu hỏi mâu thuẫn
Là câu hỏi chứa đựng yếu tố không phù hợp giữa hình thức và nộidung, giữa nội dung này và nội dung khác hoặc giữa hình thức với hình thứctrong một chỉnh thể tác phẩm văn học Rộng hơn có thể có cả mâu thuẫn trongcách đánh giá và tiếp nhận tác phẩm văn học đó
Ví dụ: Khi giảng bài Thương vợ của Tú Xương, GV có thể đặt câu hỏimâu thuẫn như sau: Ấn tượng 2 câu kết của bài thơ là một tiếng chửi, theomạch văn thì đó là tiếng chửi của ai? Trên thực tế thì có đúng không? Ý nghĩacủa tiếng chửi này là gì?
Câu hỏi này đưa học sinh vào mâu thuẫn trong suy nghĩ: Có thể là tiếngchửi của bà Tú Bà Tú chửi, cũng là trách “thói đời”, con người bạc bẽo, lừalọc, ông chồng “hờ hững” vô tình Có thể đấy là chút tâm sự riêng thầm kíncủa người phụ nữ trải qua nhiều gian truân, vất vả lúc bực bội trách cứ ngườinày, người khác Và học sinh cũng có thể suy luận đây là tiếng chửi ông Tú
Trang 30Là một cách Tú Xương bông đùa, trào lộng để tự phê phán mình, tự tráchmình từng làm khổ vợ, từng “hờ hững”, vô tình, vô tâm với vợ Và rồi trướcmâu thuẫn đó học sinh sẽ lựa chọn cách nghĩ hợp lí nhất, đó là tiếng chửi củaông Tú Bởi Bà Tú vốn là người đoan trang khiêm nhường nên tiếng chửi kiakhông phải là lời trực tiếp của bà.
1.1.4.2 Câu hỏi bất ngờ
Khi phát hiện được một tín hiệu nội dung hay một tín hiệu nghệ thuậtnào đó trong tác phẩm có tính chất kì lạ, bất bình thường, ta vận dụng câu hỏibất ngờ để khơi gợi sự khám phá sáng tạo của học sinh
Ví dụ : Tại sao nhà văn Kim Lân không đặt nhan đề tác phẩm này là
“Nhặt vợ” mà lại đặt là “Vợ nhặt”? Cách đặt nhan đề đó có ý nghĩa gì?
Cách đặt câu hỏi nêu vấn đề này tạo ra sự hứng thú cho học sinh, kíchthích khả năng tư duy của học sinh trước cách đặt nhan đề của tác giả Từ đóhọc sinh tìm ra điểm khác biệt giữa “Vợ nhặt” và “Nhặt vợ”:
- Anh cu Tràng - đang ế vợ -là người - Vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có ý
chủ động lợi dụng lúc miếng ăn bằng cả nghĩa nhân đạo rất lớn
sinh mệnh con người mà lấy được vợ + Cái đói đã đẩy đến những cảnh bi hài-> khinh thường người vợ nhặt kịch: mạng người trở nên rẻ rúng
+ Hoàn cảnh đói khát cần duy trì sựsống ->quên đi lễ nghĩa, bước qua thểdiện để theo không về làm vợ người.+ Vẻ đẹp của tình người
1.1.4.3 Câu hỏi lựa chọn
Câu hỏi này đặt học sinh vào tình huống được lựa chọn những chi tiết,được bộc lộ những suy nghĩ cảm xúc riêng trước những vấn đề đặt ra Hoặc giáoviên có thể xây dựng hệ thống câu hỏi này khi có nhiều ý kiến khác nhau về mộtvấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất, tối ưu nhất Người phát
20
Trang 31hiện vấn đề và tạo ra tình huống bao giờ cũng phải gợi ra được một số khảnăng để người học chọn lựa.
Ví dụ: Trong quá trình dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, cóđoạn Chí bị Thị Nở từ chối, hắn nói đi giết cô cháu Thị Nở nhưng hắn lại đếnthẳng nhà Bá Kiến Trong tình huống này GV có thể đặt những câu hỏi tìnhhuống sau:
- Tại sao khi bị Thị Nở từ chối, Chí Phèo nói là đi giết cô cháu Thị Nở,nhưng bước chân của hắn lại đến thẳng nhà Bá Kiến? Có phải do hắn say rượukhông hay do sự thức tỉnh trong nhận thức của Chí ? Theo em là do nguyên nhânnào ? Vì sao ?
- Có ý kiến cho rằng: Hành động Chí đến thẳng nhà Bá Kiến là lúc hắntỉnh táo nhất nhận ra rằng chính Bá Kiến là kẻ đẩy hắn vào tình cảnh này Theo em
ý kiến trên là đúng hay sai? Giải thích?
- Khi bị cự tuyệt tình yêu, Chí đã nói đi giết cô cháu Thị Nở nhưng lại đến thẳng nhà Bá Kiến Vậy đó là hành động vô thức hay nhận thức? Lí giải?
Những câu hỏi này đòi hỏi HS phải tư duy, phải dựa vào hiểu biết vềthực tế, cuộc sống hay những trải nghiệm, kinh nghiệm cá nhân đưa ra câu trảlời Trong trường hợp này không có một câu trả lời đúng duy nhất
1.1.4.4 Câu hỏi phản bác
Xây dựng hệ thống câu hỏi này khi phải tranh luận, đấu tranh vớinhững đánh giá, những nhận định hoặc quan điểm sai lệch Học sinh có cơ hộithể hiện kĩ năng thuyết trình, lập luận và đưa ra ý kiến chủ quan của mình
Ví dụ: Khi giảng bài thơ “Câu cá mùa thu ” của Nguyễn Khuyến, GV
có thể đưa ra câu hỏi : Có ý kiến cho rằng cả bài thơ là sự tĩnh lặng tuyệt đốicủa bức tranh thu, theo em ý kiến đó có đúng không ?Vì sao ?
Với câu hỏi này HS sẽ chỉ ra được ý kiến đó không đúng bởi: Tường chừng như không gian lặng lẽ bao trùm cả bức tranh thu với những âm thanh khẽ khàng đến tĩnh lặng của gió thổi nhẹ nên “sóng biếc theo làn hơi gợn tí ”, của chiếc lá rụng
“ trước gió khẽ đưa vèo” Nhưng thật bất ngờ khi tác giả lại nhắc đến một âm
Trang 32thanh : Cá đâu đớp động dưới chân bèo –mang tính chất khẳng định, thể hiện
nét đặc sắc của nghệ thuật phương Đông lấy động nói tĩnh
1.1.4.5 Câu hỏi giả định
Câu hỏi là một sự giả định để làm rõ vấn đề hay sự việc cần tìm hiểu đánhgiá Câu hỏi này thường đặt ra một tình huống hoặc một ý kiến, giúp học sinhđược biểu lộ năng lực thích ứng trong tình huống của cuộc sống Chẳng hạn đặt
ra một tình huống giả định có nhiều luồng ý kiến khác nhau xung quanh một vấn
đề, từ đó học sinh là một “trọng tài” để đưa ra quyết định cuối cùng
Ví dụ: Gv có thể đưa ra câu hỏi: Nếu em là Liên trong “Hai đứa trẻ ” của nhà văn Thạch Lam, em có thức để đợi chuyến tàu đêm qua phố huyện không ? Vì sao ?
Đặt câu hỏi giả định khiến các em được rèn luyện cách ứng xử, thấyđược hành vi cao đẹp của nhân vật văn học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức,phát triển nhân cách Đó là nội dung quan trọng trong mục đích giáo dục nóichung và văn học nói riêng
Dựa vào việc phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tácphẩm văn chương, chúng tôi xin đưa ra sơ đồ như sau:
Sơ đồ : Phân loại câu hỏi nêu vấn đề
Câu hỏimâu thuẫn
Câu hỏi nêu vấn đề
Câu hỏi phảnbácĐưa ra ý kiến
sau đó hỏi: theo
em, em hãy, ý kiến của em
Câu hỏi lựachọn
Nếu… kết
thúc bằng
được không
Trang 331.1.5 Tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 ở lớp 11 với việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề
Nhà văn M.Gooki nhận xét: “Tác phẩm văn học nào cũng có vấn đề”
[40] Vậy: Vấn đề trong tác phẩm là gì?
“Vấn đề trong tác phẩm văn học là nhân tố chính mà tác giả phản ánh,
lý giải trong tác phẩm Vấn đề trong tác phẩm bao giờ cũng có liên quan đến đời sống hiện thực và nằm trong ý đồ sáng tác của nhà văn Vấn đề trong tác phẩm vô cùng phong phú và đa dạng, song, tựu trung lại không ngoài hai lĩnh vực nội dung và hình thức nghệ thuật”[8].
Ở các nhà văn, nhà thơ lớn, vấn đề trong tác phẩm thường thể hiệnđược bản chất của đời sống, được phản ánh và lý giải trên quan điểm, lập trườngchính trị và tài năng nghệ thuật riêng của tác giả Vì điều này, nên “Vấn đề đặt ratrong tác phẩm thường thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng và khả năngthâm nhập vào đời sống của nhà văn” [8]
Vấn đề đặt ra trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam đó là:
- Tình trạng cuộc sống âm u, mòn mỏi, bế tắc của người dân nghèo
- Tấm lòng thương xót bao la của tác giả với những kiếp sống tù mù
Tác phẩm không đi sâu miêu tả những xung đột xã hội, xung đột giaicấp Ông cũng không để tâm miêu tả những bộ mặt gớm ghiếc của những kẻbóc lột và khuôn mặt bi thảm của những kẻ bị áp bức Ông phác họa bức tranhphố huyện nghèo, chân thật trong từng chi tiết và trong chiều sâu tinh thần của
nó Qua bức tranh ảm đạm của phố huyện và qua hình ảnh của những conngười bé nhỏ với chút hi vọng le lói và cảnh chờ đợi chuyến tàu đêm qua phốhuyện của chị em Liên, ta thấy được mơ ước lớn của nhà văn muốn thay đổicuộc sống ngột ngạt đó cho những con người lao động nghèo khổ
Trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, ta lại thấy vấn đề đặt ratrong tác phẩm là:
- Tấm lòng hướng về cái thiện tâm
- Thể hiện một lòng yêu nước thầm kín
Trang 34Hình tượng trung tâm của tác phẩm là hình tượng Huấn Cao, một nhânvật toát lên một vẻ lãng mạn, rực rỡ khác thường: tài hoa, khí phách, hiênngang, nhân cách trong sáng Hình tượng Huấn Cao mang vẻ đẹp bi tráng,một vẻ đẹp đã được lí tưởng hóa.
Ca ngợi Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã thể hiện được khát vọng muốn vươnlên trên những cái xấu xa và đặt niềm tin bất diệt vào những giá trị cao quý củacon người Qua đây cũng bộc lộ được cái tài, cái tâm của một nhà văn lớn
Cách đặt ra vấn đề và lý giải vấn đề của các nhà văn như vừa nêu đãchứng tỏ “vấn đề tác phẩm” thể hiện rõ tư tưởng, trình độ nhận thức và khảnăng thâm nhập cuộc sống thực tế của nhà văn Song, bên cạnh vấn đề nộidung, ta thấy còn có “vấn đề” thuộc hình thức nghệ thuật Nói như Hà Minh
Đức thì “Vấn đề của tác phẩm không phải là chất liệu trực tiếp tạo thành tác phẩm Đó là một nhân tố thuộc nội dung khái quát của tác phẩm Nó được thể hiện, được cụ thể hóa qua chất liệu trực tiếp khác.” [8].
Rõ ràng, tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 luôn là những đề ánthông tin có vấn đề Đây chính là một tiền đề cho việc ứng dụng câu hỏi nêuvấn đề vào dạy các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 nói chung, cáctác phẩm văn học lớp 11 nói riêng
1.1.6 Xu hướng tiếp cận liên môn trong dạy học
Trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượnggiảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thốngnhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốtnhất Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được, tác động mộtcách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dunghay giải quyết một vấn đề, tình huống Theo d’Hainaut (1977), có 4 quan điểmkhác nhau đối với các môn học: Quan điểm đơn môn, quan điểm đa môn, quanđiểm liên môn, quan điểm xuyên môn Trong đó nhu cầu của xã hội ngày nayđòi hỏi dạy học phải hướng tới quan điểm liên môn và quan điểm xuyên môn.Trong đó quan điểm liên môn có vị trí quan trọng Bởi đối với bộ môn Ngữ văn
24
Trang 35để giải quyết mọi tình huống mâu thuẫn và trả lời cho mọi vấn đề cần phải có
sự lí giải từ các môn học khác.Việc xác lập mối liên hệ những nội dung kiếnthức của các bộ môn khác, phân môn khác để làm phương tiện, công cụ khaithác
Quan điểm liên môn được hiểu là nội dung học tập được thiết kế thànhmột chuỗi vấn đề, tình huống, đòi hỏi muốn giải quyết học sinh phải huy độngtổng hợp kiến thức, kĩ năng của những môn học khác nhau Dạy học tích hợplàm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sốnghàng ngày, vận dụng các kiến thức học được để xử lí các tình huống cụ thể,những tình huống có ý nghĩa, hòa nhập thế giới học đường, với cuộc sống
Tích hợp trong dạy học Ngữ văn được thể hiện trong mối quan hệ mậtthiết giữa môn học này với các môn học khác Có thể thấy mối quan hệ gầngũi về mặt nội dung kiến thức giữa môn Ngữ văn với các môn Lịch sử, Địa lý
Văn học còn là công cụ để diễn đạt ý tưởng cho mọi lĩnh vực khoa học,Ngược lại các lĩnh vực khoa học khác nhau cũng làm phong phú thêm nănglực diễn đạt ngôn ngữ Từ đó, giúp học sinh tiếp nhận và diễn đạt tốt cácthông tin khoa học được giảng dạy trong nhà trường bởi để thực hiện tốt cácnhiệm vụ học tập, học sinh trước hết phải nghiên cứu và rèn luyện năng lực tưduy bằng ngôn ngữ, diễn đạt
Tích hợp trong dạy học Ngữ văn còn phải gắn môn học với đời sống xãhội vì văn học bắt nguồn từ cuộc sống và trở về phục vụ cuộc sống Dạy văn
là dạy từ cuộc đời, qua cuộc đời và cho cuộc đời
Qua việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học Ngữ văn cho họcsinh lớp 11 chúng tôi thấy việc vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn làđiều hợp lý, khơi gợi được hứng thú, đam mê khám phá của học sinh, manglại hiệu quả học tập cao
Trong bài “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, GV có thể sử dụng tích hợpliên môn với các môn học khác như sau:
Trang 36Tích hợp với các môn Nội dung tích hợp
học khác
- Phố huyện Cẩm Giàng- Hải Dương
Văn học – Địa Lý - Nhấn mạnh và giải thích rõ hơn địa danh mà tuổi thơ
và tuổi trẻ tác giả sống ở đó là yếu tố ảnh hưởng đếnsáng tác của Thạch Lam
- Khi phân tích cuộc sống người dân phố huyện trướccảnh ngày tàn và khi màn đêm buông xuống, GV cầntích hợp kiến thức lịch sử giai đoạn trước CMT8 năm
1945 Khi dạy nội dung này, giáo viên cần tập trungVăn học – Lịch sử làm rõ những yếu tố, hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ
khiến cha của Liên mất việc chuyển về quê, cuộc sốngnơi phố huyện trở nên nghèo nàn, đơn điệu, quẩnquanh, bế tắc Quá trình tích hợp Văn học – Lịch sửnày khiến cho kiến thức lịch sử của học sinh đượckhắc sâu, hấp dẫn, các em thấy được mối liên hệ qualại với nhau giữa văn học và lịch sử
Hội họa: Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn được vẽ
lên với hình ảnh, đường nét, màu sắc, hình khối, cógiá trị tạo hình nhưng đượm buồn mang đầy linh hồncủa nông thôn Việt Nam của làng mạc Việt Nammuôn đời
Văn học – Văn hóa Thi ca: Khi miêu tả cảnh thiên nhiên, Thạch Lam đã
miêu tả bức tranh đậm chất thơ:
-Chiều, chiều rồi Một buổi chiều êm ả như ru, văngvẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo giónhẹ đưa vào
- Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn
26
Trang 38với vệt sáng của những con đom đóm bay là là trênmặt đất hay len vào những cành cây.
Chính ngôn ngữ giàu chất thơ đã tạo nên nét đặc trưngcho phong cách của Thạch Lam
Các bình diện văn hóa trên được Thạch Lam nhắc đếntrong bài, nếu giáo viên tích hợp vào khi giảng dạy sẽgây được hứng thú và khởi dậy được niềm đam mêkhám phá, tìm tòi từ học sinh
Văn học – Giáo dục GV tích hợp với môn GDCD để hướng học sinh hoàncông dân thiện nhân cách bản thân, và có nghị lực vươn lên
trong cuộc sống bằng cách lồng kiến thức đó vào ýnghĩa của việc đợi chuyến tàu đêm:
+ Cuộc vượt thoát tinh thần, khiến tâm hồn không bịtàn lụi
+ Luôn mong ước, khát khao một cuộc sống tươi sáng+ Cuộc sống dù có khó khăn nhưng hãy tự tạo ra cho
hội đương thời, họ không chạy theo danh lợi mà vẫn
27
Trang 39giữ tâm hồn trong sạch Từ đó GV dẫn dắt HS soirọi vào tác phẩm khi phân tích hình tượng nhân vậtHuấn Cao – một tên tử tù cầm đầu phản nghịchchống lại triều đình.
Để hình thành ý thức, cách ứng xử của các nhân vậtkhi phân tích “Cảnh cho chữ” cuối cùng trong thiêntruyện, đồng thời để học sinh liên hệ bản thân thì bài
giới thiệu cho HS về nghệ thuật thư pháp và nghệthuật chơi chữ truyền thống
Chương trình Ngữ văn THPT lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắcchỉ đạo, tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa đòi hỏigiáo viên phải có những thay đổi về hình thức và phương pháp dạy học Cóthể thấy đây là mối quan hệ gần gũi về mặt nội dung kiến thức giữa môn Ngữvăn với các môn học khác Việc tích hợp liên môn trong môn Ngữ văn đòihỏi sự công phu, trình độ, hiểu biết và sự sáng tạo của của giáo viên
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh THPT
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từlúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ
15 đến 25 tuổi Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặtcủa hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Nhà tâm lý học
Trang 40Macxit cho rằng: “Khi nghiên cứu tuổi thanh nên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi”.
Việc phát triển tâm lý của tuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giớihạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xãhội; khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tốkhác…) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi
Vị trí học sinh trong nhà trường
Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức
độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác, tíchcực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trườnglúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bịtri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhânsinh quan cho các em
Hoạt động học của học sinh
Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPTnhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các
em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tưduy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại
mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiệnmới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thúhọc tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nênhứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn Thái độ của các em đốivới việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinhnghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đangđứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việchọc tập của các em được tăng lên mạnh mẽ
Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng đượcrằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu
29