Đối với môn vật lý, bài tập đóng vai trò là nội dung, là phương tiện đểchuyển tải kiến thức, rèn luyện tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cáchhiệu quả nhất, là một trong những phương
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN HÙNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP
CHƯƠNG "ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN" THUỘC
CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI
DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ
HÀ NỘI – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN HÙNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG "ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN" THUỘC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
2.Mục tiêu nghiên cứu
3.Đối tượng nghiên cứu
4.Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.Giới hạn của đề tài
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Những đóng góp của luận văn
9.Cấu trúc luận văn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12 NÂNG CAO .
NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI .
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi .
1.1.2 Bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở trường trung học phổ thông .
1.1.3 Một số vấn đề lý luận về bài tập vật lí trong dạy học ở trường THPT 12 1.1.4 Một số vấn đề về phương pháp dạy học bài tập vật lí ở trường THPT 17 1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tìm hiểu nội dung kiến thức vật lí trong các kì thi học sinh giỏi cấp Thành phố .
1.2.2 Một vài nhận xét về thực tế công tác bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở ba trường THPT của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội .
Trang 41.2.3 Vấn đề sử dụng bài tập trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí
THPT 31
Chương 2 37
XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG CAO THPT, NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI 37
2.1 Nội dung kiến thức chương "Động lực học vật rắn" 37
2.1.1 Vị trí và tầm quan trọng của chương "Động lực học vật rắn" 37
2.1.2 Cấu trúc nội dung của chương Động lực học vật rắn 38
2.1.3 Phân tích nội dung kiến thức chương "Động lực học vật rắn" 40
2.2 Phân loại bài tập phần động lực học vật rắn 50
2.2.1 Mục tiêu 50
2.2.2 Phân tích các hệ thống bài tập 51
2.3 Xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập phần động lực học vật rắn thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao THPT nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi 53
2.3.1 Hệ thống và phương pháp giải các bài tập cơ bản: 53
2.3.2 Hệ thống và phương pháp giải bài tập tổng hợp nâng cao 76
Kết luận chương II 93
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 94
3.1 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp của thực nghiệm sư phạm 94
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm (TNSP) 94
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 94
3.1.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 95
3.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 96
3.2.1 Thời điểm thực nghiệm: 96
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 96
Trang 53.3 Kết quả và xử lí kết quả 96
3.3.1 Xây dựng tiêu chí để đánh giá 96
3.3.2 Phân tích các kết quả về mặt định tính 97
3.3.3 Phân tích các kết quả về mặt định lượng 98
3.4 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 108
Kết luận chương 3 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá Mọi ngành nghề đều có những bước thay đổi đáng kể, ngành giáodục (GD) cũng đang có những bước đổi mới mạnh mẽ về mọi mặt, nhằm đào tạo
-ra những con người có đủ kiến thức, năng lực sáng tạo, trí tuệ và phẩm chất đạođức tốt đáp ứng được yêu cầu của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức
Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản ViệtNam khoá VIII đã nêu: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xâydựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cánhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹnăng thực hành giỏi ” Để đạt được mục tiêu đề ra, Hội nghị cũng đã chỉ rõ
“ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), khắc phục lốitruyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từngbước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học…”
Đặc trưng của con người là hoạt động có ý thức Năng suất lao động củamỗi người phụ thuộc rất nhiều vào tri thức của người đó Nhà khoa học giỏi cóthể phát minh ra những máy móc, quy trình, phương pháp giúp cho năng suấtlao động tăng lên hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn lần Nhà quản lý hay chínhtrị gia giỏi có thể tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh của hàng trăm, hàng nghìn,hàng triệu người Vì vậy, Nhân tài có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộcxây dựng xã hội văn minh Những nước văn minh đều là những nước bồi dưỡng
và sử dụng được nhiều nhân tài
Các trường THPT coi công tác bồi dưỡng HSG là công tác mũi nhọn vàtrọng tâm Nó có tác dụng thiết thực và mạnh mẽ nâng cao trình độ chuyên mônnghiệp vụ của đội ngũ các thầy cô giáo, nâng cao chất lượng GD khẳng địnhthương hiệu của nhà trường, tạo ra khí thế hăng say vươn lên học tập giànhnhững đỉnh cao trong HS Lí luận dạy học xem bài toán là một phương pháp dạyhọc cụ thể, nó được áp dụng phổ biến, thường xuyên ở các cấp học, ở các loại
Trang 8hình dạy học khác nhau và được áp dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạyhọc Đối với môn vật lý, bài tập đóng vai trò là nội dung, là phương tiện đểchuyển tải kiến thức, rèn luyện tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cáchhiệu quả nhất, là một trong những phương tiện cơ bản nhất để giảng dạy và họctập môn vật lý ở nhà trường THPT.
Việc nghiên cứu các vấn đề về bài tập vật lí, đã có rất nhiều công trìnhkhoa học nghiên cứu Các nghiên cứu đó đề cập tới nhiều mặt của bài tập vật lívới những nội dung cơ bản như: lí luận dạy học về bài tập vật lí; phân loại vàphương pháp giải các bài tập vật lí, các nghiên cứu cụ thể về tiến trình dạy họcbài tập vật lí ở từng đơn vị kiến thức cụ thể…
Đối với việc phân loại và phương pháp giải các bài tập vật lí đã đượcnhiều tác giả nghiên cứu và phát hành thành những tài liệu tham khảo cho GV
và HS Sách tham khảo chủ yếu là sách bài tập phục vụ trực tiếp cho SGK vànhiều nhất là sách luyện thi đại học và cao đẳng Tuy nhiên, loại sách trình bàymột cách hệ thống và phương pháp giải bài tập dành cho công tác bồi dưỡngHSG lại hầu như vắng bóng Hơn nữa, chương trình SGK mới được thực hiện từnăm học 2008- 2009 Sách giáo khoa vật lí 12 nâng cao THPT, có chương
“Động lực học vật rắn” Vì thuộc nội dung kiến thức mới, hơn nữa kiến thứcphần cơ học vật rắn liên quan nhiều đến kiến thức cơ học chất điểm và tĩnh họcvật rắn mà HS đã học ở chương trình vật lý lớp 10 Do đó để nắm vững lý thuyết
và giải tốt các bài tập phần cơ học vật rắn là rất khó đối với học sinh Điều nàygây khó khăn cho việc dạy và học nhất là trong công tác bồi dưỡng HSG vật lýTHPT
Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn đề tài: Xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập chương “Động lực học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống bài tập vật lý phần “Động lực học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao
Trang 9- Đề xuất phương pháp giải bài tập giúp HS chuẩn bị tốt cho các kì thi họcsinh giỏi môn vật lý THPT.
3 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình hoạt động dạy học của GV và HS trong công tác bồi dưỡngHSG vật lý THPT
4 Giả thuyết khoa học
Xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập phần “Động lực học vậtrắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao, sẽ góp phần nâng cao hiệu quảtrong việc bồi dưỡng HSG môn vật lý
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài tôi đã xác định được những nhiệm vụchính sau đây:
- Nghiên cứu lý luận về bài tập vật lý và phương pháp giải bài tập vật lý nhằm đạt hiệu quả cao nhất
- Nghiên cứu nội dung kiến thức lý thuyết và bài tập chương “Động lựchọc vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao THPT, tài liệu giáo khoachuyên vật lý THPT và một số tài liệu tham khảo vật lý khác
- Phân tích vị trí, vai trò nội dung kiến thức chương “Động lực học vậtrắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao THPT Dựa vào mục đích yêucầu theo phân phối chương trình thực hiện giảng dạy vật lý nâng cao lớp 12THPT Dựa vào cấu trúc, nội dung kiến thức cần đạt được trong các đề thi HSGvật lý các cấp trong 4 năm trở lại đây của thành phố Hà Nội
- Xây dựng hệ thống bài tập về nội dung kiến thức chương “Động lực họcvật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao THPT, dùng cho công tác bồidưỡng HSG vật lý THPT
- Đề xuất một số phương pháp giải bài tập nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong các kỳ thi HSG vật lý THPT các cấp
- Điều tra khảo sát tính khả thi của những biện pháp được đề xuất Xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê
Trang 106 Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hệ thống và phương phápgiải bài tập vật lý chương “Động lực học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp
12 nâng cao THPT
Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập Nhằm bồidưỡng HSG phần động lực học vật rắn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu lí luận về mục đích, yêu cầu, biện pháp phát hiện và bồi dưỡng HSG vật lý THPT
- Nghiên cứu lí luận về việc xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập vật lý dựa trên quan điểm lí luận về quá trình nhận thức
- Tìm hiểu tài liệu có liên quan đến đề tài: SGK vật lý 12, tài liệu giáo khoa chuyên vật lý THPT, các đề thi HSG vật lý các cấp
7.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn
- Tìm hiểu thực tiễn công tác giảng dạy và bồi dưỡng HSG ở một số trường THPT của huyện Thanh Oai- thành phố Hà Nội Nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu.
-Trao đổi ý kiến với các GV có kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡngHSG vật lý THPT
- Tổng hợp và thống kê số liệu về kết quả thi HSG vật lý của một số trường THPT của huyện Thanh Oai- thành phố Hà Nội
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thu được khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở đó rút ra kết luận của đề tài nghiên cứu
8 Những đóng góp của luận văn
- Bước đầu xây dựng được một hệ thống và phương pháp giải bài tậpchương “Động lực học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng caoTHPT, phong phú đa dạng Giúp GV và HS có thêm tư liệu trong việc dạy vàhọc, đặc biệt trong công tác bồi dưỡng đội tuyển HSG vật lý THPT các cấp
Trang 119 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung chínhcủa luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Tổng quan về cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập vật lý phần
“Động lực học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao nhằm bồidưỡng HSG
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12 NÂNG CAO NHẰM BỒI
DƯỠNG HỌC SINH GIỎI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi
1.1.1.1 Vài nét về lịch sử
* Trên thế giới
Tìm hiểu lịch sử phát triển nền GD&ĐT các nước nói chung và đặc biệt làvấn đề đào tạo và bồi dưỡng HSG Có thể nói, hầu như tất cả các nước đều coitrọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng HSG trong chiến lược phát triển chương trình
GD phổ thông Nhiều nước ghi riêng thành một mục dành cho HSG, một sốnước coi đó là một dạng của GD đặc biệt hoặc chương trình đặc biệt
Đối với các nước phát triển, khoa học cơ bản là xương sống để giữ vững
vị trí siêu cường của họ Còn đối với các nước đang phát triển, việc phát triểnnhanh hay chậm, bền vững và có đuổi kịp các nước phát triển hay không, phụthuộc vào nhiều yếu tố Trong đó xây dựng một nền khoa học cơ bản vững mạnh
và đúng hướng là rất quan trọng Đầu tư cho đào tạo và nghiên cứu khoa học cơbản là sự đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhất, quan trọng nhất đối với sự pháttriển của mỗi Quốc gia
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước hùngmạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi thấp xuống” Điều đókhông chỉ thể hiện giá trị của nhân tài trong lịch sử của Việt Nam Ngày nay,trong thời đại tri thức nó vẫn còn nguyên giá trị đối với mọi Quốc gia trên thếgiới
Vấn đề bồi dưỡng nhân tài được nhà nước coi trọng ngay từ thuở sơ khai.Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam-cái nôi đàotạo nên nhiều nhân tài cho đất nước Thời của nhà giáo Chu Văn An, ông đã
Trang 13được mời vào giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám Ông biên tập nhiều sách quantrọng làm nội dung giảng dạy các Nho sinh Thời kỳ này nhà Trần đặt lại thứ bậctrong thi cử, đỗ bậc nhất có Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.
Đời Lê Thánh Tông (1483) cho phát triển in sách, đặt ra lệ khắc tên tuổiTiến sĩ vào bia đá cho những người thi đỗ từ năm 1442, mỗi khoa thi một tấmbia
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta coi vấn đề bồi dưỡng nhân tài là mộttrong ba mục tiêu chiến lược của nền GD Quốc dân Việt Nam Trong quan điểmlãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, vấn đề nhân tài luôn được xác định là yếu tốquan trọng trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước
Nhiều địa phương đã có những chính sách riêng khuyến học, khuyến tài,tạo điều kiện thuận lợi để thu hút, trọng dụng nhân tài Chẳng hạn, thành phố Hà
Nội đã thông qua: “Quy định tạm thời về ưu đãi, khuyến khích các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, người có cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô” và “Quy định tạm thời về thu hút, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao” Thành phố Đà Nẵng, tỉnh Bình Dương đã ban hành quy định chính sách đào tạo, thu hút nguồn nhân
lực trình độ cao về công tác tại địa phương Thành phố Hồ Chí Minh có chương
trình đầu tư lớn cho “Vườn ươm tài năng”…
* Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế Quốc tế hiện nay, với sự pháttriển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin
và truyền thông; với sự phổ biến của Internet và sự tiến nhanh đến nền kinh tế trithức… thì vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là tài năng trẻ có vai trò cực
kỳ quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, ngành GD&ĐT nước ta đã có những chủtrương, biện pháp quan trọng nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài và đến nay đã thuđược những kết quả nhất định Nhiều tài năng trẻ đã được bồi dưỡng và phát triểnnhanh chóng Hằng năm số HS năm cuối của các trường THPT khối năng khiếu thi
đỗ đại học đạt tỷ lệ khoảng trên 80% Khối trường, lớp chuyên đã
Trang 14có những đóng góp rất lớn trong việc phát hiện bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồnnhân lực chất lượng cao cho đất nước, đồng thời góp phần tích cực nâng caochất lượng và thành tích của các kỳ thi HSG Quốc gia, các cuộc thi OlympicQuốc tế về toán, tin học, lý, hoá, sinh và ngoại ngữ Số HS đoạt giải trong các
kỳ thi HSG Quốc gia, Quốc tế ngày càng tăng Nhiều HS được tuyển thẳng đạihọc hoặc đạt điểm cao trong các kỳ thi tuyển sinh đại học, nhiều HS được lựachọn vào các hệ đào tạo cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến… và trưởngthành khá nhanh
Tuy nhiên, công tác phát hiện, bồi dưỡng HSG ở các trường THPT cònnhiều bất cập Chưa có phương thức tích cực và chủ động để phát hiện, đào tạo,bồi dưỡng HSG ngay từ lúc mới vào THPT Thiếu chủ động trong việc xây dựng
kế hoạch, chính sách, cơ chế quản lý thích hợp và đồng bộ cho công tác bồidưỡng HSG, còn mang nặng tính tự phát, mạnh trường nào trường ấy làm
Từ thực trạng nêu trên, để công tác đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ ở nước
ta đạt được kết quả cao hơn trong những năm sắp tới, Đảng và Nhà nước đã chỉđạo các cấp các ngành cần tập trung thực hiện tốt bảy định hướng cơ bản Trong
đó có ba định hướng sau đây:
Một là: tăng cường quản lý nhà nước về công tác đào tạo bồi dưỡng tài năng trẻ Xây dựng hệ thống chính sách tài năng trẻ, tạo khung pháp lý để đưa công tác quản lý nhà nước về vấn đề này ngày càng hiệu quả Nghiên cứu đổi mới quy trình phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh từ mẫu giáo đến hết trung học phổ thông, trên cơ sở đó quy hoạch phát triển mạng lưới phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu ở độ tuổi trước khi bước vào trường đại học, tạo nguồn tài năng trẻ dồi dào cho đất nước.
Hai là: phát triển mạng lưới các trường, lớp bồi dưỡng năng khiếu bậc phổ thông, đặc biệt là các trường trung học phổ thông chuyên ở các địa phương
và ở một số trường đại học có uy tín, chất lượng Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo cũng như các chế độ, chính sách đối với các loại trường, lớp này Có chính sách thu hút, đãi ngộ thích đáng đội ngũ giáo viên giỏi, tâm huyết tham gia đào tạo, bồi dưỡng các lớp tài năng trẻ.
Trang 15Ba là: tạo cơ chế, chính sách khuyến khích toàn xã hội tham gia vào việc phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ Xã hội hóa công tác bồi dưỡng
và phát triển tài năng trẻ Phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị; giữa gia đình, nhà trường, xã hội tạo quy trình hợp lý để phát hiện, bồi dưỡng, giúp đỡ và phát huy tài năng trẻ.
Tóm lại, nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng tài năng trẻ ở nước ta
hiện nay đang là một đòi hỏi bức thiết, một trách nhiệm nặng nề và vinh dự lớnlao đối với các trường đại học, trung học nói riêng và toàn ngành GD&ĐT nóichung Tất cả vì sự nghiệp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao, phục vụ tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
1.1.2 Bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở trường trung học phổ thông
1.1.2.1 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi
* Năng lực và phẩm chất của một học sinh giỏi nói chung
Theo các tài liệu về tâm lý học và phương pháp dạy học, một HSG được thể hiện qua một số năng lực và phẩm chất quan trọng sau:
- Năng lực tiếp thu kiến thức
+ Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng
+ Luôn hứng thú trong các tiết học, nhất là bài học mới
+ Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những tri thức đã thu được ngay từ dạng sơ khai
- Năng lực suy luận logic
+ Biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng
+ Biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật hiện tượng
+ Biết cách tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết.+ Biết xét đủ các điều kiện cần thiết để đạt được kết luận mong muốn
+ Biết xây dựng các ví dụ để loại bỏ một số miền tìm kiếm vô ích.+ Biết quay lại điểm vừa xuất phát để tìm đường đi mới
- Năng lực đặc biệt
Trang 169
Trang 17+ Sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu, các qui ước để diễn tả vấn đề.
+ Biết phân biệt thành thạo các kĩ năng đọc, viết và nói
+ Biết thu gọn các vấn đề và trật tự hóa các vấn đề để dùng khái niệm trước, mô tả cho các khái niệm sau
- Năng lực lao động sáng tạo
+ Biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả mong muốn
- Năng lực kiểm chứng
+ Biết suy xét sự đúng sai từ một loạt sự kiện
+ Biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra
+ Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi thực hiện một số lần kiểm nghiệm
* Những năng lực và phẩm chất quan trọng nhất của một HSG đối với môn vật lí
- Có năng lực tư duy tốt và sáng tạo, biết phân tích, tổng hợp, so sánh,khái quát hóa, có khả năng sử dụng các phương pháp: diễn dịch, quy nạp, loạisuy…
- Có kiến thức vật lí vững vàng, sâu sắc, hệ thống, chính là nắm vững bảnchất vật lí của các hiện tượng vật lí Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức
cơ bản đó trong các tình huống mới
Trang 1810
Trang 19- Có kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứukhoa học vật lí Biết nêu ra những lí luận cho những hiện tượng xảy ra trongthực tế, biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại lí luận và biết cách dùng
lí thuyết để giải thích những hiện tượng đã được kiểm chứng
Như vậy đối với GV, khi đào tạo những HS có năng khiếu về môn vật lí,cần hướng HS học tập để HS được trang bị những kiến thức, kỹ năng, giúp các
em tự học hỏi, tự sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực của mình
1.1.2.2 Một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi
Nhiều nước quan niệm: HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết Những học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động không theo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên.
Mục tiêu chính của chương trình dành cho HSG và HS tài năng nhìnchung các nước đều khá giống nhau Có thể nêu lên một số điểm chính sau đây:
- Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trítuệ của trẻ
- Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo
- Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời
- Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm
- Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng góp xã hội
- Truyền thụ và hướng dẫn HS tìm hiểu, tiếp thu chính xác những kiến thức cơ bản từ tài liệu
Trang 20- Khai thỏc nhằm khắc sõu kiến thức trọng tõm, làm cho HS hiểu sõu, nhớlõu, vận dụng tốt.
- Hỡnh thành vững chắc cỏc khỏi niệm, định luật cơ bản của vật lớ theo haicon đường: quy nạp - diễn dịch
- Tập cho HS vận dụng, xem xột vấn đề dưới nhiều khớa cạnh khỏc nhau, tỡm mối quan hệ giữa cỏc khỏi niệm
- Khi học quy luật vật lớ, cần lấy cỏc vớ dụ, cỏc hiện tượng vật lớ để minh họa, cũng như vận dụng quy luật để giải thớch hiện tượng
- Khỏi quỏt húa, quy luật húa cỏc vấn đề đó học để cú thể vận dụng cho nhiều trường hợp
Như vậy, khi đào tạo bồi dưỡng HSG vật lớ, GV cần hướng cỏc em họctập nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng, giỳp cỏc em tự học hỏi, tự sỏng tạonhằm phỏt huy tối đa năng lực của mỡnh
1.1.3 Một số vấn đề lý luận về bài tập vật lớ trong dạy học ở trường THPT
1.1.3.1 Khỏi niệm về bài tập vật lý
Trong thực tế dạy học, bài tập vật lí đợc hiểu làmột vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ nhữngsuy luận logic, những phép toán, những thí nghiệm dựatrên cơ sở các định luật cỏc khái niệm và quy tắc vậtlí
Bài toán vật lí, hay đơn giản gọi là các bài tậpvật lí, là một phần hữu cơ của quỏ trỡnh dạy học vật lớ vỡ nú chophộp hỡnh thành và làm phong phỳ cỏc khỏi niệm vật lớ, phỏt triển tư duy vật lớ
và thúi quen vận dụng kiến thức vật lớ vào thực tế
1.1.3.2 Tỏc dụng của bài tập trong dạy học vật lớ.
Bài tập là một phương tiện giỳp việc ụn tập, củng cố, đào sõu, mở rộngkiến thức một cỏch sinh động và cú hiệu quả Khi giải bài tập HS phải nhớ lạicỏc cụng thức, định luật, kiến thức đó học Cú khi đũi hỏi phải vận dụng mộtcỏch tổng hợp cỏc kiến thức đó học trong cả một chương, một phần Do đú HS
sẽ hiểu rừ hơn và ghi nhớ vững chắc kiến thức đó học
Trang 21Sử dụng bài tập trong dạy học vật lí có một số tác dụng sau:
- Giúp cho việc ôn tập củng cố và mở rộng kiến thức, kĩ năng cho HS
-Bài tập là khởi đầu kiến thức mới
- Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, phát triển thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát
- Phát triển năng lực tự lực làm việc của HS
-Phát triển tư duy sáng tạo của HS
-Dùng để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của HS
Vì vậy việc rèn luyện, hướng dẫn HS giải các bài tập vật lí là đặc biệtquan trọng, có thể nói là biện pháp rất có hiệu quả để phát triển tư duy vật lí choHS
1.1.3.3 Phân loại bài tập vật lí
Các bài tập vật lí khác nhau về nội dung, về phương pháp giải, về mụctiêu dạy học Do vậy, việc phân loại bài tập vật lí cũng có nhiều phương án khácnhau
* Phân loại theo nội dung:
Các bài tập vật lí được phân thành: Bài tập cơ học, bài tập nhiệt học, bàitập điện học, bài tập quang học… Cách chia này cũng có tính quy ước, vì trongnhiều trường hợp trong một bài toán có sử dụng kiến thức của nhiều phần khácnhau của giáo trình vật lí
Các bài tập cũng có thể phân chia thành các bài tập có nội dung trừutượng và các bài tập có nội dung cụ thể
-Các bài tập có nội dung trừu tượng: chứa đựng các dữ kiện dưới dạngcác kí hiệu, lời giải cũng được biểu diễn dưới dạng một công thức chứa đựng ẩn
số và dữ kiện đã cho Ưu điểm của các bài tập này là nhấn mạnh bản chất vật lícủa hiện tượng mô tả trong bài tập
- Các bài tập có nội dung cụ thể: các dữ kiện cho đều dưới dạng các con
số cụ thể, các bài tập cụ thể mang đặc trưng trực quan gắn liền với kinh nghiệmsống của học sinh
Ngoài ra người ta còn phân ra các bài tập có nội dung kỹ thuật, bài tập có
Trang 22nội dung lịch sử, bài tập vui.
* Phân loại theo phương pháp giải:
Theo cách này, người ta phân các bài tập vật lí thành 4 loại: bài tập địnhtính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị Phân loại này có ýnghĩa quan trọng vì nó cho phép giáo viên lựa chọn bài tập tương ứng với sựchuẩn bị toán học của học sinh, mức độ kiến thức và sự sáng tạo của học sinh
- Bài tập định tính:
Đặc điểm nổi bật của bài tập định tính là ở chỗ trong các điều kiện của bàitoán đều nhấn mạnh bản chất vật lí của hiện tượng Giải các bài tập định tínhthường bằng các lập luận logic trên cơ sở các định luật vật lí
Khi giải bài tập định tính, học sinh rèn được tư duy logic, khả năng phântích hiện tượng, trí tưởng tượng khoa học, kĩ năng vận dụng kiến thức Vì vậyviệc luyện tập tốt nên bắt đầu từ bài tập định tính
- Bài tập định lượng (Bài tập tính toán)
Bài tập định lượng là những bài tập khi giải phải sử dụng các phươngpháp toán học (dựa trên các định luật và quy tắc, thuyết vật lí, …) Đây là dạngbài tập phổ biến, sử dụng rộng rãi trong chương trình vật lí phổ thông Dạng bàitập này có ưu điểm lớn là làm sâu sắc các kiến thức của học sinh, rèn luyện chohọc sinh phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí, đặc biệt là phương pháp suyluận toán học
- Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là dạng bài tập phân tích đồ thị từ đó tìm các điều kiện giảibài toán Dạng bài tập này rèn kĩ năng đọc và vẽ đồ thị cho học sinh Việc ápdụng phương pháp đồ thị cho phép diễn đạt trực quan hiện tượng vật lí, cho cáchgiải trực quan hơn, phát triển kĩ năng vẽ và sử dụng đồ thị là các kĩ năng có tácdụng sâu sắc trong kĩ thuật
- Bài tập thí nghiệm
Đây là dạng bài tập trong đó thí nghiệm là công cụ được sử dụng để tìmcác đại lượng cần cho giải bài toán, cho phép đưa ra lời giải hoặc là công cụkiểm tra các tính
Trang 23toán phù hợp ở mức độ nào với điều kiện bài toán Công cụ đó có thể là một thí nghiệm biểu diễn hoặc một thí nghiệm thực tập của học sinh.
* Phân loại bài tập căn cứ theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy:
Qua việc xem xét hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình tìm kiếmlời giải bài tập vật lí phân chia bài tập vật lí thành hai loại: Bài tập cơ bản và bàitập phức hợp
- Bài tập cơ bản: là loại bài tập vật lí mà để tìm được lời giải chỉ cần xác
lập mối quan hệ trực tiếp, tường minh giữa những cái đã cho và một cái phải tìmchỉ dựa vào một kiến thức cơ bản vừa học mà học sinh chỉ cần tái hiện chứkhông thể tự
1.1.3.4 Các yêu cầu chung trong dạy học về bài tập vật lí
* Tiêu chuẩn lựa chọn hệ thống bài tập vật lí
Tiêu chuẩn của một hệ thống bài tập vật lí là những căn cứ để dựa vào đógiáo viên soạn cho mình một hệ thống bài tập riêng, giáo viên phải tự giải đượccác bài tập đó và dự đoán được những khó khăn, sai sót của học sinh thường gặpphải
Hệ thống bài tập phải đảm bảo các tiêu chuẩn:
Thông qua việc giải hệ thống bài tập, những kiến thức cơ bản, đã đượcxác định của đề tài phải được củng cố, ôn tập, hệ thống hoá và khắc sâu thêm
Các bài tập giúp nhận thức được mối quan hệ lôgic giữa các đại lượng vật
lí để hệ thống hoá kiến thức cho học sinh là rất có lợi Những mối quan hệ nàyphản ánh những mối quan hệ có thực giữa các đối tượng vật lí và các quá trình
Trang 24vật lí hoặc những tính chất của chúng Đó là một trong những tiêu chuẩn để giáoviên căn cứ vào đó lựa chọn hệ thống bài tập.
Mỗi bài tập phải đóng góp phần nào đó vào việc hoàn thiện kiến thức chohọc sinh Mỗi bài tập phải đem lại cho học sinh một điều mới mẻ nhất định, mộtkhó khăn vừa sức
Hệ thống bài tập phải đa dạng về thể loại và về nội dung phải không đượctrùng lặp
Các kiến thức toán lí được sử dụng trong bài tập phải phù hợp với trình độcủa học sinh
Số lượng bài tập được lựa chọn phải phù hợp với sự phân bố thời gian
Ở cấp THPT, các bài tập vật lí được sắp xếp hệ thống và đa dạng về thểloại, nó là một trong các phương tiện quan trọng để rèn luyện kỹ năng, kĩ xảo vànăng lực hoạt động sáng tạo trong học tập vật lí
* Các yêu cầu khi dạy học bài tập vật lí
Người giáo viên phải dự tính được kế hoạch cho toàn bộ công việc về bài tập, với từng đề tài, từng tiết học cụ thể Muốn vậy:
- Phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nêu vấn đề để sử dụng trong tiết nghiên cứu tài liệu mới nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy học sinh
- Phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nhằm củng cố, bổ sung, hoàn thiệnnhững kiến thức lí thuyết cụ thể đã học, cung cấp cho người học những hiểu biết
về thực tế và kĩ thuật có liên quan với kiến thức lí thuyết
- Phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nhằm kiểm tra, đánh giá chất lượngkiến thức, kĩ năng về từng kiến thức cụ thể và từng phần của chương trình Sắpxếp các bài tập thành hệ thống, định kế hoạch và phương pháp sử dụng Khi dạygiải bài tập vật lí cần dạy cho học sinh biết vận dụng kiến thức để giải quyết cácvấn đề đặt ra, rèn cho người học các kĩ năng giải các bài tập cơ bản thuộc cácphần khác nhau trong chương trình vật lí
Khi lựa chọn bài tập, cần xác định cho được mục tiêu dạy học của bài tập
đó Mục tiêu nói chung, là kết quả dự kiến cần đạt được mô tả dưới hình thức
Trang 25những hành vi quan sát được Mục tiêu dạy học của bài tập thường có hình thức như sau:
- Nhớ lại được định nghĩa, định luật
- Giải thích được, mô tả được hiện tượng, so sánh được mức độ khác nhauhay giống nhau của các sự kiện hoặc hiện tượng nào đó
- Đánh giá được tầm quan trọng, ý nghĩa, giá trị, mức độ, … của quá trìnhhay sự kiện, hiện tượng
- Biết thực hiện (hay tiến hành, hoàn thành, …) hành động hay hành vi nào đó ở trình độ nhất định và mức độ chính xác đến đâu
- Biết thể hiện ý thức (hay thái độ, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, lí trí,…) trước sự kiện theo định hướng giá trị nhất định
-Biết hoàn thành công việc nào đó với những tiêu chí cụ thể như lập kếhoạch, tổ chức, phát hiện, tra cứu, xử lí số liệu, đánh giá, phê phán, biện
luận 1.1.4 Một số vấn đề về phương pháp dạy học bài tập vật lí ở trường THPT 1.1.4.1 Tư duy trong quá trình giải bài tập vật lí
* Khái quát hoá và cụ thể hoá trong quá trình nhận thức:
Để có thể nêu ra được những nét chung của phương pháp dạy học về bàitập vật lí ta cần hiểu rõ quá trình tư duy trong việc xác lập đường lối giải mộtbài tập vật lí
Quá trình hình thành lên các khái niệm, định luật vật lí với quá trình kháiquát hoá, nó liên quan đến chuyển tiếp của người học từ chỗ mô tả chính chấtcủa từng sự vật, hiện tượng vật lí riêng lẻ đến chỗ phát hiện và tách nó ra trongmột nhóm các sự vật, hiện tượng
Khái quát hoá được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với thao tác trừutượng hoá Việc tách ra tính chất chung, bản chất nào đó, bao hàm việc tách nó
ra khỏi các tính chất khác Điều kiện cần thiết của sự khái quát hoá đúng đắn làphân tích trong các ví dụ cụ thể các dấu hiệu có thể thay đổi, các dấu hiệu khôngbản chất đối với một hiện tượng hoặc một khái niệm nhất định… Như vậy, điềukiện của sự hình thành khái quát hoá đúng đắn ở học sinh là sự thay đổi (biến
Trang 26đổi) các dấu hiệu (thuộc tính và hiện tượng) không bản chất trong sự ổn địnhcủa các dấu hiệu bản chất.
Quá trình dạy học thường theo trình tự: Tri giác - biểu tượng - khái niệm(định luật) Như vậy, khái niệm được trừu tượng hoá từ các đặc điểm và dấu hiệuđơn lẻ của các tri giác và biểu tượng, do đó, nó là kết quả của khái quát hoá vàbiểu tượng hoá về rất nhiều các hiện tượng và sự vật cùng loại
Tuy nhiên, nắm vững khái niệm, định luật không chỉ là giới hạn ở chỗ biếtcác dấu hiệu của sự vật và hiện tượng được bao hàm bởi khái niệm đó, mà cònphải biết sử dụng nó trong thực tế, biết làm việc với nó Điều đó có nghĩa là việctiếp thu khái niệm, định luật không chỉ bao gồm con đường từ dưới lên trên - từcác trường hợp đơn lẻ, bộ phận đến khái quát hoá chúng mà còn có con đườngngược lại từ trên xuống dưới, từ cái chung đến cái bộ phận và riêng lẻ Khi biếtcái chung, cần nhìn thấy nó trong trường hợp cụ thể gặp phải trong thời điểm đãcho Đó chính là con đường cần thực hiện khi giải các bài tập vật lí
Khái quát ban đầu càng trừu tượng thì sự tiếp thu nó một cách đầy đủcàng đòi hỏi phải cụ thể hoá nhiều hơn Trong dạy học vật lí, việc cụ thể hoáđược thực hiện trong quá trình áp dụng khái niệm, định luật vật lí, khi giải cácbài tập đưa các sự kiện, hiện tượng vật lí đơn lẻ vào khái niệm
Việc nắm vững tri thức trừu tượng thực sự diễn ra tuỳ theo mức độ phongphú của nội dung cảm tính - cụ thể Độ rộng và tính đa dạng của thông tin vềnhững biểu hiện cụ thể, cảm tính của cái chung được sử dụng làm cỉ số đo trình
độ nắm vững khái niệm, định luật
Nắm vững khái niệm, định luật - có nghĩa là nắm vững được toàn bộ tậphợp các tri thức về các sự vật mà khái niệm, định luật đó có liên quan Càng tiếngần tới mức độ đó, người học càng nắm vững khái niệm, định luật Đó là sự pháttriển của các khái niệm, định luật, chúng không phải bất biến mà có sự thay đổi
về nội hàm tuỳ theo việc mở rộng tri thức Như vậy, việc giải bài tập vật lí thựcchất là vận dụng các kiến thức khái quát đã có vào các tình huống vật lí cụ thể,
đó là quá trình đi từ cái chung đến cái riêng
* Phân tích tư duy giải bài tập vật lí
Trang 27Đối với học sinh ở các lớp khác nhau, việc giải bài tập vật lí thường cókhó khăn đặc biệt Các bài tập vật lí thay đổi theo các đặc điểm bề ngoài của tìnhhuống và đặc điểm tiêng của mối liên hệ giữa các đại lượng cho trong bài tập.
Mục đích hoạt động của giáo viên là trong khi dạy giải một cách hệ thốnghàng loạt các bài tập thuộc một dạng nào đó nhằm cung cấp cho người học kỹnăng phân tích hiện tượng vật lí dựa vào hàng loạt các dấu hiệu để nhận ra dạngbài tập đó với mục đích áp dụng được các khái niệm, định luật để tìm ra lời giảicuối cùng Ở đây đã diễn ra sự phân loại các kiểu ra điều kiện và các cách giảiđược áp dụng cho điều kiện đó
Trong quá trình giải bài tập vật lí, giáo viên có thể thấy học sinh rơi vàocác trường hợp sau:
- Khi giải một số bài tập xác định, có những trường hợp các bài tập đượcđưa về dạng bài tập đã biết (tức là nhận thức được bài tập đã được giải bằngcách xác định) và giải đúng
- Có trường hợp nhận ra dạng bài tập nhưng không giải được
- Có trường hợp giải được bài tập nhưng không nhận ra dạng của chúng
- Những trường hợp còn lại là không đưa các bài tập về dạng của chúng
và không giải được chúng
Như vậy, dường như ở học sinh có mối liên hệ rõ ràng giữa giải được bàitập và nhận dạng sơ bộ các bài tập và ngược lại Việc nhận dạng sơ bộ các bàitập thực chất là nhận ra được cơ sở định hướng để giải quyết bài tập đó
Việc nhận dạng sơ bộ các bài tập là điều kiện cơ bản để tái hiện cách giải
cụ thể đã biết
Tuy nhiên, trong toàn bộ tính chất phức tạp của hoạt động này, nó chưavượt ra khỏi phạm vi tư duy phân loại mang tính kinh nghiệm Sơ bộ nhận dạngđược các bài tập là điều kiện cần nhưng chưa đủ, vấn đề mấu chốt không phảichỉ là như vậy mà phải làm sao cho học sinh tự tìm thấy lời giải bài tập mới,ngay cả đó là những bài tập chỉ ở dạng đơn giản Muốn vậy, việc phân tích hiệntượng vật lí cụ thể trong bài để xác định chính các các quy luật chi phối các hiệntượng là chìa khoá dẫn tới thành công trong giải bài tập vật lí
Trang 28Quá trình giải bài tập vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiện củabài tập, nếu có thể thì dùng các kí hiệu, mô hình, hình vẽ để mô tả hiện tượng,xem xét hiện tượng vật lí được đề cập để nghĩ tới những mối liên hệ có thể giữacái đã cho và cái phải tìm dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lí vào điều kiện cụthể đã cho sao cho có thể thấy được cái phải tìm có liên hệ trực tiếp hoặc giántiếp với cái đã cho Sau đó, luận giải để đi từ những mối liên hệ đã xác lập đượcđến mối liên hệ tường minh, trực tiếp giữa cái cần tìm và cái đã biết.
Các công thức, phương trình đã xác lập được dựa trên các kiến thức vật lí
và điều kiện vụ thể của bài tập là sự biểu diễn những mối liên hệ định lượnggiữa các đại lượng vật lí Đối với các bài tập tính toán định lượng thì đó chính làthiết lập các phương trình để đi đến việc giải hệ phương trình tìm nghiệm của ẩnsố
1.1.4.2 Phương pháp giải bài tập vật lí
Mặc dù các bài tập vật lí khác nhau về loại và mục đích sử dụng trong dạyhọc, song trong thực tế người ta cũng thừa nhận một quan điểm chung về mộtquá trình giải bài tập vật lí Theo quan điểm đó người thầy không chỉ đơn giảntrình bày cho học sinh cách giải mà phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giáodưỡng học sinh trong quá trình giải bài tập, cần dạy học sinh tự lực giải bài tậpvật lí Quá trình giải một bài tập vật lí, đặc biệt là giải bài tập phức tạp có thểchia thành các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
-Đọc kĩ đề bài để xác định rõ các điều kiện và làm rõ ý nghĩa các thuậtngữ, các cụm từ quan trọng
- Tóm tắt đề bài, có thể sử dụng các kí hiệu, hình vẽ hoặc sơ đồ nếu cầnthiết Khi tóm tắt đề bài cần kiểm tra và đổi đơn vị của các đại lượng về cùngmột hệ thống đơn vị (thông thường là dùng đơn vị trong hệ SI)
Bước 2: Phân tích hiện tượngvật lí của bài toán
Ở bước này cần phân tích nội dung bài tập với mục đích làm rõ bản chấtvật lí của các hiện tượng được mô tả trong bài, gợi lại trong trí nhớ học sinhnhững khái niệm, định luật có liên quan, cần thiết cho việc giải bài tập
Trang 29Bước 3: Luận giải, tính toán kết quả.
Ở bước này có thể thực hiện theo các bước sau:
- Lập kế hoạch giải bài tập, bổ sung các điều kiện bằng hằng số vật lí hoặc bảng số liệu, phân tích các bảng số liệu, phân tích các đồ thị (nếu có)
-Tìm quy luật liên hệ các đại lượng phải tìm với các đại lượng đã cho,viết ra các công thức tương ứng
-Lập các phương trình dưới dạng tổng quát hoặc lắp ráp các thí nghiệmcần thiết (bài tập thí nghiệm) cho việc giải bài toán
- Giải phương trình để tìm ẩn số (hoặc phân tích các số liệu thực
nghiệm)
Bước 4 : Biện luận
-Phân tích lời giải hoặc đáp số (biện luận), đánh giá ảnh hưởng của các
số gần đúng trong điều kiện của bài toán
- Thảo luận tìm kiếm cách giải khác, lựa chọn cách giải phù hợp, mở rộng bài toán, …
Trong các bước giải bài tập nêu trên, bước thứ nhất và bước thứ hai rấtquan trọng, nó đóng vai trò quyết định phương pháp giải bài tập
1.1.4.3 Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí
* Cơ sở tâm lí học và lí luận dạy học về việc hình thành năng lực giải bài tập.
Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảotương ứng với chúng mà còn hường vào tiếp thu cả tri thức của chính bản thânhoạt động học Nói cách khác, là tiếp thu cả phương pháp lĩnh hội tri thức đó
Như vậy, hoạt động dạy phải được tổ chức sao cho thông qua đó hìnhthành được hoạt động học tập cho người học một cách tốt nhất, giúp họ tiếp thutri thức một cách chủ động, có hiệu quả cao Việc hình thành năng lực giải bàitập vật lí cũng được xem là mục đích quan trọng của hoạt động dạy học vật lí.Năng lực giải bài tập vật lí có thể bao gồm nhiều kĩ năng trong đó có thể chiathành: kĩ năng định hướng, kĩ năng kế hoạch hoá hoạt động giải bài tập, kĩ năngthực hiện kế hoạch giải và kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá Xét trên phương diện
Trang 3021
Trang 31năng đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề, kĩ năng giải quyết vấn đề theo giảipháp đã vạch ra và kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá.
Hoạt động giải bài tập vật lí bao gồm nhiều hành động mà phần quantrọng nhất của cơ chế tâm lí của hành động là cơ sở định hướng hành động khigiải bài tập vật lí
* Định hướng hành động giải bài tập vật lí.
Có ba kiểu định hướng vào việc giải quyết nhiệm vụ trong bài tập vật lí.Mỗi kiểu định hướng có kết quả và quá trình hành động riêng
-Kiểu định hướng thứ nhất
Giáo viên giới thiệu cho học sinh mẫu hành động và kết quả hành động,còn những chỉ dẫn cần phải thực hiện như thế nào không được nêu ra Học sinhthực hiện nhiệm vụ một cách mò mẫm theo cách thử và sai Kết quả là nhiệm vụ
có thể thực hiện được nhưng hành động mà nhờ đó nhiệm vụ được thực hiệnkhó bền vững khi thay đổi điều kiện
-Kiểu định hướng thứ hai
Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết mẫu của hành động trên một cơ sởđịnh hướng chặt chẽ và những chỉ dẫn, những cách thức để thực hiện hành động.Hành động ở đây đã được chia thành những giai đoạn và đảm bảo cho việc thựchiện nó một cách đúng đắn Kiểu định hướng này còn gọi là định hướng angôrit
Ở đây, học sinh nắm vững được kĩ năng thực hiện hành động và có khả năng dichuyển sang thực hiện nhiệm vụ mới, nhưng sự di chuyển này đòi hỏi phải cótrong thành phần của nhiệm vụ mới những yếu tố tương tự với các yếu tố trongthành phần của nhiệm vụ đã nắm vững
- Kiểu định hướng thứ ba
Giáo viên tiến hành dạy có kế hoạch về sự phân tích các nhiệm vụ nhằmrút ra những điểm tựa để thực hiện nhiệm vụ Những điểm tựa này là cơ sở địnhhướng để thực hiện hành động Ở đây, định hướng của giáo viên mang tính kháiquát, giáo viên kích thích học sinh tự xây dựng cơ sở định hướng hành động vàsau đó thực hiện hành động theo cơ sở định hướng đó Khi hành động được hìnhthành như vậy sẽ có khả năng dịch chuyển sang một lớp các nhiệm vụ rộng hơn
Trang 32Với các bài tập thực nghiệm, khi cần tiến hành thí nghiệm để phát hiện sựphụ thuộc nào đó, theo kiểu định hướng thứ ba, việc đưa ra cơ sở định hướngcủa hành động giải có thể như sau:
+ Phát hiện những điều kiện trong đó sự phụ thuộc có thể xảy ra, xác địnhphương án thí nghiệm khả thi để kiểm tra sự phụ thuộc đó, lựa chọn các dụng cụcần thiết (loại dụng cụ, tính chính xác và giới hạn đo, …)
+ Thực hiện lắp ráp các dụng cụ
+ Tiến hành thí nghiệm: phân chia những sự phụ thuộc phức tạp thànhnhững thành phần đơn giản (vào một đại lượng biến thiên), lập bảng các giá trịthu được
+ Xử lí các kết quả để xác định sự phụ thuộc cần kiểm tra, so sánh nhữngkết quả thực nghiệm với các kết quả lí thuyết mong đợi Trong một số trườnghợp có thể lập đồ thị lí thuyết và ghi lại “những điểm thực nghiệm”
- Kết luận về sự phụ thuộc của các đại lượng
Với kiểu hướng dẫn này tránh được tình trạng thầy làm hộ trò, trò chỉ thừahành thực hiện những hành động thầy đưa ra Do tính định hướng khái quát củakiểu hướng dẫn này nên phát huy được tính tích cực tự lực tìm tòi của học sinh.Câu hỏi gợi ý của giáo viên phải vừa mang tính gợi mở, vừa khái quát nhưngkhông được chung chung
Sự định hướng ban đầu của giáo viên nhằm kích thích sự tìm tòi, sạng tạocủa người học để tự xây dựng cơ sở định hướng hành động cho mình và thựchiện hành động theo cơ sở định hướng đó Trường hợp người học không đápứng được các yêu cầu của giáo viên thì sự định hướng tiếp theo của giáo viên sẽ
là sự thu hẹp dần phạm vi tìm tòi sao cho học sinh có thể đáp ứng được đòi hỏicủa nhiệm vụ đặt ra Ưu điểm của sự định hướng khái quát là sự kết hợp việcthực hiện hai yêu cầu cơ bản nhất khi giải một bài tập vật lí:
+ Rèn luyện tư duy học sinh trong quá trình giải bài tập
+ Đảm bảo cho học sinh giải được bài tập đã cho
Với sự định hướng như vậy đòi hỏi giáo viên phải phân tích cho được cơ
sơ định hướng hành động và các hành động cần thực hiện khi giải một bài tập
Trang 33vật lí đồng thời phải theo sát tiến trình hoạt động giải bài tập của học sinh.Người giáo viên không thể chỉ dựa vào những lời hướng dẫn có thể soạn sẵn màphải kết hợp việc định hướng với việc kiểm tra kết quả hoạt động của học sinh
để điều chỉnh sự giúp đỡ thích ứng với trình độ của học sinh
* Phương pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí
Từ những phân tích các kiểu định hướng trên, để hình thành ở người học năng lực giải bài tập vật lí người giáo viên cần thực hiện các công việc:
- Giúp người học thấy được ý nghĩa của kĩ năng cần nắm vững và mục đích của hành động tương ứng
- Tổ chức cho người học lĩnh hội được các thành phần cấu trúc cơ bản củahành động và trình tự hợp lí nhất để thực hiện các thao tác tạo thành hành động
- Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập luyện tập nhằm rèn luyện kĩ năng thực hiện hành động
- Tạo điều kiện để học sinh sử dụng kĩ năng đã hình thành vào việc thực hiện hành động mới, phức tạp hơn nhằm nắm vững kĩ năng mới
Trên cơ sở lí thuyết của phương pháp hình thành kĩ năng học tập ta thấy,công việc quan trọng nhất của giáo viên vật lí khi hướng dẫn giải bài tập vật línhằm hình thành có kết quả năng lực giải bài tập vật lí đó phải là xác định chođược các thành phần cấu trúc của kĩ năng rồi sau đó tổ chức cho học sinh luyệntập thực hiện các kĩ năng thành phần đó
Muốn hướng dẫn học sinh giải bài tập trước tiên giáo viên phải giải được bàitập đó, sau đó mới bàn đến việc hướng dẫn của giáo viên đối với học sinh Vì vậy,sau khi lựa chọn được nội dung bài tập, quy trình hoạt động của giáo viên trongviệc soạn giáo án lên lớp về bài tập vật lí được chia thành các giai đoạn như sau:
- Giải trước bài tập cụ thể định giao cho học sinh
- Phân tích phương pháp giải bài tập cụ thể này theo trình tự:
+ Trình bày một cách trực quan, tóm tắt đề bái bằng các kí hiệu vật lí, chỉ
rõ các dữ liệu đã cho và cái phải tìm, đổi đơn vị, hình vẽ
+ Phân tích hiện tượng vật lí xảy ra Biểu diễn một cách trực quan, cô đọng các mối liên hệ cơ bản cần xác lập để giải được bài tập đó
Trang 34+ Khái quát hoá tiến trình luận giải, mô hình hoá tiến trình này bằng sơ đồ
từ đó hình dung một cách rõ ràng các trình tự hành động cần thực hiện để giảiđược bài tập
+Trình bày sự tính toán, biện luận cụ thể để có được kết quả cuối cùng
- Xác định phương án hướng dẫn học sinh giải bài tập đã cho theo các bước + Lựa chọn, xác định kiểu hướng dẫn phù hợp với mục đích sư phạm.
+ Xác định tiến trình hoạt động dạy học cho việc hướng dẫn học sinhgiải bài tập
+ Soạn thảo các câu hỏi hoặc lời hướng dẫn cụ thể sẽ sử dụng khi lên lớp tương ứng với từng bước của tiến trình hướng dẫn đã vạch ra
1.1.4.4 Sử dụng bài tập vật lí nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi
Bồi dưỡng HSG là công việc không thể thiếu và diễn ra hàng năm ở cáctrường THPT Để làm được điều này, mỗi GV đều có một cách làm khác nhautùy thuộc vào điều kiện và năng lực của HS, nhưng trong đó không thể thiếuđược sự đóng góp của hệ thống tài liệu, bài tập nhằm bồi dưỡng HSG, đặc biệtđối với những môn khoa học tự nhiên như vật lí
Để học giỏi môn vật lí, HS cần có những phẩm chất và năng lực như: có
hệ thống kiến thức cơ bản vững vàng, sâu sắc; có trình độ tư duy vật lí phát triển(năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, suy luận lôgíc,…) có kỹ năngthực hành và vận dụng linh hoạt sáng tạo kiến thức lí thuyết đã có để giải quyếtcác vấn đề trong vật lí cũng như trong thực tiễn
Vì vậy, phát triển năng lực nhận thức và rèn luyện các kỹ năng là nhữngyêu cầu cơ bản, quan trọng nhất của quá trình bồi dưỡng HSG Trong dạy họcvật lí, bài tập là một phương tiện và phương pháp rất có lợi thế để hình thành các
kỹ năng và phát triển năng lực tư duy cho HS Chúng tôi đưa ra một số dạng bàitập để phát triển năng lực nhận thức cho HS theo các hướng sau
* Phát hiện vấn đề nhận thức từ việc nghiên cứu hiện tượng vật lí
Việc nghiên cứu hiện tượng vật lí có thể giúp HS đi đến những nhận xét
có tính khái quát hoá cao, từ đó có thể giúp HS gỉải nhanh các bài toán vật lí
* Phát hiện vấn đề nhận thức từ việc đọc đề bài toán
Trang 35Đây là giai đoạn nghiên cứu đề bài trong quá trình giải bài toán vật lí Khiđọc đề bài, trước hết học sinh phải hiểu biết từ ngữ, thấy được lôgíc của bàitoán, hiểu được ý đồ của tác giả, hình dung được tiến trình luận giải và phát hiệnnhững chổ có vấn đề của bài toán.
* Bài tập để rèn luyện cách giải nhanh, thông minh
Đó là những bài tập khó, hay và trong quá trình tìm tới cách giải có tácdụng phát triển tư duy của HS Khi tư duy được họat hoá thì HS sẽ có cách giảibài toán thông minh nhất, đó là con đường đi đến kết quả ngắn nhất và sáng tạonhất
Thực tế giảng dạy thấy rằng, trước bài toán nhiều HS lựa chọn cách giải làphân tích hiện tượng xảy ra, sử dụng kỹ năng tính toán theo các công thức, cácphương trình để lập bài toán đại số Với cách làm này, một số bài toán được giải rấtnhanh gọn nhưng một số bài toán lại trở nên phức tạp vì có nhiều phương trình, hệphương trình đại số lập được có nhiều ẩn số…Nếu biết vận dụng các quy luật vật lí,cách giải bằng đồ thị có thể giải nhanh chóng những dạng bài tập này
* Bài tập để rèn luyện khả năng suy luận, diễn đạt chính xác và lôgíc
Suy luận lôgíc là một trong những phẩm chất rất cần có đối với một HSgiỏi Có năng lực suy luận lôgíc, HS sẽ có cái nhìn bao quát về các khả năng cóthể xảy ra đối với một bài toán, từ đó có cách giải quyết vấn đề, lựa chọnphương án diễn đạt Cũng nhờ có khả năng suy luận lôgíc mà HS tự mình có thểphát hiện ra vấn đề nhận thức mới trên cơ sở kiến thức đã có Vì vậy trong quátrình dạy hoc vật lí cần thiết phải cho HS giải những bài tập đòi hỏi cao về khảnăng suy luận, kỹ năng diễn đạt lôgíc, chính xác
* Sử dụng bài tập để rèn luyện kỹ năng thực hành
Vật lí là khoa học thực nghiệm có lập luận Vì vậy HS giỏi vật lí nhấtthiết phải có kỹ năng thực hành, có khả năng giải thích những vấn đề thực tiễncuộc sống liên quan đến khoa học bộ môn, có ý thức vận dụng kiến thức đã biếtvào cuộc sống Thông qua làm việc tại phòng thí nghiệm, thực hiện các bài thựchành cũng như ý thức quan sát, sự nhạy bén trong việc vận dụng kiến thức vàothực tiễn cuộc sống, những năng lực này của HS được hình thành và phát triển
Trang 36Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học hiện nay, điều kiện thực hành còn gặp nhiềukhó khăn về trang thiết bị, về quỹ thời gian Vì vậy trong quá trình dạy học vật língoài việc vận dụng tối đa điều kiện hiện có để tăng cường kỹ năng thực hànhcho HS thông qua phương tiện dạy học, việc sử dụng bài tập để qua đó góp phầnhình thành và phát triển kỹ năng thực hành, khả năng giải quyết các vấn đề thựctiễn còn đang có ý nghĩa quan trọng.
Như vậy, khi bồi dưỡng HSG vật lí qua hệ thống bài tập, ngoài mức độluyện tập thông thường, GV phải yêu cầu ở mức cao hơn đối với HS là biết vậndụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong nhữngtình huống mới; biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng của HS, biết đề xuất cácgiải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống Và do đó, với nét đặc thù củamình, bài tập vật lí có vai trò lớn trong việc rèn luyện, bồi dưỡng, phát triểnnăng lực tư duy sáng tạo và các kỹ năng cho HSG trong dạy học vật lí
Thực hiện kế hoạch của Bộ GD&ĐT, những năm vừa qua thành phố HàNội tổ chức các kỳ thi chọn HSG ở nhiều môn văn hoá cấp THPT, như : Toán,
Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Anh Văn, Tin
Kết quả điều tra về kỳ thi học sinh giỏi môn vật lý THPT của thành phố
Hà Nội từ năm 2008 trở lại đây cho thấy:
Trang 37-Về hình thức tổ chức: hàng năm thành phố tổ chức hai kỳ thi chọn HSG + Kỳ thi học sinh giỏi thành phố lớp 12 (vòng I), thời gian tổ chức vàođầu tháng 12.
+ Kỳ thi chọn đội tuyển học sinh giỏi thành phố, dự thi HGG Quốc gia (vòng II), thời gian tổ chức vào đầu tháng 1 hàng năm
- Phạm vi nội dung kiến thức của đề thi thuộc chương trình THPT ban cơ bản, nâng cao và kiến thức vật lý chuyên THPT
- Cấu trúc đề thi: đề thi thường có từ bốn đến năm bài tập định lượng Được cho theo thang điểm 20, mỗi bài từ ba đến năm điểm
Nhận xét đề thi HSG môn vật lý THPT của thành phố Hà Nội:
Đề thi học sinh giỏi thành phố lớp 12 (vòng I), chủ yếu thuộc nội dungkiến thức THPT ban nâng cao Còn đề thi chọn đội tuyển học sinh giỏi thànhphố, dự thi HSG Quốc gia (vòng II), chủ yếu thuộc nội dung kiến thức chuyênvật lý THPT
Đề thi học sinh giỏi môn vật lý THPT của thành phố Hà Nội (cả haivòng) hầu như mới chỉ chú ý đến các bài tập định lượng, còn các dạng bài tậpđịnh tính và bài tập thí nghiệm ít khi được đề cập và có tới 90% các đề thi đều
đề cập đến nội dung kiến thức vật rắn và động lực học vật rắn Dựa trên nhữngđặc điểm đó, chúng tôi đề ra định hướng nghiên cứu đề tài xây dựng hệ thống vàphương pháp giải bài tập phần động lực học vật rắn, chủ yếu tập trung vào cácbài tập định lượng nhằm tạo điều kiện giúp công tác bồi dưỡng HSG phù hợpvới thực trạng ở địa phương và có thể đạt hiệu quả tốt nhất
1.2.2 Một vài nhận xét về thực tế công tác bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở ba trường THPT của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Trong nhà trường THPT, nhất là ở những trường không chuyên, việc pháthiện và bồi dưỡng HSG như thế nào để đạt kết quả tốt, quả là một vấn đề khôngđơn giản Trong các trường THPT của huyện Thanh oai, thành phố Hà Nội, việc bồidưõng HSG đã có sự quan tâm và đầu tư nhất định Qua điều tra chúng tôi thấy,trong những năm gần đây, công tác bồi dưỡng HSG nói chung và HSG môn vật línói riêng trong các nhà trường đã được quan tâm chú ý và đầu tư mạnh mẽ hơn, thể
Trang 38hiện qua các công việc sau: Chỉ đạo phát hiện năng khiếu của học sinh ở tất cả cácmôn văn hoá ngay từ lớp 10 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG ngay từ đầu nămhọc và công tác chỉ đạo triển khai công tác bồi dưỡng HSG cho GV và HS.
Thực tế cho thấy, hằng năm kết quả các kỳ thi HSG thành phố, các trường THPT của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội đã gặt hái được những
- GV không có điều kiện đầu tư chiều sâu về nội dung kiến thức
- Thời gian tập trung bồi dưỡng cho HSG không nhiều
- Vì không phải là trường chuyên nên thiếu định hướng và thiếu tính liên thông trong hệ thống chương trình và nội dung kiến thức
- Tất cả GV dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn, tự nghiên cứu và tự sưu tầm tài liệu riêng cho mình
* Về phía HS:
- Chất lượng đầu vào thấp, thời gian tự bồi dưỡng chưa được nhiều
- Một số HS không yên tâm khi được chọn theo học lớp bồi dưỡng HSG
vì phải mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến sức khỏe và kết quả học tập chung
Có thể nói, việc phát hiện bồi dưỡng HS năng khiếu, HSG các môn vănhóa nói chung và môn vật lý nói riêng là việc cần phải ý thức thường xuyên,trước hết là đối với những giáo viên trực tiếp giảng dạy Năng khiếu vật lý, càngđược phát hiện và bồi dưỡng sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Nhưng pháthiện và bồi dưỡng như thế nào cho có hiệu quả là cả một vấn đề cần được traođổi và quan tâm đúng hướng
Cần coi công tác bồi dưỡng HSG là công tác mũi nhọn và trọng tâm Nó
có tác dụng thiết thực và mạnh mẽ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của đội ngũ các GV, nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định được vị trí
Trang 39của mình trong nhóm các trường THPT không chuyên, tạo ra khí thế hăng saytrong học tập và khát vọng chinh phục tri thức cho HS.
1.2.2.2 Những khó khăn và nhu cầu của giáo viên khi bồi dưỡng học sinh giỏi môn vật lí
Thực trạng trong công tác bồi dưỡng HSG của các trường THPT hiện naythường gặp những hạn chế về kết quả Điều đó xuất phát từ những khó khăn chủyếu như sau:
- Giáo viên dạy bồi dưỡng vẫn phải hoàn tất công tác giảng dạy như các
GV khác, đôi khi còn kiêm nhiệm nhiều công tác khác như: chủ nhiệm, tổ
trưởng bộ môn, thư ký, Công đoàn… đó là một thực tế do Ban giám hiệu lúc nào cũng muốn giao công tác cho những GV tốt, giỏi, có uy tín Chính vì lý
do đó, việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị hạn chế
- Hầu như trong thư viện trường có ít tài liệu dạy chuyên hay tài liệu bồidưỡng HSG Trong các loại sách mà công ty thiết bị giáo dục cấp cho các trườngTHPT, không có sách dành cho GV và HS học chuyên sâu nhằm phục vụ côngtác bồi dưỡng HSG
- Đa số các giáo viên không muốn tham gia bồi dưỡng HSG với các lý do:không có tài liệu, sức ép phải có HSG luôn đè nặng trên vai và tâm trí của ngườithầy khi tham gia dạy bồi dưỡng HSG, sự đầu tư chuyên môn và công sức tự bỏ
ra rất tốn kém thời gian và trí lực
- Mặc dù có sự chỉ đạo của Sở GD&ĐT nhưng công tác bồi dưỡng HSGcủa các trường (ngoại trừ trường chuyên) còn mang tính chất tự phát, tùy lúc,tùy nơi, tùy từng trường, đặc biệt tùy vào kinh phí, cơ sở vật chất của từngtrường
- Học sinh không muốn tham gia vào các đội tuyển HSG vì học tập vất
vả, tốn kém rất nhiều thời gian mà hầu như không được một quyền lợi nào đặcbiệt về học tập khi đạt một giải nào đó trong các kỳ thi HSG Tâm lý chung củacác em là học để thi đỗ vào một trường Đại học nào đó mà các em và gia đìnhlựa chọn
Trang 40Quá trình đào tạo bồi dưỡng HSG là một quá trình đòi hỏi người dạy,người học nhận thức ở trình độ cao và làm việc căng thẳng Do đó môi trườnghọc tập cần phải có phòng học khang trang, đầy đủ tiện nghi; các phòng chứcnăng (thí nghiệm thực hành, thư viện, thư viện điện tử,…) sân vui chơi, thi đấuthể thao,…
Việc đầu tư kinh phí hoạt động cho công tác đào tạo bồi dưỡng HSG làmột điều tất yếu, chính đáng và thậm chí rất tốn kém Kinh phí hoạt động đượcdùng chủ yếu cho các hoạt động sau: công tác chuyên môn (tài liệu, giao lưu họchỏi, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, ) thực hiện bồi dưỡng học sinh, họcbổng, chế độ khen thưởng…
Đứng trước thực trạng đó, chúng tôi nhận thấy việc giải quyết nhu cầu vềtài liệu bồi dưỡng HSG là nhu cầu thiết yếu cần được đáp ứng, có như vậy côngtác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT nói chung, các trường THPT khôngphải là trường chuyên nói riêng mới có thể mang lại kết quả như mong đợi
1.2.3 Vấn đề sử dụng bài tập trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí THPT
1.2.3.1 Nhiệm vụ của dạy học vật lí và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông
Căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ chung và đặc điểm riêng của môn học,việc dạy học vật lí trong nhà trường THPT cần thực hiện được những nhiệm vụsau:
- Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có hệthống bao gồm: các khái niệm vật lí, các định luật vật lí cơ bản, nội dung chínhcủa các thuyết vật lí, các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí trong đời sống vàsản xuất, các phương pháp nhận thức thường dùng trong vật lí
- Phát triển tư duy khoa học ở học sinh: rèn luyện những thao tác, hànhđộng, phương pháp nhận thức cơ bản nhằm chiêm lĩnh kiến thức vật lí, vận dụngsáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và trong hoạt động thực tiễn sau này
- Trên cơ sở kiến thức vật lí vững chắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho họcsinh thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối vớilao động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động