1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập chương sóng cơ và sóng âm vật lý lớp 12 cơ bản theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh

94 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤCNGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” VẬT LÝ LỚP 12 CƠ BẢN THEO HƯỚNGTÍCH CỰC HÓA H

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG

“SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” VẬT LÝ LỚP 12 CƠ BẢN THEO HƯỚNGTÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG

LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN VẬT LÝ)

Mã số: 60 14 10

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG

“SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” VẬT LÝ LỚP 12 CƠ BẢN THEO HƯỚNGTÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG

LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN VẬT LÝ)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, các cán bộ phụ trách, bạn bè và những người thân của tôi Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Các thầy cô giáo trong ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội, cùng toàn thể các thầy cô giáo tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình trưởng thành tại trường, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn.

GS TS Nguyễn Huy Sinh, người thầy đáng kính đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Bạn giám hiệu, các thầy cô giảng dạy bộ môn Vật lí tại trường THPT Cao Bá Quát – Quốc Oai, nơi tôi công tác đã cộng tác, động viên, giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều trong thời gian thực nghiệm sư phạm tại trường.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành thới gia đình và bạn bè tôi

đã luôn ở bên động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.

Hà Nội, tháng 3 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ

TrangBảng 2.1 Những mục tiêu về trình độ và và kiến thức khi 36dạy chương "Sóng cơ và sóng âm" vật lý 12 THPT

Bảng 2.2 Phân loại bài tập chương "Sóng cơ và sóng âm" vật lý 40

Hình 1.3: Mô hình hóa sơ đồ luận giải các mối quan hệ xác 16lập được trong bài tập vật lí

Hình1.4: Sơ đồ các phương thức hướng dẫn giải bài tập vật lí 23Hình 2.1a: Mô tả hiện tượng sóng dừng trên sợi dây có hai 57đầu cố

Hình vẽ 2.1b: Mô tả hiện tượng sóng dừng trên sợi dây có

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Danh mục bảng, hình vẽ iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ PHỔ THÔNG 5

1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học 5

1.1.1 Khái niệm về hoạt động dạy học 5

1.1.2 Bản chất của hoạt động dạy 5

1.1.3 Bản chất của hoạt động học 6

1.1.4 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học 7

1.1.5 Bản chất của quá trình dạy học 7

1.2 Tính tích cực, tự chủ và năng lực sáng tạo của học sinh 8

1.2.1 Tính tích cực và tự chủ 8

1.2.2 Bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh 9

1.3 Cơ sở lý luận về dạy và học bài tập vật lí phổ thông 10

1.3.1 Khái niệm về bài tập vật lí 10

1.3.2 Tác dụng của bài tập trong dạy học vật lí 10

1.3.3 Phân loại bài tập vật lí 11

1.3.4 Tư duy trong giải bài tập vật lí 16

1.3.5 Phương pháp giải bài tập vật lí 18

1.3.6 Hướng dẫn hoạt động giải bài tập vật lí 21

1.3.7 Lựa chọn và sử dụng bài tập vật lí 25

1.4 Tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy và học bài tập vật lí ở trường trung học phổ thông Cao Bá Quát – Quốc Oai hiện nay 26

1.4.1 Đối tượng và phương pháp điều tra 26

1.4.2 Kết quả điều tra 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

Trang 7

Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN

HOẠT ĐỘNG GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM”

VẬT LÍ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CƠ

BẢN)…… 30

2.1 Vị trí và vai trò chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT 30

2.2 Cấu trúc nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT 30

2.2.1 Cấu trúc chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT 30

2.2.2 Nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT 30

2.4 Phân loại bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý 12 40

2.5 Xây dựng hệ thống bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý 12 41

2.5.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 41

2.5.2 Hệ thống bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý 12 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 73

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 73

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 73

3.2 Đối tượng và cơ sở thực nghiệm sư phạm 74

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 74

3.4 Thời gian thực nghiệm sư phạm 75

3.5 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 75

3.5.1 Xây dựng tiêu chí để đánh giá 75

3.5.2 Phân tích kết quả về mặt định tính 76

3.5.3 Phân tích kết quả về mặt định lượng 78

3.5 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Khuyến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ tri thức khoa học và côngnghệ Mọi sự phát triển của xã hội đều dựa vào tri thức, và khả năng tư duysáng tạo của con người Trong xã hội công nghệ hóa nhanh chóng như hiệnnay, người lao động ở lĩnh vực nào cũng cần phải học hỏi và trau dồi năng lựccủa mình để phù hợp với sự phát triển của khoa học kĩ thuật Nghĩa là ngườilao động phải có khả năng tích lũy kiến thức để thích ứng với yêu cầu mới của

xã hội Chính vì vậy, một trong những mục đích giáo dục hiện nay là đặc biệtquan tâm đến việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo, cải tiến và tìm tòi nhữngphương pháp mới để giải quyết những vấn đề tối ưu trong khoa học và trongcuộc sống

Trong các trường THPT, việc rèn luyện kỹ năng tư duy và truyền thụkiến thức cho học sinh là vấn đề quan trọng trong dạy học nói chung và mônVật lý nói riêng Để việc dạy và học đạt kết quả cao thì người giáo viên phảibiết phát huy tính tích cực của học sinh, chọn lựa phương thức tổ chức hoạtđộng, cách tác động phù hợp giúp học sinh vừa học tập, vừa phát triển nhậnthức Việc giải bài tập Vật lý không những nhằm mục đích sử dụng công cụtoán học, mà còn rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, lýthuyết đã học Trên cơ sở đó hình thành tư duy logic để học sinh hiểu rõ bảnchất vật lý và giải quyết được những vấn đề thực tiễn Do đó, với mỗi đơn vịkiến thức vật lý việc xây dựng một hệ thống bài tập theo hướng phát huy tínhtích cực, tự chủ, năng lực sáng tạo của học sinh là cần thiết Vì vậy tôi lựa

chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập chương "Sóng cơ và

sóng âm" vật lý lớp12 cơ bản theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh” làm đề tài nghiên cứu.

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xây dựng hệ thống bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12 mang tính hệ thống, khoa học theo các mức độ nhận thức của học sinh

- Hướng dẫn giải bài tập giúp học sinh không những nắm vững kiếnthức mà còn phát huy được tính tích cực, tự chủ và năng lực sáng tạo tronghoạt động giải bài tập

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động hướng dẫn cho học sinh trường THPT Cao Bá Quát – QuốcOai – Hà Nội giải bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12 THPT thuộcchương trình cơ bản

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học Vật lý để pháthuy tính tích cực, tự chủ và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh Đặc biệtchú ý đến cơ sở lý luận về dạy giải bài tập vật lý phổ thông

- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý

12 THPT thuộc chương trình cơ bản

- Nghiên cứu phương pháp giải bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý 12 THPT thuộc chương trình cơ bản

- Xây dựng và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý 12

Trang 10

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệthống bài tập và phương pháp hướng dẫn hoạt động giải hệ thống bài tập đãxây dựng.

- Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

6 Giả thuyết nghiên cứu

Xây dựng được một hệ thống bài tập phù hợp với mục tiêu dạy học vàthời gian dành cho mỗi chủ đề kiến thức vật lí Tổ chức hoạt động dạy giải bàitập theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh nhằm phát huytác dụng của bài tập vật lí, góp phần giúp cho học sinh không chỉ nắm vữngkiến thức mà còn phát huy được tính tích cực, tự chủ và năng lực sáng tạo

7 Luận cứ

7.1 Luận cứ lí thuyết

- Các cơ sở lí luận về dạy học tích cực

- Các biện pháp phát huy tính tích cực, tự chủ và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động dạy và học bài tập vật lí

7.2 Luận cứ thực tế

- Tìm hiểu thực tiễn qua dự giờ, trao đổi với các giáo viên có nhiều kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm

- Tổ chức các lớp dạy học thực nghiệm, rút kinh nghiệm các giờ học,

có thể tham khảo ý kiến cẩu học sinh thực nghiệm

- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Xử lý kết quả và đưa

ra nhận xét chung

8 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lý thuyết về cơ sở lý luận dạy học kết hợp với thực tiễn:phương pháp thực nghiệm, phương pháp điều tra, khảo sát và sử dụng phươngpháp thống kê toán học để đánh giá và khẳng định các giả thuyết khoa học

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Trang 11

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy và học bài tập vật lí phổthông.

Chương 2 Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bàitập chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý 12 THPT (chương trình cơ bản)theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập nhằm bồi dưỡng năng lực sángtạo của học sinh

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY GIẢI BÀI TẬP

VẬT LÍ PHỔ THÔNG1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học

1.1.1 Khái niệm về hoạt động dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trongnhững con đường để thực hiện mục đích giáo dục Dạy học là hoạt động phốihợp của hai chủ thể đó là giáo viên và học sinh Dạy và học là hai hoạt độngđược thực hiện đồng thời với cùng một nội dung và hướng tới cùng một mụcđích Phải khẳng định rằng, nếu hai hoạt động này bị tách rời sẽ lập tức phá vỡhoạt động dạy học Học tập không có giáo viên trở thành tự học, giảng dạykhông có học sinh trở thành độc thoại

1.1.2 Bản chất của hoạt động dạy

Trong dạy học, giáo viên đóng vai trò là chủ thể của hoạt động giảngdạy, người được đào tạo chu đáo về nghiệp vụ sư phạm, người nắm vững kiếnthức về khoa học chuyên ngành, các qui luật phát triển tâm lý, ý thức và đặcđiểm hoạt động nhận thức của học sinh, để tổ chức cho họ học tập, giáo viêngiữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ tiến trình dạy học Người xây dựng và thựcthi kế hoạch giảng dạy bộ môn, người tổ chức cho học sinh thời gian hoạt động

và học tập với mọi hình thức, trong những thời gian và không gian khác nhau,người điều khiển các hoạt động trí tuệ và hướng dẫn thực hành của học sinhtrên lớp, trong phòng thí nghiệm… Giáo viên là người chỉ dẫn giúp đỡ họcsinh học tập, rèn luyện, đồng thời là người kiểm tra uốn nắn và giáo dục họcsinh trong mọi phương diện

Trên nguyên tắc phát huy tích cực nhận thức của học sinh, giáo viên tổchức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, làm cho việc học tập trởthành hoạt động độc lập có ý thức Bằng sự khéo léo của phương pháp sưphạm, giáo viên khai thác tiềm năng trí tuệ, kiến thức và kinh nghiệm sống

Trang 13

của học sinh, giúp họ tìm ra những phương pháp học tập sáng tạo, tư liệu nắmlấy kiến thức hình thành các kỹ năng hoạt động.

Vậy theo lý thuyết hoạt động ta nhận thấy: Chủ thể của hoạt động dạy làgiáo viên, người tổ chức mọi hoạt động học tập của học sinh, người quyết địnhchất lượng giáo dục

Dạy học có nội dung hiện đại, nội dung được chọn lọc từ kết quả nhậnthức của nhân loại và xây dựng theo một lôgic phù hợp với lôgic khoa học vàqui luật nhận thức của học sinh Nội dung dạy học hoàn thiện tạo nên kết quảgiáo dục toàn diện

Dạy học được tiến hành bằng các phương pháp với sự hỗ trợ của nhậnthức của học sinh cùng thực hiện bằng nhiều hình thức tổ chức phong phú và

đa dạng

Dạy học cần có một môi trường giáo dục thuận lợi ở cả hai phương diện

vĩ mô và vi mô Môi trường vĩ mô là mục đích chính trị, xã hội ổn định, phápluật kỷ cương vững chắc, nền văn hóa khoa học và công nghệ tiến bộ, kinh tếphát triển Môi trường vi mô là mục đích giáo dục gia đình, nhà trường, tập thể

và các mối quan hệ bạn bè thuận lợi, tích cực Sự vận động và phát triển củaquá trình dạy học là kết quả của quá trình tác động biện chứng giữa các nhân tố

kế tục – kết quả dạy học là kết quả phát triển tổng hợp của toàn hệ thống.Muốn nâng cao chất lượng quá trình dạy học phải nâng cao chất lượng củatừng thành tố và chất lượng tổng hợp của toàn hệ thống

Trang 14

vận dụng chúng vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập vào thực tiễn cuộcsống, thể hiện trong sự tìm tòi khám phá vấn đề mới bằng phương pháp mới,cái mới không phải là sự sao chép mà là sự sáng tạo của mỗi cá nhân.

Mặc dù học sinh là chủ thể của hoạt động học là chủ thể tích cực trongnhận thức, rèn luyện và tu dưỡng bản thân, tuy nhiên học sinh còn là đối tượnggiảng dạy và giáo dục của thầy giáo, là người phải tiếp thu sự chỉ dẫn dạy bảo

từ phía thầy giáo Người học quyết định chất lượng học tập của mình 1.1.4.

Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Hoạt động dạy và hoạt động học là hai mặt của một quá trình luôn gắn

bó không tách rời nhau, tác động qua lại bổ sung cho nhau, thống nhất biệnchứng với nhau, quyết định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau tạo thành một hoạtđộng chung nhằm giúp cho người học phát triển trí tuệ, góp phần hoàn thiệnnhân cách

1.1.5 Bản chất của quá trình dạy học

Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sưphạm đặc biệt nhằm trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học và hìnhthành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Bản chất của quá trình dạy học là một chỉnh thể toàn vẹn thống nhấtđược tạo nên bởi các thành tố như: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phươngtiện, người dạy, người học cùng với môi trường văn hóa – chính trị - xã hội –kinh tế - khoa học kỹ thuật của đất nước trong trào lưu phát triển chung củathời đại Các thành tố này có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau theonhiều tầng bậc ở nhiều cấp độ khác nhau

- Bản chất của quá trình dạy học được thể hiện thông qua mối quan hệtương tác giữa giáo viên và học sinh Dạy học là toàn bộ những hoạt độngchung của cả thầy và trò trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo còn trò giữ vai tròchủ động, độc lập, tích cực sáng tạo lĩnh hội tri thức nhằm thực hiện tốt cácnhiệm vụ dạy học

Trang 15

- Bản chất của quá trình dạy học được xem như là một quá trình nhậnthức Vì quá trình dạy học xét cho cùng cũng là vì học trò, học trò nắm đượcnhững gì, học được những gì, vận dụng như thế nào?

1.2 Tính tích cực, tự chủ và năng lực sáng tạo của học sinh

1.2.1 Tính tích cực và tự chủ

Tích cực, tự chủ trong học tập là một hoạt động nhằm làm chuyển biến

vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp cận tri thứcsang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

Phát huy tính tích cực tự chủ trong hoạt động nhận thức của học sinh làmột trong những nhiệm vụ của thầy giáo trong nhà trường và cũng là mộttrong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tuy không phải là vấn đềmới, nhưng với xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì việc tích cực hóa hoạtđộng của học sinh là một vấn đề được đặc biệt quan tâm Trong đó học sinhchuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò là người chủ động,tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức, người thầy chuyển từ người truyền thôngtin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khámphá kiến thức mới Phát huy khả năng tích cực, tự chủ hoạt động nhận thức củahọc sinh sẽ góp phần làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và tròngày càng gắn bó, hiệu quả hơn

Tích cực hóa vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nógóp phần rèn luyện cho học sinh những phẩm chất của người lao động mới: tựchủ, năng động, sáng tạo Đó là một trong những mục tiêu mà các nhà trườngphải hướng tới

Để phát huy tốt tính tích cực, tự chủ trong hoạt động nhận thức của họcsinh, chúng ta cần quan tâm đến một số biện pháp sau:

- Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp học sao cho tạo đượcmột môi trường thuận lợi cho việc học tập và phát triển của học sinh Qua đó,học sinh dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và sẵn sang tham gia tíchcực trong quá trình dạy học

Trang 16

- Khởi động tư duy gây hứng thú học tập cho học sinh Trước mỗi tiếthọc tư duy của học sinh ở trạng thái nghỉ ngơi, nên trước hết thầy giáo phảitích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh ngay từ khâu đề xuất vấn đề họctập nhằm vạch ra trước mắt học sinh lý do của việc học và giúp các em xácđịnh được nhiệm vụ học tập, đồng thời tạo ra sự hứng thú cho học sinh Đây làbước khởi động tư duy nhằm đưa học sinh vào trạng thái sẵn sàng hoc tập, lôikéo học sinh vào không khí dạy học.

- Khai thác và phối hợp các phương pháp dạy học một cách có hiệuquả, đặc biệt chú trọng tới các phương pháp dạy học tích cực Việc tích cựchóa hoạt động nhận thức của học sinh phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức và điềukiện của quá trình dạy học của người thầy Bởi vậy, trong tiến trình dạy học,người thầy cần phải lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học hiệu quả,

có như vậy mới khuyến khích tính tích cực sáng tạo của học sinh trong học tập

- Tổ chức cho học sinh hoạt động Trong việc xác định rõ vai trò, nhiệm

vụ của từng chủ thể có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho chủ thể định hướnghoạt động của mình Trong giở học người thầy không được làm thay học sinh,

mà phải đóng vai trò là người tổ chức quá trình học tập của học sinh, hướngdẫn học sinh đi tìm kiếm kiến thức mới, còn học sinh phải chuyển từ vai trò thụđộng sang chủ động tham gia tích cực và sáng tạo vào quá trình học tập, tránhtình trạng ngồi chờ và ghi chép máy móc Vì vậy, cần phải tăng cường việc tổchức cho học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm

1.2.2 Bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh

Năng lực luôn gắn với kỹ năng kỹ xảo trong lĩnh vực hoạt động tươngứng Song kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến việc thực hiện một loạt hành động,chuyên biệt đến mức thành thạo, tự động hóa, máy móc Năng lực sáng tạo gắnliền với kỹ năng, kỹ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể Trong bất kỳ lĩnh vựcnào, càng thành thạo và có kiến thức sâu thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề

ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo điều

Trang 17

kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với học tập kiến thức về một lĩnh vực nào đó.

Các biện pháp bồi dưỡng, phát triển năng lực sáng tạo:

- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thứcmới Do kiến thức vật lí trong trường phổ thông là kiến thức đã được loàingười khẳng định, nhưng chúng vẫn luôn mới mẻ đối với học sinh Việcnghiên cứu kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra các tình huống đòi hỏi họcsinh phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ

- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết

Dự đoán có vai trò hết sức quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học

dự đoán chủ yếu dựa vào trực giác, kết hợp với các kinh nghiệm phong phú vàkiến thức của bản thân về một lĩnh vực nhất đinh Có thể dự đoán theo nhữngcách sau: dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có, dựa trên sự tương

tự, dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng vật lí, dựa trên sự thuậnnghịch thường thấy của nhiều quá trình, dựa trên sự mở rộng phạm vi ứngdụng của một kiến thức, dựa trên dự đoán về mối quan hệ định lượng

1.3 Cơ sở lý luận về dạy và học bài tập vật lí phổ thông

1.3.1 Khái niệm về bài tập vật lí

Trong thực tế dạy học, bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề đặt ra đòihỏi phải giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán, những thínghiệm dựa trên cơ sở các định luật, khái niệm và quy tắc vật lí

Hiểu theo nghĩa rộng mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáokhoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh Sự tư duy có định hướng mộtcách tích cực luôn luôn là việc giải bài tập

1.3.2 Tác dụng của bài tập trong dạy học vật lí

- Bài tập là một phương tiện giúp cho việc ôn tập, củng cố, đào sâu, mởrộng kiến thức một cách sinh động và có hiệu quả Khi giải bài tập học sinhphải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải vận dụng một cách tổng

Trang 18

hợp các kiến thức đã học trong cả một chương, một phần do đó học sinh sẽ hiểu rõ hơn và ghi nhớ vững chắc những kiến thức đã học.

- Bài tập vật lí có thể được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tàiliệu mới Ở những lớp của học sinh bậc trung học phổ thông, trình độ toán học

đã khá phát triển nên nhiều khi các bài tập được sử dụng khéo léo có thể dẫnhọc sinh đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới, hoặc xây dựng một kháiniệm mới để giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra

- Bài tập vật lý là phương tiện rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát

- Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của họcsinh Trong khi giải bài tập học sinh phải tự mình phân tích đề bài, tự xây dựngnhững lập luận, thực hiện những phép tính toán Khi cần thiết phải tiến hànhthí nghiệm, thực hiện các phép đo, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đạilượng, kiểm tra các kết luận của mình Trong những điều kiện đó tư duy củahọc sinh được phát triển, năng lực làm việc độc lập của học sinh được nângcao

- Bài tập vật lí là phương tiện để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh

- Bài tập vật lí có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy và pháttriển tư duy sáng tạo của học sinh

1.3.3 Phân loại bài tập vật lí

Có nhiều cách phân loại bài tập, tùy theo các dấu hiệu khác nhau mà cócách phân loại khác nhau như: phân loại theo nội dung, phân loại theo yêu cầuphát triển tư duy, phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thứcgiải

1.3.3.1 Phân loại theo nội dung

- Theo đề tài vật lí: Bài tập vật lí được phân biệt thành các bài tập cơ

học, điện học, nhiệt học, quang học,… Các bài tập này thường xuất hiện ngaysau khi nghiên cứu tài liệu mới về một vấn đề nào đó Sự phân chia này chỉ

Trang 19

mang tính chất quy ước, vì kiến thức được sử dụng trong giả thiết của bài tậpkhông chỉ lấy ở một chương mà có thể lấy ở những phần học khác nhau trongchương trình vật lí đã học.

- Bài tập có nội dung trừu tượng và bài tập có nội dung cụ thể:

Bài tập có nội dung trừu tượng là bài tập trong điều kiện của nó bản

chất vật lí đã được nêu lên, những chi tiết không bản chất đã được lược bỏ bớt.Khi gặp những bài tập loại này học sinh sẽ dễ dàng nhận ra cần phải sử dụngnhững công thức, định luật hay kiến thức vật lí nào để giải quyết bài tập Do đónhững bài tập loại này thường được áp dụng cho học sinh tập dượt, vận dụngcác công thức vừa học

Bài tập có nội dung cụ thể là bài tập mà trong điều kiện của nó, những

số liệu chi tiết của bài tập đã được nêu cụ thể còn bản chất vật lí của hiện tượngvật lí chưa được sáng tỏ Khi giải bài tập vật lí loại này học sinh phải nhận rõbản chất của hiện tượng vật lí và phải phân tích các dữ kiện để làm sáng tỏ vấnđề

- Bài tập kĩ thuật tổng hợp: Là các bài tập có nội dung chứa đựng các

kiến thức về kỹ thuật, về sản xuất về công nông nghiệp, về giao thông vậntải… Các bài tập loại này sẽ giúp học sinh liên hệ được lý thuyết với thựchành, học tập với thực tiễn cuộc sống, cho học sinh thấy được khoa học vật lý

ở xung quanh chúng ta

- Bài tập có nội dung lịch sử: Là các bài tập có chứa đựng các kiến

thức có liên quan đến lịch sử, những dữ kiện về các thí nghiệm vật lý cổ điển,những phát minh sáng chế hay những câu chuyện có tính chất lịch sử

- Bài tập vui: Là các bài tập có sử dụng các dữ kiện, hiện tượng kì lạ

hoặc vui, dí dỏm, hài hước Loại bài tập này sẽ làm cho tiết học thêm sinhđộng, hấp dẫn, từ đó nâng cao hứng thú học tập của học sinh

1.3.3.2 Phân loại theo yêu cầu phát triển tư duy

- Bài tập luyện tập: Là loại bài tập dùng để củng cố kiến thức lý thuyết

cơ bản đã học, hoặc sau khi học xong một kiến thức vật lý mới, giúp học sinh

Trang 20

hiểu sâu sắc hơn các khái niệm, định luật vật lí mới nghiên cứu, nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhất định đã được chỉ dẫn cách thức giải.

- Bài tập sáng tạo: Là loại bài tập phát triển tư duy sáng tạo của học

sinh Có thể chia bài tập sáng tạo thành hai loại:

Bài tập nghiên cứu: Là loại bài tập cần giải thích một hiện tượng chưa

biết trên cơ sở mô hình trừu tượng thích hợp rút ra từ lí thuyết vật lí

Bài tập thiết kế: Là loại bài tập vận dụng các kiến thức lí thuyết đã biết

để đưa ra mô hình phù hợp với mô hình trừu tượng đã cho

1.3.3.3 Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải

- Bài tập định tính: Bài tập định tính là bài tập mà khi giải học sinh

không cần phải thực hiện các phép tính phức tạp mà chỉ làm các phép tính đơngiản có thể tính nhẩm được Muốn giải những bài tập định tính học sinh phảithực hiện những phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất của các kháiniệm, định luật vật lí và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong cáctrường hợp cụ thể

- Bài tập tính toán: Bài tập tính toán là bài tập muốn giải chúng ta phải

thực hiện một loạt các phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng,tìm giá trị của một số đại lượng vật lí Có thể chia bài tập tính toán làm 2 loại:bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp

Bài tập tập dượt: là bài tập cơ bản, đơn giản , trong đó chỉ đề cập đến

một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản

Bài tập tổng hợp: là bài tập mà muốn giải chúng ta phải sử dụng nhiều

khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức những kiến thức dùng trong bài tậptổng hợp có thể là những kiến thức đã học trong nhiều bài trước và có thể

ở nhiều phần của chương trình

- Bài tập thí nghiệm: Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí

nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiếtcho việc giải bài tập Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn

Trang 21

giản có thể làm ở nhà với những dụng cụ đơn giản để tìm hoặc tự làm được.Bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng.

- Bài tập đồ thị: Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu dùng làm

dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại để hỏi họcsinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng

đồ thị

- Bài tập trắc nghiệm khách quan: Là bài tập thường được dùng để

kiểm tra kiến thức trong một phạm vi rộng, số lượng người được kiểm tranhiều, kết quả thu được khách quan không phụ thuộc vào người chấm Bài tậpdạng này yêu cầu học sinh phải nhớ, hiểu và vận dụng đồng thời rất nhiều cáckiến thức liên quan

`

Trang 22

Tóm lại: Các dạng bài tập vật lí được trình bày vắn tắt theo sơ đồ trong

Phân loại theo yêu cầu phát triển tư duy

Phân loại theo phương thức cho điều kiện

và phương thức giải

Bài tập có nội dung cụ thể hoặc trừu tượng

Bài tập

Nhiệt Bài tập

theo đề tài vật lí

Điện Bài tập có nội dung Quang lịch sử

Trang 23

1.3.4 Tư duy trong giải bài tập vật lí

Để nêu ra được nét chung của phương pháp giải bài tập vật lí ta cần hiểu

rõ quá trình tư duy trong việc xác lập đường lối giải một bài tập vật lí Quátrình giải một bài tập vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiện của bài tập,xem xét hiện tượng vật lí được đề cập và dựa trên kiến thức vật lí, toán học đểxác lập được mối quan hệ của cái đã cho và cái phải tìm, sao cho thấy được cáiphải tìm liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cái đã cho Từ đó đi tới chỉ rõ đượcmối liên hệ tường minh trực tiếp của cái phải tìm với những cái đã biết tức làtìm được lời giải đáp

Ta có thể biểu diễn mô hình hóa các mối liên hệ của cái đã cho, cáiphải tìm và cái chưa biết như cách mô tả sau đây:

Trong đó x là cái phải tìm

a , b là những cái đã cho

1 , 2 là những cái chưa biết

Giả sử khi giải một bài tập nào đó, phân tích điều kiện của đề bài, dựatrên các kiến thức vật lí ta xác lập được các mối quan hệ như hình 1.2 Nhờcác mối quan hệ này mà ta có thể làm sáng tỏ cái chưa biết để rồi xác định cáiphải tìm

Hình 1.2: Sơ đồ xácHìnhlập mối2 quan hệ giữa các

đại lượng trong bài tập vật lí

Trang 24

Quá trình làm sáng tỏ các yếu tố chưa biết trong các mối quan hệ đã xáclập được trong hình 1.2, để đi đến xác định cái phải tìm được mô hình hóatrong sơ đồ luận giải sau.

Hình 1.3: Mô hình hóa sơ đồ luận giải các mối quan hệ xác lập

được trong bài tập vật lí.

Từ mô hình hóa sơ đồ luận giải các mối quan hệ xác lập được trong bài tập vật lí (hình 1.3) cho thấy:

Từ mối quan hệ III rút ra (3)

Tư duy giải ví dụ trên:

Trang 25

Khoảng cách giữa 5 điểm liên tiếp dao động cùng pha là d = (5 - 1)λ)Tốc độ truyền sóng: v = λ)f

1.3.5 Phương pháp giải bài tập vật lí

Rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập vật lí một cách khoa học,đảm bảo đi đến kết quả chính xác là việc làm rất cần thiết Nó không nhữnggiúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng suy luận lôgic,làm việc một cách khoa học, có kế hoạch

Bài tập vật lí rất đa dạng, nên phương pháp giải cũng phong phú Tuynhiên, có thể đưa ra tiến trình chung gồm những giai đoạn chính để giải mộtbài tập vật lí như sau:

 Tìm hiểu đề bài:

Trang 26

- Tìm hiểu đề bài là vấn đề quan trọng đầu tiên khi giải một bài tập vật

lí Bởi vì tìm hiểu kỹ đề bài mới xác định được ý nghĩa của các thuật ngữ, phânbiệt được đâu là ẩn số, đâu là dữ liệu

- Sau khi làm rõ các vấn đề trên ta tiến hành sử dụng các ký hiệu vật lý

để ghi tóm tắt đầu bài Tóm tắt đầu bài được hiểu như một bài tập ghi bằng các

ký hiệu dưới dạng đơn giản nhất

- Đổi đơn vị về hệ đơn vị hợp pháp

- Vẽ hình mô tả bài tập

 Phân tích hiện tượng: Phân tích hiện tượng trong bài tập vật lý nhằm

xác định các giai đoạn, diễn biến của hiện tượng vật lý nêu trong bài tập Từ đóngười giải bài tập nhận biết được những dữ kiện đã cho của đầu bài liên quanđến những khái niệm nào, hiện tượng nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật

lí xét về mặt lý thuyết

 Xây dựng lập luận: Thực chất của giai đoạn này là tìm mối quan hệ

giữa ẩn số phải tìm với những dữ liệu đã cho và giải bài toán Có thể xem xét

cụ thể về xây dựng lập luận trong giải các bài tập định tính và định lượng

- Xây dựng lập luận trong giải bài tập định tính Trong việc xây dựng

lập luận giải bài tập định tính cần chia thành hai nhánh:

Xây dựng lập luận trong giải bài tập giải thích hiện tượng vật lý

Giải thích hiện tượng vật lý thực chất là cho biết một hiện tượng vật lí

và lí giải xem vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế

Trong các bài tập này, bắt buộc phải thiết lập được mối quan hệ giữahiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hay với một số định luật vật lí

Thực hiện phép suy luận lôgic, luận ba đoạn trong đó tiền đề thứ nhất làmột đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí tổng quát, tiền đề thứ hai lànhững điều kiện cụ thể,kết luận về hiện tượng được nêu ra

Xây dựng lập luận trong giải bài tập dự đoán hiện tượng vật lý

Trang 27

Dự đoán hiện tượng thực chất là căn cứ vào những điều kiện cụ thể của

đề bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng và dự đoán được hiệntượng gì xảy ra và xảy ra thế nào theo quan điểm vật lý học

Ta thực hiện suy luận lôgic,thiết lập luận ba đoạn, trong đó ta mới biếttiền đề thứ hai (phán đoán khẳng định riêng), cần phải tìm tiền đề thứnhất( phán đoán khẳng định chung) và kết luận (phán đoán khẳng định riêng)

Trong trường hợp hiện tượng xảy ra phức tạp, ta phải xây dựng mộtchuỗi luận ba đoạn liên tiếp ứng với các giai đoạn diễn biến của hiện tượng

- Xây dựng lập luận trong bài tập định lượng về vật lý

Thông thường có hai phương pháp xây dựng lập luận: Phương phápphân tích, phương pháp tổng hợp

Phương pháp phân tích

Tìm một định luật hoặc một qui tắc diễn đạt bằng một công thức vật lý

có chứa đại lượng cần tìm và một vài đại lượng khác chưa biết có liên quan

Tìm những định luật, công thức khác biểu diễn mối liên hệ giữa các đạilượng chưa biết ở trên với các đại lượng đã cho ở đầu bài

Sử dụng suy luận và biến đổi toán học, đưa đến công thức chỉ chứa đạilượng phải tìm trong mối liên hệ với các đại lượng đã cho Đó là những hàm

số, những phương trình cụ thể có thể giải được

Phương pháp tổng hợp

Từ những đại lượng vật lý đã cho ở đề bài Dựa vào các định luật,qui tắcvật lí,tìm những công thức có chứa đại lượng đã cho với các đại lượng trunggian mà ta dự kiến có liên quan đến đại lượng cần tìm

Sử dụng suy luận và biến đổi toán học, đưa đến công thức chỉ chứa đạilượng phải tìm trong mối liên hệ với các đại lượng đã cho

 Biện luận: Đây là phần phân tích kết quả cuối cùng để loại bỏ những

kết quả không phù hợp với điều kiện bài tập hoặc không phù hợp với thực tế.Điều này còn khẳng định bài tập mang ý nghĩa vật lí trong phạm vi nào

Trang 28

Việc giải bài tập vât lí đều phải trải qua giai đoạn tìm hiểu đề bài vàphân tích hiện tượng để không rơi vào sự mò mẫm, quanh co Việc xây dựnglập luận ở các loại bài tập khác nhau có thể có những nét đặc trưng khác nhau.

1.3.6 Hướng dẫn hoạt động giải bài tập vật lí

1.3.6.1 Những công việc cần làm để hướng dẫn học sinh giải một bài toán vật

- Trên cơ sở đó xác định những kiến thức áp dụng để giải bài toán

- Khi làm tốt các khâu trên, cần xác định bài toán được áp dụng chonhững đối tượng học sinh nào Với mức độ nhận thức của từng đối tượng họcsinh, khi giải bài toán này thì có thể gặp những khó khăn gì

- Từ đó, soạn hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh vượt qua khó khăn

1.3.6.2 Các phương thức hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí.

Thông thường có ba phương thức hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí như sau:

 Hướng dẫn theo mẫu (Hướng dẫn angôrit).

Là sự hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh những hành động cụ thể cần thựchiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt được kết quả mong muốn.Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi giáo viên phải xây dựng được một angôrit giải,phải phân tích một cách khoa học việc giải bài tập và đảm bảo cho các hànhđộng được thực hiện là những hành động sơ cấp đối với học sinh và họ phảinắm được các hành động này

Trang 29

Kiểu hướng dẫn angôrit thường được sử dụng khi cần hình thành các kỹnăng hẹp hoặc khi cần dạy cho học sinh phương pháp giải một bài tập điểnhình nào đó Điều này cần thiết ở giai đoạn đầu khi giải một loại bài tập mới

mà học sinh chưa thể xác định được một cách rành mạch các bước hành động

Ưu điểm của hướng dẫn angôrit là đảm bảo cho học sinh giải được bàitập đã được giao một cách chắc chắn, giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bàitập của học sinh ở giai đoạn đầu có hiệu quả Tuy nhiên, do việc hướng dẫnhọc sinh chỉ quen chấp hành những hành động đã được chỉ dẫn theo mẫu đã cósẵn nên tác dụng rèn khả năng tìm tòi sáng tạo của học sinh bị hạn chế

Việc truyền đạt cho học sinh angôrit giải một loại bài tập xác định có thểtheo những cách khác nhau: Chỉ dẫn cho học sinh angôrit có sẵn trước khi chohọc sinh tiến hành giải bài tập hoặc cho học sinh giải một bài tập mẫu, sau đómới cho học sinh xác định angôrit giải loại bài tập đó Đối với những học sinhyếu, giáo viên cần đưa ra những bài tập nhỏ đảm bảo học sinh thực hiện đượcnhững chỉ dẫn riêng lẻ trong angôrit giải lớn hơn Đối với những học sinh khágiỏi, trong quá trình giải bài tập, giáo viên có thể lôi cuốn học sinh tham giavào quá trình xây dựng angôrit chung để giải loại bài tập đó và mở rộng ápdụng cho những bài tập tiếp theo nhằm rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạocho học sinh

 Hướng dẫn tìm tòi (hướng dẫn ơrixtic).

Là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi mở để học sinh tự tìm cách giảiquyết, tự xác định các hành động cần thực hiện để đạt được kết quả

Kiểu hướng dẫn này được áp dụng khi cần giúp đỡ học sinh vượt quakhó khăn để giải được bài toán nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu phát triển tư duycủa học sinh, vẫn tạo điều kiện để học sinh tự tìm tòi phát hiện cách giải quyết

Ưu điểm của kiểu hướng dẫn này là giáo viên chỉ định hướng cho họcsinh cách giải bài tập chứ không phải làm bài tập thay học sinh Khi giải xong,giải đúng bài tập, học sinh sẽ hân hoan, vui sướng, tự tin và có hứng thú họctập

Trang 30

Tuy nhiên, khó khăn của kiểu định hướng này là học sinh thực hiệnnhiệm vụ một cách mò mẫm theo cách thử và sai Do đó, kết quả là nhiệm vụ

có thể thực hiện được nhưng hành động mà nhờ đó nhiệm vụ được thực hiệnkhông bền vững khi thay đổi điều kiện

 Định hướng khái quát chương trình hóa.

Là kiểu định hướng tư duy của học sinh theo đường lối khái quát củaviệc giải quyết vấn đề, kích thích học sinh tự xây dựng cơ sở định hướng hànhđộng và sau đó thực hiện hành động theo cơ sở định hướng đó Nếu học sinhhoàn toàn không thể đáp ứng được đòi hỏi của giáo viên thì sự giúp đỡ tiếptheo của giáo viên chính là sự phát triển định hướng khái quát ban đầu, cụ thểhóa thêm một bước bằng cách gợi ý thêm cho học sinh để thu hẹp thêm phạm

vi tìm tòi giải quyết cho vừa sức học sinh và phải thực hiện các bước tiếp theo cho đến khi giải quyết xong vấn đề

Kiểu hướng dẫn này được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến trìnhhoạt động giải bài tập, nhằm giúp cho học sinh tự giải được bài tập đã cho,đồng thời dạy cho học sinh cách suy nghĩ trong quá trình giải bài tập

Ưu điểm của kiểu hướng dẫn này là kết hợp việc thực hiện hai yêu cầu

cơ bản nhất khi giải một bài tập vật lí Đó là:

- Rèn luyện tư duy học sinh trong quá trình giải bài tập

- Đảm bảo cho học sinh giải được bài tập đã cho

Với định hướng khái quát đòi hỏi giáo viên phải phân tích cho được cơ

sở định hướng hành động và các hành động cần thực hiện khi giải một bài tậpvật lí, đồng thời phải theo sát tiến trình hoạt động giải bài tập của học sinh.Người giáo viên không thể chỉ dựa vào những lời hướng dẫn có thể soạn sẵn

mà phải kết hợp việc định hướng với việc kiểm tra kết quả hoạt động của họcsinh để điều chỉnh sự giúp đỡ thích ứng với trình độ của học sinh

Trang 31

Tóm lại: Phương pháp giải bài tập vật lý được biểu diễn tổng thể qua sơ

đồ sau đây:

Phương pháp giải bài tập vật lý

Các giai đoạn để giải 1 bài tập

vật lý

Xây dựng lập luận tronggiải bài tập định tính

Xây dựng lập luận tronggiải bài tập định lượng

Xây dựng lập luận trong Xây dựng lập luận trong Phương Phươngbài tập giải thích hiện bài tập dự đoán hiện pháp pháp

Hình 4: Sơ đồ phương pháp giải bài tập vật lí

Hướng dẫn giải bài tập vật lý

Hướng dẫn theo Hướng dẫn tìm Định hướng khái

Hình1.4: Sơ đồ các phương thức hướng dẫn giải bài tập vật lí

Trang 32

1.3.7 Lựa chọn và sử dụng bài tập vật lí.

1.3.7.1 Lựa chọn các bài tập vật lí.

Trong thực tế dạy học vật lí người giáo viên thường xuyên phải thựchiện công việc lựa chọn và vận dụng các bài tập vật lí sao cho phù hợp vớimục tiêu dạy học của mỗi bài học, của công việc như: giờ dạy kiến thức mới,giờ luyện tập, giờ kiểm tra, giờ ôn tập Khi đó việc lựa chọn hệ thống các bàitập cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Nội dung bài tập phải phù hợp với nội dung các kiến thức cơ bản và

kỹ năng giải bài tập của học sinh

- Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp,…giúp học sinh xây dựng được phương pháp giải các loại bài tập điển hình

- Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp vàoviệc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức cho học sinh

- Trong hệ thống bài tập cần bao gồm nhiều loại: bài tập giả tạo, bài tậptrừu tượng, bài tập có nội dung thực tế, bài tập luyện tập, bài tập sáng tạo,…

- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh đại trà, đồng thời chú ý tới sự phân hóa học sinh

- Chú ý đích đáng về số lượng và nội dung các bài tập nhằm giúp học sinh vượt qua những khó khăn chủ yếu, khắc phục những sai lầm phổ biến

Trang 33

Để kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh.

- Sắp xếp các bài tập đã chọn thành một hệ thống, định rõ kế hoạch vàmục đích sử dụng trong tiến trình dạy học Có thể lập kế hoạch sử dụng bài tậptheo bảng dưới đây:

Ra bài tập và giải ngay

để thu thập các thông tin sau đây:

- Tình hình dạy giải bài tập chương “sóng cơ và sóng âm”

- Tình hình hoạt động giải bài tập chương “sóng cơ và sóng âm”

- Những khó khăn và sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải bàitập vật lí nói chung và bài tập chương “sóng cơ và sóng âm” nói riêng Từ đótìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó của học sinh và đề xuấtphương án khắc phục

 Phương pháp điều tra:

- Điều tra giáo viên: sử dụng phiếu điều tra (Nội dung và kết quả điềutra được trình bày trong phần phụ lục 1), dự giờ giảng, trao đổi trực tiếp ,xemgiáo án

Trang 34

- Điều tra học sinh: sử dụng phiếu điều tra (Nội dung và kết quả điềutra được trình bày trong phần phụ lục 2), quan sát hoạt động giải bài tập củahọc sinh trong giờ học, kiểm tra khảo sát, phân tích kết quả.

1.4.2 Kết quả điều tra.

Căn cứ kết quả điều tra thông qua phiếu điều tra giáo viên và học sinhchúng tôi đã phân tích, đánh giá một cách tổng hợp và rút ra những nhận xétsau đây:

 Tình hình dạy giải bài tập của giáo viên.

- Số tiết học dành cho việc chữa bài tập còn ít mà yêu cầu rèn luyện kĩ năng lại nhiều nên giáo viên rất khó bố trí thực hiện cho đầy đủ

- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều nên chọn bài để chữatrên lớp rất khó vì bài khó thì học sinh trung bình không hiểu nổi, bài dễ lạilàm cho các em giỏi ít hứng thú

- Mỗi giáo viên thường chọn riêng cho mình một phương pháp giải vàđưa ra cho học sinh luyện tập, nên công tác đánh giá, kiểm tra chất lượng họcsinh cả khối cũng gặp nhiều khó khăn

 Tình hình hoạt động giải bài tập của học sinh.

- Nhiều học sinh nhớ máy móc các công thức, chưa hiểu hết bản chấtvật lí của hiện tượng nêu ra trong các bài tập, dẫn đến học sinh gặp nhiều khókhăn trong việc giải bài tập hoặc áp dụng sai công thức trong quá trình giải

- Trong các giờ bài tập số học sinh tích cực tham gia hoạt động giải bàitập chiếm khoảng 30%, còn số học sinh thụ động, lười suy nghĩ, chưa có ýthức hoặc chưa biết cách phân loại và xây dựng phương pháp giải cho mỗi loạibài tập chiếm khoảng 70%

 Những khó khăn, sai lầm của học sinh thường gặp khi giải bài tập

chương “sóng cơ và sóng âm”.

- Rất nhiều học sinh nắm không vững những kiến thức toán học có liênquan đến việc giải các bài tập vật lí như: Vectơ, lượng giác, đạo hàm… nên

Trang 35

chưa hiểu được bản chất vật lí của bài tập, dẫn đến việc giải các bài tập vật lí càng khó hơn.

- Khả năng vận dụng những kiến thức lý thuyết vật lí đã học vào cácứng dụng thực tế của đa số học sinh còn hạn chế Do vậy, việc giải các bài tậplấy dữ kiện từ thực tế phần lớn học sinh thường giải sai

- Rất nhiều học sinh không tự giác học, thụ động, lười suy nghĩ, thườngđợi giáo viên đưa ra phương pháp giải cho một dạng bài tập nào đó rồi mới vậndụng các bài tập tương tự như vậy

 Nguyên nhân của những khó khăn, sai lầm của học sinh khi giải bài

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Để giải quyết được các nhiệm vụ mà đề tài luận văn đặt ra, trongchương này chúng tôi đã trình bày một số vấn đề cơ sở lí luận dạy học hiệnđại, tính tích cực, tự chủ và năng lực sáng tạo của học sinh, lý luận về dạy giảibài tập vật lí ở trường THPT; đồng thời trình bày thực trạng hoạt động dạy vàhọc bài tập vật lí ở trường THPT Cao Bá Quát – Quốc Oai hiện nay

Những luận điểm lí luận và thực tiễn trình bày trong chương là cơ sởgiúp chúng tôi soạn thảo hệ thống và hướng dẫn giải bài tập chương "Sóng cơ

và sóng âm" Vật lí 12 THPT được trình bày ở chương 2

Trang 37

CHƯƠNG 2XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG GIẢIBÀI TẬP CHƯƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” VẬT LÍ 12 TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN)2.1 Vị trí và vai trò chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT Chương

“Sóng cơ và sóng âm” là chương thứ 2 trong chương trình Vật

lí 12 THPT Các kiến thức trong chương giúp học sinh hiểu:

Khái niệm sóng

Quy luật chuyển động của sóng và những hiện tượng đặc trưng của sóng.Việc nghiên cứu chuyển động của sóng có những ứng dụng quan

trọng nào trong đời sống và kỹ thuật

2.2 Cấu trúc nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12

THPT

2.2.1 Cấu trúc chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT

Chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT có cấu trúc gồm 5 bài với nội dung cụ thể như sau:

Bài 7 Sóng cơ và sự truyền sóng cơ 2 tiết

Bài 10 Đặc trưng vật lí của âm 1 tiết

Bài 11 Đặc trưng sinh lí của âm 1 tiết

2.2.2 Nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 THPT.

2.2.2.1 Sóng cơ và sự truyền sóng cơ.

a Định nghĩa: Sóng cơ là dao động lan truyền trong môi trường vật chất.

b Phân loại: Gồm 2 loại

 Sóng ngang:

Trang 38

- Sóng trong đó các phần tử của môi trường dao động theo phương vuông góc với phương truyền sóng.

- Sóng ngang chỉ truyền được trong chất rắn và bề mặt chất lỏng

 Sóng dọc:

- Sóng trong đó các phần tử của môi trường dao động dọc theo phương trùng với phương truyền sóng

- Sóng dọc truyền được trong cả chất khí, chất lỏng và chất rắn

c Các đại lượng đặc trưng của sóng hình sin.

 Biên độ sóng A:

Biên độ A của sóng là biên độ dao động của một phần tử của môi trườngkhi có sóng truyền qua

 Chu kì sóng, tần số của sóng:

Chu kì sóng là chu kì dao động của một phần tử của môi trường khi có

sóng truyền qua, chu kì sóng là chu kì dao động và cũng là chu kì của nguồnsóng

Tần số sóng là tần số dao động của một phần tử của môi trường khi có sóng

truyền qua, tần số sóng là tần số dao động và cũng là tần số của nguồn sóng

 Tốc độ truyền sóng:

- Tốc độ truyền sóng υ là tốc độ lan truyền dao động trong môi trường

- Đối với mỗi môi trường tốc độ truyền sóng υ có giá trị không đổi

Trang 39

- Nhận xét: Tính tuần hoàn của sóng.

Tại một điểm xác định trong môi trường truyền sóng có x = const uM

là một hàm biến thiên điều hòa theo thời gian t với chu kì T

Tại một thời điểm xác định t = const uM là một hàm biến thiên điều hòa trong không gian theo biến x với chu kì

Trang 40

- Nhận xét: Dao động tổng hợp tại M cũng là dao động điều hòa cùng chu kì (tần số) với hai nguồn có biên độ dao động, và độ lệch pha là:

A 2a cos ( d2 d1 ) 2a M cos ( )

2 d2 d

1

c Vị trí cực đại, cực tiểu giao thoa

Từ biểu thức biên độ dao động của M ta có:

- Biên độ dao động cực đại Amax = A khi

cos ( d2 d1) 1 2k ; k Z d2 d1 k

Những điểm tại đó dao động với biên độ cực đại là những điểm mà hiệuđường đi của hai sóng từ nguồn truyền tới bằng một số nguyên lần bước sóngλ)

Quỹ tích của những điểm này là những đường hypebol có hai tiêu điểm

S1, S2, chúng được gọi là những vân giao thoa cực đại

- Biên độ dao động cực tiểu Amin = A khi

S1, S2, chúng được gọi là những vân giao thoa cực tiểu

2.2.2.3 Sóng dừng.

a Định nghĩa: Sóng dừng là trường hợp đặc biệt của giao thoa sóng,

trong đó có sự giao thoa của sóng tới và sóng phản xạ Những điểm tăng cườnglẫn nhau gọi là bụng sóng, những điểm triệt tiêu lẫn nhau gọi là nút sóng

b Tính chất.

- Khoảng cách giữa hai nút sóng hay hai bụng sóng liên tiếp nhau trên phương truyền sóng:

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w