1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học hai tác phẩm tràng giang của huy cận và đây thôn vĩ dạ của hàn mặc tử ở lớp 11, trung học phổ thông

127 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 159,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤCĐỖ THỊ BÍCH ĐÀO XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HAI TÁC PHẨM “TRÀNG GIANG” CỦA HUY CẬN VÀ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” CỦA HÀN MẶC TỬ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ BÍCH ĐÀO

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HAI TÁC PHẨM “TRÀNG GIANG” CỦA HUY CẬN VÀ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” CỦA HÀN MẶC TỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ BÍCH ĐÀO

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HAI TÁC PHẨM “TRÀNG GIANG” CỦA HUY CẬN VÀ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” CỦA HÀN MẶC TỬ Ở LỚP

11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã SỐ: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN KHÁNH THÀNH

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠNTôi xin bày tỏ lòng biết ban lãnh đạo, các thầy, cô, cán bộ các phòng,ban và các thầy, cô trường Đại học Giáo Dục đã giúp đỡ, giảng dạy, tạo điềukiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Khánh Thành,người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiệnluận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo phản biện đã đọc và chonhững nhận xét quý báu cho luận văn này

Xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo vàcác em học sinh trường THPT A Thanh Liêm, Thanh Liêm, Hà Nam đã tạokiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực nghiệm và hoànthiện luận văn

Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, đồngnghiệp và đặc biệt là gia đình, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡtôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi nhất đểtôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11, năm 2014

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Bích Đào

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Khái niệm về câu hỏi 8

1.1.2 Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề 8

1.1.3 Đặc điểm và nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề 9

1.1.4 Vai trò của câu hỏi nêu vấn đề 14

1.1.5 Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn chương 16

1.1.6 Tràng giang và Đây thôn Vĩ Dạ chứa đựng những tiền đề cho việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề 28

1.2 Cơ sở thực tiễn 30

1.2.1 Giờ học Ngữ văn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể học sinh 30

1.2.2 Hạn chế trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học Ngữ văn 32 Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HAI TÁC PHẨM TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN VÀ ĐÂY THÔN VĨ DẠ CỦA HÀN MẶC TỬ Ở LỚP 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 34

2.1 Thực trạng 34

2.1.1 Khảo sát hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử thấy nhiều điểm không hợp lý 34

2.1.2.Nguyên nhân dẫn đến những bất hợp lý khi sử dụng các câu hỏi trong dạy học hai tác phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử 38

Trang 6

2.2 Định hướng xây dựng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học hai tác

phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử 40

2.2.1 Những yêu cầu chính đối với câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học hai tác phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử 40

2.2.2 Hai tác phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử chứa đựng những tiền đề cho việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề 42

2.3 Các bước chuẩn bị cho việc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học hai tác phẩm Tràng giang và Đây thôn Vĩ Dạ 54

2.3.1 Phát hiện vấn đề, tình huống có vấn đề, thiết kế giáo án là khâu đầu tiên trong quá trình xây dựng câu hỏi nêu vấn đề 54

2.3.2 Xây dựng tình huống có vấn đề, hoạt động mang tính tiền giả định để xây dựng câu hỏi nêu vấn đề cho phù hợp 55

2.3.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề 57

2.4 Điều kiện để vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học hai tác phẩm Tràng giang và Đây thôn Vĩ Dạ 58

2.4.1 Tạo tâm thế, môi trường học tập cho học sinh và đưa ra câu hỏi 58

2.4.2 Đổi mới vai trò, đề cao tính tích cực của người học, tạo không khí dân chủ trong giờ học 61

2.4.3 Sử dụng linh hoạt câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học 62

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63

3.1.Khái quát về thực nghiệm 63

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 63

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 63

3.1.3 Phương pháp thực nghiệm 63

3.1.4 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 64

3.1.5 Chuẩn bị công việc thực nghiệm 64

3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 65

3.2.1 Giáo án dạy học bài Tràng giang 65

3.2.2 Giáo án dạy học bài Đây thôn Vĩ Dạ 73

3.3 Thuyết minh hệ thống câu hỏi trong bài thực nghiệm 84

3.4 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 87

Trang 7

3.4.1 Đánh giá khả năng tiếp thu bài của học sinh bằng bài kiểm tra 87

3.4.2 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương pháp quan sát 90

3.4.3 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương pháp phỏng vấn 91

3.5 Thành công và hạn chế của thực nghiệm 92

3.5.1.Những thành công của thực nghiệm 92

3.5.2.Những vấn đề còn hạn chế 92

3.6 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

1 Kết luận 96

2 Khuyến nghị 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 101

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Thống kê số lượng câu hỏi trong dạy học học hai tác phẩm

Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử dựa

vào sách giáo khoa, giáo án và giờ dạy của đồng nghiệp. 35

Bảng 3.1 Thang điểm đánh giá 87

Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra lớp 11A2 88

Bảng 3.3 Kết quả bài kiểm tra lớp 11A6 88

Bảng 3.4 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng bài Tràng giang 88

Bảng 3.5 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài Đây thôn Vĩ Dạ 89

Trang 9

Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp giảng dạy là một trongnhững yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáodục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo.Vấn đề đổi mới phươngpháp dạy học rất được dư luận quan tâm Báo chí và các cơ quan truyền thông

đã mở nhiều cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề này Cũng là những tín hiệu đángmừng, nó phản ánh chủ trương mạnh dạn xã hội hóa giáo dục và quyết tâm đổimới giáo dục Đại học ở nước ta, trong điều kiện khách quan đã chín muồi: Phảidạy học trong môi trường dân chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa để có đượckhâu đột phá về mặt đào tạo chuyên sâu nguồn nhân lực

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Conngười và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá”, “coi phát triển giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ là nền tảng và là động lực , là giải pháp quan trọng nhất để nền giáo dục ở nước ta trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 có thể tiến kịp với sự phát triển của khoa học trên thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”.

1.2 Yêu cầu đổi mới phương pháp trong dạy học môn Ngữ văn

Thời gian luôn trôi chảy và vận động Không có gì là luôn đúng đắn và

Trang 10

mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học nói riêng là mộtvấn đề cấp thiết đang rất được quan tâm.

Theo điều 5 của Luật Giáo dục Việt Nam, yêu cầu cụ thể đối với phương pháp giáo dục là: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực

tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Cho nên

một nền giáo dục với những phương pháp lỗi thời sẽ không đáp ứng được nhucầu thực tế, không thể cho ra sản phẩm là những con người mới phù hợp vớiyêu cầu của thời đại

Riêng ở môn Ngữ văn, một thời gian dài, trong các nhà trường đã ápdụng phương pháp dạy học giáo điều Theo Trần Đình Sử, nói đến phươngpháp dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện nay không thể không nhắctới các hiện tượng rất phổ biến trong các giờ học văn hiện nay là: dạy học đọcchép; dạy học nhồi nhét; dạy học văn như nhà nghiên cứu khoa học; học sinhhọc thụ động, thiếu sáng tạo; học sinh không biết tự học; học tập thiếu hợp tácgiữa thầy và trò, giữa trò với trò; học tập thiếu hứng thú, đam mê

Từ thực tế như vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trởthành một yêu cầu cấp bách

1.3 Trong giờ dạy học tác phẩm văn chương, hệ thống câu hỏi của giáo viên luôn giữ vai trò quan trọng

Hiện nay phương pháp giảng dạy tích cực theo quan điểm "Lấy học sinh làm trung tâm” của quá trình dạy học đã được đưa vào ứng dụng trong hoạt

động dạy học nói chung, trong giờ học Ngữ văn nói riêng Để phát huy tínhtích cực của học sinh trong hoạt động học tập thì người giáo viên có nhiệm vụ

tổ chức chỉ đạo hoạt động của trò, trò phải là chủ thể tự giác tích cực trong quátrình lĩnh hội kiến thức Để thực hiện được mục tiêu đó, đặt câu hỏi có ý nghĩatăng cường tính tích cực chủ động của học sinh, chống lại thói quen thụ độngtrong giờ học Câu hỏi chính là phương tiện cho học sinh tự

Trang 11

học để giáo viên dẫn dắt học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức Nhưng đặtcâu hỏi như thế nào để giờ học đạt hiệu quả lại là một vấn đề cần phải trao đổi.

Trên thực tế đứng lớp, sau khi đi dự giờ góp ý tiết dạy, chúng tôi nhậnthấy việc đặt câu hỏi để khai thác kiến thức là vấn đề vô cùng quan trọng Tuynhiên, nhận thức cũng như cách xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trongdạy học của giáo viên còn rất nhiều hạn chế và bất cập Có những tiết dạy giáoviên đặt câu hỏi rất nhiều, câu hỏi nào học sinh cũng trả lời được, vì những câuhỏi đó học sinh chỉ cần nhìn vào sách giáo khoa đọc lên, không cần suy luận

Có những tiết dạy giáo viên chỉ sử dụng những câu hỏi ở trong sách giáo viên

và ở phần câu hỏi đọc - hiểu văn bản, như vậy thì khả năng phân tích, tìm hiểu,nêu suy nghĩ của các em sẽ không có, dẫn tới tình trạng khi viết văn lời vănkhô khan chỉ biết sao chép theo khuôn mẫu không sáng tạo Lại có những tiếtgiáo viên liên tục đặt nhiều câu hỏi không học sinh nào trả lời được, không khílớp học nặng nề nhưng giáo viên không gợi ý, không thay đổi câu hỏi mà lạiđọc lại câu hỏi đó, hỏi như vậy học sinh trả lời không hướng vào câu hỏi cũngnhư kiến thức bài học Có khi giáo viên gặp đâu hỏi đó, hỏi vụn vặt, hỏi “tấncông” học sinh đến khi nào không trả lời được mới thôi Chính những câu hỏinhư vậy khiến cho học sinh không hứng thú học mà lo sợ khi giáo viên đặt câuhỏi Để khơi dậy ở các em hứng thú và sự chủ động, tích cực, câu hỏi chính làphương tiện, là sự lựa chọn tối ưu của giáo viên

Hiện nay có rất nhiều hệ thống câu hỏi khác nhau được giáo viên sửdụng trong giờ học văn: câu hỏi tái hiện, câu hỏi gợi tìm, câu hỏi so sánh,…Vấn đề đặt ra ở đây là hệ thống câu hỏi nào giúp học sinh chủ động, tích cực,sáng tạo trong giờ học Riêng ở đề tài này, chúng tôi quan tâm đến việc giảng

dạy hai tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 11, đó là Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Đây là hai tác phẩm trữ tình tiêu

Trang 12

kỳ văn học trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Đã có nhiều công trìnhkhoa học, những bài viết nghiên cứu về cách giảng dạy hai tác phẩm này.Nhưng một tác phẩm luôn mở ra nhiều lối đi, đặc biệt là một tác phẩm đặc sắc.Làm sao để khơi dậy ở học sinh sự hứng thú và sự chủ động, tích cực, nhằmnâng cao hiệu quả giờ học là mong muốn của bất kì nhà sư phạm nào.

Xuất phát từ những lí do trên và thực tiễn giảng dạy của người viết,chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học haitác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận và “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử”nhằm góp thêm một tiếng nói về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học

2 Lịch sử vấn đề

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều những công trình khoahọc nghiên cứu dưới góc độ phương pháp luận về câu hỏi trong giờ dạy họcNgữ Văn

Ngay từ những năm trước Công nguyên vấn đề này đã gắn liền với têntuổi của nhà triết học Socrát (470 - 390 TCN), Khổng Tử (551 - 479 TCN) chorằng khi dạy học là đưa người học vào tình huống mâu thuẫn, tức là đặt ra cho

họ những câu hỏi bẫy để kích thích cho người học

Ở Liên Xô, các tài liệu đề cập đến phương pháp xây dựng và sử dụng câuhỏi trong dạy học của các tác giả như: P.B Gophman, O.Karlinxki, B.P.Exipop,M.A.Danilop, N.M.Veczilin Cũng đi sâu vào nghiên cứu và vấn đề này còn có một số

nhà giáo dục như: Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan) Gần đây đáng chú ý có công trình Đặt câu hỏi có hiệu quả cao (HEO) cách thức giúp học sinh tham gia tích cực vào các hoạt

động học tập của Ivan Hanel

Ở nước ta, các tài liệu nghiên cứu riêng về vấn đề câu hỏi và bài tập nhìnchung còn ít vấn đề nghiên cứu phương pháp xây dựng câu hỏi trong dạy học môn văn

được đề cập trong một số công trình như: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (2009) của Nguyễn Viết Chữ.

Trong cuốn Phương pháp dạy học Văn của Phan Trọng Luận (Chủ biên), tác

giả đề cập tới đặc điểm, vai trò và nguyên tắc của việc xây dựng hệ thống câu hỏi

Trang 13

gắn với phương pháp dạy học Tác giả bàn nhiều đến tiêu chí câu hỏi nêu vấn đề

và, điều đó có đóng góp đáng kể, làm phong phú thêm cho đề tài nghiên cứu.Khi tiến hành biên soạn sách giáo khoa cải cách, nói về Phương hướngbiên soạn sách giáo khoa cải cách lớp 10, Nguyễn Lộc đã đề cập đến vấn đềcâu hỏi và bài tập: Tuyệt đối tránh những câu hỏi mà học sinh không cầnnghiên cứu văn bản cũng có thể trả lời được đại khái, hay những câu hỏi chỉchú trọng mặt đạo đức xã hội của tác phẩm mà hoàn toàn coi nhẹ giá trị thẩm

mĩ của tác phẩm Phải nghiên cứu thật kỹ các văn bản giảng văn để nêu lênnhững câu hỏi cụ thể, gợi mở để học sinh có thể trả lời từng bước từ chi tiếtđến khái quát Bám sát câu hỏi, học sinh tự mình phát hiện ra cái hay, cái đẹpcủa văn bản Ý kiến trên đã thể hiện quan niệm về vai trò, ý nghĩa và tầm quantrọng của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Văn học kể cả nội dung khoahọc cũng như phương pháp sư phạm

Trong cuốn Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã đi sâu vào trình bày những biện pháp

nhằm rèn luyện tư duy cho học sinh Tác giả có phân loại các loại câu hỏi trong

dạy học Văn Theo tác giả, “Việc đặt câu hỏi đối với học sinh trong quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức”.

Như vậy, theo tác giả, hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ học Văn có ýnghĩa tạo ra các tình huống có vấn đề cho học sinh tìm hiểu và giúp học sinhtiếp nhận bài học một cách tích cực

Đi vào cụ thể hơn về vấn đề câu hỏi trong dạy học Văn là bài viết Câu hỏi trong giảng văn của Trương Dĩnh Tác giả đã phân tích khái niệm vấn đề, vấn

đề trong học tập và vấn đề trong phân tích văn học Theo ông, để diễn đạt vấn

đề hay đề ra nó, người ta dùng hình thức đặt câu hỏi Nội dung vấn đề và câuhỏi nêu vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau Đặt ra được các vấn đề dưới dạng

Trang 14

Cùng với nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, trường Đại học Giáo dục

đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo đề cập vấn đề dạy học với câu hỏi hiệu quả Hộithảo đã cung cấp nhiều bài nghiên cứu có giá trị về vấn đề này cũng như đưa ranhững tiêu chí đánh giá câu hỏi có hiệu quả

Trên đây là một số khái quát về vai trò của câu hỏi và trong dạy học vănqua một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Từ việc nghiên cứu trên

có thể thấy việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy học văn là vấn đềkhông mới Nhưng các công trình chỉ dừng lại ở việc lý luận về câu hỏi Cònviệc xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cho việc dạy và học hai tác phẩm

cụ thể là Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử thì

chưa có công trình hay bài viết nào Đây là một vấn đề hoàn toàn mới mà đề tàicủa chúng tôi quan tâm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong hai tác phẩm là Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử ở chương trình Ngữ

văn lớp 11, THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc đặt câu hỏi nêu vấn đề

- Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cho hai tác phẩm là Tràng giang

của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử ở chương trình Ngữ văn lớp

11, THPT

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học hai tác phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử ở chương trình Ngữ văn lớp

11, THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp cácphương pháp sau

Trang 15

5.1 Phương pháp điều tra

- Thu thập những thông tin về việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề

- Thu thập những thông tin ngược của học sinh về việc học hai tác phẩm

Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử ở chương trình

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụlục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng và những định hướng xây dựng câu hỏi nêu vấn

đề trong dạy học hai tác phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ

của Hàn Mặc Tử

Chương 3: Thực nghiệm

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về câu hỏi

Theo Arisotle: “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cái đã biết

và cái chưa biết.” Trong đời sống hàng ngày hay trong học tập, nghiên cứu

khoa học, con người chỉ đặt ra câu câu hỏi khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cầnphải tìm hiểu thêm Còn nếu đã biết hoặc chưa biết tất cả về các sự vật, hiệntượng nào đó thì không có gì phải hỏi Như vậy, tương quan giữa cái đã biết

và cái chưa biết sẽ thúc đẩy con người đặt ra các câu hỏi để mở rộng hiểu biết.Lúc ấy, câu hỏi thực sự là kết quả của quá trình nhận thức

Trong dạy học, câu hỏi được hiểu là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễnđạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh của người dạy mà người học cầngiải quyết Câu hỏi thường được đặt ra để tích cực hóa hoạt động của học sinh,

do vậy câu hỏi phải giúp học sinh phát triển tư duy, phát huy tính tích cực, chủđộng trong học tập của người học

1.1.2 Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề

Trong nhiều trường hợp khi đã xác định được vấn đề, nhờ câu hỏi nêuvấn đề mà giáo viên tạo được tình huống có vấn đề, tức là xác định được cáichưa biết, cuốn hút sự quan tâm của học sinh và tiên lượng trước khả năng giảiquyết vấn đề của các em

Câu hỏi có vấn đề là câu trả lời của HS có chứa đựng nội dung mới trongvấn đề GV đưa ra câu hỏi có vấn đề có tác dụng định hướng cho HS phát hiệnmâu thuẫn khách quan chuyển thành mâu thuẫn logic của chủ thể và đề xuấtphương án giải quyết vấn đề đó

Vũ Nho quan niệm: Câu hỏi nêu vấn đề không nhằm mục đích tái hiệnkiến thức cũng không nhằm khơi gợi sự tự biểu hiện của học sinh khi đánh giáchi tiết hay toàn bộ các tác phẩm văn học Câu hỏi nêu vấn đề phải làm rõ

Trang 17

được vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận thức cho họcsinh, phải động viên, khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu.

Câu hỏi nêu vấn đề phải làm rõ hoặc đặt ra được vấn đề, đưa người nghe

và tình huống có vấn đề Tính chất khái quát, tính chất phức tạp, tính chất hệthống và tính chất phù hợp với tác phẩm là đặc điểm của câu hỏi nêu vấn đề

Trong cuốn Phương pháp dạy học văn, Phan Trọng Luận cho rằng: câu

hỏi nêu vấn đề là loại câu hỏi đặt ra cho chủ thể học sinh và được học sinh tiếpnhận một cách có ý thức, không phải từ ngoài dội vào mà là do nhu cầu khámphá tìm hiểu của bản thân và chính học sinh cũng đã có một số dữ kiện (trithức kinh nghiệm kĩ năng) song không thể tìm được lời giải cũ bằng chínhnhững hiểu biết cũ và theo phương thức hành động cũ

Trong đề tài, chúng tôi quan niệm: Câu hỏi nêu vấn đề là hệ thống cấutrúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, đòi hỏi, một mệnh lệnh mà người họccần giải quyết, được xác lập dựa trên những vấn đề dặt ra trong tác phẩm nhằmyêu cầu học sinh vận dụng cái đã biêt, cái đã cho làm phương tiện để học sinh

chủ đông, tích cực giải quyết những yêu cầu đặt ra trong giờ học văn 1.1.3 Đặc điểm và nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề

1.1.3.1 Đặc điểm của câu hỏi nêu vấn đề

Thứ nhất, câu hỏi nêu vấn đề mang bản chất sáng tạo Những câu hỏi có

tính chất tái hiện chỉ đòi hỏi sự nhớ lại kiến thức cũ đã biết, yêu cầu chủ yếu trínhớ của học sinh mà không động viên sự tìm tòi của các em Còn câu hỏi nêuvấn đề về bản chất, nó mang tính chất sáng tạo, mang tính ý thức của chủ thểkhi tiếp nhận

Chẳng hạn:

Câu hỏi 1: Cảnh cho chữ trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn

Tuân được miêu tả như thế nào? ( câu hỏi tái hiện)

Trang 18

Câu hỏi 2: Trong tác phẩm Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã cho rằng:

cảnh cho chữ là cảnh tượng xưa nay chưa từng có Ý kiến của anh/ chịnhư thế nào? Hãy lí giải.(câu hỏi nêu vấn đề)

Trong câu hỏi nêu 1, học sinh chỉ cần dựa vào văn bản để đọc lại các chitiết được miêu tả trong cảnh Huấn Cao cho chữ quản ngục và trả lời Trong khi

đó, ở câu hỏi thứ 2 là dạng câu hỏi nêu vấn đề, rõ ràng học sinh phải huy độngtối đa kiến thức đã có khi đọc văn bản, dựa vào kiến thức đó để lý giải theocách mà học sinh tìm tòi, sáng tạo từ đó tìm ra câu trả lời thỏa đáng

Thứ hai, câu hỏi nêu vấn đề thường chứa đựng một mâu thuẫn nhận thức Câu hỏi nêu vấn đề đặt học sinh trước những mâu thuẫn về cái chưa biết

và cái đã biết, cái thông thường – cái bất thường, cái cũ – cái mới…Mâu thuẫn

đó làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của học sinh

Ví dụ: Trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, tại sao khi bị Thị Nở từ

chối, Chí Phèo nói là đi giết cô cháu Thị Nở, nhưng bước chân của hắn lại đếnthẳng nhà Bá Kiến?

Câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải nhớ lại những hành động của Bá Kiếnđối với Chí Phèo (đẩy Chí Phèo vào tù, khi Chí Phèo ra tù lại lợi dụng để biếnChí trở thành một kẻ lưu manh, một con quỷ dữ); đặc biệt học sinh phải phântích được tâm lí của Chí Phèo lúc này, đó là Chí Phèo đã tỉnh ngộ, đã nhậnthức được kẻ thù của mình Hắn nhận ra kẻ đã đẩy hắn vào bi kịch bị cự tuyệtkhông phải là cô cháu Thị Nở mà chính là Bá Kiến Từ những điều đã biết nhưthế, học sinh sẽ tìm tòi để tìm ra câu trả lời là cái chưa biết của mình Đó là tạisao bước chân của Chí Phèo lại đến thẳng nhà Bá Kiến

Khi giải quyết câu hỏi này, học sinh phải vừa vận dụng những kiến thức

đã biết, vừa phải tư duy để lí giải vấn đề có tính mâu thuẫn

Thứ ba, câu hỏi nêu vấn đề thường phản ánh được tâm trạng ngạc nhiên của học sinh khi nhận ra mâu thuẫn nhận thức, khi đụng chạm tới vấn đề.

Trang 19

Ví dụ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, nhân vật Mị khi bị

bắt về làm dâu nhà thống lí Pá Tra đã có ý định tự tử vì quá uất ức Vì thươngcha nên Mị không nỡ chết Nhưng sau một thời gian, khi cha Mị chết rồi, Mịkhông còn nghĩ đến cái chết nữa mà chấp nhận thân phận làm dâu gạt nợ Giáoviên có thể đặt câu hỏi: Tại sao lúc này Mị không nghĩ đến cái chết nữa? Khiđứng trước câu hỏi như vậy, học sinh sẽ có sự ngạc nhiên: Vì sao cùng mộtnhân vật lại nẩy sinh mâu thuẫn như vậy? Chính sự ngạc nhiên đó sẽ thúc đẩyhọc sinh suy nghĩ, tìm tòi và lí giải Đó là khi Mị muốn chết, Mị vẫn còn là một

cô gái trẻ trung, xinh đẹp, có khát vọng sống, khát khao hạnh phúc Mị muốnchết càng chứng tỏ cô có khát vọng hạnh phúc mãnh liệt, không chấp nhậnkiếp sống nô lệ, không có hạnh phúc Nhưng khi cha chết rồi, Mị lại khôngnghĩ đến cái chết Bởi lúc đó, ở lâu trong cái khổ, Mị quen rồi Sự chà đạp, ápchế của cha con thống lí đã khiến cho Mị tê liệt về ý thức, trở nên vô cảm, câmlặng và chấp nhận kiếp sống nô lệ Từ đó, học sinh thấy được cái nhìn hiệnthực, nhân đạo sâu sắc và sự am hiểu tâm lí nhân vật của nhà văn Tô Hoàitrong tác phẩm

1.1.3.2 Nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề

Nguyên tắc đầu tiên, đó là người dạy phải căn cứ vào đối tượng học sinh,xác định được mục tiêu, nội dung cụ thể trong mỗi giờ học Trước khi xâydựng câu hỏi giáo viên phải căn cứ vào đối tượng học sinh Với sự thay đổi cơchế trong dạy học Văn đó là đề cao nhân cách, năng lực học sinh, tôn trọng bảnlĩnh học sinh và tạo điều kiện để học sinh hình thành tư duy sáng tạo Câu hỏinêu vấn đề vì thế phải tập trung vào những đặc điểm then chốt, quan tâm đếnđối tượng tiếp nhận Cần chú ý vào đối học sinh đã có những năng lực trình độnào; học sinh có khả năng liên tưởng, tái hiện, so sánh liên hệ, phân tích, kháiquát hóa, phản ứng trước độ khó, hứng thú khi tiếp nhận ở mức độ nào… Giáoviên phải là người “nhập vai” học sinh để trên cơ sở đó

xây dựng câu hỏi cho phù hợp với tâm lý tiếp nhận, tránh những câu hỏi quá dễ

Trang 20

Bước tiếp theo là xác định mục tiêu: hình thành kiến thức, tư duy, kĩnăng, giáo dục tình cảm, tư tưởng…cho học sinh Với yêu cầu của một giờ học

cụ thể và đặc trưng môn học, lượng kiến thức, kĩ năng nào cần hình thành, giáoviên cần biết để đặt ra kế hoạch một cách chi tiết, cụ thể Câu hỏi sẽ có tínhđịnh hướng và tập trung cho mục tiêu

Nguyên tắc thứ hai, câu hỏi phải gắn với vấn đề và tình huống có vấn đề.Đây là nguyên tắc đặc thù của việc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề Bản thân tácphẩm tồn tại như một chỉnh thể thống nhất của nội dung, hình thức, tư tưởng.Không thể bỏ qua những chi tiết nghệ thuật có hàm lượng nghệ thuật cao, đó làđỉnh cảm xúc, điểm sáng nghệ thuật của tác phẩm Ở những chi tiết đó, tậptrung bút lực của người sáng tạo, là cửa sổ tư tưởng, tình cảm của tác phẩm, tácgiả và là nơi hội tụ của những dấu hiệu bản chất nghệ thuật tác phẩm Đó lànhững vùng, những điểm hội tụ của những hình thức mâu thuẫn nghệ thuật,của những xung đột thẩm mĩ, cái làm nên vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt của từngtác phẩm Nơi đó là địa chỉ thách thức khả năng tiếp nhận của học sinh, là mộttrong những cơ hội để bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm và đó còn là ngọn nguồncảm xúc của người đọc Vì vậy, câu hỏi phải làm rõ các vấn đề về đặc trưngthể loại, thi pháp của tác phẩm và vấn đề tư tưởng của tác phẩm Trước yêu cầu

đó, công việc đầu tiên của giáo viên khi tổ chức học sinh tiếp nhận giá trị tácphẩm là phải thâm nhập, khám phá với ý thức tìm kiếm, xác định được mâuthuẫn đặc thù của tác phẩm văn học và của hoạt động dạy học Mâu thuẫn đặcthù của chúng thể hiện qua mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức tác phẩm;mâu thuẫn giữa tác phẩm và yêu cầu tiếp nhận văn học với vốn tri thức hiện cócủa học sinh; mâu thuẫn giữa độc giả - người có nhiệm vụ phân tích, đánh giátác phẩm với nhau…

Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề phải dựa trên những “ vấn đề” đó để tạo ratình huống có vấn đề Có như vậy câu hỏi mới phát huy được tính chủ độngtích cực và phát triển tiềm năng sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận tác phẩmvăn chương ở học sinh

Trang 21

Ví dụ khi dạy tác phẩm Mùa thu câu cá (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến,

giáo viên đặt câu hỏi: “Khi cảm nhận về câu thơ: Lá vàng trước gió khẽ đưavèo, có ý kiến cho rằng đây đơn thuần là câu thơ tả cảnh thiên nhiên, nhưng ýkiến khác lại khẳng định, đằng sau hình ảnh thiên nhiên là tâm trạng của conngười Hãy nêu ý kiến của anh/ chị?” Đây là dạng câu hỏi nêu vấn đề dựa trênmâu thuẫn đặt ra giữa độc giả, người có nhiệm vụ phân tích, đánh giá tácphẩm Cùng một câu thơ có hai cách tiếp cận, cho nên đòi hỏi học sinh phảichủ động, tích cực tìm hiểu, phát huy sự sáng tạo của bản thân để xem xét, lígiải và đưa ra nhận định của bản thân Ở câu thơ của Nguyễn Khuyến, học sinh

sẽ lí giải được đây trước hết là câu thơ tả cảnh mùa thu với hình ảnh đặc trưng

là chiếc lá vàng rơi Nhưng đằng sau bức tranh thiên nhiên là nỗi niềm tâmtrạng của nhà thơ Điều đó thể hiện rất rõ qua cụm từ “đưa vèo” Chiếc lá vèođưa hay chính là trạng thái thảng thốt của con người trước sự đổi thay thời thế

Hoặc khi dạy bài thơ Tràng giang của Huy Cận, giáo viên đặt câu hỏi:

“Có người cho rằng Tràng giang là một bài thơ nói về những rung cảm của con

người trước vẻ đẹp của thiên nhiên Người khác lại cho rằng bài thơ hàm chứatình yêu đất nước Anh/chị đồng ý với ý kiến nào? Vì sao?”

Nguyên tắc thứ ba, câu hỏi phải mang tính hệ thống, liên tục Vấn đềtrong tác phẩm có thể có nhiều Nhưng khi biến những vấn đề đó thành câuhỏi, giáo viên cần phải tạo ra một hệ thống những câu hỏi có sự đan xen, tiếpnối và có mối quan hệ logic với nhau

Nguyên tắc thứ tư, câu hỏi nêu vấn đề phải đặt trong mối tương quan vớicác phương pháp khác.Mỗi phương pháp lại sử dụng một hệ thống câu hỏiriêng Trong một giờ học nói chung, giờ đọc văn nói riêng không có phươngpháp nào là tuyệt đối, cũng như không có hệ thống câu hỏi nào là duy nhất.Phương pháp đọc sáng tạo là bước đầu tiên và tất yếu cho việc xây dựng câuhỏi nêu vấn đề Không thể nào dạy và học mà không đọc tác phẩm vì chỉ có

Trang 22

đọc mới thâm nhập vào thế giới nội dung nghệ thuật tác phẩm, mới phát hiện

và khai thác vấn đề

Phương pháp tái hiện hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng câu hỏi nêu vấn

đề Phương pháp này sử dụng các câu hỏi tái hiện, trên cơ sở đó mới hìnhthành mâu thuẫn cái đã biết – cái chưa biết Đây chính là tiền đề cho sự xuất

hiện của cái mới Chẳng hạn khi dạy cảnh cho chữ trong tác phẩm Chữ người

tử tù của Nguyễn Tuân, giáo viên phải cho học sinh tái hiện lại cảnh cho chữ

bằng câu hỏi: Cảnh cho chữ diễn ra trong không gian, thời gian như thế nào?

Có những hình ảnh nào xuất hiện? Sau khi học sinh đã tái hiện lại, giáo viênmới có cơ sở để sử dụng phương pháp nêu vấn đề bằng câu hỏi nêu vấn đề: Vìsao nói cảnh cho chữ là cảnh tượng xưa nay chưa từng có? Nhờ vào các kiếnthức đã tái hiện ở trên, học sinh mới có thể lí giải vấn đề được đặt ra trong câuhỏi

Rõ ràng mỗi phương pháp lại có một đặc điểm, vai trò riêng Vì vậykhông thể tuyệt đối hóa hay cô lập hóa một phương pháp cũng như một hệthống câu hỏi Nếu quá lạm dụng không khí lớp học sẽ nặng nề, bài văn sẽ bịcắt vụn Điều đó chứng tỏ, rất cần sự kết hợp linh hoạt hợp lý giữa hệ thốngcâu hỏi nêu vấn đề với các phương pháp khác Để thực hiện được nguyên tắcnày, giáo viên cần biết xây dựng bao nhiêu câu hỏi là vừa đủ, dung lượng kiếnthức, đặt câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ khi có điều kiện cho phép

1.1.4 Vai trò của câu hỏi nêu vấn đề

1.1.4.1 Câu hỏi nêu vấn đề phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của

học sinh

Khác với câu hỏi tái hiện, câu hỏi nêu vấn đề không lấy phương thứctruyền thụ là chính mà chủ yếu tổ chức cho học sinh tìm tòi phát hiện Trongquá trình tiếp cận và chấp nhận nhiệm vụ học tập thông qua câu hỏi nêu vấn

đề, ở học sinh diễn ra một quá trình biến động, biến đổi về trạng thái tâm lý vàtâm thế hoạt động tiếp nhận văn học: những khó khăn về nhận thức do

Trang 23

câu hỏi nêu vấn đề đưa tới chuyển hóa thành hứng thú và cảm xúc học tập ởngười học.

Khi tiếp nhận tác phẩm, học sinh cũng là một bạn đọc nên vẫn có nhữngsuy nghĩ riêng, độc lập của mình Mỗi học sinh là một cách hiểu khác nhau,nên câu hỏi nêu vấn đề sẽ tạo cho mỗi học sinh một tâm thế hiểu của riêngmình Hoạt động suy nghĩ và trả lời những câu hỏi giáo viên đưa ra thoả mãn

sự tiếp cận và khám phá đó Nhiều ý kiến xuất phát từ thực tế đã thừa nhận ởhọc sinh ít tuổi vẫn có thể tinh nhạy trong cảm xúc thẩm mỹ và sáng suốt trong

ý nghĩa tác phẩm văn học Với năng lực ấy, học sinh xứng đáng là người đọcbình đẳng để đối thoại với tác giả, với tác phẩm, với giáo viên và những ngườicùng thời về những gì chứa trong tác phẩm và được tác phẩm văn học khơi gợi

ra Bằng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề để học sinh tiếp xúc trực tiếp, được khámphá và được thưởng thức “chất văn”, nghĩa là được thể nghiệm, nếm trải vàhiểu sâu thêm những việc đời, việc người, việc mình chân thực sẽ phát huy chủthể sáng tạo tích cực trong dạy Văn

1.1.4.2 Câu hỏi là phương tiện để giáo viên thực hiện nhiệm vụ, vai trò của

mình trong giờ dạy tác phẩm văn chương

Đặt câu hỏi giúp giáo viên đánh giá được năng lực của học sinh Mặtkhác, thông tin phản hồi từ phía người học giúp giáo viên có những điều chỉnhphù hợp Việc đặt câu hỏi còn nâng cao tầm hiểu biết của giáo viên bởi vì hỏicũng là một cách bổ ích cho việc đi sâu vào nội dung bài học

Thật vậy, việc xác định nhiệm vụ của người giáo viên dạy Văn được gắnliền với việc xác định đặc trưng bản chất của môn văn trong nhà trường phổthông Phan Trọng Luận đã chỉ ra rằng: Văn học trong nhà trường vừa mangtính chất nghệ thuật ngôn từ vừa mang tính chất môn học

Trước hết, chúng ta thấy rằng văn học trong nhà trường được xem là mộtmôn học tạo nên sự phát triển toàn diện trong nhân cách học sinh Vì vậy cũngnhư các bộ môn: Toán học, Vật lý, Hoá học … môn Ngữ văn cung cấp kiến

Trang 24

điều kiện cho học sinh tiếp xúc với văn bản nghệ thuật ngôn từ để trên cơ sở

đó, xây dựng cho các em những quan điểm đúng đắn và niềm tin vào conngười, vào cuộc sống xã hội, tương lai tốt đẹp là những yêu cầu cụ thể củangười giáo viên Hơn thế nữa giáo viên còn phải hoàn thiện dần cho các emtrình độ ngôn ngữ và khả năng nắm bắt, năng lực cảm thụ, trình độ phân tíchngôn ngữ nghệ thuật, giúp các em nhận thức được những quy luật cơ bản củanghệ thuật ngôn từ Trong khi đặt câu hỏi giáo viên là người hướng dẫn, ngườikhơi gợi dẫn đường cho học sinh đi tìm vấn đề, còn học sinh chính là nhữngngười học thực sự, phải tích cực hoạt động trên lớp để hoàn thành các yêu cầu,nhiệm vụ học tập

Với đặc điểm là môn học mang tính chất của loại hình nghệ thuật ngôn

từ, tính nghệ thuật và tính hình tượng của mỗi tác phẩm vẫn luôn giữ nguyêngiá trị của nó, thâm chí còn ở mức rất cao Do đó, nhiệm vụ quan trọng bậcnhất của người giáo viên văn đâu chỉ cung cấp cho học sinh những tri thứckhoa học về văn học một cách hệ thống và toàn diện mà còn khơi dậy ở họcsinh những rung động thẩm mỹ, những cảm xúc vốn có ở các em Vì vậy,người giáo viên sẽ phát huy vai trò của người đầu tàu để hướng học sinh vàonhững cách hiểu đúng nhất tránh đi chệch hướng Dưới sự hướng dẫn của giáoviên, học sinh sẽ đi vào những cách hiểu của riêng mình và tích cực chủ độngbộc lộ những cách hiểu đó Cần thiết phải hình thành ở các em năng lực cảmthụ, rung động thẩm mỹ để xây dựng một tâm hồn, một nhân cách cao đẹp.Công cụ mà giáo viên thực hiện nhiệm vụ và vai trò đó không thể không nhắctới hệ thống câu hỏi nêu vấn đề để cùng học sinh tương tác trên con đườngchiếm lĩnh tác phẩm văn chương

1.1.5 Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn chương

1.1.5.1 Câu hỏi mâu thuẫn

Loại câu hỏi này được xây dựng dựa trên những điều vô lý, không phùhợp với quy luật, lý thuyết đã thừa nhận chung Xây dựng hệ thống câu hỏi nàykhi có sự không phù hợp giữa hình thức và nội dung, giữa nội dung này

Trang 25

và nội dung khác hoặc giữa hình thức với hình thức trong một chỉnh thể tácphẩm văn học Rộng hơn có thể có cả mâu thuẫn trong cách đánh giá và tiếpnhận tác phẩm văn học đó Chẳng hạn khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nhân

vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, giáo viên đưa ra tình

huống với câu hỏi nêu vấn đề: Khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói, Mị thờ ơ vô

cảm “nếu A Phủ có là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi”, nhưng sau đó, Mị

lại quyết định cắt dây trói cứu A Phủ Thái độ và hành động của nhân vật cómâu thuẫn không? Vì sao? Khi đứng trước câu hỏi nêu vấn đề như vậy, họcsinh sẽ phải lí giải được thái độ thờ ơ vô cảm của Mị trước cảnh A Phủ bị trói

có thể hiểu đó là kết quả của chuỗi ngày Mị sống trong nhà thống lí, bị đầyđọa, bị tiêu diệt đời sống tinh thần Nhưng khi chứng kiến giọt nước mắt chảyxuống từ hai hõm má đã đen lại của A Phủ thì Mị đã thức tỉnh Mị đi từ cõiquên sang cõi nhớ, từ vô cảm đến đồng cảm, từ thương mình đến thươngngười Hành động cắt dây trói cứu người của Mị phù hợp với quy luật tâm lí,phù hợp với tính cách của Mị Khi lí giải mâu thuẫn trong thái độ và hành độngcủa nhân vật Mị, học sinh sẽ thấy được sức sống tiềm tàng của nhân vật và thấyđược ngòi bút phân tích tâm lí bậc thầy của nhà văn Tô Hoài

1.1.5.2 Câu hỏi bất ngờ.

Câu hỏi này được tạo ra bằng các sự kiện bất ngờ hoặc bất bình thường.Câu hỏi thường nhằm vào sự thông thường và cái khác thường trong nội dung,nghệ thuật và giá trị tác phẩm

Tình huống đặt ra ở dạng câu hỏi nêu vấn đề này đòi hỏi học sinh phảihuy động những kiến thức tổng hợp để lí giải những vấn đề khó khăn mà tácphẩm đặt ra Giải quyết được vấn đề có nghĩa là học sinh đã tự nhiên chiếmlĩnh được tri thức Bởi vậy, trong khi dạy học tác phẩm văn học giáo viên cầnchú ý phát hiện tình huống nghịch lí từ những điều trái với tự nhiên, trái với lẽthường trong cuộc sống và nêu ra để học sinh tham gia giải quyết Tình huốngnày sẽ giúp các em ngộ ra được nhiều điều bổ ích, mới mẻ trong bài học và

Trang 26

Ví dụ 1 : Văn bản Tràng giang (Huy Cận)

Câu hỏi : Tại sao “Tràng giang” có nghĩ là sông dài và “Trường

giang” cũng có nghĩa là sông dài, tác giả không dùng từ “Trường giang”?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

- Từ Hán Việt “Tràng giang” - Học sinh sẽ hiểu được sự(sông dài): gợi không khí cổ kính giống và khác nhau trong cách

- Hiệp vần “ang”: tạo dư âm dùng từ “trường giang” và “tràngvang xa, trầm lắng, mênh mang; không giang” trong nhan đề bài thơ

chỉ gợi con sông dài mà còn tạo độ mở - Thấy được cái hay, sự phù

về chiều rộng; trường giang là cách hợp trong cách dùng từ tràngdiễn đạt mới trong khi đó trường giang giang ở nhan đề của tác phẩm

dễ nhầm lẫn với tên một con sông ở

Trung Quốc

 Gợi không khí cổ kính, kháiquát nỗi buồn mênh mang, rợn ngợp

Ví dụ 2 : Văn bản Tấm Cám

Câu hỏi : Về hành động trả thù của Tấm, có bạn học sinh cho rằng: Cô

Tấm thực ra không hiền như lâu nay chúng ta vẫn nghĩ( Quả thị thơm cô Tấm

rất hiền) mà trái lại rất ghê gớm, thậm chí có phần độc ác vì hành động giết

người trả thù của Tấm cũng độc ác không kém hành động giết hại Tấm của mẹ

con Cám Suy nghĩ của anh (chị ) thế nào?

Trang 27

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

- Tấm là nhân vật văn học đại - Học sinh có cơ hội củngdiện cho cái thiện mà nhân dân lao cố và tích hợp kiến thức vì cầnđộng sáng tạo ra để thể hiện quan phải huy động những kiến thức vềniệm, thái độ của mình về cuộc sống tác phẩm, về thể loại truyện cổCái tư tưởng cốt lõi mà dân gian muốn tích, về tư tưởng của dân gian mớigửi gắm đến người đọc, người nghe là: có thể lí giải được vấn đề

“thiện luôn thắng ác”, “ở hiền gặp lành, - Các em được tự bộc lộ suy

ở ác gặp ác” Với suy nghĩ như thế, dân nghĩ riêng của bản thân, được đặtgian không cho rằng hành động của mình vào vị trí của Tấm, của tácTấm là độc ác thậm chí là cần thiết đối giả dân gian để lí giải hành độngvới Cám tức là kẻ ác cần bị trừng trị của Tấm Từ đó, hiểu được nội

- Hiền không đồng nghĩa với tác giả dân gian muốn gửi gắm nhút nhát,

sợ hãi, nhường nhịn hay là qua nhân vật

chịu khuất phục trước cái ác, cái xấu - Học sinh hiểu sâu hơnTrong quan niệm của dân gian là “ đi những triết lí sống của dân gian vàvới bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo rút ra cho mình những bài học bổ

sống “gieo gió gặt bão”, “nhân nàoquả ấy”, “ác giả ác báo”, “đi vớibụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áogiấy”

Ví dụ 3: Bài Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) Tình huống: Nguyễn Khuyến là nhà thơ yêu nước Thế nhưng trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, ông quan to nhà Nguyễn này

đã không đứng ra giúp dân giúp nước mà lại về ở ẩn và tìm thú vui với cảnh “

Trang 28

tựa gối ôm cần” nơi thôn dã Điều này có gì mâu thuẫn? Anh (chị ) thử lí giải?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

Nguyễn Khuyến là một vị quan - Học sinh huy động được

to triều Nguyễn, yêu nước thương dân kiến thức tổng hợp về hoàn cảnhnhưng bất lực trước thời cuộc, không lịch sử triều đình nhà Nguyễn,cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp cùng cảm nhận, miêu tả của tác giảnên đã cáo bệnh từ quan “Tựa gối ôm về bức tranh mùa thu để hiểu tìnhcần” là tư thế của một người câu cá, cảnh, tâm sự của nhà thơ Từ đó,cũng là một tâm thế nhàn thoát vòng các em thấy được tâm trạng rấtdanh lợi tầm thường của bậc ẩn sĩ đáng cảm thông, rất đáng trân

trọng ở nhà thơ Nguyễn Khuyến

- Không chỉ hiểu tâm sự củaNguyễn Khuyến trong bài thơ, họcsinh còn có cơ sở để hiểu rộng hơn

về tâm trạng và quan điểm xử thếcủa những nhà nho yêu nước thờiphong kiến: “lánh đục về trong” đểgiữ gìn tiết tháo (ví dụ nhưNguyễn Trãi, Nguyễn BỉnhKhiêm…)

1.1.5.3 Câu hỏi lựa chọn

Câu hỏi lựa chọn là tình huống giáo viên đặt học sinh trước một sự lựa

chọn rất khó khăn Học sinh được chọn một giải pháp trước hai hay nhiều

phương án giải quyết mà cái nào cũng có vẻ như có lí, có sức hấp dẫn Tình

huống này đòi hỏi học sinh phải bộc lộ quan điểm, thái độ của bản thân với

Trang 29

mỗi vấn đề được nêu ra Qua đây, phát huy được tính tích cực chủ động của

mỗi học sinh và tăng hứng thú của các em trong mỗi giờ học

Ví dụ 1 : Văn bản Tràng giang (Huy Cận)

Câu hỏi: Tại sao Huy Cận lại có cách kết hợp từ sâu chót vót mà không

phải là cao chót vót trong câu thơ: Nắng xuống, trời lên sâu chót vót?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

- Cao chót vót chỉ đơn thuần chỉ - Học sinh được tự bộc lộ

- Hình ảnh: Trời sâu chót vót thân, không khí giờ học sôi nổi

cho thấy cách dùng từ tài tình Nắng hơn

xuống đến đâu như đẩy bầu trời cao tới - Học sinh so sánh để thấy

đó Chữ sâu kết hợp với từ láy chót vót được cái hay, cái tinh tế trong cách

và biện pháp đối lập giữa lên và xuống dùng từ của nhà thơ, đồng thời

đã diễn tả được chiều cao thăm thẳm, hiểu sâu hơn ý nghĩa của hình ảnh

khôn cùng, như vẽ lên cái thiên địa vô thơ

thủy vô chung, vô cùng vô tận - Rèn được kĩ năng lựa chọn

từ ngữ khi sử dụng

Ví dụ 2 : Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

Câu hỏi: Đây là bài thơ về tình yêu hay tình quê?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

Không nên khẳng định chỉ có - Học sinh được tự bộc lộtình yêu hay tình quê mà cả hai hòa suy nghĩ, quan điểm riêng của bảnquyện trong cảm xúc của nhà thơ khi thân, không khí giờ học sôi nổi

- Trước hết đây là bài thơ về - Học sinh nắm được chủ đề

Trang 30

tình yêu.Tình yêu của nhà thơ vớingười con gái thôn Vĩ Dạ và bài thơđược viết tặng cô gái ấy.

- Xuyên qua sương khói hư ảo của

tình yêu mơ mộng là tình quê, là tình yêu tha

thiết, đằm thắm với quê hương đất nước

của tác phẩm và hiểu sâu sắc hơn

về nội dung của bài thơ

Ví dụ 3: Bài Tràng giang (Huy Cận) Tình huống: Có người cho rằng “Tràng giang” là một bài thơ nói về những rung cảm của con người trước vẻ đẹp của thiên nhiên Người khác lại

cho rằng bài thơ hàm chứa tình yêu đất nước Anh (chị) đồng ý với ý kiến nào?

Vì sao?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

Chấp nhận cả hai cách hiểu: bài - Học sinh được rèn luyệnthơ là cảm xúc của con người trước khả năng nhận xét, đánh giá vàthiên nhiên đồng thời tâm trạng trong bộc lộ quan điểm riêng

bài thơ cũng “dọn đường cho lòng yêu - Qua việc trả lời câu hỏi họcgiang san đất nước” (Xuân Diệu) sinh rút ra được chủ đề tư tưởng của

tác phẩm: Bài thơ là nỗi sầu của mộtcái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộnglớn, trong đó thấm đượm tình người,tình đời, lòng yêu nước thầm kín màthiết tha

1.1.5.4 Câu hỏi phản bác

Câu hỏi phản bác là tình huống giáo viên cố tình đưa ra ý kiến sai lệch,thiếu chính xác để học sinh dùng lập luận bác bỏ ý kiến này và đưa ra ý kiến

Trang 31

đúng đắn trên cơ sở đó nắm vững nội dung bài học Tình huống này đòi hỏi

học sinh phải biết dùng lí lẽ và dẫn chứng để bác bỏ ý kiến sai lệch và thuyết

phục mọi người bằng ý kiến đúng Giải quyết được tình huống học sinh sẽ

tránh được cách hiểu vấn đề thiên lệch, thiếu chính xác

Ví dụ 1: Bài Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

Tình huống: Có người cho rằng “mặt chữ điền” là mặt người đàn ông,

người khác lại nói đó là mặt người con gái Suy nghĩ của em như thế nào?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

+ “Mặt chữ điền”: là biểu tượng - Học sinh được rèn luyệncủa nét đẹp phúc hậu, hiền lành khả năng nhận xét, đánh giá và

+ đặt hình ảnh “mặt chữ điền” bộc lộ quan điểm riêng.

cạnh hình ảnh “lá trúc che ngang”: - Hiểu chính xác hình ảnhgợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của con được miêu tả trong câu thơ

Ví dụ 2: Bài Vội vàng ( Xuân Diệu)

Câu hỏi: Học xong bài “Vội vàng” có bạn học sinh cho rằng cuộc đời là

hữu hạn và tuổi trẻ thật ngắn ngủi Vì vậy, từ khi còn trẻ phải biết tìm cách tận

hưởng mọi thú vui của cuộc sống kẻo sau này hối tiếc Anh( chị) có đồng tình

với suy nghĩ này không? Vì sao?

Trang 32

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

Đây là cách hiểu chưa đúng về lẽ - Học sinh hiểu đúng đắn vềsống vội vàng của Xuân Diệu Ta nên triết lí sống vội vàng của Xuânhiểu bài thơ là lời giục giã thanh niên Diệu

hãy sống mê say, mãnh liệt, hết mình, - Các em rút ra được bài họchãy nâng niu từng phút, từng giây của bổ ích cho bản thân: sống khôngcuộc đời và tuổi trẻ để tận hiến và tận phải chỉ để tận hưởng mà còn phảihưởng, hãy sống sao cho mỗi giây phút tận hiến, phải làm sao để hài hòatrôi qua tràn đầy ý nghĩa giữa cá nhân và tập thể, riêng và

chung, sống hết mình và sống cóích cho mọi người

Ví dụ 3: Bài Thương vợ( Trần Tế Xương) Tình huống: Có ý kiến cho rằng hai câu thơ:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không”

Là tiếng chửi đầy căm phẫn của Bà Tú khi bất lực trước hoàn cảnh Theo anh (chị) ý kiến này có đúng không? Ý nghĩa của tiếng chửi đó là gì?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

- Đây không phải là lời của bà - Học sinh hiểu rõ nỗi niềm

Tú, vì từ đầu đến cuối bài thơ hình ảnh tâm sự và nhân cách cao đẹp của

bà Tú chỉ hiện lên gián tiếp qua nỗi Tú Xương

- Tiếng chửi đó trực tiếp thể hiện những bất công, thiệt thòi mà những

suy nghĩ, trăn trở của Tú người phụ nữ trong xã hội phong Xương Nhà thơ tự rủa mình

vô tích sự, kiến phải chịu đựng từ đó thông

khiến vợ phải khổ nhưng rộng hơn ý cảm sâu sắc với họ

Trang 33

nghĩa rủa mình là tác giả chửi “thói

đời” bạc bẽo khiến cho người phụ nữ

phải chịu nhiều thiệt thòi, bất công

Qua tiếng chửi người đọc thấy được

hình ảnh một Tú Xương đầy tâm sự,

suy tư, một Tú Xương có nhân cách

cao đẹp giàu lòng yêu thương, cảm

thông và tự trọng

1.1.5.5 Câu hỏi giả định

Tình huống giả định là tình huống giáo viên nêu ra một số giả thiết nào

đó khi phân tích tác phẩm văn học để làm rõ vấn đề hay sự việc cần tìm hiểu

Tình huống này giúp học sinh được biểu lộ năng lực thích ứng trong tình

huống của cuộc sống, học sinh được nhập vai để phát huy trí tưởng tượng và

năng lực sáng tạo

Với tình huống này, giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh giải quyết bằng

cách phát biểu ý kiến cá nhân, sau đó nhận xét, đánh giá và nêu định hướng

chung để làm rõ vấn đề cần tìm hiểu

Ví dụ 1 : Bài Chí Phèo (Nam Cao).

Câu hỏi: Thử hình dung sau khi giết Bá Kiến, Chí Phèo không tự sát thì cuộc sống của hắn tiếp đó sẽ ra sao? Từ đó, anh (chị) có nhận xét gì về

sự lựa chọn của Chí Phèo?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khihuống của giáo viên giải quyết tình huống

Sau cái chết của Bá Kiến, dân - Học sinh được phát huy trílàng Vũ Đại ( kể cả Thị Nở) càng ghê tưởng tượng phong phú và năng

sợ và xa lánh Chí; Lí Cường sẽ cho lực sáng tạo dồi dào khiến giờ họcngười đánh đập, hành hạ Chí Phèo để thêm sôi nổi, hấp dẫn

Trang 34

Chí sống không bằng chết cũng có thể - Học sinh thấm thía hơn bihăn sẽ bỏ tù Chí Phèo để trả thù cho kịch bị cự tuyệt quyền làm ngườibố… Và dù có khát khao lương thiện của Chí Phèo Qua đó, hiểu đầy đủđến cháy bỏng, Chí vẫn phải sống nốt về tội ác của cái xã hội tàn bạophần đời còn lại trong cô độc và tuyệt đương thời.

vọng, trong men say và tội lỗi Qua đó,

ta hiểu rằng chỉ có cái chết mới giúp

Chí Phèo thoát khỏi bi kịch đau đớn ấy

và tự sát là cách duy nhất để Chí Phèo

được chết như một con người

Ví dụ 2: Bài Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

Tình huống: Giả sử nhà văn để cho người nghệ sĩ chứng kiến bi kịch của gia đình hàng chài hôm trước rồi sáng hôm sau mới phát hiện vẻ đẹp

của cảnh biển mờ sương thì có được không? Vì sao? Từ đó, anh (chị) hãy đọc

ra ý tưởng nghệ thuật của nhà văn về cách nhìn nhận và đánh giá con người

và mọi sự vật, hiện tượng trong đời sống?

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khihuống của giáo viên giải quyết tình huống

Không thể đảo như thế, vì nhà - Học sinh nắm chắc được ývăn đã có dụng ý khi để cảnh tượng đồ nghệ thuật của nhà văn khi sắp

“trời cho” hiện ra trước như một vỏ xếp các chi tiết theo trình tự củabọc bên ngoài hòng che giấu cái bản nó Từ đây, các em rút ra bài họcchất thực sự của đời sống bên trong về lựa chọn chi tiết, sự việc tiêuNhà văn khẳng định: Đừng nhầm lẫn biểu trong tác phẩm tự sự

hiện tượng với bản chất, giữa hình thức - Học sinh rút ra được bàibên ngoài với nội dung bên trong học trong cuộc sống: không nênkhông phải bao giờ cũng có sự thống đánh giá con người, sự vật ở dángnhất; đừng vội đánh giá con người, sự vẻ bên ngoài mà phải phát hiện ra

Trang 35

vật ở dáng vẻ bên ngoài, phải phát hiện bản chất thực sau vẻ bề ngoài ấy vì

ra bản chất thực sau vẻ ngoài đẹp đẽ giữa nội dung bên trong và hình

cũng có sự thống nhất

Ví dụ 3: Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy Tình huống: Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.

Định hướng giải quyết tình Kết quả đạt được sau khi

Có thể kể và kết thúc theo nhiều - Học sinh được rèn luyện kĩcách khác nhau miễn là bài viết có tính năng làm văn tự sự, được nhập vaithuyết phục và phù hợp với ý đồ nghệ đồng sáng tạo với tác giả

thuật của tác giả dân gian: - Học sinh hiểu sâu sắc hơn

- Gặp lại Trọng Thủy dưới thủy giá trị tư tưởng và giá trị nghệ cung , Mị

Châu nặng lời phê phán rồi thuật của tác phẩm đặc biệt là đặc

quay đi, bỏ mặc Trọng Thủy đầu tóc bơ điểm của thể loại truyền thuyết.phờ, nét mặt đau khổ, dáng hình mờ - Qua bài văn tự sự củadần và tan trong dòng nước xanh mình các em cũng đã bày tỏ nhiều

- Mị Châu bình tĩnh phân tích quan niệm sống hay như: phải biết mọi lẽ

đúng, sai lúc hai người còn khát vọng nhưng không nên tham sống Hiểu lời Mị Châu,

Trọng Thủy vọng, phải biết thông cảm và tha rất ân hận, muốn nối lại duyên xưa thứ…

Tuy cảm động trước thái độ ấy của

Trọng Thủy nhưng Mị Châu không

chấp nhận Nàng tỏ ý muốn “đem tình

cầm sắt đổi ra cầm kì”

Trang 36

1.1.6 Tràng giang và Đây thôn Vĩ Dạ chứa đựng những tiền đề cho việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề

Gần một thể kỷ đã trôi qua, kể từ ngày phong trào Thơ mới ra đời (1932)

và cũng chừng ấy thời gian để cho người yêu thơ đọc và suy ngẫm Đến hômnay, Thơ mới vẫn nguyên giá trị và khẳng định vị thế của mình đối với nền thơ

ca Việt Nam nói riêng cùng như đối với tiến trình văn học Việt Nam nóichung “Chỉ cần giả sử nếu không có Thơ mới cũng không có Thế Lữ, LưuTrọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính,Anh Thơ thì thơ ca sẽ nghèo đi bao nhiêu, sẽ mất đi rất nhiều hương sắc vàthiếu đi nhiều mặt để cho một nền thơ ca dân tộc đạt đến tính hiện đại”[1, tr.68], “Thơ mới là một bước phát triển quan trọng xét về mặt nào đó là cả mộtcuộc cách mạng trong tiến trình của thơ ca Việt Nam, đưa thơ cổ điển ViệtNam đạt đến hiện đại cả về mặt biểu hiện cũng như cảm hứng thơ ca”[16, tr.69] “Phong trào Thơ mới là một cuộc cách mạng thi ca chưa từng có trong lịch

sử văn học dân tộc Nó chẳng những đem lại những tác phẩm hay, những nhàthơ độc đáo…, nhưng đặc biệt là đem đến một phạm trù thơ hiện đại, một thipháp mới, một kiểu trữ tình mới…”[16, tr.149] Chỉ trong vòng 15 năm pháttriển, Thơ mới đã có những thành tựu lớn góp phần to lớn đối với sự phát triểncủa nền thơ ca nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung

Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử đều là

hai tuyệt phẩm của phong trào Thơ mới Đây là hai tác phẩm tiêu biểu chophong cách nghệ thuật của hai tác giả Huy Cận và Hàn Mặc Tử, cũng là hai bàithơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới

1.1.6.1 Tràng giang của Huy Cận đặt ra nhiều vấn đề cần được khám phá.

Huy Cận (1919-2005) là một tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới.Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng triết lí

Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Huy

Cận và là một trong số không nhiều thi phẩm tuyệt tác của phong trào

Trang 37

Thơ mới Trong tư cách là một bài thơ mới, Tràng giang có nhiều cách tân, tìm

tòi mới mẻ Chẳng hạn, một phong thái diễn đạt cảm xúc mới, một điệu hồnsâu lắng, rợn ngợp cô đơn của cái Tôi hiện đại, những cách tân trong nhịp thơ

để tăng chất nhạc và những lựa chọn táo bạo về hình ảnh, ngôn ngữ gây ấntượng sâu sắc

Tuy nhiên, Tràng giang còn là một thi phẩm được viết trên tinh thần

không khước từ với truyền thống Trái lại, tác giả vận dụng được nhiều nét tinhhoa của văn chương trung đại và tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hài hoà giữa màusắc cổ điển và màu sắc hiện đại phù hợp với phong cách thơ giàu suy tưởng củachính mình

Có thể coi nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Tràng giang là ở sự kết

hợp hài hoà hai phẩm chất: màu sắc cổ điển và chất hiện đại

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của mộtcái tôi cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễnđạt cô đọng và hàm súc Tâm trạng của một cái tôi lãng mạn đó lại được thểhiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ qui tắc ước lệ truyền thống vừa đem đếnmột phong cách trữ tình mới

1.1.6.2 Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử đặt ra nhiều vấn đề cần được khám

phá

Hàn Mặc Tử (1912-1940) là một trong những nhân vật bí ẩn và kỳ lạnhất của văn học Việt Nam hiện đại Như “một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trờivăn học”, với mười năm sáng tác, Hàn Mặc Tử đã kiến trúc một ngôi nhà thơcủa riêng mình vừa khuôn thước, mẫu mực vừa phiêu bồng, biến ảo và vượtthoát khiến những nhà nghiên cứu văn học từ trước tới nay vừa hứng thú, vừabối rối trong những phỏng đoán “Hàn Mặc Tử, anh là ai”? Cổ điển hay là tân

kỳ, huyền thoại hay là hiện thực, thiên tài hay là kẻ mê hoặc, điên loạn Nhưng

dù Hàn Mặc Tử là như thế nào, có một điều không thể phủ nhận: ông đã để lạidấu ấn không nhòa phai trong lịch sử văn chương dân tộc

Trang 38

Đây thôn Vĩ Dạ rút trong tập Thơ điên (sau đổi thành Đau thương) của

Hàn Mặc Tử ra đời năm 1938 Bài thơ được sáng tác khi nhà thơ đã lâm bệnhnặng và không còn cơ hội để trở lại với cuộc sống đời thường Bài thơ mang vẻđẹp huyền ảo và trong sáng Thực và hư hoà quyện tạo nên vẻ riêng cho cảmxúc Chu Văn Sơn đã nói: “Chắc là hiếm có bài thơ nào trong trẻo mà đầy bí ẩnđến như Đây thôn Vĩ Giạ”[20, tr 135] Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết củatác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỉ niệm ngọt ngào, đồngthời thể hiện khát khao được sống, được yêu Đây cũng là những cố gắng cuốicùng của thi sĩ để níu lại trong mình những giây phút ngọt ngào của cuộc sốngtrần thế Cảnh thì đẹp mà tình thì buồn là sự thể hiện đầy đủ nhất tình yêu cuộcsống của thi sĩ bất hạnh mà đầy tài năng này

Trong dạy học môn Ngữ văn, giáo viên mặc dù đã có ý thức đổi mớiphương pháp dạy học văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hìnhthức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Một số giáo viênvẫn còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viêngiảng giải, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều màgiáo viên đã truyền đạt Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh,

áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới họcsinh Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức củahọc sinh cũng như việc chỉ ra cho người học con đường tích cực chủ

Trang 39

động để thu nhận kiến thức Do đó, có những giờ dạy được giáo viên tiến hànhnhư một giờ diễn thuyết, thậm chí giáo viên còn đọc chậm cho học sinh chéplại những gì có sẵn ở giáo án Giờ học tác phẩm văn chương vì thế vẫn chưathu hút được sự chú ý của người học Một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn tỏ

ra bàng quan, thờ ơ với văn chương

Hơn nữa, không ít giáo viên đứng lớp chưa được trang bị kỹ càng, đồng

bộ về quan điểm và lý luận phương pháp dạy học Văn mới Vấn đề quan điểm

và lý luận phương pháp dạy học Văn mới chỉ đến với người dạy qua một số tàiliệu có tầm vĩ mô, thiên về cung cấp lý thuyết hơn là hướng dẫn thực hành.Một số các giáo trình tài liệu về phương pháp dạy học Văn còn mang bệnh lýthuyết và sách vở hoặc chịu tác động từ các phương pháp dạy học của nướcngoài Nhiều giáo viên còn mơ hồ trước những khối lý luận phương pháp dạyhọc chung chung áp dụng lúc nào cũng đúng không chỉ cho riêng bộ môn Văn

Để phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập thì ngườigiáo viên có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo hoạt động của trò, trò phải là chủ thể tựgiác tích cực trong quá trình lĩnh hội kiến thức Để thực hiện được mục tiêu đó,đặt câu hỏi có ý nghĩa tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh, chốnglại thói quen thụ động trong giờ học Câu hỏi chính là phương tiện cho học sinh

Trang 40

kiến thức Hiện nay có rất nhiều hệ thống câu hỏi khác nhau được giáo viên sửdụng trong giờ học văn: câu hỏi tái hiện, câu hỏi gợi tìm, câu hỏi so sánh,…Trong đó, hệ thống câu hỏi nêu vấn đề sẽ giúp học sinh chủ động, tích cực,sáng tạo trong giờ học.

1.2.2 Hạn chế trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học Ngữ văn

Thông qua những câu hỏi trong sách giáo khoa, câu hỏi trong bài soạn

và câu hỏi ở trên lớp của giáo viên, chúng tôi nhận thấy hệ thống câu hỏi trongdạy học môn Ngữ văn còn nhiều bất cập

1.2.2.1 Câu hỏi thường là câu hỏi tái hiện những kiến thức sẵn có, không đáp ứng được nhu cầu phát huy tính tích cực, chủ động của người học Phần lớn

câu hỏi giáo viên đặt ra trong giờ học Ngữ văn là câu hỏi táihiện lại kiến thức sẵn có trong tác phẩm Học sinh chỉ cần liệt kê lại các chitiết, tái hiện lại nội dung đã có sẵn trong tác phẩm để trả lời Như vậy sẽ khôngkích thích được nhu cầu khám phá, sáng tạo của học sinh, tạo ra sự nhàm cháncho giờ học Tất nhiên trong quá trình dạy học môn Ngữ văn, những câu hỏi táihiện là cần thiết bởi để giúp học sinh thâm nhập vào tác phẩm, nhưng đó khôngphải là phương pháp duy nhất, là đích cuối cùng mà chỉ là phương tiện phụ trợ

để đi đến hoạt động sáng tạo của học sinh

1.2.2.2 Câu hỏi vụn vặt, tản mạn mang tính ngẫu hứng, không có hệ thống

Qua dự giờ của đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy nhiều câu hỏi giáoviên đặt ra trong giờ dạy còn vụn vặt, tản mạn, giữa các câu hỏi không có sựliên kết chặt chẽ Những kiểu câu hỏi như thế sẽ khiến giờ học trở nên tẻ nhạt,học sinh khó nắm bắt được kiến thức trọng tâm bài học

Nhiều giáo viên còn hay đưa ra những câu hỏi ngẫu hứng, không có chủđịnh Vì thế tạo ra những câu hỏi không sát với nội dung, không có sự liên kếtchặt chẽ trong hệ thống

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w