ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤCNGUYỄN THỊ NGỌC THỦY XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI BÀI TẬP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC -
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI BÀI TẬP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC - CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐINH QUANG BÁO
Hà Nội - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đạihọc giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoànthành luận văn
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáohướng dẫn khoa học GS.TS Đinh Quang Báo - người đã tận tình chỉ dẫn emtrong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, các thầy cô trong tổ Sinh - Kĩthuật nông nghiệp và các em học sinh trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy
- tỉnh Ninh Bình, trường THPT chuyên Biên Hòa- tỉnh Hà Nam, trường THPTSơn Tây - thành phố Hà Nội, THPT Chuyên Hưng Yên- tỉnh Hưng Yên, THPT ChuyênThái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên, THPT Chuyên Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡtôi trong quá trình nghiên cứu luận văn, đặc biệt trong quá trình TN sư phạm
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng vì thời gian có hạn nên luận vănkhông thể tránh khỏi thiếu sót, tác giả kính mong được sự góp ý của các thầy
cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Thủy
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Lược sử nghiên cứu 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Cơ sở lý luận 7
1.2.1 Năng lực sáng tạo 7
1.2.2 Khái niệm câu hỏi, bài tập 11
1.2.3.Câu hỏi, bài tập sáng tạo 14
1.3 Cơ sở thực tiễn 17
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng 22
1.3.2 Thực trạng việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS chuyên sinh trong dạy HS học ở trường THPT 23
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC - CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN 30
2.1 Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần Sinh thái học – chương trình chuyên 30
2.1.1 Mục tiêu phần Sinh thái học – chương trình chuyên 30
2.1.2 Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh thái học - chương trình chuyên 31
2.2 Hệ thống câu hỏi, bài tập rèn luyện năng lực sáng tạo 32
Trang 52.3 Tổ chức sử dụng CH, BTST trong dạy học để phát huy và nâng cao
năng lực sáng tạo cho HS. 59
2.3.1 Những biện pháp sư phạm cần thiết trong tiến trình sử dụng câu hỏi, bài tập sáng tạo vào dạy học. 59
2.3.2 Các hình thức sử dụng câu hỏi, bài tập sáng tạo trong dạy học phần sinh thái học 54
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72
3.1 Mục đích thực nghiệm 72
3.2 Nội dung thực nghiệm 72
3.3 Phương pháp thực nghiệm 72
3.3.1 Chọn trường thực nghiệm 72
3.3.2 Chọn HS thực nghiệm 72
3.3.3 Chọn giáo viên dạy thực nghiệm 73
3.3.4 Phương án thực nghiệm 73
3.4 Kết quả thực nghiệm 73
3.4.1 Phân tích định lượng 73
3.4.2 Phân tích định tính 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 1.1: Kết quả điều tra tình hình rèn luyện NLST cho HS chuyên trongdạy học môn Sinh học của GV 24Bảng 3.1 Tổng hợp thống kê điểm bài kiểm tra 74Bảng 3.2 Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN 75Bảng 3.3 Kiểm định X
điểm các bài kiểm tra trong TN lần 1 76Bảng 3.4 Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong TN lần 1 77Bảng 3.5 Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN 77Bảng 3.6 Kiểm định X
điểm các bài kiểm tra sau thực nghiệm 79Bảng 3.7 Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong TN lần 1 79
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị điểm trung bình các bài kiểm tra 74Hình 3.2 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN 75Hình 3.3 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN 78
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn
Chúng ta đang bước vào kỉ nguyên của nền kinh tế tri thức, hay nền kinh
tế sáng tạo dựa trên phát minh và ở đó sáng tạo, phát minh trở thành động lựcchính thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tạo sự thịnh vượng của mỗi quốc gia
Do đó việc phát triển năng lực sáng tạo (NLST) cho học sinh (HS) là một yêucầu không thể thiếu trong việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông.Điều này đã được nêu trong chiến lược phát triển giáo dục từ năm 2010 đến2020
1.2 Xuất phát từ thực trạng trong việc rèn luyện NLST cho HS THPT
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, HS, đặc biệt là HS chuyên ẩn chứanhiều tiềm năng sáng tạo, nếu không chú ý phát triển tiềm năng sáng tạo chocác em thì những tiềm năng đó sẽ dần bị mất đi Tuy nhiên thực trạng dạy họctheo hướng phát triển NLST cho HS trong các trường trung học phổ thông(THPT) chuyên có nhiều hạn chế Một trong những nguyên nhân dẫn tới tìnhtrạng này là do GV thiếu kĩ năng xây dựng và sử dụng hệ thống CH, BT rènluyện NLST cho HS
Đứng trước yêu cầu đổi mới dạy học, trước thực trạng việc rèn luyệnNLST cho HS chuyên THPT, việc nghiên cứu áp dụng các phương pháp dạyhọc (PPDH) rèn luyện NLST cho HS chuyên một cách có hiệu quả là vấn đềmang tính cấp thiết Một trong những biện pháp có thể giải quyết tốt nhiệm vụnêu trên là sử dụng câu hỏi, bài tập (CH, BT) để rèn luyện NLST
Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập rèn luyện năng lực sáng tạocho HS qua dạy học phần Sinh thái học- chương trình chuyên Trung học phổthông”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 9Xây dựng và đề xuất biện pháp sử dụng hệ thống CH, BT để phát huy vànâng cao NLST cho HS trong dạy học phần Sinh thái học - chương trìnhchuyên.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Nghiên cứu, khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như:NLST, cấu trúc của NLST; CH, BT và vai trò của CH, BT trong dạy học nói chung vàđối với sự phát triển NLST cho HS nói riêng
(2) Điều tra thực tiễn việc rèn luyện NLST cho HS chuyên sinh THPT quadạy học môn sinh học
(3) Nghiên cứu mục tiêu, nội dung phần Sinh thái học để định hướng xây dựng hệ thống CH, BT phát triển NLST
(4) Xây dựng và đề xuất biện pháp sử dụng hệ thống CH, BT để tổ chứcphát triển NLST cho HS trong dạy học phần Sinh thái học - chương trình chuyên
(5) Thực nghiệm (TN) để kiểm tra đánh giá tính hiệu quả và khả năng thựcthi của hệ thống CH, BT rèn luyện NLST mà luận văn đề xuất
3 Giả thuyết khoa học
Sử dụng hệ thống CH, BT chứa đựng những nhiệm vụ đòi hỏi phải giảiquyết một cách sáng tạo trong dạy học phần Sinh thái học chương trình chuyênTHPT sẽ góp phần phát triển NLST cho HS
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần Sinh thái học chương trinh chuyên ở trườngTHPT chuyên
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống CH, BT rèn luyện NLST cho HS trong dạy học phần sinh tháihọc- chương trình chuyênTHPT
5 Mẫu khảo sát và phạm vi nghiên cứu
5.1 Mẫu khảo sát
Trang 10HS các lớp 10 chuyên sinh tại 6 trường: THPT Chuyên Lương Văn Tụy tỉnh Ninh Bình, trường THPT chuyên Biên Hòa- tỉnh Hà Nam, trường THPTSơn Tây- thành phố Hà Nội, THPT Chuyên Hưng Yên- tỉnh Hưng Yên, THPTChuyên Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên, THPT Chuyên Bắc Giang-tỉnh BắcGiang.
-5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm về nội dung: đề tài giải quyết 05 mục tiêu nghiên cứu đề ra ở mục 2.2Phạm vi về thời gian: tử tháng 02 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu lý luận, tổng hợp các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Sử dụng phương pháp điều tra để điều tra thực tiễn dạy và học phần sinh thái học ở lớp chuyên sinh trường THPT chuyên
- Sử dụng phương pháp TN sư phạm để tiến hành lên lớp theo hai loại giáo
án để so sánh
7 Đóng góp của luận văn
- Tổng kết, bổ xung một số cơ sở lý luận về NLST và rèn luyện NLST qua
sử dụng CH, BT trong dạy học
- Đề xuất phương pháp xây dựng CH, BT sáng tạo; xây dựng hệ thống CH,
BT và đề xuất biên pháp sử dụng hệ thống CH, BT này trong dạy học phần STH- chươngtrình chuyên nhằm phát huy và nâng cao NLST cho HS
8 Câu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng và sử dụng CH, BT rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS trong dạy học phần sinh thái học - chương trình chuyên THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lược sử nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, khoa học sáng tạo đã phát triển rất sớm
Vào thế kỷ thứ ba, Pappus đã đặt nền móng cho khoa học về tư duy sángtạo (Ơ-ris-tic) Ơ-ris-tic là khoa học về sự sáng chế, phát minh trong lĩnh vựckhoa học cơ bản, kỹthuật Đến nay, Ơ-ris-tic đã tồn tại suốt 17 thế kỷ nhưng
có rất ít người biết về nó, vì trong một khoảng thời gian dài xã hội không cónhu cầu cấp thiết về khoa học tư duy sáng tạo Ngày nay, khi mà sáng tạo tựphát không thể giải quyết được những vấn đề ngày càng phức tạp của xã hộithì khoa học sáng tạo Ơ-ris-tic được nghiên cứu và phát triển Trên thế giớicác PPDH tích cực góp phần phát triển NLST cho HS có mầm mống từ cuốithế kỉ XIX và phát triển mạnh từ những năm 70 của thế kỉ XX
Vào nửa cuối thế kỷ XIX các nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo trongkhoa học kỹ thuật bắt đầu xuất hiện Đến thế kỷ XX các nghiên cứu đã cho kếtquả là khả năng sáng tạo có ở tất cả những người bình thường, khoa học sángtạo Ơ-ris-tic được phát triển với chất lượng mới với tên gọi là sáng tạo học.Các nhà tâm lí học đã phát hiện ra phương pháp thử và sai và vai trò quantrọng của nhiều yếu tố tâm lí như tính liên tưởng, trí tưởng tượng, trực giác,tính ì tâm lí trong quá trình tưduy sáng tạo Tại thời điểm đó đã xuất hiệnnhiều phương pháp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả tư duy sáng tạo như:Phương pháp đối tượng tiêu điểm của F Zwicky, Phương pháp não công của
A Osborn [8] Mặc dù các phương pháp này tuy có nhiều ưu điểm song vẫnchưa khắc phục được nhược điểm của phương pháp thử và sai là thiếu cơ chếđịnh hướng từ bài toán đến lời giải trong tư duy sáng tạo
Người có công lớn trong việc xây dựng khoa học sáng tạo là nhà khoahọc Genric Sanlovich Altshuller Ông đã xây dựng lí thuyết giải các bài toánsáng chế (viết tắt TRIZ) là phương pháp luận tìm kiếm những giải pháp kỹ
Trang 12thuật mới, cho những kết quả khả quan, ổn định khi giải những bài toán khácnhau, thích hợp cho việc dạy và học với đông đảo quần chúng TRIZ kết hợpmột cách chặt chẽ 4 yếu tố: Tâm lí, logic, kiến thức, trí tưởng tượng Nó cómục đích tích cực hoá hoạt động tư duy sáng tạo Theo đó, khoa học về sángtạo được nhiều quốc gia quan tâm và đưa vào giảng dạy.
Năm 1984, nghiên cứu của Spickler và một số nhà giáo dục học Bắc Mỹ
về việc "Khảo sát nhiệm vụ thực hành trong các môn khoa học bậc ĐH"
[35] cho thấy: Phải gắn HS vào quá trình học tập tích cực; làm cho HS có tráchnhiệm học và lựa chọn tiến hành thí nghiệm một cách hứng thú; đòi hỏi HS phải áp dụngnhiều kỹ năng xử lý thí nghiệm bao quát hơn, đáp ứng được yêu cầu HS tự nghiên cứu, tựhọc, tự phát triển tư duy và phát huy tính sáng tạo
Đầu thế kỉ XX các nhà sư phạm Mỹ (J.Dewey, Woodward, Richard,W.Kilpatrick) đã xây dựng lí luận cho PPDH dự án (Project method) Đây làPPDH trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợpgiữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành được người học thực hiện với tính tự lựccao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việcthực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.Tony Buzan đã đề xuất sơ đồ tư duy (Mind Map) để giúp người học pháttriển tư duy Đây là hình thức ghi chép bằng hình vẽ có sử dụng màu sắc vàhình ảnh để mở rộng, nhấn mạnh các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh,các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát đượccác ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghinhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xửlí, từ đó giúp người học rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượngcần nghiên cứu [26]
Năm 1930 nhà sáng chế Alex Born đề xuất kĩ thuật công não- một kĩthuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặctrưng bằng cách góp nhặt tất cả các ý kiến của nhóm người đó nảy sinh trong
Trang 13cùng môt thời gian theo một nguyên tắc nhất định.
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vào cuối thập kỷ 70, những hoạt động nghiên cứu liên quanđến khoa học về tư duy sáng tạo còn mang tính chất tự phát Lớp học dạy về phươngpháp luận sáng tạo được tổ chức năm 1977 Người có công
lớn là Phan Dũng với các tác phẩm: Phương pháp luận sáng tạo khoa học
- kỹ thuật giải quyết vấn đề ra quyết định [7]; Các nguyên tắc sáng tạo cơ bản[6] [10]; Thế giới bên trong con người sáng tạo [8]; Tư duy logic biện chứng và hệ thống[9]
Nguyễn Chân, Dương Xuân Bảo và Phan Dũng (1983) với “Angôritsáng chế” - Đây là quyển sách đầu tiên về phương pháp luận sáng tạo được nhàxuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội in và phát hành [3]
Nguyễn Văn Lê (1998) với “Cơ sở khoa học của sự sáng tạo” [15] đãtrình bày một số cơ sở khoa học của việc giáo dục tính sáng tạo cho thanh thiếuniên như: Cơ sở tâm lí học của sự sáng tạo, cơ sở sinh lí thần kinh của hoạtđộng sáng tạo, bài học từ những con người sáng tạo
Nguyễn Minh Triết (2001) với “Đánh thức tiềm năng sáng tạo” [31] đã
đề cập đến việc vận dụng 19 nguyên tắc sáng tạo vào giải các bài toán cụ thểnhằm khắc phục tính ì tâm lí của con người khi giải quyết các vấn đề thực tiễn
Nguyễn Cảnh Toàn (2005) với “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” [24] đãđưa ra các vấn đề về sáng tạo học như khái niệm, nguồn gốc, cơ sở thần kinhcủa hoạt động sáng tạo Quyển sách đã chỉ ra cho người giáo viên (GV) làmthế nào để dạy HS học tập sáng tạo
TS Trần Thị Bích Liễu với cuốn sách ”Giáo dục phát triển NLST” đãđưa hiểu biết về giáo dục sáng tạo và phát triển NLST vào Việt Nam một cách
hệ thống và bài bản nhằm giúp các trường học phát triển NLST của HS, tạo.Qua đó các nhà quản lí giáo dục có thể tìm thấy những cách thức để phát triểnnhà trường của mình thành một nhà trường sáng tạo, GV tìm thấy những hiểubiết, các nội dung và PPDH để phát triển tiềm năng sáng tạo cho HS
Trang 14Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đềphát triển NLST cho HS thông qua sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy họcphần Sinh thái học chương trình chuyên.
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Năng lực sáng tạo
1.2.1.1 Khái niệm năng lực sáng tạo
a) Khái niệm năng lực
Khái niệm năng lực được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau
Theo Weitnert : "Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn
có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng
về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách
có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt " [40, tr.12]
Theo Barnett: "Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thái
độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn" [13]
Theo Howard Gardner: "Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo được" [39, tr.11]
Theo Denys Tremblay: "Năng lực là khả năng hành động, đạt đượcthành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụnghiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề củacuộc sống" [38, tr.12]
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường: "Năng lực là một thuộc tính tâm
lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinhnghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức " [4]
Như vậy có thể hiểu năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và cótrách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vựcnghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sởkết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm
b) Khái niệm sáng tạo
Trong tâm lí học, Henry Gleitman định nghĩa: "Sáng tạo, đó là năng lực
Trang 15tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích" [14].
Karen Huffman trong "Tâm lí học hành động" cho rằng: "người có tínhsáng tạo là người tạo ra được giải pháp mới mẻ và thích hợp để giải quyết vấnđề" [30]
F.Raynay và A.Rieunier: "Tính sáng tạo là năng lực tưởng tượng nhanh, nhiều lời giải độc đáo khi đối đầu với một vấn đề" [37, tr.17]
R.L Solsor cho rằng: "Sự sáng tạo là một hoạt động nhận thức mà nó đemlại một cách nhìn nhận hay giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay một tìnhhuống" [23]
Theo định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt thì: "Sáng tạo là tìm ra cái mới,cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có" [18]
Nguyễn Cảnh Toàn thì quan niệm: "Người có óc sáng tạo là người cókinh nghiệm về phát hiện và giải quyết vấn đề đã đặt ra" [25]
Phan Dũng định nghĩa sáng tạo như sau: Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất
kỳ cái gì có đồng thời tính mới và có lợi Tính mới là sự khác biệt của đốitượng so với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian Tính có lợichỉ thể hiện ra khi đối tượng cho trước hoạt động theo đúng chức năng vàtrong phạm vi áp dụng của nó
Như vậy, có thể thấy, dù phát biểu dưới các góc độ khác nhau, nhưng điểm chung của các nhà khoa học thì sáng tạo là một tiến trình phát kiến ra các
ý tưởng, giải pháp, quan niệm mới, độc đáo, hữu ích phù hợp với hoàn cảnh c) Năng lực sáng tạo
Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đầu từ một ý tưởng mới, bắtnguồn từ tư duy sáng tạo của con người Theo các nhà tâm lí học, NLST biểuhiện rõ nét nhất ở khả năng tư duy sáng tạo, là đỉnh cao nhất của các quá trìnhhoạt động trí tuệ của con người [17]
NLST khoa học của mỗi cá nhân thể hiện ở chỗ cá nhân đó có thể mang lại những giá trị mới, những sản phẩm quý giá đối với nhân loại [32]
Trang 16Đối với HS, NLST trong học tập chính là năng lực biết tự giải quyết vấn
đề học tập để tìm ra cái mới ở một mức độ nào đó thể hiện được khuynhhướng, năng lực, kinh nghiệm của cá nhân Để có NLST, chủ thể phải ở trongtình huống có vấn đề, tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhận thức hoặc hànhđộng và kết quả là đề ra được phương án giải quyết không giống bình thường
mà có tính mới mẻ đối với HS (nếu chủ thể là HS) hoặc có tính mới mẻ đối vớiloài người (chủ thể là nhà nghiên cứu)
Như vậy NLST chính là khả năng thực hiện được những điều sáng tạo
Đó là biết làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng luônluôn phù hợp với thực tế Luôn biết và đề ra những cái mới khi chưa được học,chưa được nghe giảng hay đọc tài liệu, hoặc tham quan về việc đó, nhưng vẫnđạt kết quả cao
Tâm lí học và lí luận dạy học hiện đại khẳng định: "con đường có hiệuquả nhất để làm cho HS nắm vững kiến thức và phát triển được năng lực độclập sáng tạo là phải đưa HS vào vị trí của chủ thể hoạt động nhận thức, thôngqua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển NLST
và hình thành quan điểm đạo đức"
Năng lực nói chung và NLST nói riêng không phải là bẩm sinh mà đượchình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể Bởi vậy muốnhình thành NLST, phải chuẩn bị cho HS những điều kiện cần thiết để họ cóthể thực hiện thành công hoạt động đó, những điều kiện đó là:
- Lựa chọn một logic nội dung thích hợp để có thể chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức của HS phù hợp với trình độ của họ
- Tạo động cơ hứng thú hoạt động nhận thức sáng tạo
- Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phương pháp hoạt động
nhận thức
- Cung cấp những phương tiện hoạt động nhận thức và huấn luyện sử dụng
các phương tiện hoạt động nhận thức
Trang 17- Kiểm tra, đánh giá, động viên, khuyến khích kịp thời.
1.2.1.2 Những biểu hiện của năng lực sáng tạo
Theo định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương
trình giáo dục phổ thông thì NLST ở HS biểu hiện cụ thể như sau:
a) Nêu được thắc mắc về a) Đặt câu hỏi khác nhau a) Đặt câu hỏi có giá trị
sự vật hiện tượng; theo về một sự vật, hiện để làm rõ các tìnhhướng dẫn, xác định tượng; xác định và làm huống và những ý tưởng
và làm rõ thông tin, ý rõ thông tin, ý tưởng trừu tượng; xác định và
tưởng mới với bản mới; phân tích, tóm tắt làm rõ thông tin, ý tưởngthân từ các nguồn tài những thông tin liên mới và phức tạp từ các
nguồn thông tin độc
khuynh hướng và độ tincậy của ý tưởng mới
b) Dựa trên hiểu biết đã b) Hình thành ý tưởng b) Xem xét sự vật với
có, hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông những góc nhìn khácmới đối với bản thân tin đã cho; đề xuất giải nhau; hình thành và
và dự đoán được kết pháp cải tiến hay thay kết nối các ý tưởng;
quả khi thực hiện thế các giải pháp không nghiên cứu để thay đổi
còn phù hợp; so sánh và giải pháp trước sự thaybình luận được về các đổi của bối cảnh; đánh
giải pháp đề xuất giá rủi do và có
dự phòng
c) Nhớ lại và mô tả c) Suy nghĩ và khái c) Lập luận về quá trình
Trang 18được tiến trình thực quát hoá thành tiến trình suy nghĩ, nhận ra yếu tốhiện nhiệm vụ học tập khi thực hiện một công sáng tạo trong các quan
để nhận ra sai sót và có việc nào đó; tôn trọng điểm trái chiều; phátthể điều chỉnh các quan điểm trái hiện được các điểm hạn
chiều; áp dụng điều đã chế trong quan điểm củabiết vào tình huống mình; áp dụng điều đãtương tự với những điều biết trong hoàn cảnh mới.chỉnh hợp lý
d) Tò mò, tập trung d) Hứng thú, tự do d) Say mê; nêu đượcchú ý; không e ngại khi trong suy nghĩ; chủ nhiều ý tưởng mới trongnêu ý kiến; động nêu ý kiến; không học tập và cuộc sống;
quá lo lắng về tính đúng không sợ sai; suy nghĩsai của ý kiến đề xuất; không theo lối mòn; tạophát hiện yếu tố mới, ra yếu tố mới dựa trêntích cực trong những ý những ý tưởng khác nhau.kiến khác
1.2.2 Khái niệm câu hỏi, bài tập
1.2.2.1 Khái niệm về câu hỏi
Hỏi: Là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời về một vấn đề nào đó
Aristot là người đầu tiên phân tích CH và cho rằng: “CH là một mệnh đề
trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết” CH đó là một yêu cầu mà
khi hoàn thiện chúng HS phải tiến hành các hoạt động tái hiện, có thể trả lời
miệng, trả lời viết hoặc có thể kèm theo thực hành xác minh bằng TN [27]
Theo GS Trần Bá Hoành: CH kích thích tư duy tích cực là CH đặt ra
trước HS một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao
nhất, tự lực tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các thao tác tư duy so sánh,
phân tích, tổng hợp, khái quát hoá qua đó lĩnh hội kiến thức mới và được tập
Trang 19dượt phương pháp nghiên cứu, phương pháp giải quyết vấn đề có được niềm vui của sự khám phá[12].
Nhìn chung, các định nghĩa CH nổi bật mấy dấu hiệu chính sau:
+ Dấu hiệu bản chất của CH là từ điều đã biết xuất hiện điều chưa rõ,điều cần tìm Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểubiết của con người
+ Hình thức ngôn ngữ của CH là một mệnh đề nghi vấn hay được diễn đạt bằng một ngữ điệu đặc trưng phân biệt nó với những hình thức ngôn ngữ khác
+ CH là một khái niệm rộng, vì nó đòi hỏi câu trả lời với lượng thông tinkhác nhau, tính chất thông tin và thái độ, trạng thái tâm lí của người trả lời đối với thôngtin đó cũng khác nhau: nó có thể mới, có thể không mới đối với người trả lời nên hoạtđộng tìm câu trả lời sẽ khác nhau: từ hoạt động nhớ lại đến hoạt động tìm tòi sáng tạo
1.2.2.2 Khái niệm về bài tập
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên thì BT là bài ra cho HSlàm để vận dụng những điều đã học được [18]
Trang 20Theo tác giả Trần Thị Bích Liễu: BT là nhiệm vụ học tập GV đặt ra chongười học buộc người học phải vận dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinhnghiệm thực tiễn, sử dụng các hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn đểgiải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri\ thức, kĩ năng một cách tíchcực, hứng thú và sáng tạo [16]
Theo Nguyễn Ngọc Quang : BT là bài ra cho HS làm để vận dụngnhững điều đã học nhằm hình thành kiến thức mới, củng cố, hoàn thiện, nângcao kiến thức đã học [20]
Theo các nhà LLDH Liên Xô cũ thì BT là một dạng gồm những bài toán,những CH hoặc đồng thời cả bài toán hoặc CH mà trong khi hoàn thành chúng HSnắm được một tri thức mới hay một kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng.Khái niệm bài toán ở đây được coi là một dạng BT đó là BT định lượng
BT có thể là một CH, một thí nghiệm, một bài toán hay một bài toánnhận thức BT chỉ ra một định hướng nhận thức cho người học để người họchướng tới việc tìm hiểu, sử dụng vốn hiểu biết tri thức, định hướng bổ sungthêm những kiến thức mới từ tài liệu sách giáo khoa Trên cơ sở đó bằng nănglực tư duy, vốn kinh nghiệm của mỗi cá nhân tạo ra những tiềm lực mới nhậnthức được vấn đề đặt ra và như vậy người học đã tiếp thu được một lượng trithức mới từ BT
Về thành phần cấu tạo thì BT có điểm giống CH là chứa đựng điều đãbiết và điều cần tìm, có khả năng kích thích sự tìm tòi, sự vận dụng các tríthức, các kĩ năng đã biết để giải quyết tình huống đặt ra Điều cần tìm và điều
đã biết quan hệ chặt chẽ với nhau, từ những điều đã biết ta có thể dùng phépbiến đổi tương đương để dẫn đến điều cần tìm Nhưng quan hệ giữa điều đãbiết và điều cần tìm trong BT chặt chẽ hơn mối quan hệ giữa điều đã biết vàđiều cần tìm trong CH ở chỗ: điều đã biết trong BT phải vừa đủ để người thựchiện BT chỉ biến đổi những điều đã biết bằng những đại lượng tương đương sẽ
có được điều cần tìm
Trang 21Từ sự phân tích trên có thể thấy bản chất của việc giải BT là sự thựchiện phép biến đổi tương đương để chứng minh rằng điều đã cho và điều cầntìm là hoàn toàn phù hợp.
1.2.3.Câu hỏi, bài tập sáng tạo
đủ đối với HS Vì vậy HS sẽ ham học, hứng thú học, biết cách tự học, khámphá thế giới và qua đó mà phát huy và nâng cao được NLST cho HS
1.2.3.3 Các dạng câu hỏi, bài tập rèn luyện năng lực sáng tạo.
Theo Phạm Thị Phú - Nguyễn Đình Thước tư duy sáng tạo được nhậnbiết theo 6 dấu hiệu, ứng với mỗi dấu hiệu là một dạng của CH, BT sáng tạo[19]
- CH, BT có nhiều cách giải
Loại CH, BT này sẽ rèn luyện cho HS thói quen nhìn nhận vấn đề dướinhiều góc độ, không cứng nhắc, không bằng lòng ngay với kết quả của BT,kích thích tính tìm tòi, sáng tạo của HS
- CH, BT có hình thức tương tự nhưng nội dung biến đổi
Đây là loại CH, BT thường có nhiều CH CH đầu tiên là dạng CH luyệntập, còn các CH sau thì có hình thức hỏi tương tự CH đầu tiên nhưng
Trang 22nội dung của vấn đề cần hỏi đã biến đổi về chất HS nếu áp dụng phươngpháp giải của câu đầu tiên vào giải các câu tiếp theo thì sẽ dẫn tới điều vô líhoặc kết quả sẽ không đúng.
- CH, BT cho thiếu hoặc thừa dữ kiện
Đây là loại BT cho thiếu các dữ kiện hoặc cho thừa các dữ kiện hoặc các
dữ kiện này mâu thuẫn, loại trừ lẫn nhau, dẫn đến các kết quả khác nhau của đại lượng cần tìm Để giải loại CH, BT này, HS phải nhận ra sự “không bình thường” của CH, BT, chỉ ra được mâu thuẫn giữa các dữ kiện, để từ đó đưa ra được cách điều chỉnh các dữ kiện để được bài toán bình thường Giải được CH,
BT loại này, học sinh phải có khả năng phân tích các dữ kiện, tổng hợp các mối quan hệ giữa các đại lượng, so sánh, đối chiếu các kết quả với nhau để tìm
ra được mấu chốt của CH, BT - CH, BT nghịch lí và ngụy biện
CH, BT nghịch lí và ngụy biện là những CH, BT mà trong đó có chứađựng những yếu tố (hoặc ở phần dữ kiện hoặc ở phần kết luận) trái ngược hoặckhông phù hợp với các định luật, quy tắc, quy luật sinh học, Tuy nhiên, nếuchỉ nhìn nhận các yếu tố này một cách hình thức thì có thể nhầm tưởng rằngchúng phù hợp với quy luật và logic thông thường Song xem xét một cách cặn
kẽ, có luận chứng khoa học, dựa trên các định luật, quy tắc, quy luật thì mớinhận ra sự nghịch lí và ngụy biện trong CH,
Trang 23BT Giải các CH, BT này HS sẽ nắm vững được nội dung, phạm vi ứng dụng của các quy luật sinh học CH, BT nghịch lí và ngụy biện là những CH, BT được soạn thảo dựa trên những suy luận sai lầm của HS và những biểu hiện đa dạng của các sự kiện, hiện tượng, quá trình sinh học Với loại CH, BT này, HS thường phạm phải những sai lầm có tính chất tinh vi, đôi khi khó nhận thấy được, có thể là do không chú ý tới tất cả các dữ kiện của BT hay áp dụng một cách không đúng các công thức, nội dung, phạm vi ứng dụng của định luật -
CH, BT “hộp đen”
Theo Bunxơman, CH, BT “hộp đen” gắn liền với việc nghiên cứu đốitượng mà cấu trúc bên trong là đối tượng nhận thức mới (chưa biết), nhưng cóthể đưa ra mô hình cấu trúc của đối tượng, nếu cho các dữ kiện “đầu vào”,
“đầu ra” Giải CH, BT “hộp đen” là quá trình sử dụng kiến thức tổng hợp, phântích mối quan hệ giữa dữ kiện “đầu vào” và dữ kiện “đầu ra” để tìm thấy cấutrúc bên trong của hộp đen
1.2.3.4 Phương pháp xây dựng câu hỏi, bài tập sáng tạo
Theo Phạm Thị Phú - Nguyễn Đình Thước phương pháp xây dựng CH,
BT sinh học để bồi dưỡng NLST cho HS được đề xuất như sau [19]:
- Lựa chọn một hoặc một số CH, BT xuất phát
Trang 24+ Có thể thay đổi một số dữ kiện để hiện tượng trong CH, BT mâu thuẫnvới các quy luật sinh học không, thay đổi giả thiết thành kết luận và ngược lại để tạothành CH, BT mới được không?
+ Tăng mức độ phân nhỏ của CH, BT xuất phát
+ Có thể chuyển CH, BT thành tổng quát hơn không? Có thể kết hợp các
CH, BT thành CH, BT tổng quát hơn không?, Có thể sử dụng thêm CH, BT có liên quan
để xây dựng CH, BT mới không?
1.2.3.5 Xây dựng thang đo đánh giá năng lực sáng tạo của HS trong dạy họca) Đánh giá theo tiêu chí
Đánh giá là quá trình xem xét, bình phẩm về các đặc trưng, thuộc tínhhay giá trị của một sự vật hoặc hoạt động, hiện tượng nào đó theo các tiêu chí
và chuẩn mực so sánh nhất định [41]
Xét về mặt tính chất, đánh giá kết quả học tập được chia thành hai loại [41]:
* Kiểm tra, đánh giá theo chuẩn tương đối
Đây là loại kiểm tra, đánh giá có tính chất tương đối, chủ yếu là so sánh kếtquả học tập giữa các thành viên với nhau Loại này phù hợp cho việc thi tuyển
để lựa chọn những người tốt nhất
* Kiểm tra, đánh giá theo tiêu chí
Đây là loại kiểm tra, đánh giá có tính chất tuyệt đối, đánh giá kết quả học tập của từng người học đạt được trong thực tế so với các tiêu chí đề ra b) Các tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo
Để đánh giá NLST của HS sau khi học CH, BT ST chúng tôi sử dụngcác tiêu chí đánh giá, định lượng các tiêu chí và sử dụng phương pháp phântích thống kê để có được các phân tích chính xác hơn
Các tiêu chí được xây dựng (bốn tiêu chí):
- Phát hiện được vấn đề mới và nêu được dự đoán có căn cứ (Nhìn nhận vấn đềdưới nhiều góc độ khác nhau, phát hiện được vấn đề mà cá nhân có nhu cầu giải quyết)
Trang 25- Đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề (đề xuất được phương án thínghiệm để kiểm tra dự đoán hoặc nêu được một hoặc một số phương pháp giải bài tập).
- Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của các giải pháp nhằm lựa chọn được giảipháp tối ưu để giải bài tập hoặc giải quyết vấn đề đặt ra trong bài tập
- Thực hiện thành công theo phương án hoặc giải pháp đã lựa chọn hoặc có cải tiến so với mô hình đã xây dựng
- Với mỗi tình huống, GV đặt câu hỏi và phát phiếu học tập tương ứng cho
- GV và cộng tác viên tổng hợp kết quả từ phiếu học tập và từ sản phẩm của HS
để đánh giá NLST theo 4 tiêu chí nêu trên
*Hoạt động của HS
- Trả lời vào phiếu học tập khi chưa có gợi ý và khi có gợi ý của GV hoặc gợi ý
từ câu trả lời của một HS nào đó (nếu vấn đề khó)
Trang 26- Phát ý tưởng (nếu có thể để xây dựng mô hình hoặc đề xuất phương án thí nghiệm) khi GV yêu cầu.
- Sau khi được giao nhiệm vụ chế tạo sản phẩm, HS làm việc theo nhóm để
bàn kế hoạch thực hiện và phân công nhiệm vụ
- Thực hiện theo kế hoạch nhóm đã đề ra (sáng tạo càng tốt)
- Vào thời gian quy định, các nhóm HS thuyết trình về sản phẩm của mình d) Thang đo
Thang đo bao gồm bốn tiêu chí với cách cho điểm theo sáu mức độ như sau:
- Phát hiện được vấn đề mới và nêu được dự đoán có căn cứ (Nhìn nhận vấn đềdưới nhiều góc độ khác nhau, phát hiện được vấn đề mà cá nhân có nhu cầu giải quyết):
1 Phát hiện vấn đề mới, nêu dự đoán có căn cứ, không có gợi ý của GV (6 điểm);
2 Phát hiện vấn đề mới, nêu dự đoán có căn cứ, có gợi ý của GV (5 điểm);
3 Phát hiện vấn đề mới, không nêu dự đoán có căn cứ, không có gợi
ý của GV (4 điểm);
4 Phát hiện vấn đề mới, không nêu dự đoán có căn cứ tuy có gợi ý của GV (3 điểm);
5 Không phát hiện được vấn đề, không có sự gợi ý của GV (2 điểm);
6 Không phát hiện được vấn đề, có sự gợi ý của GV (1 điểm);
- Đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề (đề xuất được phương án thínghiệm để kiểm tra dự đoán hoặc nêu được một hoặc một số phương pháp giải bài tập):
1 Đề xuất được giải pháp mới giải quyết vấn đề, không có sự gợi ý của GV (6 điểm);
2 Đề xuất được giải pháp mới giải quyết vấn đề khi có sự gợi ý của GV (5 điểm);
3 Đề xuất được giải pháp nhưng không có tính mới, không có gợi ý của GV (4điểm);
19
Trang 274 Đề xuất được giải pháp nhưng không có tính mới, có gợi ý của GV(3điểm);
5 Không đề xuất được giải pháp, không có sự gợi ý của GV (2 điểm);
6 Không đề xuất được giải pháp, có sự gợi ý của GV (1 điểm);
- Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của các giải pháp để lựa chọn được giải pháp tối ưu để giải bài tập hoặc giải quyết vấn đề đặt ra trong bài tập:
1 Lựa chọn và phân tích được vì sao lựa chọn được giải pháp tối ưu, không có gợi ý của GV (6 điểm);
2 Lựa chọn và phân tích được vì sao lựa chọn được giải pháp tối ưu, có phân tích có gợi ý của GV (5 điểm);
3 Lựa chọn giải pháp tối ưu nhưng không phân tích được vì sao lựa chọn, không gợi ý của GV (4 điểm);
4 Lựa chọn nhưng không phân tích được vì sao lựa chọn được giải pháp tối
ưu, có gợi ý của GV (3 điểm);
5 Không lựa chọn giải pháp tối ưu, không phân tích, không có sự gợi ý của
GV (2 điểm);
6 Không lựa chọn giải pháp tối ưu, không phân tích, có gợi ý (1 điểm);
- Thực hiện thành công theo phương án hoặc giải pháp đã lựa chọn hoặc có cải tiến so với mô hình đã xây dựng:
1 Thực hiện thành công phương án đã chọn, có cải tiến (6 điểm);
2 Thực hiện không thành công phương án chọn, thực hiện thành công phương
án khác có tính mới (5 điểm);
3 Thực hiện thành công phương án đã chọn, không cải tiến (4 điểm);
4 Thực hiện không thành công theo phương án đã chọn, có thực hiện theo phương pháp khác nhưng không có tính mới (3 điểm);
5 Thực hiện không thành công theo phương án đã chọn, không thực hiện đượctheo phương án khác (2 điểm);
6 Không thực hiện được theo phương án nào (1điểm);
Hệ thống 4 tiêu chí với các mức độ và thang điểm như trên tạo thành một thang đo được sử dụng để đo mức độ sáng tạo của HS trong dạy học
Trang 28Gọi số điểm mà mỗi học sinh đạt được từ 4 tiêu chí trên là x Để đánh giá
NLST của học sinh, ta chia năng lực này thành các mức sau:
• 15 ≤ x ≤ 19: NLST mức 2
Ở mức này, học sinh đã giải quyết vấn đề sáng tạo và có cơ sở khoa học, tuynhiên cần có sự hỗ trợ của GVvà làm việc theo nhóm, có sự góp ý, hỗ trợ của các bạntrong nhóm
• 20 ≤ x ≤ 24: NLST mức 3
Ở mức này, học sinh đã giải quyết vấn đề bằng tư duy sáng tạo và cơ sở vữngchắc, lí luận chặt chẽ Học sinh có NLST ở mức này có thể làm việc tự lực, các kỹ năngthực hành thí nghiệm cũng rất tốt, có tư duy phê phán sắc bén
1.5.5 Kiểm chứng thang đo
Để đánh giá thang đo đã đề xuất có đo được mức sáng tạo của HS hay không
và có ý nghĩa với nhóm thực nghiệm hay không, ta kiểm chứng độ tin cậy và
độ giá trị của dữ liệu
Độ tin cậy là tính nhất quán, có sự thống nhất của các dữ liệu giữa các lần đo khác nhau và tính ổn định của dữ liệu thu thập được
Độ giá trị là tính xác thực của dữ liệu thu được, các dữ liệu có giá trị là phản ánh trung thực về nhận thức, thái độ, hành vi được đo
Để kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu, ta sử dụng phương pháp chia đôi dữliệu thành hai phần và kiểm tra tính nhất quán của các điểm số của hai phần đóbằng công thức Spearman - Brown: RSB = 2 *rhh ( 1 + rhh ) trong đó: RSB là độtin cậy Spearman - Brown; rhh là hệ số tương quan chẵn lẽ Hệ số tương quanchẵn lẻ được tính trong Excel là:
Trang 29rhh = CORREL (array1, array2)
Để kiểm chứng độ giá trị nội dung của dữ liệu, ta sử dụng phương pháp
chuyên gia Chúng tôi đã lựa chọn một số giáo viên sinh học có kinh nghiệm, nhận xét điểm số thu được của HS lớp thực nghiệm Kiểm chứng cụ thể được trình bày ở chương 3 - Thực nghiệm sư phạm
Sau khi kiểm chứng thang đo, nếu thang đo này đo được chính xác những giátrị cần đo thì nó sẽ được sử dụng vào đo NLST của HS
Để quá trình đánh giá theo tiêu chí không ảnh hưởng đến quá trình đánh giáđịnh lượng bằng bài kiểm tra, chúng tôi đã tiến hành dạy ở các lớp TN như kếhoạch; còn ở các lớp ĐC, chúng tôi tiến hành dạy 2 bài TN sau khi đã làm bàikiểm tra cuối cùng phần đánh giá định lượng theo bài kiểm tra Điều này đảmbảo tính độc lập giữa hai quá trình đánh giá định lượng bằng bài kiểm tra vàđánh giá định lượng theo tiêu chí
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng
Để xác định thực trạng rèn luyện NLST cho HS chuyên trong dạy HShọc nói chung và trong dạy học phần sinh thái học nói riêng chúng tôi đã sửdụng các phương pháp sau:
+ Sử dụng phiếu điều tra: Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát
với 32 GV sinh học đã và đang trực tiếp giảng dạy sinh học chương trình chuyên THPTthuộc 20 trường THPT Chuyên ở các tỉnh phía Bắc năm học 2013- 2014
Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với đối tượng là 178 HSlớp 10 chuyên sinh của 6 trường THPT chuyên là THPT Chuyên Lương VănTụy-tỉnh Ninh Bình, trường THPT Chuyên Biên Hòa- tỉnh Hà Nam, trườngTHPT Sơn Tây - thành phố Hà Nội, THPT Chuyên Hưng Yên- tỉnh Hưng Yên,THPT Chuyên Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên, THPT Chuyên Bắc Giang -tỉnh Bắc Giang
Chúng tôi đã thiết kế và sử dụng 2 phiếu điều tra (Phụ lục 1)
Trang 30Mục đích của việc điều tra là:
- Tìm hiểu thực trạng việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS chuyên qua
DH môn sinh học
- Tìm hiểu cách học của HS chuyên
1.3.2 Thực trạng việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS chuyên sinh trong dạy HS học ở trường THPT
1.3.2.1 Việc dạy của giáo viên:
Thực tế điều tra 32 GV đang trực tiếp giảng dạy môn sinh học cho các lớp chuyên sinh ở các trường THPT cho thấy :
Trang 31Bảng 1.1: Kết quả điều tra tình hình rèn luyện NLST cho HS chuyên
trong dạy học môn Sinh học của GV
Mức độ
bình
Trang 3224
Trang 33Sử dụng thí 1 3 9 28 22 69nghiệm
trong việc rèn huấn phương
chất trang thiết bị
CH, BT rèn luyệnNLST
PP học tập chủđộng tích cực
Trang 34thấy HS biểu hiện NLST ở mức độ
hoạch và đánh giá công việc của
cá nhân và nhóm
khác nhau để thực hiện một nhiệm
vụ
6 Biết tranh luận, phản bác và bảo 0 0 12 38 20 62
vệ ý kiến của cá nhân, của nhóm
7 Biết đề xuất CH cho một vấn đề 0 0 12 38 20 62nghiên cứu
chứng giả thuyết và trả lời CH
nghiên cứu
luận về vấn đề đã nêu ra
Qua kết quả bảng 1 cho thấy việc phát huy và nâng cao NLST cho HS
chuyên chưa thực sự đạt hiệu quả Mặc dù GV đã nhận thức được tầm quan
trọng của nhiệm vụ phát huy và nâng cao NLST cho HS và đã nỗ lực điều
hành, định hướng và tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức của HS bằng những
Trang 35PPDH tích cực tuy nhiên chất lượng của hoạt động vẫn còn khiêm tốn Điều đó
do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan:
+ Thứ nhất, hệ quả này xuất phát từ sự rơi rớt lại của PPDH cũ PPDHchủ đạo mà nhiều GV sử dụng vẫn là phương pháp truyền thụ tri thức một chiều Số GVthường xuyên chủ động sáng tạo trong việc phối hợp các PPDH cũng như sử dụng cácPPDH có tác dụng rèn luyện NLST cho HS chưa nhiều pương pháp truyền thụ tri thứcmột chiều khiến cho HS thụ động, chấp nhận, làm thui chột ý thức chủ động, tích cực vàsáng tạo của HS và làm cho HS không còn cảm thấy hứng thú học tập
+ Thứ hai, việc xây dựng và sử dụng các CH, BT sáng tạo trong dạy họcchưa được quan tâm nhiều, việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông, sử dụngcác kĩ thuật dạy học hiện đại, các thí nghiệm trong dạy học còn hạn chế nên chưa kíchthích được người học, chưa phù hợp với từng đối tượng HS
+ Thứ ba, GV chưa được tập huấn phương pháp, biện pháp rèn luyệnNLST cho HS, việc rèn luyện và phát triển NLST cho HS chưa được quan tâm đúngmức
+ Thứ tư, nguồn tài liệu (sách giáo khoa) hiện nay gây khó khăn cho việcthiết kế các phương án tổ chức dạy học; thiếu cơ sở vật chất trang thiết bị hỗ trợ dạy học.+ Thứ năm, HS chưa quen với phương pháp học tập chủ động tích cực.Việc thực hành làm các CH, BT ở lớp của HS còn mang tính hình thức, đối phó
Thực tiễn trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết là chúng ta phải chú trọng pháthuy NLST của HS Muốn vậy chúng ta phải trang bị cho GV những phươngpháp, biện pháp và phương tiện cần thiết để rèn luyện NLST cho HS Mộttrong những phương tiện hữu hiệu hỗ trợ GV đó chính là hệ thống CH, BTsáng tạo
1.3.2.2 Việc học của HS.
27
Trang 36Thực tế điều tra 178 HS lớp 10 chuyên sinh của 6 trường THPT Chuyên cho thấy.
Bảng 1.2: Kết quả điều tra tình hình rèn luyện NLST của học sinh
Số lượng Tỉ lệ
2 Khi học tập môn sinh học em thấy mình có những biểu hiện nào sau đây:
sách, giáo trình, internet về nội dung bài học trướckhi đến lớp
+ HS chỉ học theo vở ghi trên lớp ít tham khảo tài 111 62,3liệu
+ HS tham gia tích cực làm việc nhóm trong giờ 79 44,4học có thảo luận
+ HS đề xuất ý tưởng mới khi thực hiện 1 nhiệm 60 33,7vụ/ bài tập
+ HS thỉnh thoảng lập kế hoạch thực hiện kế hoạch 42 23,5
và đánh giá cho công việc của mình và của nhóm
nhau khi thực hiện 1 nhiệm vụ/bài tập
+ HS chưa bao giờ đề xuất cải tiến đưa ra cách 90 50,6làm mới khi tiến hành thí nghiệm
học thí nghiệm thực hành
Trang 37Kết quả bảng cho thấy, mặc dù HS đã nhận thức được vai trò của NLSTvới bản thân tuy nhiên biểu hiện của NLST của các em trong các hoạt động họctập vẫn ở mức thấp Nguyên nhân là do thói quen học thụ động, thiếu tích cựcsáng tạo của HS Nhiều em ít đầu tư công sức, thời gian vào việc học, học tậpchỉ mang tính đối phó Với các em có ý thức tự giác, yêu thích môn học thì lạichưa quen kĩ năng sáng tạo Do đó, việc quan tâm, rèn luyện NLST cho HS làcần thiết.
Trang 38CHƯƠNG 2XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬPRÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC - CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN
2.1 Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần Sinh thái học – chương trình chuyên
2.1.1 Mục tiêu phần Sinh thái học – chương trình chuyên
- Phát triển năng lực khái quát hóa: Hình thành các quy luật sinh thái
- Phát triển NLST, năng lực giải quyết vấn đề
2.1.1.3 Hình thành nhân cách
- Hình thành quan điểm hệ thống: Các cấp độ tổ chức sống tương tác vớinhau và với môi trường để hình thành các hệ thống sống với các đặc tính mới
Trang 39- Hình thành thái độ và hành vi bảo vệ môi trường.
- Hình thành quan điểm biện chứng: Các yếu tố môi trường có mối quan
hệ tác động qua lại với các yếu tố khác (mối quan hê nhiều nhân một quả) và các cấp độ
tổ chức sống đều có quá trình biến đổi
2.1.2 Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh thái học - chương trình chuyên
- Kiến thức sinh thái học cơ bản → Ứng dụng
2.1.2.2 Nội dung chương trình
Nội dung chính của phần Sinh thái học – chương trình chuyên gồm 4 chương:
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa cá thể SV và môi trường sống, nhằm đảmbảo sự cân bằng giữa hoạt động, cấu tạo cơ thể với môi trường để có thể tồn tại và pháttriển, đó là hình thành các đặc điểm thích nghi Đặc biệt, nghiên cứu các qui luật tác độngqua lại giữa SV với môi trường
Chương II: Sinh thái học quần thể
- Nghiên cứu qui luật hình thành và phát triển của QT thông qua mối quan
hệ giữa các cá thể trong QT và giữa QT và môi trường sống trong những điều kiện cụ thể,
từ đó hình thành các đặc trưng cơ bản của QT mà không thể có ở mỗi cá thể
Chương III: Sinh thái học quần xã
- Nghiên cứu qui luật hình thành và phát triển QX thông qua mối quan hệgiữa các loài trong QX và giữa QX và môi trường sống, từ đó hình thành
Trang 40các đặc trưng của QX và trạng thái cân bằng tương đối của QX, qui luật phát
triển của QX
Chương IV: Sinh thái học hệ sinh thái - sinh quyển
- Nghiên cứu một hệ thống hoàn chỉnh, bền vững và tương đối ổn định baogồm QX và sinh cảnh của nó gọi là HST, trong đó chứa đầy đủ nguồn sống để duy trì QX
- Nghiên cứu sinh quyển như là một HST lớn nhất bao gồm nhiều HST nhỏ hơn
- Nghiên cứu những ứng dụng của STH trong bảo vệ môi trường sống và tài nguyên thiên nhiên
Nội dung phần STH gồm những kiến thức mà HS rất thường gặp những ứng dụng của chúng trong thực tiễn cuộc sống Những ứng dụng này gần gũi,
phù hợp với khả năng của HS, có thể xây dựng thành những CH, BT sáng tạo
giúp HS thấy được sự gắn kết giữa kiến thức đã học và thực tế đời sống đồng
thời phát huy và nâng cao được NLST của HS
2.2 Hệ thống câu hỏi, bài tập rèn luyện năng lực sáng tạo
Trên cơ sở phân tích cấu trúc, nội dung, mục tiêu chương trình sinh tháihọc và vận dụng phương pháp xây dựng CH, BT sáng tạo chúng tôi đã xây
dựng được hệ thống các CH, BT sáng tạo sau:
STT Chủ đề Bài tập xuất phát Bài tập sáng tạo Biểu hiện
mức chuyểntải nội dungkiến thức
hạn Phân tích sơ đồ dưới đây pháp gì để mở rộng giới hạn kiến thức vàosinh và trả lời các CH sau: sinh thái của vật nuôi cây thực tiễn, kết
để đề xuất ý