Mục đích nghiên cứu Vận dụng mô hình giáo dục STEM vào dạy học phần Sinh học vi sinh vật Sinh học 10 nhằm giúp học sinh có kỹ năng sử dụng kiến thức liên môn vào giảiquyết các vấn đề thự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban giám hiệu, ban chủnhiệm khoa cùng tất cả các thầy cô khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục đã tạođiều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thúy Quỳnh đã trực tiếphướng dẫn nhiệt tình, cẩn thận, đưa ra những định hướng quý báu để tôi hoànthành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo bộ môn, giáo viênmôn Sinh học cùng các em học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Lai Châu
và nhiều trường trung học phổ thông trên địa bàn Lai Châu đã tạo điều kiện chotôi trong quá trình thực nghiệm đề tài
Cuối cùng tôi chân thành xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồngnghiệp luôn động viên và hỗ trợ trên mọi phương diện trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Dù đã có nhiều cố gắng, song do điều kiện thời gian còn có phần hạn chế nênluận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiếncủa các nhà khoa học, các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoànthiện
Trang 4Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán họcTrung học cơ sở
Trung học phổ thôngThực nghiệm
Đối chứngThực nghiệm sƣ phạm
Vi sinh vật
Vi khuẩn
Vi rút
ii
Trang 5D NH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Đánh giá thực trạng dạy học bộ môn Sinh học ở trường THPT 16
Bảng 1.2 Đánh giá về mức độ hữu ích của giáo dục STEM 18
Bảng 1.3 Đánh giá về ưu điểm, lợi thế của giáo dục theo định hướng STEM đối với hoạt động học tập của học sinh 20
Bảng 2.1 Nội dung, chương trình Phần Sinh học VSV, Sinh học 10 25
Bảng 2.2 Các hoạt động STEM trong phần Sinh học VSV, Sinh học 10 33
Bảng 3.1 Tiêu chí đánh giá cho các mức điểm của bài kiểm tra 72
Bảng 3.2 Kết quả điều tra phiếu hỏi học sinh lớp đối chứng 73
Bảng 3.4 Phân bố tần số kết quả điểm kiểm tra ở lớp TN và ĐC 77
Bảng 3.5 Phân bố tần suất điểm số bài kiểm tra 77
Bảng 3.6 Phân bố tần suất tích lũy điểm số bài kiểm tra 77
Bảng 3.7 Các tham số thống kê kết quả của lớp TN và ĐC 79
Bảng 3.8 So sánh các tham số thống kê đặc trưng giữa lớp ĐC và TN 79
iii
Trang 6D NH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Chủ đề STEM được dạy trong một môn học duy nhất 11
Hình 1.2 Chủ đề STEM được dạy trong trong nhiều môn học 11
Hình 1.3 Chủ đề STEM nhiểu môn phối hợp 12
Hình 1.4 Đánh giá về mức độ phổ biến của dạy học theo mô hình giáo dục STEM 18
Hình 1.5 Mức độ thiết kế các hoạt động dạy học liên quan đến mô hình giáo dục STEM 20
Hình 2.1 Cấu trúc chương trình sinh học 10 23
Hình 2.2 Quy trình dạy học môn Sinh học theo mô hình giáo dục STEM 27
Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn phân bố tần số tích lũy kết quả bài kiểm tra 78
Hình 3.2 Biểu đồ phân loại kết quả bài kiểm tra của học sinh 78
Hình 3.3 Học sinh hoạt động nhóm trong giờ chủ đề và dự án 82
Hình 3.4 Học sinh thuyết trình về sản phẩm 83
Hình 3.5 Một số sản phẩm thu hoạch của học sinh 83
iv
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH M C TỪ VIẾT TẮT
DANH M C BẢNG BIỂU
DANH M C HÌNH, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
4.2 Khách thể nghiên cứu
5 Giả thuyết nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2 Phương pháp điều tra
6.3 Phương pháp chuyên gia
6.4 Thực nghiệm sư phạm
6.5 Phương pháp xử lí số liệu
7 Những đóng góp mới của đề tài
8 Cấu trúc luận văn
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu giáo dục STEM
1.1.1 Giáo dục STEM trên thế giới
1.1.2 Giáo dục STEM ở Việt Nam
1.2 Cơ sở lý luận
v
Trang 81.2.1 Khái niệm giáo dục STEM 8
1.2.2 Một số vấn đề về giáo dục STEM 9
1.2.2.1 Mục tiêu giáo dục STEM 9
1.2.2.2 Các con đường giáo dục STEM cho học sinh 10
1.2.2.3 Phân loại STEM 12
1.2.2.4 Ý nghĩa giáo dục theo mô hình STEM 14
1.3 Cơ sở thực tiễn 14
1.3.1 Thực trạng giáo dục STEM ở Việt Nam hiện nay 14
1.3.2 Thực trạng giáo dục STEM trong dạy học môn Sinh học THPT 15
Kết luận Chương I 22
CHƯƠNG 2 : VẬN D NG MÔ HÌNH GIÁO D C STEM TRONG 23
DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 23
2.1 Phân tích chương trình Sinh học 10, THPT 23
2.1.1 Cấu trúc chương trình Sinh học 10, THPT 23
2.1.2 Mục tiêu và cấu trúc phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 24
2.2 Mối quan hệ giữa nội dung, chương trình Phần vi sinh vật với định hướng giáo dục STEM 24
2.2.1 Cấu trúc, nội dung từng bài trong phần Sinh học Vi sinh vật 10 24
2.2.2 Mối quan hệ giữa nội dung, chương trình Phần vi sinh vật với định hướng giáo dục STEM 26
2.3 Quy trình xây dựng bài giảng Sinh học phần Vi sinh vật theo mô hình giáo dục STEM 27
2.3.1 Quy trình xây dựng bài giảng Sinh học theo mô hình giáo dục STEM 27 2.3.1.1 Xây dựng chủ đề 27
2.3.1.2 Xây dựng nội dung học tập phần VSV lớp 10, THPT theo mô hình giáo dục STEM 28
2.3.1.3 Thiết kế các nhiệm vụ 28
vi
Trang 92.3.1.4 Tổ chức thực hiện 29
2.3.1.5 Tổ chức đánh giá 30
2.3.2 Nguyên tắc xây dựng quy trình thiết kế bài giảng Sinh học theo mô hình giáo dục STEM 31
2.4 Xây dựng một số hoạt động theo mô hình giáo dục STEM dạy học phần Sinh học Vi sinh vật, lớp 10 32
2.5 Thiết kế một số giáo án/chủ đề dạy học phần Vi sinh vật, lớp 10 40
Kết luận Chương II 67
CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 68
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 68
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 68
3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 69
3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 73
3.6.1 Kết quả định lượng 73
3.6.2 Kết quả định tính 80
3.6.3 Nhận xét 81
Kết luận Chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PH L C
vii
Trang 10Trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìnđến năm 2035 chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp có kĩ năng, có nănglực sáng tạo; ưu tiên phát triển và chuyển giao công nghệ đối với các ngành Trong
đó, Chính phủ đã xác định 3 nhóm ngành công nghiệp lựa chọn ưu tiên phát triểngồm: công nghiệp chế biến chế tạo, điện tử và viễn thông, năng lượng mới và nănglượng tái tạo [11]
Để xây dựng được nguồn nhân lực công nghiệp đó, đòi hỏi giáo dục Việt Namcần phải có một lực lượng thành thạo trong lính vực Công nghệ, Khoa học, Kĩthuật… Giáo dục STEM là quan điểm dạy học theo hướng tiếp cận liên ngành đếncác lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học Các kiến thức và kĩ năngcủa các môn học này được giảng dạy tích hợp giúp người học có thể áp dụngnhững kiến thức đó trong những bối cảnh, tình huống cụ thể Ở Việt Nam, STEM vàgiáo dục STEM nói riêng đã được đề cập nghiên cứu tuy nhiên vẫn chưa sâu, đặcbiệt trong việc nghiên cứu bàn về cơ sở lí luận của giáo dục STEM và vận dụng nóvào dạy học bộ môn
Đối với môn Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm ứng dụng các kiến thứcnền tảng của các môn khoa học cơ bản như Toán, Lý, Hóa và gắn liền kiến thức vớithực tiễn Nếu trong quá trình dạy học môn Sinh học giáo viên gắn với thực tế cuộcsống, các tình huống, các vấn đề trong thực tiễn sẽ giúp học sinh phát huy sự sáng tạo,khám phá được những điều mới mẻ thông qua bài học và quan trọng hơn hết là biếtvận dụng được các kiến thức đã học vào thực tế Qua đó học sinh mới thực sự pháttriển năng lực tư duy, sáng tạo, và giúp việc tiếp thu kiến thức
1
Trang 11được vững chắc và nhớ lâu [4].
Tuy nhiên, trên thực tế, việc dạy học Sinh học ở nhiều trường còn mang tínhhàn lâm, nặng lý thuyết làm cho học sinh ngại học, lười tư duy, thiếu sáng tạo Vìvậy, để giúp cho người học yêu thích bộ môn, không còn cảm thấy nặng nề, khótiếp thu và sợ học thì việc nghiên cứu về giáo dục STEM và dạy học môn Sinh họctheo định hướng giáo dục STEM là hoàn toàn phù hợp với định hướng đổi mới cănbản toàn diện giáo dục ở Việt Nam
Từ những lý do trên, với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “ Vận dụng mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần ba Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 , Trung học phổ thông”.
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng mô hình giáo dục STEM vào dạy học phần Sinh học vi sinh vật Sinh học 10 nhằm giúp học sinh có kỹ năng sử dụng kiến thức liên môn vào giảiquyết các vấn đề thực tiễn, tạo hứng thú, say mê học tập môn học, yêu thích bộ môn
-từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Sinh học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về mô hình giáo dục STEM trên thế giới và ở ViệtNam
- Đánh giá thực trạng về việc dạy và học theo mô hình giáo dục STEM cho học sinh ở một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội và Lai Châu
- Xây dựng quy trình giảng dạy Sinh học theo mô hình giáo dục STEM
- Xây dựng một số hoạt động dạy học Sinh học 10 theo mô hình giáo dục
- Thiết kế 2 hoặc 3 giáo án theo mô hình giáo dục STEM dạy học phần VSV,
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần ba Sinh học VSV, Sinh học 10
- Phạm vi khảo sát tại một số trường THPT trên địa bàn TP HN và Lai Châu
2
Trang 124 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10 theo mô hình giáo dục STEM
4.2 Khách thể nghiên cứu
Giáo dục STEM, phần Sinh học VSV
5 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu tổ chức dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10, THPT theo mô hìnhgiáo dục STEM không chỉ tác động tích cực đến kết quả học tập, tạo được hứng thúhọc tập cho người học, còn góp phần giúp người học vận dụng kiến thức vào giảiquyết vấn đề trong học tập và đời sống
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phân tích, tổng hợp tài liệu về mô hình giáo dục STEM trên thế giới và tạiViệt Nam, lựa chọn những khái niệm và những lí thuyết cơ bản là cơ sở lí luận của
đề tài
6.2 Phương pháp điều tra
- Khảo sát, điều tra về thực trạng dạy học và hiểu biết về mô hình giáo dục STEM trên các đối tượng: GV, HS
- Sử dụng phiếu điều tra, bảng hỏi, dự giờ, phỏng vấn, tham khảo giáo án, sổ điểm của GV…
6.3 Phương pháp chuyên gia
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinhnghiệm về mô hình giáo dục STEM và thuận lợi, khó khăn khi vận dụng mô hìnhtrong giảng dạy Sinh học 10
6.4 Thực nghiệm sư phạm
- Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, phát phiếu điều tra; so sánh đối chiếu kết quả học tập trước và sau quá trình thực nghiệm ở từng lớp và giữa các lớp
- Lớp thực nghiệm: là lớp được tiến hành giảng dạy theo mô hình giáo dục
- Lớp đối chứng: là lớp được tiến hành giảng dạy theo PPDH truyền thống
3
Trang 136.5 Phương pháp xử lí số liệu
- Phân tích kết quả thực nghiệm bằng phương pháp phân tích định lượng và phân tích định tính
- Sử dụng các phần mềm xử lý số liệu vào việc đánh giá kết quả thu được
7. Những đóng góp mới của đề tài
- Thiết kế được 20 hoạt động dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Đánh giá thực trạng dạy học môn Sinh học phổ thông dưới góc độ giáo dục STEM tại 18 trường THPT tại Hà Nội và thành phố Lai Châu
- Góp phần đổi mới giáo dục Sinh học phổ thông theo định hướng phát triểnnăng lực phù hợp với tư tưởng tích hợp và định hướng đổi mới căn bản giáo dục Việt Nam sau năm 2015
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được
dự kiến trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo mô hình giáo dục STEM
Chương 2: Vận dụng mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10, trung học phổ thông.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
4
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu giáo dục STEM
1.1.1 Giáo dục STEM trên thế giới
Nghiên cứu về giáo dục STEM trong một thập k trở lại đây đã và đang đượcrất nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu và xu hướng nghiên cứu về lĩnh vựcnày sẽ còn tiếp tục được phát triển Theo thống kê, giáo dục STEM đã được triểnkhai tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển như
Mỹ, Úc, Phần Lan, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc [8]
Tại Mỹ: Vào những thập niên 50 và 60, Mỹ là quốc gia đầu tiên phổ cập giáo
dục phổ thông cho cả nước, tạo ra hệ thống các trường đại học, cao đẳng rộng rãi
Hệ thống giáo dục của Mỹ vào thời điểm này được đánh giá là tốt nhất thế giới,cùng với đó là những kết quả tuyệt vời mà nền khoa học và kinh tế Mỹ đã đạt được.Tuy nhiên, hiện nay nhiều quốc gia cho thấy học sinh của họ có một bước tiến vượtbậc, nổi trội so với học sinh của Mỹ về các kỹ năng cũng như kiến thức trongtrường học phổ thông, chẳng hạn như Phần Lan, Hàn Quốc, Hongkong haySingapore Và một trong những bước đi quan trọng của Mỹ trong cải cách giáo dụctìm lại vị thế của mình là phát triển giáo dục STEM [1]
Úc: Úc là quốc gia có nền giáo dục phát triển với tỉ lệ học sinh đi học cao nhất
thế giới và hệ thống cấp bằng quốc tế Tại Nam Úc, bộ trưởng bộ khoa học và thôngtin kinh tế HonJay Weatherill đã nói rằng: Đối với tất cả các tiểu bang Nam Úc đểgặt hái những lợi ích của ngành công nghiệp giá trị cao mới nổi và nền kinh tế kỹthuật số, điều quan trọng là tất cả chúng ta làm việc cùng nhau để thu hút và pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao với những kĩ năng về khoa học, công nghệ, kĩthuật và toán học (STEM) Trong lời nói đầu của tài liệu thảo luận của chính phủQueensland, thủ tướng Úc khẳng định tầm quan trọng của giáo dục STEM : “Khoahọc, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) giáo dục kỹ năng phát triển đóng mộtvai trò quan trọng trong tầm nhìn nhà nước thông minh” [5]
Tại Anh: Mục tiêu giáo dục STEM là tạo ra nguồn lực nghiên cứu khoa học
chất lượng cao Do đó các giải pháp hướng tới là tăng cường tối đa các cơ hội cho
5
Trang 15người học được tiếp xúc, trải nghiệm với các hoạt động nghiên cứu khoa học ngay
từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm xây dựng hứng thú, yêu thích việc tự tìmtòi, khám phá tri thức và vận dụng tri thức vào cuộc sống [1]
1.1.2 Giáo dục STEM ở Việt Nam
Mô hình giáo dục STEM được biết đến ở Việt Nam khoảng năm 2010 thôngqua các công ty về công nghệ và giáo dục trong và ngoài nước Chương trình giáodục STEM lần đầu được công ty cổ phần DDT Eduspec giới thiệu tại hai thành phốlớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, sau đó được triển khai tại Đà Nẵng vào năm 2013
và tại Cần Thơ vào năm 2016 Hiện nay đã có hàng chục nghìn học sinh tại cácthành phố này theo học và tham dự nhiều cuộc thi trong suốt những năm vừa qua ỞViệt Nam các trung tâm giáo dục ngoại khóa đã sớm áp dụng các chương trình đàotạo STEM cho học sinh như: Endeavor Learning Institute, học viện sáng tạo S3…
đã được nhiều phụ huynh và học sinh quan tâm [1]
Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện, từ năm 2012 Bộ Giáo dục vàđào tạo hàng năm đã tổ chức nhiều cuộc thi, đặc biệt là cuộc thi “Nghiên cứu khoa họcdành cho học sinh trung học” đã trở thành điểm sáng trong hoạt động giáo dục nhữngnăm qua Qua các cuộc thi đã tạo cơ hội cho giáo viên và học sinh giao lưu, học hỏi,chia sẻ kinh nghiệm trong việc đổi mới dạy và học đồng thời kích thích sự sáng tạo, say
mê nghiên cứu, tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế Bên cạnh đó còn rấtnhiều cuộc thi như: chế tạo robot mở rộng do khoa Vật lý trường đại học Khoa học tựnhiên tổ chức, nhà sáng tạo trẻ, chế tạo và phóng tên lửa nước đã được triển khai, làtiền đề hướng đến các cuộc thi quốc tế như: chế tạo tên lửa nước của diễn đàn các cơquan nghiên cứu vũ trụ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cuộc thi ASPC ở TháiLan… Các cuộc thi diễn ra nhận được sự quan tâm của các nhà giáo dục, cán bộ quản
lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh Các cuộc thi này là ví dụ cho mục tiêu giáo dụcnhằm phát triển năng lực cho HS hình thành những kĩ năng học tập và lao động trongthế kỉ 21 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và đó cũng là mục tiêu mà giáo dục STEMhướng tới Nhận thấy vai trò của giáo dục STEM như là một giải pháp quan trọng vàhiệu quả trong việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam sau năm 2015.Vào năm 2015 – 2016, Bộ Giáo
6
Trang 16dục và đào tạo đã khuyến khích nội dung STEM trong chương trình giáo dục đàotạo và chỉ đạo năm 2017 – 2018 tiến hành thí điểm giáo dục STEM.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và đào tạo đang phối hợp với hội Đồng Anh triển khaichương trình thí điểm giáo dục STEM cho một số trường trung học tại một số tỉnhthành như Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và Nam Định Đây là bước
đi quan trọng nhằm phát triển một chương trình giáo dục theo định hướng STEMmang tầm quốc gia và là giải pháp giúp đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện.Tại Hà Nội, trong một thời gian ngắn dưới sự hướng dẫn của Chuyên gia vềGiáo dục STEM, GV ở một số trường THPT đã giúp HS tiếp cận một phương pháphọc tập mới HS tham gia dự án hào hứng khi lần đầu tiên mình được thụ hưởngmột các học tập mới, phát huy được khả năng của chính mình trong việc áp dụnghọc đi đôi với hành Các kiến thức để thực hiện đều có trong các bài học Vật lý, Hoáhọc, Sinh học … đã học được áp dụng vào thực tiễn Các sản phẩm, dự án tuy cònrất khiêm tốn là nhưng đó là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng trong việc nghiên cứu,trải nghiệm tìm tòi khoa học Một số dự án, sản phẩm được các thầy cố vấn của Hộiđồng Anh đánh giá cao: máy cắt xốp, thiết kế máy bảo vệ trứng, an ninh quang học,xây dựng mô hình nhà chống lũ (trường Olympia); phân loại và xử lí rác thải, trồngcây thủy canh (THCS Nguyễn Trãi), vai trò của các nguyên tố khoáng (K,N,P) đốivới thực vật (THPT Chúc Động)….Xây dựng dự án chứa các thí
nghiệm và chế tạo các dụng cụ học tập bằng những nguyên vật liệu đơn giản như
Mô phỏng tên lửa nước, mô phỏng núi lửa phun trào Sử dụng các chai nhựa khôngdùng đến làm giàn cây thông minh, đèn ngủ Sáng chế bút dạ viết bảng, sáng chế racông nghệ về gen, công nghệ tế bào (THCS Trưng Vương, Cầu Giấy…)
Tuy nhiên, từ tổng hợp một số nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy: Đếnnay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện vàsâu sắc về dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Sinh học visinh vật - Sinh học 10- THPT Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lặp,đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng caochất lượng, hiệu quả dạy và học môn Sinh Học ở lớp 10 bậc THPT
7
Trang 171.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Khái niệm giáo dục STEM
Hiện nay, giáo dục STEM được nhiều tổ chức, nhà giáo dục quan tâm nghiêncứu Do đó, khái niệm về giáo dục STEM cũng được định nghĩa dựa trên ba cáchchính như sau:
Giáo dục STEM được hiểu theo nghĩa là quan tâm đến các môn Khoa học,Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học Đây cũng là quan niệm về giáo dục STEM của Bộgiáo dục Mỹ “Giáo dục STEM là một chương trình nhằm cung cấp hỗ trợ, tăngcường, giáo dục Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học (STEM) ở tiểu học vàtrung học cho đến bậc sau đại học” [1,5]
Giáo dục STEM được hiểu theo nghĩa là tích hợp liên ngành của 4 lĩnh vựcKhoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học Trong đó, những kiến thức hàn lâmđược kết hợp chặt chẽ với các bài học thực tế thông qua việc HS được áp dụngnhững kiến thức Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào trong những bốicảnh cụ thể tạo nên một kết nối giữa nhà trường, cộng đồng và các doanh nghiệpcho phép người học phát triển những kĩ năng STEM và tăng khả năng cạnh tranhtrong nền kinh tế mới [7,13]
Giáo dục STEM được hiểu theo nghĩa là tích hợp (liên ngành) từ 2 lĩnh vực
về Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học trở lên Cụ thể là theo hướng tiếpcận, khám phá trong hoạt động dạy và học giữa hai hay nhiều môn học STEM, hoặcgiữa một chủ đề STEM [12]
Ở ngữ cảnh giáo dục và trên bình diện thế giới, STEM được hiểu với nghĩa
là giáo dục STEM trong đó:
Science (Khoa học): Là môn học nhằm phát triển khả năng sử dụng các kiếnthức Khoa học (Vật lí, Hóa học, Sinh học và Khoa học trái đất), giúp HS hiểu về thếgiới tự nhiên và có thể vận dụng kiến thức đó để giải quyết các vấn đề khoa họctrong cuộc sống hàng ngày
Technology (Công nghệ): Là môn học nhằm phát triển khả năng sử dụng,quản lí, hiểu và đánh giá công nghệ của HS Công nghệ giúp HS hiểu rõ về côngnghệ được phát triển như thế nào, cung cấp những kĩ năng để HS có thể phân tích
8
Trang 18được sự ảnh hưởng của công nghệ mới tới cuộc sống hàng ngày và của cộng đồng.
Engineering (Kĩ thuật): Là môn học nhằm phát triển sự hiểu biết ở HS vềcách công nghệ đang phát triển thông qua quá trình thiết kế kĩ thuật Kĩ thuật đượctích hợp kiến thức của nhiều môn học giúp cho HS hiểu rõ vấn đề và có thể vậndụng sáng tạo để thiết kế các đối tượng hay hệ thống
Mathematics (Toán học): Là môn học nhằm phát triển ở HS khả năng phântích, biện luận và truyền đạt ý tưởng một cách hiệu quả thông qua việc tính toán,giải thích, các giải pháp giải quyết các vấn đề toán học trong các tình huống đặt ra
1.2.2 Một số vấn đề về giáo dục STEM
1.2.2.1 Mục tiêu giáo dục STEM
Trong thập k gần đây, giáo dục STEM xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thếgiới với nhiều mục tiêu khác nhau Chẳng hạn tại Anh, mục tiêu giáo dục STEM làtạo ra nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học chất lượng cao Tại Mỹ, ba mục tiêu cơbản cho giáo dục STEM là: trang bị cho tất cả các công dân những kĩ năng vềSTEM, mở rộng lực lượng lao động trong lĩnh vực STEM nhằm khai thác tối đatiềm năng con người của đất nước, tăng cường số lượng HS sẽ theo đuổi và nghiêncứu chuyên sâu về các lĩnh vực STEM Tại Úc, mục tiêu của giáo dục STEM là xâydựng kiến thức nền tảng của quốc gia nhằm đáp ứng các thách thức nền kinh tế thế
kỉ 21 Tuy các phát biểu về mục tiêu giáo dục STEM ở tầm quốc gia có khác nhaunhưng điểm chung cho các mục tiêu đó chính là sự tác động đến người học, là mộtgiải pháp trong cải cách giáo dục của các quốc gia hướng tới phát triển con ngườinhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phát triển của quốc gia trong thời đạitoàn cầu hóa đầy cạnh tranh
Tại Việt Nam, giáo dục STEM một mặt thực hiện đầy đủ mục tiêu giáo dục
đã nêu trong chương trình giáo dục phổ thông, bên cạnh đó giáo dục STEM nhằm:
- Phát triển các năng lực đặc thù của các môn học thuộc về STEM cho HS:
Đó là những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các môn học Khoa học, Công nghệ,
Kĩ thuật và Toán học Thông qua môn học này, HS dễ dàng giải quyết các vấn đềthực tiễn, cũng như biết về quy trình thiết kế và chế tạo ra các sản phẩm, sử dụng,quản lí và truy cập Công nghệ
9
Trang 19- Phát triển các năng lực cốt lõi cho HS: Giáo dục STEM nhằm chuẩn bị cho
HS những cơ hội cũng như thách thức trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu của thế
kỉ 21
- Định hướng nghề nghiệp cho HS: Giáo dục STEM sẽ tạo cho HS có nhữngkiến thức, kĩ năng mang tính nền tảng cho việc học tập ở các bậc học cao hơn cũngnhư cho nghề nghiệp trong tương lai của HS Từ đó, góp phần xây dựng lực lượnglao động có năng lực, phẩm chất tốt đặc biệt là lao động trong lĩnh vực STEM nhằmđáp ứng mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước
1.2.2.2 Các con đường giáo dục STEM cho học sinh
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới không có môn học mang tên STEM
cụ thể trong chương trình giáo dục phổ thông Giáo dục STEM thường được lồngghép qua các hình thức như sinh hoạt câu lạc bộ khoa học, hoạt động ngoài giờ lên lớphay được giảng dạy thông qua các môn Khoa học tự nhiên, Toán học và Công nghệ.Nội dung dưới đây trình bày một số con đường để giáo dục STEM cho HS trong đótập trung phân tích giáo dục STEM thông qua dạy học các môn học
Giáo dục STEM thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trên thế giới, các hoạt động giáo dục nhằm phát triển năng lực, sự sáng tạo,phẩm chất và kĩ năng, giáo dục sự nhân văn… được rất nhiều quốc gia quan tâmđặc biệt là các quốc gia tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng pháttriển năng lực Một số quốc gia gọi đó là hoạt động giáo dục ngoài trời, hoạt độngngoài giờ lên lớp hay hoạt động trải nghiệm Các hoạt động này thường được xâydựng dựa trên các chủ đề rất đa dạng, một trong số đó liên quan đến khám phá thếgiới tự nhiên, khoa học trái đất, tìm hiểu Công nghệ, Kĩ thuật… Các hoạt động nàyđều hướng tới việc cung cấp cho HS các tình huống, bối cảnh đa dạng và phongphú đòi hỏi sự phát triển, vận dụng nhiều tri thức kĩ năng, cho phép HS tư duy sángtạo và giải quyết vấn đề theo các cách khác nhau nhằm đạt được kết quả tốt hơn;cung cấp cho HS cơ hội sáng tạo, dám nghĩ, dám làm
Giáo dục STEM thông qua dạy học các môn thuộc về lĩnh vực STEM
Mô hình giáo dục STEM qua dạy học các môn khoa học tự nhiên khá phổbiến trên thế giới, đặc biệt là ở nước Anh trong đó nội dung học tập của môn học
10
Trang 20được thiết kế thành các chủ đề STEM và được giảng dạy theo các cách khác nhau.
+ Chủ đề STEM được dạy trong một môn học duy nhất:
Hình 1.1 Chủ đề STEM được dạy trong một môn học duy nhất
Đây là mô hình ở dạng đơn giản nhất, tuỳ theo quy mô của chủ đề mà có thểđược thiết kế để dạy trong một tiết hoặc nhiều tiết trong đó GV sẽ phân chia thờigian để HS tham gia các hoạt động: thiết lập vấn đề; tìm kiếm các giải pháp haycách thức để giải quyết vấn đề; thu thập thông tin, bằng chứng và cuối cùng là tổngkết, rút ra các kiến thức
+ Chủ đề STEM được dạy trong nhiều môn học
Hình 1.2 Chủ đề STEM được dạy trong nhiều môn học
Chủ đề STEM dạng này bao trùm nhiều hơn một môn học Về bản chất, cácmôn học sử dụng chung một vấn đề, một bối cảnh Các GV dạy mỗi môn học khácnhau sẽ dạy chủ đề STEM như cách dạy chủ đề STEM trong một môn học duy nhấtnhưng theo góc độ riêng của môn mình Ví dụ như về chủ đề “Chất lượng nguồnnước”, GV môn Hoá Học sẽ cho HS tìm hiểu dưới góc độ nghiên cứu về độ pHtrong nước trong khi đó GV môn Sinh học dạy HS theo định hướng STEM tậptrung vào nghiên cứu loài sinh vật trong nguồn nước đó và ảnh hưởng đến chất
11
Trang 21lượng nguồn nước như thế nào hay GV môn Địa lí có thể hướng dẫn HS tìm hiểu
ở góc độ là nguồn nước bắt đầu từ đâu, cấu tạo địa chất có ảnh hưởng như thế nàotới nguồn nước…
+ Chủ đề STEM nhiều môn phối hợp
Hình 1.3 Chủ đề STEM nhiều môn phối hợp
Chủ đề STEM dạng này khá phức tạp, nó có sự liên kết kiến thức giữa cácmôn rất chặt chẽ Các môn học vẫn tiếp cận chủ đề theo góc độ kiến thức chuyênmôn riêng của mình Nhưng những nội dung được giải quyết trong môn học trước
sẽ là tiền đề nối tiếp để dạy ở môn học sau Các môn học phải được phối hợp vớinhau để dạy những nội dung có tính chất gối nhau Như trên đã đề cập, mô hình nàyđòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các môn học đảm bảo cho những gì HS được học
ở môn này sẽ là tiền đề, điều kiện về kiến thức, kĩ năng để các em có thể học được
ở môn tiếp theo Thứ hai nó đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các GV phụ tráchcác môn học, bất kì một sự thay đổi nào về kiến thức, về thời gian… cũng làmhưởng đến mô hình
1.2.2.3 Phân loại STEM
STEM là một trong những giải pháp quan trọng của nhiều quốc gia trongviệc thúc đẩy kinh tế phát triển Ở tầm vĩ mô, các quốc gia có chính sách STEM vàcác chương trình STEM được triển khai rất chi tiết và rõ ràng Ở tầm vi mô nhưtrường học thì tập trung vào dự án STEM, bài học STEM và nhiệm vụ STEM Việcphân loại STEM là cần thiết bởi đó là một trong những cơ sở cho việc lựa chọn cáchình thức tổ chức và phương pháp giáo dục STEM đảm bảo phù hợp với mục tiêu,
12
Trang 22điều kiện và bối cảnh của các cơ sở đào tạo.
STEM được phân loại dựa trên các khía cạnh khác nhau như: lĩnh vựcSTEM tham gia giải quyết vấn đề, phạm vi kiến thức để giải quyết vấn đề và mụcđích dạy học
- Phân loại dựa trên khía cạnh các lĩnh vực STEM tham gia giải quyết vấn đề
chương trình giáo dục phổ thông Các sản phẩm STEM này thường đơn giản, chủ
đề giáo dục STEM bám sát nội dung sách giáo khoa và thường được xây dựng trên
cơ sở các nội dung thực hành, thí nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông
+ STEM mở rộng: là loại hình STEM có những kiến thức nằm ngoài chươngtrình và sách giáo khoa Những kiến thức đó người học phải tự tìm hiểu và nghiêncứu Sản phẩm STEM của loại hình này có độ phức tạp cao hơn Các chủ đề thườngđược xây dựng trên cơ sở các nội dung mang tính bổ sung, mở rộng chương trìnhgiáo dục phổ thông
- Phân loại dựa vào mục đích dạy học ta có: + STEM dạy kiến thức mới: làSTEM được xây dựng trên cơ sở kết nối kiến thức của nhiều môn học khác nhau
mà HS chưa được học (hoặc được học một phần) HS sẽ vừa giải quyết được vấn
đề và vừa lĩnh hội được tri thức mới
+ STEM vận dụng: là STEM được xây dựng trên cơ sở những kiến thức HS
đã được học STEM dạng này sẽ bồi dưỡng cho HS năng lực vận dụng lí thuyết vàothực tế Kiến thức lí thuyết được củng cố và khắc sâu
13
Trang 231.2.2.4 Ý nghĩa giáo dục theo mô hình STEM
Giáo dục STEM vận dụng phương pháp học tập dựa trên thực hành và cáchoạt động trải nghiệm sáng tạo Thông qua những ví dụ thực tế, những kiến thức
“khó hiểu” và “khó nhớ” sẽ trở nên dễ nắm bắt, từ đó sẽ hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơnnhững kiến thức đã học Song song với việc học kiến thức mới, học sinh có điềukiện tham gia vào các hoạt động thực hành trên lớp để có được trải nghiệm sáng tạotrong thực tế, điều này sẽ tạo dựng một nền kiến thức không chỉ cơ bản mà còn linhhoạt, giúp người học có thể ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
Giáo dục STEM mang đến cho người học những ưu thế nổi bật như: tư duylogic, khả năng sáng tạo, hiệu quả học tập và hoạt động học tập vượt trội mà khônggây cảm giác nặng nề hay quá tải đối với học sinh Giáo dục STEM như một giảipháp trong việc cải cách giáo dục của các quốc gia trên thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng nhằm hướng tới phát triển con người đáp ứng các mục tiêu về pháttriển kinh tế và phát triển đất nước trong thời đại toàn cầu
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Thực trạng giáo dục STEM ở Việt Nam hiện nay
Hiện tại, chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã quan tâm đến giáodục STEM, các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật được đưa vào giảng dạytrong tất cả các bậc học Tuy nhiên, chương trình và sách giáo khoa hiện hành ởViệt Nam chưa được xây dựng như một chỉnh thể mang tính xuyên suốt từ các cấphọc; một số nội dung các môn học và hoạt động giáo dục chưa cân đối, chưa phùhợp với đối tượng Nội dung chương trình, sách giáo khoa hiện hành tuy bước đầu
đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp và phân hóa nhưng việc thực hiện dạyhọc tích hợp và phân hóa chưa có hiệu quả cao, chưa đạt được yêu cầu của mụctiêu chương trình [2,6]
Dựa trên các yêu cầu của giáo dục STEM, đặc biệt là dựa trên hiệu quả tíchhợp các môn học và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, trong các tình huống
cụ thể thì có thể thấy giáo dục phổ thông ở Việt Nam hiện nay chưa thực sự có giáodục STEM Nếu như ở bậc tiểu học, ít nhiều có tinh thần tích hợp trong chươngtrình như bộ môn Tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội, Khoa học thì lên THCS và THPT
14
Trang 24các môn học này lại độc lập, mới tích hợp ở một số nội dung trong từng môn học
riêng lẻ Do thiếu sự gắn kết giữa kiến thức, kĩ năng của các môn học nên chương
trình các môn Khoa học tự nhiên còn nặng về kiến thức hàn lâm, nhẹ về yêu cầu
thực hành, vận dụng đã dẫn đến tình trạng phần lớn HS không có kĩ năng thực hành,
thiếu chủ động, sáng tạo, hạn chế vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.3.2 Thực trạng giáo dục STEM trong dạy học môn Sinh học THPT
Trên cơ sở lý luận về mô hình giáo dục STEM, chúng tôi tiến hành điều tra
đánh giá thực tiễn dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Sinh
học Vi sinh vật, Sinh học 10, THPT
a) Mục đích khảo sát
- Tìm hiểu ý kiến của GV về vai trò, ý nghĩa dạy học theo mô hình giáo dục
STEM tại một số trường THPT
- Thực trạng những khó khăn khi dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong
dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10, THPT
- Sự cần thiết hướng dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong dạy học
Sinh học
b) Đối tượng điều tra và phương pháp điều tra
Nghiên cứu khảo sát tại 18 trường THPT của tỉnh Lai Châu và thành phố Hà
Nội Cụ thể số trường và số phiếu khảo sát như sau:
Khu vực
Thành phố Hà Nội
Tỉnh Lai Châu
15
Trang 25c) Kết quả điều tra
* Thực trạng mức độ dạy học Sinh học với thực tiễn
Kết quả cho thấy đa số GV đã quan tâm đến việc kết nối các kiến thức thuộccác lĩnh vực khác nhau vào thực tiễn (bảng 1.1) Cụ thể, 80%, GV thường xuyên
“thường xuyên cho học sinh sử dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề có trong thực tiễn” Tuy nhiên việc tiến hành đổi mới toàn diện chưa được chú ý, đặc biệt việc
“sử dụng kiến thức từ các môn Toán học, Vật lý, Hóa học, Công nghệ trong quá trình dạy học môn Sinh học” Việc tiến hành tổ chức hoạt động cho học sinh nhằm
tạo ra các sản phẩm hay định hướng học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết cáctình huống thực tiễn chưa nhiều Đặc biệt là việc đánh giá học sinh theo địnhhướng đổi mới còn chưa được quan tâm thường xuyên trong dạy học Sinh học Dovậy kết quả dạy học chưa đồng bộ
Bảng 1.1 Đánh giá thực trạng dạy học bộ môn Sinh học ở trường THPT
Trang 261 Trong quá trình dạymôn
Thầy/Cô có thườngxuyên cho học sinh sửdụng kiến thức vàogiải quyết vấn đề cótrong thực tiễn haykhông
2 Thầy/Côxuyên sử dụng kiếnthức từ các môn Toánhọc, Vật lý, Hóa học,Công nghệ trong quátrình dạy học mônSinh học của mình?
3 Trong quá trình dạyhọc
Thầy/Côxuyên giao nhiệm vụhoạt động nhóm chohọc sinh?
4 Thầy/Côxuyên giao nhiệm vụhoạt động nhóm chohọc sinh tạo ra các sảnphẩm liên quan đếnbài học
* Mức độ phổ biến của mô hình giáo dục theo STEM
Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ phổ biến của mô hình giáo dục STEM,các thuật ngữ liên quan đến STEM được GV nghe thấy Trao đổi với các giáo viên,
họ đã biết tới STEM thông qua các hoạt động tập huấn, các cuộc thi, ngày hội khoahọc… Trong đó đến 87.5% GV khi được khảo sát đã từng nghe đến và số ít 12.5%
GV chưa từng nghe đến Điều đó cho thấy, số ít GV còn chưa từng biết đến STEM,
Trang 2717
Trang 28điều này cần tăng cường phổ biến, áp dụng những lợi ích của mô hình giáo dục STEM vào dạy học (Hình 1.1).
Hình 1.4 Đánh giá về mức độ phổ biến của dạy học theo mô hình giáo dục STEM
12.5
Chưa bao giờ
Đã từng nghe nói
87.5
* Đánh giá về mức độ hiểu biết về sự hữu ích của mô hình giáo dục STEM
Từ biểu đồ hình 1.1 cho thấy trong quá trình dạy học môn Sinh học, các GV
đã rất quan tâm tới việc hướng dẫn HS vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đềthực tiễn, định hướng hứng thú ở người học Tuy nhiên, thông qua hoạt động dạyhọc việc tổ chức để HS tạo ra các sản phẩm hay định hướng sản phẩm trong quátrình hướng dẫn HS vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn chưađược nhiều GV quan tâm hay thực hiện Điều này cũng có thể hiểu rằng HS chưa
có nhiều cơ hội được học tập trải nghiệm, được “nhúng” trong môi trường côngnghệ Các hoạt động định hướng hứng thú, vận dụng kiến thức vào thực tiễn mớichỉ dừng ở mức độ lí thuyết là chính
Bảng 1.2 Đánh giá về mức độ hiểu biết về sự hữu ích của mô hình giáo dục STEM
1 Theo Thầy/Cô đổi mớigiáo dục theo
18
Trang 29hướng STEM có quantrọng không?
2 Giáothaytrình khám phá tri thứccủa học sinh
3 Giáo dục STEM là cầnthiết đối với tất cả họcsinh
- Mức độ thiết kế các hoạt động dạy học liên quan đến mô hình giáo dục STEM
Từ kết quả biểu đồ hình 1.2 cho thấy, số lượng giáo viên thiết kế các hoạt độngdạy học liên quan đến mô hình giáo dục STEM trong quá trình dạy học chiếm t lệkhá khiêm tốn là 30% Thực tế, qua trò chuyện các GV đã rất quan tâm tới việchướng dẫn HS vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn, định hướnghứng thú ở người học Tuy nhiên, việc thiết kế các hoạt động dạy học để HS tạo racác sản phẩm hay định hướng sản phẩm trong quá trình hướng dẫn HS vận dụngkiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn chưa được nhiều GV quan tâm haythực hiện Điều này cũng có thể hiểu rằng HS chưa có nhiều cơ hội được học tậptrải nghiệm Các hoạt động định hướng hứng thú, vận dụng kiến thức vào thực tiễnmới chỉ dừng ở mức độ lí thuyết là chính Do vậy, chưa phản ánh đúng lợi ích, ưuđiểm của mô hình giáo dục STEM
Hình 1.5 Mức độ thiết kế các hoạt động dạy học liên quan đến mô hình giáo dục
Trang 30- Đánh giá về ưu điểm, lợi thế của mô hình giáo dục theo định hướng STEM
đối với hoạt động học tập của học sinh
Từ trên đánh giá của GV về dạy học theo mô hình giáo dục STEM, chúng tôi
cho rằng dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Sinh học vi sinh
vật - Sinh học 10- THPT có vai trò rất cần thiết Để tìm hiểu điều này, chúng tôi
khảo sát và thu được kết quả được thể hiện trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Đánh giá về ưu điểm, lợi thế của giáo dục theo định hướng STEM đối với
hoạt động học tập của học sinh
Kết quả khảo sát cho thấy, đa phần GV đánh giá ưu điểm, lợi thế của mô
hình giáo dục theo định hướng STEM đối với hoạt động học tập của học sinh giúp
HS “Phát triển được năng lực sáng tạo” (95% ý kiến đánh giá), và “Giải quyết vấn
đề thực tế” có 40 phiếu đánh gi (92.5% lựa chọn) Đồng thời các ý kiến cũng xoay
quanh ưu điểm, lợi thế của mô hình giáo dục STEM như: Hiểu bài và tiếp thu kiến
thức dễ dàng; Rèn luyện được kĩ năng thực hành; Phát triển được năng lực tư duy
Một số nhận xét về thực trạng
Qua kết quả điều tra chúng tôi thấy:
Việc đánh giá giờ dạy của giáo viên còn cứng nhắc, nặng hình thức, theo các
điều đã quy định, đã có sẵn (ví dụ như theo đúng tiến trình của SGK ) điều đó đã
làm mất đi tính sáng tạo của giáo viên
Nội dung, chương trình, sách giáo khoa chưa hỗ trợ cho giáo viên đổi mới
phương pháp dạy học, một số nội dung có tính chất kinh viện, yêu cầu chặt chẽ (tiên đề
hoá ) Tồn tại quá nhiều loại sách, nhiều bài tập khó, bài tập nâng cao, ít những bài tập
liên quan đến thực tiễn, liên môn Do đó giáo viên chủ yếu tập trung chủ yếu vào
truyền thụ cho đủ kiến thức có trong sách giáo khoa bằng cách dùng phương pháp
20
Trang 31thuyết trình Dẫn đến việc dạy khoán cho xong nội dung của bài.
Việc hạn chế dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Sinh học VSV , Sinh học 10, THPT còn nhiều bấp cập có rất nhiều nguyên nhân:
- Trong quá trình dạy học có thể nói một số giáo viên còn chưa thực sự chú ýđúng mức tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững được lượng kiến thức, đặc biệt tựhọc Nguyên nhân là do thời lượng tiết học ngắn, một giáo viên phải dạy nhiều lớp,làm nhiều công việc khác ngoài việc giảng dạy dẫn đên thời gian đầu tư cho việcnghiên cứu tìm tòi những phương pháp dạy học mới, phù hợp với đối tượng họcsinh trong lớp còn hạn chế Do vậy, rất khó để lôi cuốn được học sinh tập trung chú
- Chương trình học hiện tại quá ôm đồm quá nhiều thứ, thiếu thực hành, chủyếu là cung cấp kiến thức lí thuyết, nhiều HS không theo kịp chương trình vì kiếnthức quá nặng và học quá nhiều môn Trong một tiết học phải dạy nhiều nội dung vì
lo sợ cháy giáo án, không truyền tải hết nội dung của bài mà nhiều GV không thểthực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS
- PPDH chậm đổi mới: Việc giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theođặc trưng bộ môn còn hạn chế: bỏ giờ thực hành thí nghiệm, không có thí nghiệm trên lớp, phương tiện dạy học không đáp ứng được yêu cuầ của bài học
- GV chưa tổ chức được các buổi hoạt động ngoại khóa, những hoạt độngngoài giờ lên lớp thu hút sự quan tâm, chú ý của học sinh
21
Trang 32Kết luận Chương I
Trong chương này đã trình bày tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn củadạy học môn Sinh học theo mô hình giáo dục STEM Những nghiên cứu đã chochúng ta thấy:
Giáo dục STEM hiện nay đã và đang trở thành một xu hướng mang tính tấtyếu Việt Nam đang tiếp cận với mô hình giáo dục STEM Tuy nhiên việc nghiêncứu cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục STEM nói chung và trong giảng dạymôn Sinh học nói riêng chưa được quan tâm đúng mức
Có rất nhiều cách hiểu về giáo dục STEM tuy nhiên cần lưu ý ở hai điểm cơbản sau:
Thứ nhất là: bản chất của giáo dục STEM là dạy học tích hợp gồm các lĩnhvực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học
Thứ hai là: thông qua mô hình giáo dục STEM không chỉ cung cấp cho họcsinh kiến thức lý thuyết mà còn xây dựng các hoạt động giúp học sinh được trảinghiệm, vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề của thực tế cuộcsống, từ đó hình thành và phát triển năng lực cho người học đáp ứng được yêu cầucủa thời đại
Kết quả nghiên cứu thực trạng dạy học Sinh học hiện nay và mức độ quantâm của giáo viên với giáo dục STEM là cơ sở thực tiễn để thực hiện đề tài
22
Trang 33CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG MÔ HÌNH GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10
2.1 Phân tích chương trình Sinh học 10, THPT
2.1.1 Cấu trúc chương trình Sinh học 10, THPT
Chương trình Sinh học 10 nằm trong hệ thống kiến thức chương trình Sinhhọc THPT giúp học sinh có cái nhìn chung nhất về các cấp độ tổ chức của thế giớisống và đặc điểm của chúng; tìm hiểu đặc điểm cấu trúc và chức năng của tế bào –đơn vị cơ bản của sự sống và khám phá đặc điểm sinh học của nhóm sinh vật xuấthiện đầu tiên trên Trái Đất là VSV Ngoài ra kiến thức Sinh học 10 cũng giúp họcsinh giải thích được về cơ bản một số hiện tượng thực tế từ đó có cái nhìn khoa họchơn về thế giới sống (Hình 2.1)
Hình 2.1 Cấu trúc chương trình sinh học 10
23
Trang 342.1.2 Mục tiêu và cấu trúc phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10
Nội dung phần Sinh học VSV 10, THPT gồm có 3 chương như sau:
Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV
Chương II: Sinh trưởng và sinh sản ở VSV
Chương III: Virut - Bệnh truyền nhiễm
Những đặc điểm cấu trúc, nội dung Phần Sinh học VSV 10 đã định hướngcho chúng tôi thiết kế, bổ sung thêm các hoạt động khám phá để tổ chức học sinhhọc tập, giúp các em nhận thức, lĩnh hội kiến thức tốt hơn, rèn luyện cho học sinhmột số kĩ năng học tập, tạo cho các em lòng say mê và hứng thú học tập
Phần Sinh học VSV trong chương trình sinh học phổ thông tuy được bố trívới thời lượng không đáng kể (Khoảng 1/3 chương trình Sinh học 10) nhưng cómột vị trí rất quan trọng Nó dẫn chứng minh họa về hoạt động sống của các đốitượng sinh vật ở cấp tế bào Từ đó có cái nhìn rõ hơn về sự sống ở cấp tế bào; cóthể vận dụng vào việc giải thích các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
2.2 Mối quan hệ giữa nội dung, chương trình phần Sinh học vi sinh vật với
mô hình giáo dục STEM
2.2.1 Cấu trúc, nội dung từng bài trong phần Sinh học Vi sinh vật 10
Nội dung kiến thức phần Sinh học VSV được biên soạn theo hướng phát huytính tích cực của HS Đây là điểm mới, tích cực hơn so với Chương trình Sách giáokhoa (SGK) cũ SGK cũ chỉ biên soạn theo hướng cung cấp kiến thức cho HS
Các hoạt động dạy học trong phần Sinh học VSV - chương trình SGK sinhhọc 10 (cơ bản) được thống kê trong bảng 2.1 Các hoạt động trên đã góp phần đưa
HS đến vị trí là chủ thể của hoạt động nhận thức, hoạt động hóa hoạt động nhậnthức cho HS Hầu hết các bài trong phần Sinh học VSV 10 đều được trình bày cảkênh chữ và kênh sơ đồ:
• Kênh chữ bao gồm các nội dung:
- Tên bài học
- Nội dung bài học được trình bày theo các đề mục
- Cuối mỗi mục thường có các lệnh, là các hoạt động cho HS làm việc được
kí hiệu bởi ∇
24
Trang 35- Phần tóm tắt những nội dung chính của bài học là những kiến thức HS phải ghi nhớ, lĩnh hội được trình bày trong khung chữ in nghiêng.
- Hầu hết các bài đều có phần kiến thức bổ sung ngắn gọn, súc tích qua mục
“Em có biết” giúp HS mở rộng kiến thức
• Kênh sơ đồ:
Kênh sơ đồ vừa là công cụ khái quát cho kiến thức bài học, vừa là nguồn tưliệu quan trọng giúp HS tìm tòi, khám phá, lĩnh hội kiến thức, vận dụng kiến thứcliên môn, mô hình STEM để lĩnh hội kiến thức thực tế
- Một số sơ đồ đóng vai trò là minh họa cho kênh chữ: sơ đồ tổng hợp vàphân giải các chất (Bài 23), sơ đồ hình thí nghiệm lên men rượu dùng bánh men(Bài 24), sơ đồ đường cong sinh trưởng của quần thể VK trong nuôi cấy không liêntục (Bài 25), sơ đồ một số chất hóa học ức chế sự sinh trưởng của VSV (Bài 27), chu trình nhân lên của phagơ (Bài 30), quy trình sản xuất inteferon,
Một số sơ đồ đóng vai trò phát huy tính tích cực tìm tòi kiến thức của họcsinh: sơ đồ bảng các kiểu dinh dưỡng của VSV (Bài 22), sơ đồ bảng so sánh cácống nghiệm của thí nghiệm lên men êtilic (Bài 24), sơ đồ thí nghiệm của Franken vàConrat (Bài 29)
Bảng 2.1 Nội dung, chương trình Phần Sinh học VSV, Sinh học 10
Tên chương
Chương I Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV
Chương II Sinh trưởng và sinh sản
Trang 37của VSV
Chương III Virut và bệnh truyền nhiễm
2.2.2 Mối quan hệ giữa nội dung, chương trình phần Sinh học Vi sinh vật
với định hướng giáo dục STEM
Đối chiếu mục tiêu phần Sinh học VSV, lớp 10 bậc THPT cho thấy, với mụctiêu của giáo dục STEM cho thấy có nhiều điểm tương đồng, cả hai đều hướng tớiđịnh hướng những kiến thức đã học vào thực tế như:
- Khi học tập phần Sinh học VSV, HS được trang bị những kiến thức, đếncác kiểu dinh dưỡng và trao đổi chất rất đa dạng ở VSV cùng với những ứng dụngVSV trong đời sống của con người và vai trò của vi sinh vật trong quá trình chuyểnhóa vật chất
- HS được vận dụng những kiến thức từ phần Sinh học VSV để sản xuấtrượu, chế biến mắm…
- HS được trang bị kiến thức và kĩ năng về cấu trúc của virut, sự nhân lêncủa virut trong tế bào chủ, ứng dụng của virut trong thực tiễn và bệnh truyền nhiễm,
Trang 3826
Trang 39miễn dịch trong đó vận dụng kiến thức môn Hóa học và Sinh nhằm phân tích cácbệnh liên quan đến virut cũng như cách phòng tránh, và điều trị.
Từ những dữ liệu trên cho thấy mục tiêu của phần Sinh học VSV và mục tiêucủa giáo dục STEM có nhiều điểm chung Về mạch nội dung có nhiều điểm tươngđồng bởi phần Sinh học VSV bản chất cũng đã mang tính tích hợp, và là cơ sở đểtriển khai dạy học phần Sinh học VSV theo định hướng giáo dục STEM
2.3 Quy trình xây dựng bài giảng Sinh học phần Sinh học Vi sinh vật theo mô hình giáo dục STEM
2.3.1 Quy trình xây dựng bài giảng Sinh học theo mô hình giáo dục STEM
Trên cơ sở quy trình dạy học STEM của Lê Huy Hoàng (2017) [5] tác giả thiết kế và xây dựng bài giảng Sinh học phần Sinh học VSV theo mô hình giáo dụcSTEM dưới đây:
Hình 2.2 Quy trình dạy học môn Sinh học theo mô hình giáo dục STEM
2.3.1.1 Xây dựng chủ đề
Lựa chọn các nội dung cụ thể trong chương trình phần Sinh học VSV lớp 10,THPT để làm cơ sở xây dựng chủ đề Khi lựa chọn nội dung cần lưu ý đến ngữ cảnh đểtìm những điểm tương đồng về nội dung phần Sinh học VSV lớp 10, THPT với
27
Trang 40các vấn đề của thực tiễn cuộc sống.
Ví dụ: Từ các kiến thức về quá trình lên men của vi sinh vật, GV xây dựngđược chủ đề “VSV với vấn đề chế biến lương thực thực phẩm” Đây là chủ đề kiếnthức gắn liền với thực tế cuộc sống như: lên men rượu, làm nem chua, làm tương
2.3.1.2 Xây dựng nội dung học tập theo định hướng STEM
Trên cơ sở các bước xây dựng chủ đề giáo dục STEM, GV có thể xây dựngbảng nội dung mô tả các kiến thức thuộc các môn học liên quan tới chủ đề
Khi xây dựng nội dung từng phần dưới dạng các thông tin cung cấp, các phiếu
học tập (Phụ lục 2) Ở đây, nội dung học tập phần Sinh học VSV lớp 10, THPT theo
mô hình giáo dục STEM cần được xây dựng theo cách vận dụng kiến thức vào thựctiễn Các đối tượng STEM có quan hệ chặt chẽ với nhau và sự tích hợp của các đốitượng này có thể giúp người học phát triển những kiến thức, khái niệm, kĩ năng cóliên quan Dạy học phần Sinh học VSV lớp 10, THPT theo mô hình giáo dục STEMkhông những chú trọng rèn luyện những kĩ năng lao động nghề nghiệp cơ bản màcòn nhấn mạnh khả năng nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng kiến thức vào thực tiễncuộc sống đồng thời phát triển kĩ năng giao tiếp, hợp tác
2.3.1.3 Thiết kế các nhiệm vụ
a) Tiêu chí xác định nhiệm vụ STEM
Nhiệm vụ STEM mang tính định hướng sản phẩm:
- Nhiệm vụ STEM được xây dựng trên cơ sở tích hợp từ hai lĩnh vực học tậptrở lên bởi các vấn đề thực tiễn luôn mang tính phức hợp
- Đa phương án: Một nhiệm vụ STEM sẽ có nhiều phương án để giải quyết,tạo cơ hội cho HS được tự do tư duy, bộc lộ năng lực sáng tạo trong việc tìm ra cácgiải pháp các ý tưởng cho vấn đề cần giải quyết Những sai lầm của HS có thể mắcphải trong quá trình tìm kiếm các giải pháp là một phần quan trọng của bài họcSTEM bởi những sai lầm đó có thể giúp HS có những hiểu biết sâu hơn
- Tính mở: Khi HS tìm được giải pháp để giải quyết vấn đề điều đó không cónghĩa rằng nhiệm vụ đã kết thúc mà nó sẽ luôn là một thách thức để HS tìm ra cácgiải pháp tối ưu hơn, những cải tiến tốt hơn
- Định hướng hợp tác: Các nhiệm vụ STEM sẽ đặt HS vào trong các bối cảnhnhằm khuyến khích sự hợp tác giữa các HS, cùng nhau suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng và
28