Xác định tổ hợp phương pháp sử dụng phương tiện dạy học kỹ thuật số để tổ chức các hoạt động nhận thức tích cực cho học sinh trong quá trình dạy học.. PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KỸ THUẬT SỐ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC LỚP 6, TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KỸ THUẬT SỐ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC LỚP 6, TRUNG HỌC CƠ SỞ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Tiến Sỹ
HÀ NỘI - 2013
2
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp các PTDH kỹ thuật số đã sưu tầm và xây dựng 38
Bảng 2.2: Qui trình sử dụng PTDH KTS để tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS 49
Bảng 3.1: Tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN 63
Bảng 3.2: Tần suất hội tụ tiến điểm của các bài kiểm tra trong TN 64
Bảng 3.3: Kiểm định X theo tiêu chuẩn U kết quả kiểm tra trước TN 65
Bảng 3.4: Phân tích phương sai kết quả các bài kiểm tra trong TN 66
Bảng 3.5: Tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN 68
Bảng 3.6: Tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra sau TN 69
Bảng 3.7: Kiểm định X theo tiêu chuẩn U kết quả kiểm tra sau TN 70
Bảng 3.8: Phân tích phương sai kết quả kiểm tra sau TN 70
2
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa PTTQ trong mối quan hệ chặt chẽ
với các yếu tố cấu trúc khác của quá trình dạy học 12
Hình1.2: Sơ đồ vai trò nói truyền của PTTQ giữa thầy giáo và học sinh 19
Hình 2.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học 24
Hình 2.2: Sơ đồ giới thiệu các nhóm sinh vật và đặc điểm chung của cơ thể sống 33
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 64
Hình 3.2: Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN 65
Hình 3.3: Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN 68
Hình 3.4: Đồ thị tần suất điểm của các bài kiểm tra sau TN 69
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Dạnh mục viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
Mục lục v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Cơ sở lý luận 6 1.1.1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài 6
1.1.2 Cơ sở lý luận của phương tiện dạy học trong lý luận dạy học 13
1.1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng PTTQ trong dạy học Sinh học ở Việt Nam 19 1.2 Cơ sở thực tiễn 21 1.2.1 Điều tra thực trạng trang bị các thiết bị kỹ thuật dạy học phục vụ cho việc sử dụng các PTDH kĩ thuật số (như máy vi tính, đầu đĩa DVD, tivi, radio, máy chiếu, mạng internet…) 21
1.2.2 Điều tra phương pháp sử dụng các PTDH kĩ thuật số trong dạy học SH 6 22 1.2.3 Điều tra mức độ sử dụng các PTDH kĩ thuật số trong dạy học sinh học lớp 6 22
1.2.4 Điều tra nhu cầu của GV về các PTDH kĩ thuật số trong dạy học sinh học lớp 6 23 Kết luận chương 1 23 Chương 2: XÂY DỰNG TƯ LIỆU DẠY HỌC KỸ THUẬT SỐ ĐỂ DẠY HỌC SINH HỌC LỚP 6 24
2.1 Các nguyên tắc xây dựng PTDH KTS 24
2.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu – nội dung – PPDH 24
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học 25
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học 26
2.1.4 Nguyên tắc phát huy tối đa vai trò của các giác quan trong QTDH 27 2.1.5 Nguyên tắc thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian trong QTDH .29
4
Trang 72.2 Quy trình xây dựng PTDH KTS 30
2.2.1 Xác định mục tiêu dạy học 31
2.2.2 Phân tích lôgic cấu trúc nội dung dạy học 32
2.2.3 Sưu tầm, gia công sư phạm và gia công kỹ thuật hệ thống PTDH kỹ thuật số phù hợp với nội dung dạy - học 37
2.2.4 Thiết kế trang Web quản lí thư viện PTDH kỹ thuật số 40
2.2.5 Thiết kế KBGA để chỉ định việc nhập liệu thông tin vào phần mềm PowerPoint hình thành BGĐT 43
2.3 Qui trình sử dụng PTDH KTS để tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS 49
2.4 Một số ví dụ về qui trình sử dụng PTDH KTS trong dạy học Sinh học lớp 6 52
Kết luận chương 2 60
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61
3.1 Mục đích thực nghiệm 61
3.2 Nội dung thực nghiệm 61
3.3 Phương pháp thực nghiệm 61
3.4 Kết quả thực nghiệm 62
3.4.1 Phân tích kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm 62
3.4.2 Phân tích kết quả các bài kiểm tra sau thực nghiệm 68
3.4.3 Đánh giá về mặt tâm lý sư phạm đối với học sinh 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Khuyến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 78
Trang 8MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ mục tiêu dạy học sinh học 6 ở trường THCS
Chương trình sinh học 6 giúp học sinh bắt đầu làm quen với môn khoa họcchuyên nghiên cứu về thế giới sinh vật Các kiến thức về thực vật và một sốnhóm sinh vật khác trong chương trình này vừa góp phần làm cho học sinh cóđược những kiến thức sinh học cơ bản, phổ thông và hoàn chỉnh, vừa giúp họcsinh có cơ sở để tiếp tục học những kiến thức về di truyền, sinh thái ở cấp họctrên, đồng thời làm cơ sở cho việc nắm vững các biện pháp kỹ thuật sản xuấtnông nghiệp, lâm nghiệp được học trong môn công nghệ ở lớp 7 và lớp 9 [15]
1.2 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Từ thập niên 90 của thế kỉ trước, vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học làmột chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hànhđộng trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI Ngoài ra, UNESCO còn dự báo:CNTT sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI
Trước tình hình CNTT với giáo dục trên thế giới như vậy, Nghị quyếtTW2, khóa VIII đã được cụ thể hóa bằng Chỉ thị 58-CT/TW (17/10/2000) của
Bộ Chính trị, nội dung Chỉ thị có đoạn: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trongcông tác GD & ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thứcđào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội”
Luật giáo dục nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua
tháng 12 năm 1998 tại mục 2 trong điều 4 cũng nêu rõ :“ Phương pháp giáo
dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người
học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập, ý chí vươn lên”.
Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục, tăng cường vận dụng cácphương pháp dạy học đặc thù của bộ môn sinh học theo hướng tích cực hóahoạt động học tập của học sinh là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Namtrong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài [3]
6
Trang 91.3 Xuất phát từ nguyên tắc vận dụng PPDH không thể tách rời PTDH
PTDH ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, đặcbiệt là những PTDH kĩ thuật số trong thời đại phát triển CNTT PTDH giúpngười thầy tiến hành bài học không phải bắt đầu bằng giảng giải, thuyết trình,độc thoại,… mà bằng vai trò đạo diễn, thiết kế, tổ chức, kích thích, trọng tài,
cố vấn,… trả lại cho người học vai trò chủ thể, không phải học thụ động bằngnghe thầy giảng, mà học tích cực bằng hành động của chính mình
1.4 Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 6
Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ pháttriển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành
và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổikhó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị “…Đây là lứa tuổi có bước nhảyvọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiếnsang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơbản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạođức… của thời kỳ này Các em hầu hết chưa ý thức được vai trò của việc họctập mà chỉ học khi mình thấy hứng thú Do đó, muốn học sinh tích cựu học vàham học thì việc thiết kế và sử dụng phương tiện kỹ thuật số để kích thích tinhthần học tập của các em là rất cần thiết
1.5 Xuất phát từ đặc điểm chương trình và SGK SH 6
SGK SH 6 được biên soạn theo hướng hạn chế việc cung cấp tri thức cósẵn, buộc HS phải hoạt động tích cực tự lực dưới sự tổ chức hướng dẫn của
GV mới có thể phát hiện và lĩnh hội được Cách biên soạn như vậy khôngnhững buộc HS phải thay đổi cách học mà còn buộc GV thay đổi cách dạy
Nội dung kiến thức SH 6 bao gồm những kiến thức về cấu tạo cơ thểcây xanh từ cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá) đến cơ quan sinh sản (hoa, quả,hạt) trong mối quan hệ với chức năng của chúng và với môi trường; nhữngkiến thức về vai trò của cây xanh đối với đời sống con người; đặc biệt là
Trang 10những kiến thức về các cơ chế, quá trình như: Sự lớn lên và phân chia tế bào, sựhút nước và muối khoáng ở rễ, sự vận chuyển nước và muối khóang trong thân,
quang hợp, hô hấp, sự thụ tinh kết quả và tạo hạt, Đây là những kiến thức trừu
tượng Những kiến thức này đã gây khó khăn cho quá trình dạy và học của GV và
HS, nhất là đối với đặc điểm tâm lí nhận thức của lứa tuổi HS lớp 6 Đặc biệt hơnnữa là các kiến thức về các cơ chế, quá trình đó lại phải được rút ra từ việc quansát các thí nghiệm Trong đó, có nhiều thí nghiệm là những thí nghiệm trườngdiễn, không thể tiến hành trên lớp, lại rất khó có kết quả như mong muốn Do đó,cần sưu tầm và xây dựng các PTDH ở dạng kỹ thuật số như: hình ảnh tĩnh vàđộng, âm thanh, phim, video,… tạo thuận lợi cho GV tổ chức những hoạt độngtìm tòi và phát hiện kiến thức cho HS [2] [3] [15]
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: "Xây dựng và sử dụng phương tiện dạy học kỹ thuật số để dạy học sinh học lớp 6, trung học cơ sở”
2 Mục đích nghiên cứu
Sưu tầm, tuyển chọn, xử lí sư phạm và kĩ thuật các hình ảnh tĩnh, ảnhđộng, phim video… (gọi chung là các PTDH ở dạng kỹ thuật số) phù hợp vớinội dung dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học SH 6
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống phương tiện dạy học kỹ thuật số để dạy
học sinh học 6 ở trường THCS
3.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học sinh học 6 ở trường THCS.
4 Giả thuyết khoa học
Xây dựng được hệ thống phương tiện dạy học kỹ thuật số phù hợp vớinội dung SH 6 và xác định được phương pháp sử dụng hợp lý sẽ góp phầnnâng cao chất lượng dạy học môn học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
8
Trang 11 Nghiên cứu thực trạng dạy học SH ở trường THCS.
Xác định hệ thống nguyên tắc sư phạm chỉ đạo quá trình xây dựng cácphương tiện dạy học kỹ thuất số
Xác định các quy trình sưu tầm và xây dựng các phương tiện dạy học kỹ thuật số
Xác định tổ hợp phương pháp sử dụng phương tiện dạy học kỹ thuật số theo hướng tích cực
Thiết kế kịch bản một số giáo án thực nghiệm để chỉ định việc nhập liệu thông tin vào phần mềm công cụ (Powerpoint) hình thành BGĐT
Thực nghiệm sư phạm
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp điều tra cơ bản
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thống kê toán học
7 Những kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của đề tài
Hệ thống hóa cơ sở lí luận của đề tài về bản chất, vai trò và giá trị dạy họccủa phương tiện dạy học nói chung và vận dụng vào xây dựng và sử dụngphương tiện dạy học kỹ thuật số trong dạy học SH 6
Xác định hệ thống nguyên tắc sư phạm chỉ đạo quá trình xây dựng phương tiện dạy học kỹ thuật số
Xác định các quy trình sưu tầm và xây dựng các phương tiện dạy học kỹ thuật số phù hợp với nội dung chương trình SH 6
Xác định tổ hợp phương pháp sử dụng phương tiện dạy học kỹ thuật số để
tổ chức các hoạt động nhận thức tích cực cho học sinh trong quá trình dạy học
Thiết kế 3 KBGA mẫu cho TNSP để chỉ định việc nhập liệu thông tin vào phần mềm công cụ ( Powerpoint) hình thành BGĐT
Trang 128 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng phương tiện dạy học kỹ thật số sinh học lớp 6Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
10
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Khái niệm phương tiện dạy học [1]
Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong qua trình dạyhọc, bao gồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạyhọc, các thiết bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác
Theo Lotsklinbo: “PTDH là tất cả các phương tiện vật chất cần thiếtgiúp GV hay HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục
và giáo dưỡng ở các cấp học, ở các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiệnđược những yêu cầu của chương trình giảng dạy, để làm dễ dàng cho sự truyềnđạt và lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo”
PTDH là các phương tiện được sử dụng trong QTDH, bao gồm các đồdùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học, các thiết bị hỗ trợ
và các điều kiện cơ sở vật chất khác
Để đạt được mục đích trong quá trình dạy học, việc vận dụng cácphương pháp dạy học không thể tách rời việc sử dụng các phương tiện dạyhọc, trong đó có các PTTQ Phương tiện trực quan thuộc phạm trù phươngpháp, vì ngoài nó ra phương pháp còn bao gồm theo nghĩa hẹp là cách thứchành động cụ thể, thủ pháp cụ thể trong dạy học và hình thức tổ chức dạy học
Do đó, khi nói đến phương pháp dạy học là nói đến PTTQ và cách thức sửdụng nó trong tất cả các khâu của quá trình dạy học
1.1.1.2 Khái niệm phương tiện trực quan [1]
PTTQ là khái niệm phụ thuộc khái niệm phương tiện dạy học PTTQđược hiểu là một hệ thống bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từđơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy - học với tư cách là mô hìnhđại diện cho hiện thực khách quan về sự vật hiện tượng, làm cơ sở và tạo điều
Trang 14kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo về đối tượng đó chohọc sinh.
PTTQ là nguồn chứa đựng thông tin tri thức hết sức phong phú và sinhđộng, giúp học sinh lĩnh hội tri thức đầy đủ và chính xác, đồng thời giúp củng
cố, khắc sâu, mở rộng, nâng cao và hoàn thiện tri thức Qua đó rèn luyệnnhững kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát,phân tích tổng hợp, hình thành và phát triển động cơ học tập tích cực, làmquen với PP nghiên cứu khoa học Từ đó có khả năng vận dụng những tri thức
đã học vào thực tiễn, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc lực cho giáo viên trong quá trình tổchức hoạt động dạy học ở tất cả các khâu của quá trình dạy học.Nó không thểthiếu được trong quá trình vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học cụthể, giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh giảm nhưng đầy đủ, sâu sắc vàsinh động, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh hiệu quả sáng tạo
1.1.1.3 Khái niệm đa phương tiện (Multimedia) [23]
Đa phương tiện là một thuật ngữ gắn với CNTT, có thể hiểu “đa phươngtiện là việc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để truyền thông tin ở cácdạng như văn bản, đồ hoạ, hình ảnh (bao gồm cả hình tĩnh, hình động) và âmthanh, cùng với siêu liên kết giữa chúng với mục đích giới thiệu thông tin đếnngười nghe”
1.1.1.4 Phân loại PTTQ [6]
Việc phân loại PTTQ hiện nay vẫn còn là một vấn đề phức tạp có nhiều ýkiến khác nhau Nếu dựa vào cấu tạo PTTQ có thể chia thành hai nhóm:
Các PTTQ truyền thống
Các phương tiện nghe, nhìn
Theo Tô Xuân Giáp có thể phân loại PTTQ như sau:
Các tài liệu trực quan là các vật thật trong tự nhiên, kĩ thuật, đời sống (các mẫu vật, các bộ sưu tập, các sản phẩm lao động )
12
Trang 15 Các phương tiện phản ánh đẳng cấu các đối tượng và hiện tượng của thếgiới hiện thực ( mô hình, maket, vật gỗ, tranh ảnh ).
Các phương tiện để tái tạo các hiện tượng tự nhiên hoặc các sản phẩm lao động ( các dụng cụ thí nghiệm, hoá chất, máy móc )
Các phương tiện mô tả đối tượng và hiện tượng bằng lời nói, bằng kíhiệu, bằng ngôn ngữ tự nhiên và nhân tạo ( sách giáo khoa, sách hướngdẫn, tài liệu tham khảo )
Các phương tiện kĩ thuật để truyền tải thông tin ( máy chiếu, băng hình,computer )
Trong dạy học sinh học, có thể phân loại các PTTQ như sau:
1- Các vật tự nhiên: mẫu sống, mẫu ngâm, mẫu nhồi, tiêu bản khô, tiêu
bản hiển vi v.v Các mẫu vật thật là nguồn cung cấp những hình tượng cụ thể,chính xác và gần gũi với học sinh về hình dạng, kích thước, màu sắc và cấutạo ngoài Song việc nghiên cứu cấu tạo trong, các cơ quan bộ phận nhỏ lạigặp khó khăn trong việc quan sát và phân biệt
2- Các vật tượng hình: mô hình, tranh vẽ, ảnh, phim, phim đèn chiếu,phim video, phần mềm dạy học, sơ đồ, biểu đồ:
- Mô hình: là những vật thay thế cho đối tượng nghiên cứu duới dạng các
biểu tượng trực quan được vật chất hoá hoặc mô tả các cấu trúc, nhữnghiện tượng, quá trình Mô hình còn cho phép mô tả sự vật, hiện tượngtrong không gian ba chiều, có thể tĩnh hoặc động làm cho quá trình nhậnthức được đầy đủ trực quan hơn
- Tranh, ảnh: Mô tả các sự vật, hiện tượng, cấu trúc, quá trình ở trạng thái tĩnh, có thể được chụp trực tiếp hoặc mô phỏng lại qua sơ đồ hình vẽ
- Băng, đĩa hình: Miêu tả sự vật, hiện tượng ở trạng thái động, diễn cảm
chính xác và sống động
- Bản trong: là các hình ảnh, sơ đồ về cấu trúc, quá trình được ghi lên
một bản trong, sau đó được chiếu lên màn hình qua máy chiếu Overhead
Trang 16- PMDH: có khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều dạng khác nhau nhờ
tích hợp được truyền thông đa phương tiện, như chứa được cả hình ảnh,
âm thanh, phim vidio có hiệu quả trực quan cao nhất
Các vật tượng hình giúp tạo điều kiện cho học sinh hình thành nhữngbiểu tượng về sự vật, hiện tượng mà trong điều kiện bình thường khó quan sátđược
3- Các bộ dụng cụ thí nghiệm, thực hành
1.1.1.5 Vai trò của PTTQ [4] [6]
PTTQ có vai trò quan trọng trong quá trình dạy - học, nó thay thế chonhững sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HSkhông thể tiếp cận trực tiếp được, nó giúp cho GV phát huy được tất cả cácgiác quan của HS trong quá trình tiếp thu kiến thức, giúp cho HS nhận biếtđược quan hệ giữa các hiện tượng, các khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việcrút ra những tri thức và sự vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế Nhưvậy, nguồn tri thức HS thu nhận được trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâubền hơn
PTTQ làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể, dễ dàng hơn, làm tăng thêmkhả năng tiếp thu những sự vật hiện tượng và các quá trình phức tạp mà trongđiều kiện bình thường HS khó nắm bắt được Nhờ đó nó rút ngắn thời gian giảngdạy, đồng thời việc lĩnh hội những kiến thức của HS lại diễn ra nhanh hơn Mặtkhác, nó cũng giúp cho GV giảm nhẹ được lao động của mình trên lớp, do đó làmtăng thêm khả năng nâng cao chất lượng dạy học PTTQ còn là phương tiện vậtchất dễ dàng gây được sự chú ý và chiếm được tình cảm của HS hơn cả Bằngviệc sử dụng PTTQ, GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thutri thức mới cũng như hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo của HS
Ngày nay, sự truyền đạt thông tin tri thức cho người học không phải chỉ
có mỗi hình thức dựa vào sự trình bày hay hướng dẫn của GV (dạy học cóGV) mà còn có hình thức dạy học không phụ thuộc vào sự trình bày của GV
14
Trang 17đó là hình thức dạy học từ xa hay dạy học chương trình hoá (Angolit hoá) và
tự học thông qua sử dụng PMDH - (dạy học không có thầy giáo) Tuy nhiên, ởnhững giai đoạn nhất định vẫn cần có sự tham gia của GV, mặc dù khác nhau
ở hình thức tổ chức nhưng ở cả 2 kiểu dạy học này PTTQ đều có những tác động đặc biệt quan trọng đến kết quả cuối cùng của quá trình dạy học
Vai trò của PTTQ là hỗ trợ cho GV trên lớp, các PTTQ được thiết kế để
có thể nâng cao và thúc đẩy việc học tập, lĩnh hội tri thức của HS và hỗ trợ đắclực cho thầy giáo Nhưng hiệu quả của chúng lại phụ thuộc nhiều vào khảnăng sư phạm của thầy giáo PTTQ cũng được sử dụng có hiệu quả trongtrường hợp dạy học không có GV, đó là những sản phẩm nghiên cứu ứng dụngCNTT là những PMDH thông minh Nó có thể giúp cho HS tự học ở mọi nơi,mọi lúc; giúp cho HS tin tưởng vào khả năng nhận thức của mình trong quátrình học tập Trong trường hợp này, nhiệm vụ dạy - học ta có thể hoàn toàngiao cho PMDH Tuy vậy, không có nghĩa là công nghệ dạy học ngày càngphát triển sẽ có thể thay thế hoàn toàn công việc của thầy giáo Các PMDHnày có thể giúp cho GV trở thành những người tổ chức hoạt động nhận thức,điều hành việc học tập của HS một cách sáng tạo hơn
Đối với trẻ em khuyết tật, thì PTTQ lại càng chiếm vị trí quan trọng, ví
dụ trẻ em chậm phát triển trí tuệ cần có các khoá học được cấu trúc cao hơntuỳ khả năng tiếp thu và tổ hợp các thông tin vào bộ nhớ có nhiều hạn chế.Chúng cần được cung cấp các thông điệp thuộc phạm vi của bài học được lặp
đi lặp lại nhiều lần để chúng có thể phát triển các vấn đề đã được học Còn các
HS nghe kém và nhìn kém cần nhiều tư liệu học tập khác nhau Phải tăngcường các phương tiện nghe cho các em nhìn kém hơn bình thường PTTQ cóvai trò cực kỳ quan trọng đối với trẻ em khuyết tật, nó không những giúp chocác em học hỏi được thêm nhiều tri thức mà còn giúp các em hoà nhập đượcvới cộng đồng không bị mặc cảm
Trang 18Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có những công trình khoa họcxem xét quá trình dạy học dưới góc độ định lượng bằng cách sử dụng các công
cụ toán học hiện đại Việc này có tác dụng nâng cao hiệu quả của hệ dạy học
cổ truyền, đồng thời mở ra những hệ dạy học mới đang ở giai đoạn thí điểmnhư dạy học chương trình hoá, dạy học giải quyết vấn đề Xu hướng hiện đạinày tăng cường việc khách quan hoá, cá thể hoá (nâng cao tính tích cực tự lực
và vừa sức ) hệ dạy học và tăng cường mối quan hệ nghịch ( kiểm tra và tựkiểm tra ) của hệ dạy - học nhằm nâng cao hiệu quả học tập Theo thuyết thôngbáo, quá trình dạy học là một hệ thông báo, trong hệ này có liên hệ từ thầy đếntrò và ngược lại Nghĩa là bao gồm sự truyền đạt thông tin (của thầy) và sựlĩnh hội thông tin (của trò), giữa thầy và trò có những liên hệ thông tin tức làkênh truyền tải thông tin Các kênh thông báo gồm: kênh thị giác, kênh khứugiác, kênh thính giác, kênh xúc giác Lượng thông báo truyền đi trong mộtđơn vị thời gian gọi là năng lực chuyển tải Năng lực chuyển tải ở các kênhkhác nhau thì khác nhau Như vậy có nhiều đường liên hệ để chuyển tải thôngbáo cho nên nhiệm vụ của dạy học là làm sao cho chất lượng chuyển tải caonhất, nghĩa là tìm ra con đường liên hệ tốt nhất
Năng lực chuyển tải của một số kênh như sau:
o Kênh thị giác : 1,6 106 bit/s
o Kênh thính giác: 0,32 106 bit/s
o Kênh xúc giác : 0,16 106 bit/s
Như vậy, kênh thị giác là kênh nhanh nhất, rộng nhất và xa nhất Chứng
tỏ kênh này có hiệu quả cao nhất trong quá trình thông báo Đó là một bằngchứng của vai trò trực quan trong dạy học
Ngày nay, với những thành tựu của khoa học và công nghệ thì PTTQcàng được phát triển cùng với sự ra đời của các phương tiện nghe nhìn hiệnđại như điện ảnh, vô tuyến truyền hình, computer Những thành tựu đó đã chophép đưa vào những nội dung diễn cảm và hứng thú làm thay đổi phương
16
Trang 19pháp và hình thức tổ chức dạy - học, tăng nhịp độ của quá trình dạy - học, tạonên phong cách mới và trạng thái tâm lý mới Nhưng dù PTTQ có hiện đại đếnđâu vẫn chỉ là công cụ trong tay người GV, giúp họ thực hiện có hiệu quả quátrình dạy - học Trong dạy - học, GV cần tính đến mối quan hệ giữa PTTQtrong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố cấu trúc khác của quá trình dạy -học theo sơ đồ sau:
Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa PTTQ trong mối quan hệ chặt chẽ
với các yếu tố cấu trúc khác của quá trình dạy học
Mỗi môn học đều cần có các PTTQ phù hợp, đặc biệt là trong thế kỉ 21này với sự bùng nổ của thông tin thì PTTQ lại càng có vai trò quan trọng hơn.Đối với sinh học - là khoa học nghiên cứu thế giới sinh vật, nếu chỉ giải thíchbằng lời và với sự hiểu biết của mình thì chưa đủ sức để thuyết phục Vì vậy,cần phải có những PTTQ để giúp HS quan sát, phát hiện lại những sự kiện,hiện tượng tự nhiên xảy ra trong thế giới sinh vật
QTDH chỉ có ngôn ngữ và chữ viết thì người học sẽ thấy nội dung bàihọc khô khan, buồn tẻ và nhàm chán Điều đó ắt sẽ dẫn đến kết quả dạy và học
sẽ không cao
Trang 20Tích hợp đa phương tiện trong dạy học sẽ đem lại một kết quả là cùngmột nội dung, người học được tiếp nhận cùng một lúc các dạng thông tin từnhiều kênh khác nhau, tác động đồng thời vào các giác quan của người họclàm cho quá trình lĩnh hội kiến thức của người học trở nên nhanh và hiệu quả.
Thật vậy, kỹ thuật siêu liên kết (hyperlink) của CNTT đã giúp kết nốimau lẹ nhiều cơ sở dữ liệu gồm mọi loại văn bản, đồ hoạ, âm thanh trở thànhnguồn PTDH đa năng và phong phú, và tăng tốc độ tương tác giữa người sửdụng và nguồn tư liệu Khi ngồi trước một máy tính có nối mạng là bạn đượcngồi trước một kho dữ liệu vô tận, bao gồm các cơ sở dữ liệu ghi trên máy tính
và các đĩa CD, DVD kèm theo, và vô vàn các trang Web liên quan trên toànthế giới, mà mọi cơ sở dữ liệu đó được kết nối rất nhanh chóng khi tìm kiếmbằng công cụ siêu liên kết Rõ ràng nếu hiểu “đa phương tiện’’ theo cách nhưtrên chúng ta mới thấy hết quy mô và sức mạnh diệu kỳ của nó
1.1.2 Cơ sở lý luận của phương tiện dạy học trong lý luận dạy học [21]
Trực quan trong dạy học là một nguyên tắc lý luận dạy học ra đời sớmnhất Từ cổ xưa, người ta đã sử dụng nó trong quá trình truyền đạt những kinhnghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, ở những chỗ mà lời giảng không đủ để đảm bảo chotrẻ em hiểu thấu được đối tượng
Theo J.A.Cômenxki (1592-1679) nhà giáo dục nổi tiếng Slovakia đượcxem là người đầu tiên nêu lên luận đề cơ bản về giảng dạy trực quan Theoông, không có gì hết trong trí não nếu như trước đây không có gì trong cảmgiác Vì vậy, dạy học bắt đầu không thể từ sự giải thích về các sự vật mà phải
từ sự quan sát trực tiếp chúng Trực quan được xem là một phương tiện phảnánh khách quan, trung thực vào đối tượng và các quá trình của thế giới hiệnthực, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với việc phát triển tư duy trừu tượng của
HS Những PTTQ sử dụng trong giảng dạy là nguồn cơ sở đầu tiên của nhậnthức, những phương tiện đó đồng thời góp phần vào việc phát triển óc quansát, tư duy và ngôn ngữ của HS Ông cho rằng, nếu chúng ta muốn dạy cho HS
18
Trang 21biết các sự vật một cách vững chắc, đúng đắn, nói chung cần phải dạy quaquan sát và qua chứng minh bằng cảm tính Theo ông, càng dựa trên cảmgiác bao nhiêu thì kiến thức càng chính xác bấy nhiêu Từ đó, ông rút ranguyên tắc "Lời nói không bao giờ được đi trước sự vật" Thực ra, điều đókhông chính xác và cũng là hạn chế lớn nhất của ông Ở đây, ông muốn đề caotầm quan trọng của các PTTQ trong dạy học Trên thực tế, J.A Cômenxki cũngrất đề cao công việc của trí óc (tư duy) và khẳng định rằng, những cảm giácbên ngoài được tập trung vào lý trí Có thể thấy rằng, đóng góp lớn nhất củaJ.A.Cômenxki là ở chỗ đã tổng kết và phát triển kinh nghiệm đã tích luỹ được
về trực quan và đưa áp dụng nó một cách có ý thức vào quá trình dạy học Làngười đầu tiên thiết lập nguyên tắc dạy học trực quan, một nguyên tắc cho đếnngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi và có ý nghĩa quan trọng trong quá trìnhdạy học Tuy nhiên, hạn chế của ông ở chỗ không phân biệt ranh giới rõ rànggiữa cảm giác và tư duy trong nguyên tắc trực quan
Cùng với quan niệm trên, Môngtenhơ (1533-1592), nhà Giáo dục Phápđược coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu Ông chủ trươnggiảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sựvật trong đời sống hàng ngày
Sự phát triển của nguyên tắc dạy học trực quan được gắn liền với tên tuổicủa G.Pestalossi (1746-1827) nhà Giáo dục học Thụy Sĩ Cũng như J.A.Cômenxki, G.Pestalossi xuất phát từ chỗ quan sát là cơ sở của mọi tri thức,nhưng sự quan sát của G.Pestalossi nêu ra xuất phát từ cơ sở Tâm lý học Trựcquan ở G.Pestalossi được xem là điểm tựa để biến những biểu tượng chưa rõràng thành những biểu tượng rõ ràng, chính xác Công lao to lớn củaG.Pestalossi là ở chỗ trong việc phát triển nguyên tắc trực quan, ông hướng tớiviệc gắn liền tri giác cảm tính với sự phát triển của tư duy
Sau G.Pestalossi, V.G.Belinxki (1811-1848) nhà Giáo dục Liên bang Nga làngười đã có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển lý thuyết trực quan trong
Trang 22dạy - học Cũng như G.Pestalossi, tư tưởng trực quan của V.G.Belinxki gắnliền với tư tưởng dạy học phát triển Dựa trên các quan điểm duy vật, V.G.Belinxki xem các giác quan và bộ não như là hai lực lượng cần thiết cho nhau.Theo ông, nhà sư phạm trong dạy học cần phải dựa trên những biểu tượng củatrẻ em đã thu nhận được trong quá trình quan sát thế giới hiện thực.
Nguyên tắc dạy - học trực quan sau này được K.Đ.Usinxki (1824-1870)
và các học trò của ông tiếp tục phát triển dựa trên cơ sở những thành tựu củaTâm lý học và Sinh lý học K.Đ.Usinxki đã cho cách giải thích mới trong dạyhọc trực quan Có thể nói đến K.Đ.Usinxki, nguyên tắc trực quan trong dạyhọc đã được nâng lên một trình độ mới cao hơn Đóng góp của ông là ở chỗ,khi phân tích nguyên tắc trực quan về mặt Tâm lý học, K.Đ.Usinxki đã đặcbiệt nhấn mạnh đến tính chất phiến diện không đầy đủ trong cách hiểu trựcquan trong dạy học chỉ là cái gắn liền với tri giác Nếu trước đây, ởJ.A.Cômenxki cảm giác không được phân biệt với tư duy thì K.Đ.Usinxki chorằng, trực quan là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cungcấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ Theo ông, tính trực quan có ý nghĩa to lớn vềmặt sư phạm là vì: Trực quan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của HS trởnên dễ dàng hơn, tự giác hơn, có ý thức và vững chắc hơn; trực quan tạo rahứng thú học tập ở HS, kích thích tính tích cực và tính tự lập trong hoạt độnghọc tập của HS; trực quan làm giảm nhẹ lao động sư phạm của GV; và dạy họctrực quan còn là phương tiện tốt nhất nhằm giúp GV gần gũi với học sinh.K.Đ.Usinxki cho rằng, không có cái gì có thể giúp anh nhanh chóng san bằngbức tường ngăn cách giữa người lớn và trẻ em, đặc biệt là giữa GV và HS như
là việc đưa cho HS xem bức tranh nào đó và giải thích cho chúng Nếu GVbước vào lớp học và cảm thấy khó bắt chuyện được với lớp thì GV hãy đưa racho HS xem những bức tranh và lớp học sẽ trở nên cởi mở, thoải mái Trựcquan còn là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy của HS Có thể nói,đây là những đóng góp quan trọng của ông Tuy vậy, K.Đ.Usinxki cũng có
20
Trang 23những hạn chế nhất định ở chỗ: Ông phủ nhận bản chất của quá trình nhậnthức Cái trực quan được ông sử dụng chỉ là để nhận thức các hiện tượng chứkhông phải nhận thức bản chất Theo ông, bản chất của các đối tượng trongthế giới vật chất, chúng ta không thể hiểu hết được, chúng ta chỉ quan sát đượcnhững hiện tượng và tất cả những biểu hiện đều ở trạng trái luôn vận động.Bàn về cơ sở Tâm lý học của vấn đề trực quan trong dạy học, A.NLeonchep cho rằng, khi đưa tài liệu trực quan vào dạy học tất yếu phải tínhđến ít nhất hai cơ sở Tâm lý học, đó là: Tài liệu trực quan phải thực hiện vaitrò cụ thể gì trong lĩnh hội tri thức, và nội dung chủ đề của tài liệu trực quanphục vụ cho đối tượng nhận thức nằm trong mối quan hệ nào? Với ý nghĩa đó,A.N.Leonchep chia các tài liệu trực quan thành hai loại: Những tài liệu trựcquan dùng để mở rộng kinh nghiệm cảm tính, và những tài liệu trực quan dùng
để khám phá ra bản chất của hiện tượng nghiên cứu, giải thích các định luật,dẫn dắt HS đến những khái niệm khoa học Trong trường hợp này, bản thân tàiliệu trực quan không phải chỉ là một phương tiện lĩnh hội tri thức trừu tượngnào đó
Trong quá trình dạy - học, nhiều tác giả cho rằng cần thiết có sự kết hợpgiữa việc trình bày PTTQ với lời nói của GV Qua nghiên cứu bản chất của sựphối hợp L.V.Dancốp đã đưa ra bốn hình thức phối hợp:
1. HS tự lực rút ra tri thức từ đối tượng trực quan, lời nói của GV không phải là nguồn tri thức mới
2. Lời nói của GV giúp HS hiểu được những mối quan hệ trong các hiện tượng mà HS nhận thấy trong quá trình quan sát
3. HS thu nhận tri thức mới qua lời nói của GV, trực quan có vai trò cụ thể hóa hoặc để khẳng định tri thức mới
4. GV thông báo những mối quan hệ giữa các hiện tượng rút ra kết luận theo sự quan sát của HS
Trang 24Các hình thức phối hợp này được sử dụng trong những trường hợp khác nhau phụ thuộc vào những nhiệm vụ dạy học cụ thể.
Có thể nhận thấy, cho đến những năm 60, vấn đề trực quan vẫn được hiểutheo cách truyền thống Trực quan trong dạy học là một nguyên tắc lý luận dạy
- học mà theo nguyên tắc này thì dạy - học phải dựa trên những hình ảnh cụthể được HS trực tiếp tri giác Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, những tri thức lý thuyết ngày càng được đưa nhiều hơn vào chươngtrình học tập Mặc dù vậy, trực quan trong dạy học vẫn là một vấn đề đặc biệtquan trọng trong việc nâng cao kết quả nhận thức của HS và chất lượng dạyhọc ở nhà trường Xét về bản chất, nhận thức dù ở mức độ nào cũng là sự phảnánh hiện thực khách quan vào ý thức con người Trong đó cảm giác là bậc thứnhất trong quá trình nhận thức thế giới, là cơ sở của mọi sự hiểu biết Tấtnhiên sự hình thành các hình ảnh trực quan cảm tính không diễn ra một cáchđộc lập tuyệt đối mà nó nằm ngay trong mối tác động qua lại với các hình thứcnhận thức lý tính
Nhiều công trình nghiên cứu của Sapôvalencô, Driga, Presman, Veix,Top, Tonligareia đã chứng tỏ rằng, PTTQ phải là một trong những điều kiệnchủ yếu tạo nên chất lượng giảng dạy và học tập ở nhà trường Nó cũng đã,đang và sẽ mở ra những triển vọng và khả năng trong việc khắc phục nhữngmâu thuẫn to lớn giữa sự phát triển nhảy vọt của khối lượng tri thức cần cungcấp cho HS và thời gian học tập trong nhà trường có hạn ở giai đoạn cáchmạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như ngày nay Tất nhiên, cũngcần nhấn mạnh rằng, không phải tất cả các công cụ lao động của người GV và
HS đều chỉ tập trung ở PTTQ, nhưng rõ ràng PTTQ là yếu tố cấu thành chủyếu, và là công cụ lao động trong quá trình dạy - học ở nhà trường
Bên cạnh việc nghiên cứu vị trí, vai trò của PTTQ, nhiều tác giả đã dànhmột vị trí đáng kể trong việc nghiên cứu vấn đề sử dụng các PTTQ trong quá
trình dạy - học Tôlinghênôva (Slovakia) cho rằng, về nguyên tắc, PTTQ chỉ có
22
Trang 25thể có các chỉ số và chất lượng thông qua các quá trình sư phạm Không có
quá trình gia công sư phạm thì dù các PTTQ có được chế tạo tốt bao nhiêu
cũng không thể hiện được bất kỳ một vai trò và chức năng gì K.G.Nojko cũngkhẳng định rằng, vấn đề không phải chỉ ở chỗ sản xuất và cung cấp cho nhàtrường những đồ dùng dạy học mà chủ yếu là phải làm sao cho đồ dùng dạyhọc được các GV sử dụng với hiệu quả cao Theo X.G.Sapôvalencô: "Chấtlượng đồ dùng dạy học phải gắn chặt với chất lượng sử dụng nó của thầy giáo
để nó có thể đạt hiệu quả giảng dạy và giáo dục cao" "Đồ dùng dạy học, cácphương tiện kỹ thuật chỉ là phương tiện hỗ trợ nằm trong tay người thầy giáo".PTTQ cần thiết phải được sử dụng bởi người GV, đó là một luận điểm đãđược khẳng định PTTQ là những phương tiện chứa đựng và chuyển tải thôngtin nhằm đáp ứng các yêu cầu nhận thức, phát triển, giáo dục của quá trình sưphạm; nhưng bản thân nó có giá trị dạy học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộcvào trình độ sư phạm trong quá trình nghiên cứu xây dựng và sử dụng củangười GV Nếu trong giờ học, PTTQ được sử dụng không hợp lý thì sẽ dẫnđến những hậu quả xấu về mặt sư phạm và kinh tế Chúng có thể phá vỡ cấutrúc bài giảng, phân tán sự chú ý của HS, lãng phí thời gian và tiền của Vìvậy, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là việc nghiên cứu xây dựng
và sử dụng các PTTQ phải gắn liền với việc hướng dẫn sử dụng có hiệu quảcho đội ngũ GV Đây cũng chính là một vấn đề còn ít được quan tâm đầy đủ,
và là một khâu yếu nhất trong nhà trường phổ thông hiện nay
Trong lý luận dạy học, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông tinbao gồm sự lựa chọn sắp xếp và truyền đạt thông tin trong một môi trường sưphạm thích hợp, tối ưu cho người học Trong bất kỳ tình huống dạy - học nàocũng có một thông điệp truyền đi, thông điệp đó thường là nội dung của chủ
đề được dạy, cũng có thể là các câu hỏi về nội dung cho người học, và cácphản hồi từ người học, kể cả sự kiểm soát quá trình này về sự nhận xét đánhgiá các câu trả lời hay các thông tin khác PTTQ chính là các cầu nối truyềnthông tin từ người thầy tới HS và ngược lại theo sơ đồ sau:
Trang 26giáo
Hình1.2: Sơ đồ vai trò nói truyền của PTTQ giữa thầy giáo và học sinh
PTTQ được sử dụng trong quá trình dạy - học, giúp GV tổ chức và tiếnhành hợp lý có hiệu quả của quá trình dạy - học để có thể thực hiện đượcnhững yêu cầu của chương trình học tập PTTQ chỉ phát huy hiệu quả cao nhấtkhi GV sử dụng nó với tư cách là phương tiện tổ chức và điều khiển hoạt độngnhận thức của HS, còn đối với HS thông qua làm việc với PTTQ để hình thànhnhững tri thức, kỹ năng, thái độ và hình thành nhân cách
1.1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng PTTQ trong dạy học Sinh học ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu sử dụng PTTQ trong quá trình dạy - họcchưa nhiều Trong sinh học, một số tác giả đi đầu trong lĩnh vực này như: ĐinhQuang Báo, Dương Tiến Sỹ, Vũ Đức Lưu, Nguyễn Văn Tư đã có những côngtrình nghiên cứu thiết kế, chế tạo nhiều bộ sản phẩm đồ dùng dạy học cũng nhưcách sử dụng chúng trong quá trình dạy - học bộ môn sinh học Những hoạt độngnghiên cứu PTTQ đã luôn gắn liền với các nhiệm vụ giảng dạy, học tập và laođộng sản xuất Nhiều công trình khoa học cùng với những xưởng sản xuất PTTQ
đã tạo ra hàng loạt sản phẩm cung ứng cho các trường phổ thông
Cho đến nay, nhiều sản phẩm đồ dùng dạy học mới ra đời - Là sản phẩmcủa các đề tài nghiên cứu khoa học, các dự án triển khai tiến bộ kỹ thuật cấp
Bộ đã cung cấp cho nhiều trường học; phục vụ cho yêu cầu giáo dục mẫu giáo,phổ thông và thực nghiệm chuyên ban trung học phổ thông Nhiều tác
24
Trang 27giả SGK, sách giáo viên đều thuộc trường Đại học Sư phạm Hà nội Các côngtrình viết SGK, sách hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên phổ thông đã gắn mộtcách hữu cơ, mà còn có sự bắt nguồn từ những nghiên cứu cải tiến, sáng chế
và sử dụng PTTQ Những ý đồ khoa học trong SGK chỉ có thể thực hiện đượckhi có thành quả của những công trình nghiên cứu xây dựng PTTQ tương ứng.Hàng loạt cán bộ giảng dạy của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã hoànthành tốt luận án thạc sĩ, tiến sĩ bằng các công trình nghiên cứu và sử dụngPTTQ Đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, cấp Bộ về lĩnhvực này của các khoa: Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp; Sư phạm kỹ thuật; Hóahọc; Địa lý ; Ngữ văn được nghiệm thu, đánh giá tốt và đã được phép triểnkhai thành dự án tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều sản phẩm của các công trìnhnghiên cứu trên đã được chuyển giao sản xuất và phát hành đến các trườngphổ thông trong cả nước Một số khoa đã tranh thủ được sự hợp tác hỗ trợ củamột số tổ chức quốc tế (UNDP; UNICEF ) như khoa Sinh - Kỹ thuật nôngnghiệp với dự án VIE 80 - 052; khoa Hóa - học với dự án VIE 88 - 012, cáckhoa đã tổ chức được một số hội thảo quốc gia về nghiên cứu và sử dụng đồdùng dạy - học đã thu hút sự quan tâm chú ý và trân trọng của nhiều đoànkhách quốc tế
Cũng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã có những hoạt động tổ chứccho sinh viên tham gia nghiên cứu, sáng chế và nâng cao hiệu quả sử dụngPTTQ; việc làm rất cần thiết nhằm rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ cho sinh viên
và gắn một cách hữu cơ giữa các nhiệm vụ và yêu cầu đào tạo của nhà trường:Giảng dạy, học tập - nghiên cứu khoa học ( đặc biệt là khoa học giáo dục ) vàlao động sản xuất; tổ chức các hội thi làm PTTQ nhân ngày 20/11 hàng năm;
tổ chức các hội thi sinh viên nghiên cứu khoa học đã xuất hiện nhiều tài năngtrẻ thiết kế sáng tạo nhiều PTTQ mới, được đánh giá xếp loại tốt Hướngnghiên cứu này đã và đang thu hút được nhiều cán bộ nghiên cứu trong vàngoài trường tham gia, nhiều sinh viên cũng đã bảo vệ xuất sắc
Trang 28luận văn tốt nghiệp bằng các nghiên cứu thiết kế, cải tiến những sản phẩm đồdùng dạy - học mới.
Thực tiễn dạy học ở các trường trung học cơ sở cho thấy, việc sử dụngPTTQ chưa có hiệu quả PTTQ chủ yếu được dùng để minh họa cho lời giảngcủa GV Trong giờ học, việc sử dụng PTTQ của GV tập trung hướng vào hoạtđộng của người Thầy là chủ yếu, HS là người thụ động theo dõi, quan sát, ghinhớ và tái hiện Với nghĩa phương tiện đơn thuần và cách sử dụng như vậy,PTTQ không được khai thác triệt để về mặt nội dung, bản chất Sự tiếp cậncủa HS đối với phương tiện chỉ mang tính chất hình thức, bề ngoài Và nhưvậy, thực ra là HS chưa tiếp cận được với bản chất của đối tượng nghiên cứu,không nắm được khái niệm một cách đầy đủ, chính xác, sâu sắc Điều đó dẫnđến một hậu quả là, chất lượng học tập thấp, không phát huy được tính tíchcực, chủ động nhận thức của HS Nhiều trường hợp cho thấy rằng, việc sửdụng PTTQ trong giờ lên lớp của GV chỉ mang tính chất hình thức, chiếu lệ,đối phó chưa phát huy hiệu quả dạy học qua việc sử dụng các PTTQ
Cho đến nay, chúng ta vẫn cần có những nghiên cứu xây dựng và sử dụngPTTQ trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông Đặc biệt là những nghiêncứu các phương tiện dạy học kỹ thuật số giúp tích cực hóa quá trình nhận thức,phát triển khả năng tìm tòi, khám phá, vận dụng tri thức cho HS, và làm tăngnăng suất và hiệu quả lao động sư phạm của GV, trong đó có những nghiêncứu các phương tiện dạy học kỹ thuật số nhờ ứng dụng CNTT, vì các phươngtiện dạy học kỹ thuật số cho phép tích hợp truyền thông đa phương tiện
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Điều tra thực trạng trang bị các thiết bị kỹ thuật dạy học phục vụ cho việc sử dụng các PTDH kĩ thuật số (như máy vi tính, đầu đĩa DVD, tivi, radio, máy chiếu, mạng internet…)
Về tình hình trang bị máy vi tính, máy chiếu, mạng internet Qua điềutra, chúng tôi thấy rằng đa số các trường (100%) đều được trang bị máy vi
26
Trang 29tính, máy chiếu và nối mạng internet Tuy nhiên các máy có nối mạng thường
ở phòng hiệu trưởng và hiệu phó, Vì vậy, GV ít có cơ hội làm quen với việctruy cập và khai thác các nguồn PTDH trên internet Tình hình trang bị cácthiết bị, đồ dùng dạy - học khác theo danh mục tối thiểu của Bộ
1.2.2 Điều tra phương pháp sử dụng các PTDH kĩ thuật số trong dạy học SH 6
Mặc dù các trường đều được trang bị máy vi tính, máy chiếu và nối mạnginternet nhưng việc khai thác hiệu quả sử dụng các PTDH của GV ở cáctrường hiện nay còn rất thấp Yếu tố chủ quan là do bản thân GV chưa thấy hếttiềm năng, ưu thế của các PTDH trong việc nâng cao chất lượng giờ dạy, chưa
có kỹ năng sử dụng máy tính, và chưa có ý thức tự làm đồ dùng dạy học Do
đó tình trạng "dạy chay" dẫn đến không phát huy được tính tích cực nhận thức,hứng thú học tập của HS, làm hạn chế kết quả học tập
Nhìn chung, rất ít GV sử dụng các PTDH kĩ thuật số là nguồn dẫn tới kiếnthức mới, để hoàn thiện - củng cố kiến thức và để kiểm tra - đánh giá kết quảđạt mục tiêu bài học Hầu hết GV chỉ sử dụng các PTDH kĩ thuật số để minhhọa cho lời giảng của mình, sử dụng bản trình chiếu như là một bảng phụ, mặc
dù trên màn chiếu đã có các nội dung bài giảng, nhưng họ vẫn ghi lại trên bảngđen để HS ghi vào vở GV không có các qui định hướng dẫn hoạt động cụ thểcho HS quan sát, theo dõi bài và ghi chép khi sử dụng các bản trình chiếu.Tình trạng này dễ dẫn đến nhận định việc ứng dụng CNTT là việc chuyển từ
“đọc chép” sang “nhìn chép”
1.2.3 Điều tra mức độ sử dụng các PTDH kĩ thuật số trong dạy học SH 6
Về mức độ sử dụng PTDH, chúng tôi thấy đa số các trường được điềutra, khảo sát thì chỉ những GV trẻ (dưới 30 tuổi) là có chút ít kiến thức, kỹnăng tin học Số đông GV chưa được trang bị kiến thức tin học, nên mặc dùtrang thiết bị ở các trường là tương đối đầy đủ nhưng lại rất ít được sử dụng
GV chỉ sử dụng máy tính trong các giờ thao giảng, các giờ thi GV giỏi
Trang 301.2.4 Điều tra nhu cầu của GV về các PTDH kĩ thuật số trong dạy học SH 6
Qua điều tra chúng tôi thấy hầu hết GV đều có nhu cầu sử dụng các PTDH
kỹ thuật số nhưng do GV thiếu các nguồn PTDH kĩ thuật số phù hợp với nộidung dạy học Có một số ít GV sưu tầm được, nhưng không biết cách gia công sưphạm và gia công kỹ thuật các PTDH đó, việc sử dụng thường chỉ là những ảnh(tĩnh hoặc động) có sẵn được sưu tầm từ các đĩa CD và các nguồn khác, có thểxem đó là nguồn PTDH “thô”, nên mức độ sử dụng còn rất ít
Qua quá trình điều tra, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- GV đã nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của PTDH, nhưng mức độ
sử dụng PTDH trong dạy - học bộ môn còn nhiều hạn chế
- Các trường đều được trang bị máy vi tính, đầu đĩa DVD, tivi, máy
chiếu, mạng internet, nhưng đa số các GV chưa khai thác có hiệu quảcác phương tiện đó
- GV sưu tầm được các PTDH KTS từ các nguồn khác nhau, nhưng
không biết cách gia công sư phạm và gia công kỹ thuật các PTDH đó
- Mọi GV đều có nhu cầu cao về các PTDH kĩ thuật số để xây dựng BGĐT trong dạy HS học
Kết luận chương 1
Những nghiên cứu cơ sở lý luận cùng với việc khảo sát thực trạng dạyhọc SH 6 ở các trường THCS đã nói nên tính cấp bách của đề tài và làm cơ sởcho việc đề xuất các nguyên tắc, quy trình sưu tầm và xây dựng PTDH KTS kĩthuật số để vận dụng vào xây dựng và sử dụng BGĐT SH 6
28
Trang 31CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG TƯ LIỆU DẠY HỌC
KỸ THUẬT SỐ ĐỂ DẠY HỌC SINH HỌC LỚP 6
2.1 Các nguyên tắc xây dựng PTDH KTS
2.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu – nội dung – PPDH [23]
Theo quan điểm “công nghệ” thì mục tiêu là “đầu ra” là cái đích cụ thểcủa một quá trình, một công đoạn sản xuất Việc xác định mục tiêu có trúng,
có cụ thể thì mới có căn cứ để đánh giá chất lượng, hiệu quả của mỗi côngđoạn, mỗi quá trình sản xuất
Theo quan điểm “dạy - học lấy HS làm trung tâm” thì mục tiêu đề ra là
do HS thực hiện chứ không phải là việc mô tả những yêu cầu của nội dungchương trình quy định; nó không phải là chủ đề của bài học mà là cái đích HSphải đạt tới; là nhiệm vụ học tập mà HS phải hoàn thành
Mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và PPDH được tiếp cận theo sơ đồtam giác sư phạm sau:
MT
Hình 2.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học
Trong sơ đồ trên, mục tiêu không chỉ quy định, chi phối nội dung màquy định, chi phối cả PPDH Sơ đồ tam giác sư phạm linh hoạt hơn và ngàycàng có khả năng đáp ứng nhu cầu dạy - học theo hướng tích cực hoá ngườihọc không chỉ ở cấp độ chương trình, môn học hay từng phần, từng chương
mà mối quan hệ trên phải được quán triệt vào từng bài học cụ thể
Căn cứ vào mục tiêu, khi thiết kế KBGA cho BGĐT, mỗi mục tiêu phải
Trang 32cơ sở HS quan sát các file hình ảnh tĩnh, động để định hướng các hoạt động tựtìm tòi kiến thức mới Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giải quyết đượccác câu hỏi, PHT đó cũng đồng thời là quá trình thực hiện các mục tiêu dạy –học đã đề ra.
(xem phụ lục 3 KBGA và BGĐT dùng trong TNSP)
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học
Nội dung dạy học quyết định PPDH Khi thiết kế một bài giảng, chúng
ta phải mã hóa các nội dung dạy - học thành các dạng câu hỏi, sơ đồ, đồ thị,bảng biểu, các hình ảnh tĩnh hoặc động, các đoạn phim, video, nghĩa là phảidiễn đạt nội dung dạy học bằng các dạng ngôn ngữ khác nhau Trước khi thựchiện công việc này đòi hỏi đảm bảo tính chính xác về nội dung, tính lôgíc vềmặt khoa học Đảm bảo tính chính xác, tính lôgic của nội dung, thì mới có thểxác định được PPDH phù hợp nhằm đạt mục tiêu dạy - học đề ra [23]
Nội dung DH được thể hiện trong bài giảng phải được bố cục rõ ràng,đầy đủ phù hợp với nội dung trong SGK Sự phân chia thời gian cho mỗi đơn
vị kiến thức và nội dung kiến thức phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS
và thuận lợi cho GV trong quá trình tổ chức các hoạt động trên lớp Bố cục cáchình ảnh, các file ảnh động, file phim kết hợp với các câu hỏi mà GV đưa raphải hợp lý để khi HS xem xong có thể rút ra được các kiến thức mới Có nhưvậy mới kích thích được sự hứng thú của HS trong học tập và cũng tạo điềukiện thuận lợi cho GV trong việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS
Các PTDH phim, video từ các nguồn khác nhau đều có thời lượng lớn
và chỉ có một đoạn nào đó phù hợp với nội dung SH 6 Vì vậy, cần sử dụngphần mềm cắt phim sao cho đảm bảo về mặt thời gian trong một tiết học, phùhợp với nội dung của SGK để sau khi HS quan sát, sẽ trả lời được những câuhỏi của GV, từ đó tự lĩnh hội được kiến thức mới Như vậy ngay từ khâu sưutầm, biên soạn tư liệu, chúng ta phải quán triệt nguyên tắc này để lựa chọn
30
Trang 33những PTDH phù hợp đưa vào bài giảng đảm bảo tính chính xác về nội dungdạy học.
Chất lượng của PTDH KTS quyết định chất lượng của BGĐT Do đó,việc gia công sư phạm các PTDH KTS đảm bảo tính chính xác nội dung là yêucầu quan trọng hàng đầu Những nội dung kiến thức trong SGK là cơ sở xâydựng dạng câu hỏi tìm tòi cho HS Các câu hỏi này phải chứa đựng trong nóphương pháp tìm ra kiến thức mới Trong quá trình xây dựng và sử dụng cáccâu hỏi, các hình ảnh, các đoạn video để mã hoá nội dung dạy học cần phảiquán triệt nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học
(xem phụ lục 3 KBGA và BGĐT dùng trong TNSP)
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học [23]
Xuất phát từ cơ sở lí luận nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tưduy trừu tượng là con đường biện chứng của nhận thức” Trong lý luận dạy -học, một trong những nguyên tắc “vàng” là khi vận dụng PPDH không thểtách rời việc sử dụng các PTDH, trong đó có phương tiện trực quan Đảm bảonguyên tắc này là đảm bảo cung cấp tối đa tri thức cho HS Nguồn PTDHMultimedia trong BGĐT đảm bảo tính trực quan trong dạy - học, là điều kiệnquan trọng hỗ trợ cho quá trình quan sát tìm tòi phát hiện tri thức mới của HS
Các kênh thu nhận thông tin gồm: kênh vị giác, kênh xúc giác, kênhkhứu giác, kênh thính giác, kênh thị giác Lượng thông tin thu nhận trong mộtđơn vị thời gian gọi là năng lực chuyển tải Năng lực chuyển tải ở các kênhkhác nhau thì khác nhau Ví dụ, kênh thị giác : 1,6 106 bit/s kênh thính giác:0,32 106 bit/s, kênh xúc giác : 0,16 106 bit/s Như vậy, quá trình quan sát tìmtòi phát hiện tri thức mới của HS không phải chỉ có một giác quan nào đó làmviệc mà phải có sự phối hợp các giác quan với nhau, trong đó kênh thị giác làkênh nhanh nhất, rộng nhất và xa nhất Chứng tỏ kênh này có hiệu quả caonhất trong quá trình thu nhận thông tin Đó là một bằng chứng của vai trò trựcquan trong dạy học
Trang 34Các nguồn PTDH phải được gia công sư phạm phù hợp với nội dung, vàgia công kỹ thuật sao cho đẹp, rõ nét, màu sắc hài hoà để HS có thể quan sát
và tiếp thu kiến thức mới được dễ dàng
Các PTDH Multimedia khai thác từ trên mạng nhiều vô kể, nhưng khôngphải PTDH nào cũng có thể sử dụng có hiệu quả Do đó, cần phải gia công sưphạm và gia công kĩ thuật bằng các phần mềm tin học Các hình ảnh trực quankhông những cung cấp tối đa tri thức cho HS, mà còn rèn luyện phong cách tưduy và hành động cho HS, tạo điều kiện tốt nhất cho các em hiểu đầy đủ vàsâu sắc hơn kiến thức môn học
Kiến thức trong SGK được viết theo kiểu hoạt động Tuy nhiên, các hoạtđộng mà SGK nêu ra chỉ bằng một câu hỏi hay một phiếu học tập mang tínhchất định hướng tìm tòi Như vậy, yếu tố hướng dẫn, tổ chức các hoạt động tìmtòi hạn chế Muốn tổ chức các hoạt động tìm tòi cho HS một cách tích cực, GVphải thiết kế hệ thống các thao tác dạy và thao tác học trong một hoạt độngdạy học cụ thể Điều này có quan hệ chặt chẽ với các kĩ năng dạy học, trong
đó quan trọng hơn cả là kĩ năng mã hóa nội dung dạy học d-ưới dạng một “tổhợp nghe nhìn” tương ứng với một hoạt động tìm tòi
(xem phụ lục 3 KBGA và BGĐT dùng trong TNSP)
2.1.4 Nguyên tắc phát huy tối đa vai trò của các giác quan trong QTDH
Theo thuyết thông báo, QTDH là một hệ thông báo, trong hệ này có liên
hệ từ thầy đến trò và ngược lại Nghĩa là bao gồm sự truyền đạt thông tin (củathầy) và sự lĩnh hội thông tin (của trò), giữa thầy và trò có những liên hệ thôngtin qua các kênh truyền tải thông tin: kênh thị giác, kênh thính giác, kênh khứugiác, kênh xúc giác…
Các nghiên cứu về vai trò của các giác quan trong quá trình tiếp nhậnthông tin cho thấy tỉ lệ kiến thức thu nhận được qua các giác quan: Qua nếm1%; Qua sờ 1,5%; Qua ngửi 3,5%; Qua nghe 11%; Qua nhìn 83% và tỉ lệ
32
Trang 35kiến thức nhớ được qua các giác quan: Qua nghe 20%; Qua nhìn 30% ; Quanói 80%; Qua nói và làm 90%.
Ở Ấn Độ, sau khi tổng kết QTDH người ta cũng thấy:
Chúng tôi nghe – chúng tôi quên: trong trường hợp chỉ được nghe giảng,
sự hình thành khái niệm phụ thuộc nhiều vào vốn kinh nghiệm của HS và kinhnghiệm, kĩ năng truyền thông báo của GV Ngoài ra nếu không có trí tưởng tượng
cá nhân tốt, HS sẽ rất khó hình dung ra được các sự kiện, đồ vật mà GV trình bày,mặc dù thầy giáo có năng khiếu mô tả sự vật năng động và lôi cuốn
Chúng tôi nhìn – chúng tôi nhớ: Mắt là một cơ quan cảm giác, khoảng
nhìn của mắt được mở rộng hơn so với nghe rất nhiều, và kiến thức tiếp thuđược qua nhìn rất sinh động, chính xác, liên tục và làm cho HS nhớ lâu
Chúng tôi làm – chúng tôi hiểu: khi làm một việc nào đó thì thường
phải sử dụng hết tất cả các giác quan để nhận biết, và các kiến thức được tiếpthu và ghi nhớ
Do SGK không có được các kênh hình động mô tả các cơ chế, các quátrình sinh học Đó lại là những kiến thức trọng tâm, nhưng rất trừu tượng, nên
đã hạn chế cả về nội dung và PPDH Nếu GV xây dựng được các “tổ hợp nghenhìn” tương ứng với các hoạt động tìm tòi thì sẽ khắc phục được hạn chế củaSGK và tối ưu hóa về cả về nội dung và PPDH
Để đảm bảo nguyên tắc này, BGĐT được xây dựng phải thể hiện đượcnhững yêu cầu sau:
- Gia công sư phạm các nội dung học tập thành các ngôn ngữ khác nhau như:dạng văn bản (câu hỏi, bài tập, PHT, sơ đồ, biểu bảng), kênh hình, kênh tiếngthông qua các PTDH như: ảnh tĩnh, ảnh động, chương trình mô phỏng, đoạnphim, video, …
- Đảm bảo mỗi loại PTDH có được của cùng một nội dung sẽ đồng thời tácđộng vào các giác quan của người học, làm cho nội dung học tập được HS tiếpthu nhanh và hiệu quả nhất
Trang 36- Các PTDH đó phải được sắp xếp một cách khoa học để GV có thể sử dụng chúng dễ dàng khi tổ chức hoạt động nhận thức cho HS.
(xem trong phụ lục hệ thống PTDH kỹ thuật số trong đĩa VCD ROM SH
6 - kèm theo)
2.1.5 Nguyên tắc thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian trong QTDH
Những đối tượng và nội dung thích hợp cho việc mô phỏng thuộc một trong những dạng sau:
- Một quá trình diễn ra trong thời gian dài
- Một đối tượng có kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ
- Một cơ chế, quá trình phức tạp bằng mắt thường không thể quan sát được
- Một hiện tượng diễn ra trong không gian rộng
- Thay thế các thí nghiệm khó thành công hoặc nguy hiểm khi thực hiện cũng như liên quan đến hóa chất, thiết bị đắt tiền
Căn cứ vào đặc điểm những đối tượng và nội dung cần được mô phỏngnêu trên, thì các nội dung kiến thức Sinh học nói chung và SH 6 nói riêng,phần lớn đều phải mô phỏng thì mới thuận lợi cho việc tìm tòi phát hiện trithức mới cho HS và thuận lợi cho việc áp dụng các PPDH tích cực Ví dụ kiếnthức cơ chế và các quá trình sinh học diễn ra trong cơ thể TV không thể quansát trực tiếp, nếu chỉ diễn tả bằng lời cho HS thì chắc chắn yếu tố thời giankhông cho phép và không phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhậnthức của HS
Để khắc phục vấn đề này, cần nghiên cứu mô phỏng lại các nội dung dạyhọc, thể hiện các nội dung đó nhờ các thành tựu của CNTT Trong các loạiPTDH hiện có thì loại PTDH ở dạng kỹ thuật số có nhiều ưu điểm hơn cả
Các PTDH ở dạng kỹ thuật số được mô phỏng và gia công chu đáo cả
về tính sư phạm và tính kỹ thuật là cơ sở để đưa vào xây dựng BGĐT CácPTDH này lại được sự tương tác với các yếu tố đa phương tiện (Multimedia)khác trong bài giảng sẽ làm tăng hiệu quả của nó đối với quá trình nhận thức
34
Trang 37tích cực của HS Nhờ yếu tố công nghệ cho phép trình diễn, mô phỏng lại đốitượng học tập một cách nhanh chóng, tiện lợi, hiệu quả, và quan trọng hơn làthời gian của cả quá trình sinh học đó được rút ngắn lại đến mức cho phép sửdụng được trong phạm vi một tiết học.
Đảm bảo nguyên tắc này khi thiết kế BGĐT không chỉ cho phép thu hẹpkhông gian và rút ngắn thời gian diễn biến của đối tượng nghiên cứu, giúpbiến cái không thể thành cái có thể; mà còn đảm bảo sự tương tác tối đa giữangười và các phương tiện dạy học giúp phát huy tính tích cực của nhận thứccủa HS trong quá trình tìm tòi tự chiếm lĩnh kiến thức
Trong quá trình sử dụng BGĐT để tổ chức bài lên lớp, thì đây là mộtnguyên tắc khá quan trọng đòi hỏi sự làm chủ thời gian, tổ chức, điều khiểnhợp lí giữa GV – máy tính – HS sao trong một tiết dạy đạt hiệu quả cao Ví dụ,trước khi sử dụng BGĐT, người GV phải nắm vững KBGA để làm chủ về tiếntrình thực hiện PPDH, nắm vững đặc điểm thể hiện của các file ảnh, file phim
để chủ động điều khiển các hoạt động tìm tòi khám phá kiến thức mới cho HS
Quán triệt nguyên tắc thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian trongquá trình xây dựng và sử dụng BGĐT sẽ làm cho người học hiểu nhanh, nhớlâu, và thuận lợi cho việc áp dụng các PPDH tích cực
(xem trong phụ lục hệ thống PTDH kỹ thuật số trong đĩa VCD ROM SH
6 - kèm theo)
Tóm lại, tất cả các nguyên tắc đã trình bày ở trên là một tổ hợp cácnguyên tắc có quan hệ chặt chẽ với nhau, có ý nghĩa xác định về mặt lý luậndạy học vì nó giúp chỉ đạo quá trình xây dựng, sử dụng PTDH KTS nói chung
và PTDH KTS SH 6 nói riêng
2.2 Quy trình xây dựng PTDH KTS [23]
Bước 1 Xác định mục tiêu dạy - học
Bước 2 Phân tích lôgic cấu trúc nội dung dạy - học
Bước 3 Sưu tầm, gia công sư phạm và gia công kỹ thuật hệ thống PTDH
Trang 38kỹ thuật số phù hợp với nội dung dạy - học.
Bước 4 Thiết kế trang Web quản lí thư viện PTDH kỹ thuật số
Thiết kế KBGA thực nghiệm để chỉ định việc nhập liệu thông tinBước 5
vào phần mềm PowerPoint hình thành BGĐT
2.2.1 Xác định mục tiêu dạy học
- Yêu cầu sư phạm:
Mục tiêu dạy - học phải được diễn dạt bằng các cụm từ hành động, nóphải được diễn đạt ngắn gọn, càng cụ thể càng tốt để có thể lượng hóa, đánhgiá được mức độ hoàn thành công việc học tập của HS
Mục tiêu dạy - học được xác định bằng sự chuyển biến của HS được thểhiện qua các hoạt động tự lực, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo và hình thành nhân cách
Mục tiêu dạy - học càng cụ thể, sát hợp với yêu cầu của nội dung và vớiđiều kiện dạy - học thì càng thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả và điều chỉnhhợp lý QTDH để từng bước thực hiện mục đích dạy - học một cách vững chắc
- Phương pháp thực hiện: Khi
xác định mục tiêu cần:
Nêu rõ hành động mà HS cần phải thực hiện (Phần này chứa một cụm từ
hành động chỉ cách thức hoạt động học của HS để đạt tới mục tiêu).
Xác định những điều kiện HS cần có để thực hiện các thao tác của hoạt
động học tập (Bao gồm các thao tác với “tổ hợp nghe nhìn”; các thao tác với
các phương tiện dụng cụ thực hành, thí nghiệm).
Xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ đạt mục tiêu của HS (Cụ thể là sau khi
học xong một bài, một phần nào đó thì HS phải đạt được những kiến thức, kỹ năng gì, hình thành được thái độ gì và với mức độ đạt được như thế nào)
Viết mục tiêu bài học nhƣ thế
nào? Về kiến thức:
36
Trang 39 Nhận biết: Nêu lên được, trình bày được, phát biểu được, kể lại được, mô
(xem mục I Mục tiêu của các KBGA trong phụ lục đĩa DVD ROM SH 6)
2.2.2 Phân tích lôgic cấu trúc nội dung dạy học
- Yêu cầu sư phạm:
Phân tích nội dung kiến thức của từng bài trong chương trình SH 6, tìm
ra các kiến thức cơ bản của bài định hướng cho việc sưu tầm tư liệu
Xác định những kiến thức có thể mã hóa thành các dạng câu hỏi và thiết
kế thành hệ thống câu hỏi cho phù hợp với nội dung từng phần
- Phương pháp thực hiện:
+ Xác định cấu trúc nội dung chương trình SH 6: [3] [14] [15]
Cấu trúc nội dung chương trình SH 6 được trình bày một cách có hệthống thể hiện tính lôgic của cấu trúc nội dung, tính hệ thống của các kiếnthức, các khái niệm, trong đó khái niệm trước tạo điều kiện cho việc hìnhthành khái niệm sau Hệ thống các kiến thức được trình bày từ dễ đến khó, từđơn giản đến phức tạp, từ ngoài vào trong, từ cụ thể đến trừu tượng và theonguyên tắc đi từ tổng hợp sơ bộ, khái quát đến phân tích và cuối cùng tổnghợp ở mức độ cao hơn, đồng thời đảm bảo tính vừa sức, hợp với trình độ vàlứa tuổi HS
Chương trình SH 6 chia làm 2 phần chính:
- Phần TV:
Trang 40+ Giới thiệu cấu tạo và đời sống của TV mà đại diện điển hình là cây có hoa (từ chương I đến chương VII).
+ Đặc điểm của các nhóm TV (từ Tảo đến cây có hoa) và vai trò của TV trongthiên nhiên và trong đời sống con người (từ chương VIII đến chương IX)
- Phần Giới thiệu các sinh vật dị dưỡng và cộng sinh (chương X – Vi khuẩn – Nấm – Địa y)
Trước khi đi vào phần TV, có phần giới thiệu về đặc điểm của cơ thểsống và giới thiệu các nhóm sinh vật trong đó có TV Có thể tóm tắt các nộidung chính trong sơ đồ sau:
Các cơthể sống
Thế giớisinh vật
- Trao đổi chất
Động vật