DANH MUC̣ BẢNG1.1 Tần suất sử dụng bài tập hoá học có nội dung gắn với thực 27 tiễn đối với giáo viên trong dạy học hóa học ở trường THPT 1.2 Kết quả điều tra sử dụng bải tập có nội dun
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
̉8
TRUNG HOC̣ PHÔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOC̣ PHÔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN
HÓA HỌC
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MUC̣ BẢNG
1.1 Tần suất sử dụng bài tập hoá học có nội dung gắn với thực 27
tiễn đối với giáo viên trong dạy học hóa học ở trường THPT
1.2 Kết quả điều tra sử dụng bải tập có nội dung gắn với thực 27
tiễn trong các tiết học
1.3 Ý kiến của giáo viên về sự cần thiết sử dụng bài tập có nội 27
dung gắn với thực tiễnKết quả tìm hiểu nguyên nhân của việc ít hoặc không đưa1.4 bài tập thực tiễn vào trong dạy học hóa học đối với giáo 27
viên THPT
1.5 Kết quả điều tra hứng thú của HS khi có yêu cầu giải quyết các 28
vấn đề liên quan đến thực tiễn trong môn hóa họcKết quả điều tra sự quan tâm của học sinh về các vấn đề1.6 liên quan đến thực tiễn được lồng ghép trong chương trình 28
hóa học THPTKết quả điều tra ý kiến học sinh về sự cần thiết của bài tập
3.3 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm 99
tra số 13.4 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm số 100
2
Trang 6Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng qua các bài kiểm tra
DANH MUC̣ HÌNH
3.1 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra 45 phút 99
số 1
3.2 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra 45 phút 100
số 23.3 Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS ( bài số 1) 101
Trang 7Chương1 CỎ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
6
NGHIÊN CỨU
Trang 81.2.4 Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 10
Trang 91.3.1 Khái niệm BTHH gắn với thực tiễn 14
1.3.4 Một số nguyên tắc khi xây dựng BTHH thực tiễn 231.4 Tình hình sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa
26học ở trường THPT
Chương 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP THỰC TIỄN PHẦN HÓA
HỌC HỮU CƠ LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ 30
THÔNG
2.1 Phân tích nội dung kiến thức và cấu trúc phần hoá học hữu cơ
30trong chương trình THPT
2.1.2 Đặc điểm về nội dung kiến thức và cấu trúc phần hoá học
32hữu cơ
Trang 10THPT
Trang 113.1 Mục đích thực nghiệm sƣ phạm 92
3.5.1 Tỉ lệ HS yếu kém, trung bình, khá và giỏi 103
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Định hướng chung về đổi mới phương pháp dạy học đã được xác địnhtrong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 2 khóaVIII, được thể chế hóa trong Luật Giáo dục là phương pháp Giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năngvận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, tácđộng đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho học sinh,tận dụng được công nghệ mới nhất, khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụmột chiều thông báo các kiến thức có sẵn
Là một môn khoa học vừa lý thuyết, vừa thực nghiệm, hóa học có rấtnhiều khả năng trong việc phát triển những năng lực nhận thức cho học sinh
Nó cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về cácchất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môitrường và con người Việc vận dụng những kiến thức lý thuyết này vào cuộcsống, việc giải các bài tập có nội dung gắn với thực tiễn sẽ làm phát triển ởcác em tính tích cực, tự lập, óc sáng kiến, những hứng thú nhận thức, kíchthích hứng thú học tập của học sinh
Giải bài tập hóa học là lúc học sinh hoạt động tự lực để củng cố và traudồi kiến thức hóa học của mình Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh khôngchỉ kiến thức, cả con đường để giành lấy kiến thức, cả niềm vui của sự pháthiện ra kiến thức Do vậy, bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung,lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm Thực tế dạy học cho thấy, bàitập hóa học nói chung có tác dụng giúp học sinh rèn luyện và phát triển tưduy Thông qua việc giải những bài tập có những điều kiện và yêu cầuthường gặp trong thực tiễn (bài tập gắn với thực tiễn) như: bài tập
Trang 13về cách sử dụng hoá chất, đồ dùng thí nghiệm; cách xử lí tai nạn do hoá chất;bảo vệ môi trường; sản xuất hoá học; xử lí và tận dụng các chất thải… sẽ làmtăng lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề ở học sinh Việc tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy và họchoá học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục : “học đi đôi với hành, giáodục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn”
Tuy nhiên thực trạng dạy và học hoá học ở trường phổ thông cho thấyđôi khi lí thuyết chưa gắn liền với thực tiễn, xa rời thực tiễn, nặng về líthuyết, nhẹ về thực hành Những ứng dụng của hoá học trong đời sống và sảnxuất học sinh không biết hoặc biết một cách không tường tận, không hiểu bảnchất Chính vì những thực trạng trên mà hạn chế sự phát triển tư duy và khảnăng sáng tạo của học sinh, dần dần học sinh mất đi những hiểu biết sáng tạovốn rất lí thú của bộ môn khoa học thực nghiệm này Trong các sách giáokhoa hoá học ở Việt Nam, số lượng các bài tập gắn với thực tiễn chưa đadạng, chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu giải thích những vấn đề liênquan hóa học trong đời sống và sản xuất của GV cũng như học sinh Học sinh
có thể giải thành thạo các bài tập hoá học định tính, định lượng về cấu tạochất, về sự biến đổi các chất rất phức tạp nhưng khi cần phải dùng kiến thứchoá học để giải quyết một tình huống cụ thể trong thực tiễn thì các em lại rấtlúng túng
Trên quan điểm đó cùng với sự mong muốn xây dựng được hệ thốngbài tập hóa học có chất lượng tốt, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóahọc phổ thông, phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy và học, tôi đã
chọn đề tài “Tuyển choṇ , xây dưng ̣ vàsư8 dung ̣ hê ̣thống bài tâp ̣ thưc ̣ tiêñ trong daỵ hoc ̣ phần hóa hoc ̣ hữu cơ lớp 12 ở trường trung học phổ thông”.
2
Trang 14Quá trình dạy học Hoá học ở trường THPT.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Bài tập hoá học dạng trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận cónội dung gắn với thực tiễn phần hóa học hữu cơ 12
4 Phạm vi nghiên cứu
- Các bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn phần hóa học hữu
cơ 12
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 10/04/20011 đến 19/12/2011
5 Nhiệm vụ của đề tài
- Điều tra thực trạng việc sử dụng các bài tập Hóa học thực tiễn trongdạy hoc Hóa học ở trường THPT
- Tìm hiểu nội dung của các bài có trong chương trình hóa học hữu cơ,đồng thời quan sát và tìm hiểu các hiện tượng hóa học trong đời sống để nêu rađược kiến thức hóa học gắn với thực tiễn
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học gắn với thực tiễn phần hóa học hữu cơ 12 dùng trong dạy học ở trường THPT
- Nghiên cứu cách sử dụng hệ thống bài tập hoá học gắn với thực tiễn trong dạy học
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng
Trang 156 Giả thuyết khoa học
Nếu GV xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn trong dạy họchóa học thì sẽ giúp học sinh giải đáp được những tình huống có vấn đề nảysinh trong đời sống, trong lao động, sản xuất, làm tăng lòng say mê học hỏi,phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
7 Phương pháp nghiên cứu
7 1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu lí luận dạy học để biết được vai trò của bài tập hóa học trong dạy học Hóa học
- Nghiên cứu lí luận về bài tập hóa học, bài tập hóa học thực tiễn và cách sử dụng các bài tập này để mang lại hiệu quả cao
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dự giờ và điều tra để biết được thực trạng dạy và học hóa học cũngnhư thực trạng việc sử dụng các các bài tập hóa học thực tiễn ở trường
- Điều tra về hứng thú của học sinh với các hiện tượng hóa học trong đời sống
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm được hiệu quả của
đề tài
7.3 Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng toán học thống kê xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ tác dụng của bài tập trong việc phát triển năng lực tư duy và hứng thú học tập cho học sinh
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng một hệ thống bài tập hoá học có nội dunggắn với thực tiễn phần hóa học hữu cơ 12 giúp học sinh giải quyết các hiện tượngtrong đời sống bằng kiến thức hóa học
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận , phần phụ lục , và tài liệu tham khảo ,
4
Trang 16luận văn đươc ̣ trinh̀ bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Hệ thống bài tập gắn với thực tiễn phần Hóa học hữu cơ
12 ở trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Bên cạnh đó, một số học viên cao học cũng đã nghiên cứu và bảo vệluận văn theo hướng đề tài này như:
Đỗ Công Mỹ (2005), Xây dựng, lựa chọn hệ thống câu hỏi lý thuyết vàbài tập thực tiễn môn hóa học Trung học phổ thông (phần hóa học đại cương
và vô cơ), Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Thị Thu Hằng (2007), Xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập hóahọc thực tiễn Trung học phổ thông (phần hóa học hữu cơ), Luận văn thạc sĩGiáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội
Ngô Thị Kim Tuyến (2004), Xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn hóahọc lớp 11 Trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sưphạm Hà Nội
Trần Thị Phương Thảo (2008), Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm
khách quan về hóa học có nội dung gắn với thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học sư phạm TP HCM.
6
Trang 18Ngoài ra còn một số bài báo về dạng bài tập này được đăng trên tạp chíHóa học & Ứng dụng
Lương Thiện Tài, Hoàng Anh Tài, Nguyễn Thị Hiển (2007), “Xâydựng bài tập hóa học thực tiễn trong dạy học phổ thông”, Tạp chí Hóa học vàứng dụng (số 64)
Với mong muốn đóng góp thêm nhiều bài tập gắn với thực tiễn nêntrong luận văn này chúng tôi sẽ tuyển chọn và xây dựng thêm một số bài tậpdạng này, đồng thời đưa các bài tập đó vào trong dạy học nhằm góp phầnnâng cao chất lượng dạy và học hóa học
1.2 Bài tập Hóa học
1.2.1 Khái niệm về bài tập hóa học
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông [40]: “Bài tập là bài ra cho HS làm
để tập vận dụng những điều đã học”
BTHH là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát đượcgiải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệmtrên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học
BTHH là phương tiện chính và hết sức quan trọng dùng để rèn luyệnkhả năng vận dụng kiến thức cho HS Là nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra chongười học, buộc người học vận dụng các kiến thức, năng lực của mình đểgiải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tíchcực, hứng thú và sáng tạo
BTHH là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hayđồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thànhchúng, HS nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định
1.2.2 Ý nghĩa của bài tập Hóa học
1.2.2.1 Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học Củng cố, đào sâu và mởrộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng
Trang 19được kiến thức vào giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập họcsinh dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực tếcho thấy học sinh rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập
- Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình hóa học củaphản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học… nếu là bàitập thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹthuật tổng hợp cho học sinh
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản xuất bảo vệ môi trường
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy.Bài tập hoá học là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc pháttriển tư duy hoá học của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiêncứu khoa học Bởi vì giải bài tập hoá học là một hình thức làm việc tự lực căn bảncủa học sinh Trong thực tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kỹ năng quansát hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phậnthành phần, xác lập mối liên hệ định lượng và định tính của các hiện tượng, đoántrước hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình Trước khi giải bài tập họcsinh phải phân tích điều kiện của đề tài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việctính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thực hiện phép đo… Trongnhững điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển,năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao
1.2.2.2 Ý nghĩa phát triển
Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độclập thông minh và sáng tạo Cao hơn mức rèn luyện thông thường, học sinhphải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập
8
Trang 20trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiếnriêng bản thân, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tìnhhuống… thông qua đó, bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo củahọc sinh để đánh giá, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo cho bảnthân.
1.2.2.3 Ý nghĩa giáo dục
Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tưtưởng đạo đức Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trìnhphát sinh những tư tưởng về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh tolớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới Thông qua việc giảicác bài tập, còn rèn luyện cho học sinh phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiêntrì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kích thích hứngthú bộ môn hoá học nói riêng và học tập nói chung
1.2.3.Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cách phân loại bài tập hóa học, tuy nhiên, căn cứ vào hìnhthức người ta có thể chia bài tập hoá học thành hai nhóm lớn: bài tập tự luận(trắc nghiệm tự luận) và bài tập trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan)
* Bài tập tự luận: Khi làm bài, HS phải viết/trình bày câu trả lời, phải
lý giải, lập luận, phải chứng minh bằng ngôn ngữ của mình Trong bài tập tự luận,lại chia ra: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập có sử dụng hình vẽ, bài tậpthực tế dựa vào tính chất, nội dung bài tập Gần đây, việc kiểm tra đánh giá HS
đã chuyển dần sang trắc nghiệm nhưng bài tập tự luận vẫn đang được phát triển
và sử dụng khá rộng rãi do những ưu điểm của nó như: đo được khả năng độc lậpsuy nghĩ, phát huy được tính sáng tạo của HS Và để tăng cường hứng thú họctập, nghiên cứu hoá học cho HS, bài tập thực tế, bài tập có sử dụng hình vẽ hiệnnay cũng được chú trọng xây dựng
Trang 21* Bài tập trắc nghiệm: Khi làm bài, HS chỉ phải đọc, suy nghĩ để lựa
chọn đáp án đúng trong số các phương án đã cho Thời gian giành cho mỗi câu từ
1 - 2 phút Bài tập trắc nghiệm được chia thành 4 dạng chính: dạng điền khuyết,dạng ghép đôi, dạng đúng sai, dạng nhiều lựa chọn Hiện nay, bài tập trắc nghiệmdạng nhiều lựa chọn là loại bài tập thông dụng nhất do những ưu điểm của nónhư: có độ tin cậy cao, tính giá trị tốt hơn (đo được khả năng nhớ, áp dụng cácnguyên lý, định luật, tổng quát hoá ), thật sự khách quan khi chấm bài (điểm sốcủa bài trắc nghiệm khách quan không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạtcủa HS và vào trình độ người chấm bài)
1.2.4 Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Khi viết câu hỏi tự luận, GV cần phải diễn đạt câu hỏi một cách rõnghĩa, đầy đủ, cần làm rõ những yêu cầu trong câu trả lời cả về độ dài của nó,việc chấm bài tốn thời gian
Các dạng câu hỏi TNTL
a) Câu hỏi tự luận có sự trả lời mở rộng: loại câu này có phạm vitương đối rộng và khái quát, HS được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức trongcâu trả lời nên có thể phát huy óc sáng tạo và suy luận Loại câu trả lời này đượcgọi là tiểu luận
10
Trang 22b) Câu tự luận với sự trả lời có giới hạn: Loại này thường có nhiều câuhỏi với nội dung tương đối hẹp Mỗi câu trả lời là một đoạn ngắn nên việc chấmđiểm dễ hơn.
Có 3 loại câu trả lời có giới hạn:
Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản Đó là một nhận định viếtdưới dạng mệnh đề không đầy đủ hay một câu hỏi được đặt ra mà HS phải trả lờibằng một câu hay một từ (trong TNKQ được gọi là câu điền khuyết)
Loại câu từ trả lời đoạn ngắn trong đó HS có thể trả lời bằng hai hoặc
3 câu trong giới hạn của GV
Giải bài toán có liên quan tới trị số có tính toán số học để ra một kết quả cụ thể đúng theo yêu cầu của đề bài
1.2.4.2 Trắc nghiệm khách quan
Các dạng câu hỏi TNKQ
a) Câu trắc nghiệm "đúng- sai”
Câu này được trình bày dưới dạng câu phát biểu và HS trả lời bằngcách lựa chọn một trong hai phương án đúng hoặc sai
b) Câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn
Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựachọn) là loại câu được dùng nhiều nhất và có hiệu quả nhất Một câu hỏinhiều câu trả lời (câu dẫn) đòi hỏi HS tìm ra câu trả lời đúng nhất trong nhiềukhả năng trả lời có sẵn, các khả năng, các phương án trả lời khác nhau nhưngđều có vẻ hợp lý (hay còn gọi là các câu nhiễu)
c) Câu trắc nghiệm ghép đôi
Đây là loại hình đặc biệt của loại câu câu hỏi nhiều lựa chọn, trong đó
HS tìm cách ghép những câu trả lời ở cột này với các câu hỏi ở cột khác saocho phù hợp
d) Câu trắc nghiệm điền khuyết
Trang 23Đây là câu hỏi TNKQ mà HS phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp với các chỗ để trống.
Kỹ thuật biên soạn câu trắc nghiệm khách quan
a) Giai đoạn chuẩn bị:
Xác định mục tiêu:
Xác định mục tiêu muốn kiểm tra - đánh giá cho rõ ràng Cần phân chianội dung chương trình thành các nội dung cụ thể và xác định tầm quan trọngcủa từng nội dung đó để phân bố trọng số Các mục tiêu phải được phát biểudưới dạng những điều có thể quan sát được, đo được để đặt ra các yêu cầu vềmức độ đạt được của kiến thức, kĩ năng
12
Trang 24của câu hỏi Số lượng câu hỏi tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi loại mục tiêu và mỗi loại nội dung.
Tuỳ theo nội dung dạy học và mục tiêu dạy học mà chúng ta chọnloại câu hỏi như câu hỏi có nội dung định tính, định lượng, câu hỏi có nội dunghiểu, biết, vận dụng
Cần chọn ra những câu hỏi có mức độ khó, phù hợp với yêu cầu đánh giá và mức độ nhận thức của học sinh
Ngoài ra, giáo viên phải chuẩn bị đủ tư liệu nghiên cứu, tài liệu thamkhảo để có kiến thức chuyên môn vững chắc, nắm vững nội dung chương trình,nắm vững kỹ thuật biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách
quan
b) Giai đoạn thực hiện
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các bước ở giai đoạn chuẩn bị mới bắt đầuchuẩn bị câu hỏi Muốn có bài tập trắc nghiệm khách quan hay, nên theo cácquy tắc tổng quát sau:
- Bản sơ thảo câu hỏi nên được soạn trước một thời gian trước khi kiểm tra
- Số câu hỏi ở bản sơ thảo đầu tiên có nhiều câu hỏi hơn số câu hỏi cần dùng trong bài kiểm tra
- Mỗi câu hỏi nên liên quan đến mục tiêu nhất định Có như vậy, câu hỏi mới có thể biểu diễn mục tiêu dưới dạng đo được hay quan sát được
- Mỗi câu hỏi phải được diễn đạt rõ ràng, không nên dùng các cụm từ
có ý nghĩa mơ hồ như: “thường thường”, “đôi khi”, “có lẽ”, “có thể” Vì nhưvậy học sinh thường đoán mò câu trả lời từ cách diễn đạt câu hỏi hơn là vận dụng
sự hiểu biết của mình để trả lời câu hỏi
- Mỗi câu hỏi phải mang đầy đủ ý nghĩa chứ không tuỳ thuộc vào phầntrả lời chọn lựa để hoàn tất ý nghĩa
- Các câu hỏi nên đặt dưới thể xác định hơn là thể phủ định
Trang 25- Tránh dùng nguyên văn những câu trích từ sách hay bài giảng.
- Tránh dùng những câu có tính chất “đánh lừa” học sinh
- Tránh để học sinh đoán được câu trả lời dựa vào dự kiện cho ở
những câu hỏi khác nhau
- Các câu hỏi nên có độ khó vừa phải khoảng từ 40 % ữ 60 % số học sinh tham gia làm bài kiểm tra trả lời được
- Nên sắp đặt các câu hỏi theo thứ tự mức độ khó dần và câu hỏi cùng loại được xếp vào một chỗ
- Các chỗ trống để điền câu trả lời nên có chiều dài bằng nhau
- Phải soạn thảo kỹ đáp án trước khi cho học sinh làm bài kiểm tra và cần báo trước cho học sinh cách cho điểm mỗi câu hỏi
- Trước khi loại bỏ câu hỏi bằng phương pháp phân tích thống kê, phảikiểm tra lại câu hỏi cẩn thận, tham khảo ý kiến đồng nghiệp, chuyên gia vì đôi khicâu hỏi đó cần kiểm tra - đánh giá một mục tiêu quan trọng nào đó mà chỉ số thống
kê không thật sự buộc phải tuân thủ để loại câu hỏi đó
1.3 Bài tập hóc học gắn với thực tiễn
1.3.1 Khái niệm BTHH gắn với thực tiễn
BTHH gắn với thực tiễn (BTHH thực tiễn) là những bài tập có nộidung hoá học (những điều kiện và yêu cầu) xuất phát từ thực tiễn Quan trọngnhất là các bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất, góp phầngiải quyết một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn
1.3.2 Vai trò, chức năng của BTHH thực tiễn
Trong dạy học hoá học, bản thân BTHH đã được coi là phương phápdạy học có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kỹ năng hoá học Nó giữ vai tròquan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy hoá học, là phương pháp quantrọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học hoá học
14
Trang 26BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung của việc dạy và học hoá học.Bài tập cung cấp cho HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cònmang lại niềm vui sướng của sự phát hiện, của sự tìm ra đáp số.
BTHH có chức năng dạy học, chức năng giáo dục, chức năng kiểm tra,chức năng phát triển Những chức năng này đều hướng tới việc thực hiện cácmục đích dạy học Tuy nhiên trong thực tế các chức năng này không tách rờivới nhau
Đối với HS, BTHH là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả vàkhông có gì thay thế được, giúp HS nắm vững kiến thức hoá học, phát triển
tư duy, hình thành kĩ năng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực tế đời sống,sản xuất và nghiên cứu khoa học, từ đó làm giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳngcủa khối lượng kiến thức lý thuyết và gây hứng thú say mê học tập cho HS
Đối với GV, BTHH là phương tiện, là nguồn kiến thức để hình thànhkhái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong quá trìnhdạy học Cụ thể là:
- BTHH được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát triển kiến thức, kỹ năng
- BTHH dùng để mô phỏng một số tình huống thực tế đời sống để HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực tế đặt ra
- Sử dụng bài tập để tạo tình huống có vấn đề kích thích hoạt động tưduy tìm tòi sáng tạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứngthú học tập bộ môn
Như vậy BTHH được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết,giúp HS tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức hoá học một cách sángtạo từ đó giúp HS có năng lực phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề học tậphoặc thực tiễn đặt ra có liên quan đến hoá học, giúp HS biến
Trang 27những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chínhmình.
Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A.Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vậndụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thựchành"
BTHH thực tiễn cũng có đầy đủ các vai trò, chức năng của một
BTHH Các chức năng đó là:
a) Về kiến thức
Thông qua giải BTHH thực tiễn, HS hiểu kĩ hơn các khái niệm, tínhchất hoá học, củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hoá kiếnthức, mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làmnặng nề khối lượng kiến thức của HS
Bên cạnh đó, BTHH thực tiễn giúp HS thêm hiểu biết về thiên nhiên,môi trường sống, ngành sản xuất hoá học, những vấn đề mang tính thời sựtrong nước và quốc tế
Ngoài ra, còn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải vàcải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
b) Về kĩ năng
Việc giải BTHH thực tiễn giúp HS:
- Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực thíchứng, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác và làm việc
theo nhóm
- Rèn luyện và phát triển các kĩ năng học tập như: kĩ năng thu thậpthông tin, vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn đề một cách linhhoạt, sáng tạo…
- Rèn luyện kĩ năng thực hành hoá học
16
Trang 28- Bồi dưỡng và phát triển các thao tác tư duy: quan sát, so sánh, phân tích, suy đoán, tổng hợp.
c) Về giáo dục tư tưởng
- Rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạo trong học tập và trong quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Thông qua nội dung bài tập giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học mônhoá học từ đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sựham hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn hoá học và từ đó có thể làm cho HS say
mê nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp HS có những định hướng nghề nghiệptương lai
Ngoài ra, vì các BTHH thực tiễn gắn liền với đời sống của chính bảnthân HS, của gia đình, của địa phương và với môi trường xung quanh nêncàng góp phần tăng động cơ học tập của HS: học tập để nâng cao chất lượngcuộc sống của bản thân và của cộng đồng Với những kết quả ban đầu củaviệc vận dụng kiến thức hoá học phổ thông để giải quyết các vấn đề thực tiễn
HS thêm tự tin vào bản thân mình để tiếp tục học hỏi, tiếp tục
Trang 29Vd: Tính lượng ngũ cốc chứa 65% tinh bột để sản xuất được 2,3 tấn ancol etylic Biết hiệu suất quá trình sản xuất là 75%.
1.3.3 Phân loại BTHH thực tiễn
1.3.3.1 Cơ sở phân loại BTHH nói chung [30]
Quá trình dạy học hóa học gồm 3 công đoạn là dạy học bài mới; ôn tập,
hệ thống hoá kiến thức và luyện tập; kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học.a) Ở công đoạn dạy học bài mới ta nên phân loại BTHH theo nội dung
để phục vụ cho việc dạy học và củng cố bài mới Tên của mỗi loại có thể như têncác chương trong sách giáo khoa
Ví dụ ở lớp 12 phần Hóa học hữu cơ ta có:
- Bài tập về Este-Lipit
- Bài tập về cacbohiđrat
- Bài tập về amin, aminoaxit, protein
- Bài tập về polime và vật liệu polime
Mỗi loại ta cần có một hệ thống bài tập bảo đảm các yêu cầu sau:
- Phủ kín kiến thức của chương hay của một vấn đề
- Số lượng cần đủ để hình thành các kĩ năng cần thiết
- Mở rộng và đào sâu thêm kiến thức của chương
- Có một số bài tập hay để phát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh cho HS
Muốn có một hệ thống bài tập như trên (ví dụ khoảng 20 bài) cần tuyểnchọn từ hàng 100 bài tập hiện có về loại đó
b) Ở công đoạn ôn tập, hệ thống hoá kiến thức và kiểm tra - đánh giá
do mang tính chất tổng hợp, có sự phối hợp giữa các chương ta nên phân loại dựatrên các cơ sở sau:
- Dựa vào hình thức, BTHH có thể chia thành: Bài tập TNTL (tự trảlời) bao gồm các dạng trả lời bằng một từ, bằng một câu ngắn, trả lời cả bài
18
Trang 30(theo cấu trúc hoặc tự do), giải bài tập; bài tập TNKQ bao gồm các dạng câu hỏi có/không, đúng/sai, nhiều lựa chọn, phức hợp, ghép đôi.
+ Bài tập TNTL là dạng bài tập yêu cầu HS phải kết hợp cả kiến thứchoá học, ngôn ngữ hoá học và công cụ toán học để trình bày nội dung của bài toánhoá học
+ Bài tập TNKQ là loại bài tập hay câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn
và yêu cầu HS suy nghĩ rồi dùng 1 ký hiệu đơn giản đã quy ƣớc để trả lời
- Dựa vào tính chất hoạt động của HS khi giải bài tập có thể chia thànhbài tập lí thuyết (khi giải không phải làm thí nghiệm) và bài tập thực nghiệm (khigiải phải làm thí nghiệm)
- Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia thành bài tập đòi hỏi sự táihiện kiến thức (biết, hiểu, vận dụng), bài tập rèn tƣ duy độc lập, sáng tạo (phântích, tổng hợp, đánh giá)
- Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành bài tập định tính và định lƣợng
- Dựa vào kiểu hay dạng bài tập có thể chia thành:
+ Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
Trang 31Trên thực tế dạy học, sự phân loại trên chỉ là tương đối Có những bàivừa có nội dung thuộc bài tập định tính lại vừa có nội dung thuộc bài tập địnhlượng; hoặc trong một bài có thể có phần TNKQ cùng với giải thích, viếtphương trình hóa hoc…
1.3.3.2 Phân loại BTHH thực tiễn
BTHH thực tiễn cũng được phân loại tương tự cách phân loại BTHHnói chung
Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải bài tập, có thể chia thành: Bài tập lý thuyết, bài tập thực nghiệm
Dựa vào tính chất của bài tập, có thể chia thành:
Bài tập định tính: Bao gồm các bài tập về giải thích các hiện tượng,các tình huống nảy sinh trong thực tiễn; lựa chọn hoá chất cần dùng cho phù hợpvới tình huống thực tiễn, nhận biết, tinh chế, đề ra phương hướng để cải tạo thựctiễn…
Ví dụ 1: Khi nấu canh cá ta thường cho thêm các quả chua như khế chua, dọc, sấu, me… Hãy giải thích ?
Ví dụ 2: Dùng hai đũa thuỷ tinh, đũa thứ nhất được nhúng vào dung dịch HClđặc, đũa thứ hai nhúng vào dung dịch etylamin Lấy hai đũa ra khỏi dung dịch
và đưa lại gần nhau sẽ thấy “khói trắng” như sương mù bay lên Giải thíchhiện tượng và viết phương trình hóa học của phản ứng
Bài tập định lượng: Bao gồm dạng bài tập về tính lượng hoá chất cầndùng, pha chế dung dịch…
Ví dụ: Một loại mỡ chứa 50% olein (tức glixeryl trioleat), 30% panmitin (tứcglixeryl tripamitat) và 20% stearin (tức glixeryl tristearat) Viết phư-
ơng trình hóa học của phản ứng điều chế xà phòng natri từ loại mỡ nêu trên.Tính khối lượng xà phòng và khối lượng glixerol thu được từ 100 kg loại mỡ
đó, giả sử phản ứng xảy ra hoàn toàn
20
Trang 32 Bài tập tổng hợp: Bao gồm cả kiến thức định tính lẫn định lượng.
Ví dụ: Trong quá trình chế biến nước mía để thu lấy đường kết tinh(chỉ chứa 2% tạp chất) và rỉ đường (chứa 25% đường nguyên chất) người taphải dùng vôi sống với lượng 2,8 kg vôi sống để được 100 kg đường kếttinh Rỉ đường được lên men thành ancol etylic với hiệu suất
a) Vai trò của vôi là gì?
b) Tính lượng đường kết tinh và lượng ancol etylic thu được từ 260 lítnước mía có nồng độ đường 7,5% và khối lượng riêng 1,103 g/ml Biết rằng chỉ70% đường thu đợc ở dạng kết tinh, phần còn lại nằm trong rỉ đ-
ường
c) Tính lượng vôi sống cần để xử lý lượng nước mía trên
Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập, có thểchia thành:
Bài tập hoá học có nội dung liên quan đến sản xuất công nghiệp vànông nghiệp
Ví dụ: Trong khu công nghiệp lọc hóa dầu tương lai, dự kiến có cả nhàmáy sản xuất PVC
a) Hãy đề nghị hai sơ đồ phản ứng làm cơ sở cho việc sản xuất
vinylclorua từ sản phẩm crackinh dầu mỏ và NaCl
b) Hãy phân tích các ưu nhược điểm của mỗi sơ đồ, nêu cách khắc phục và lựa chọn sơ đồ có lợi hơn
Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập : Bao gồm các dạng bài tập về:
*Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trình làm thực hành,thí nghiệm như: Sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chất hợp lí, xử lí tai nạn xảy ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thí nghiệm…
Trang 33Ví dụ : Trong phòng thí nghiệm khi muốn rửa lọ đựng anilin người ta thường rửa bằng gì? Hãy giải thích?
* Các mẹo vặt trong việc sử dụng, chế biến thức ăn hay trong việc sử dụng và bảo quản đồ gia dụng
Ví dụ 1: Vì sao xà phòng bị giảm tác dụng giặt rửa trong nớc cứng còn bột giặt tổng hợp thì không?
Ví dụ 2: Để khử mùi tanh của cá, sau khi rửa sạch bằng nước người ta thường rửa lại bằng giấm? Vì sao?
Bài tập có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường Ví dụ: Hiện nay, túi PE được dùng làm túi an toàn để đựng thực
phẩm Tuy nhiên, nếu kéo dài tình trạng sử dụng túi PE sẽ dẫn đến hậu quảgì? Cần có giải pháp nào để thay thế PE?Mỗi lĩnh vực thực tiễn trên lại baogồm tất cả các loại bài tập định tính, định lượng, tổng hợp; bài tập lí thuyết,bài tập thực hành
Bài tập hoá học có nội dung liên quan đến sự phát triển kinh tế, du lịch , quốc phòng
Dựa vào mức độ nhận thức của HS Căn cứ vào chất lượng của quátrình lĩnh hội và kết quả học tập, GS Nguyễn Ngọc Quang đã đưa ra 4 trình độlĩnh hội (4 mức độ) như sau:
Mức 1: Chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức để trả lời câu hỏi lí
thuyết
Ví dụ: Để tráng bên trong ruột phích, người ta dùng phản ứng của glucozơ với AgNO3 trong dung dịch NH3
a) Viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra
b) Vì sao người ta không dùng fomalin để tráng ruột phích?
Mức 2: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lí thuyết
22
Trang 34Ví dụ:
1) Trong khẩu phần ăn, tinh bột có vai trò như thế nào?
2) Vì sao xà phòng bị giảm tác dụng giặt rửa trong nước cứng còn bột giặt tổng hợp thì không?
Mức 3: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình huống xảy ra trong thực tiễn
Ví dụ: Điesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính chất tương đươngvới nhiên liệu dầu điesel nhưng không phải sản xuất từ dầu mỏ mà từ dầuthực vật (cây cải dầu, cây đậu nành, cây hướng dương, dầu dừa, dầu hạt cau)hay mỡ động vật (cá da trơn) Nhìn theo phương diện hoá học thì điesel sinhhọc là metyl este của những axit béo Để sản xuất điesel sinh học người tapha khoảng 10% metanol vào dầu thực vật (mỡ động vật) và dùng nhiều chấtxúc tác khác nhau (KOH, NaOH, ancolat) Phản ứng tiến hành ở áp suấtthường, nhiệt độ 600C Hãy viết phản ứng hoá học xảy ra trong quá trình sảnxuất điesel sinh học Phân tích ưu, nhược điểm của việc sản xuất loại nhiênliệu này
Từng mức độ trên có thể được chia làm nhiều mức độ nhỏ hơn nữa đểphù hợp với trình độ của HS đồng thời cũng thể hiện sự phân hoá HS trongcùng một bài, trong hệ thống BTHH thực tiễn
Trên đây là một số cách phân loại BTHH thực tiễn Tuy nhiên, có
Trang 35nhiều BTHH thực tiễn lại là tổng hợp của rất nhiều loại bài.
1.3.4 Một số nguyên tắc khi xây dựng BTHH thực tiễn
1.3.4.1 Nội dung BTHH thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại
Trong một BTHH thực tiễn, bên cạnh nội dung hoá học nó còn cónhững dữ liệu thực tiễn Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cáchchính xác, không tuỳ tiện thay đổi
Trong một số bài tập về sản xuất hoá học nên đưa vào các dây chuyềncông nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên Thế giới, không nên đưacác công nghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng
1.3.4.2 BTHH thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của HS
Những vấn đề thực tiễn có liên quan đến hoá học thì rất nhiều, rất rộng.Nếu BTHH thực tiễn có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm,với đời sống và môi trường xung quanh HS thì sẽ tạo cho các em động cơ vàhứng thú mạnh mẽ khi giải
Ví dụ: Để phân biệt da thật và da giả người ta thường làm gì? Hãy giảithích?
HS với kinh nghiệm có được trong đời sống và kiến thức hoá học đãđược học sẽ lựa chọn phương án trả lời, giải thích sự lựa chọn của mình HS
sẽ có sự háo hức chờ đợi thầy cô đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình.Trong bài tập này khi HS giải sẽ có một số khả năng xảy ra như sau:
- HS phân tích và giải thích đúng Đây sẽ là niềm vui rất lớn đối với
HS vì kinh nghiệm của mình là đúng theo khoa học hoá học
- HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó Khi
HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó thì
HS sẽ cảm thấy tiếc nuối vì bản thân đã gần tìm ra câu trả lời, từ đó HS sẽ có động lực để quan sát thực tiễn và vận dụng kiến thức hoá học một cách linh
24
Trang 36hoạt hơn để giải thích các tình huống thực tiễn hoặc thay đổi việc làm theothói quen chưa đúng khoa học của bản thân.
1.3.4.3 BTHH thực tiễn phải dựa vào nội dung học tập
Các BTHH thực tiễn cần có nội dung sát với chương trình mà HSđược học Nếu BTHH thực tiễn có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức hoáhọc thì sẽ không tạo được động lực cho HS để giải bài tập đó
Ví dụ : Khi dạy bài peptit và protein (SGK hóa học 12) có thể đưa câuhỏi “Tại sao khi nấu canh cua thì gạch cua lại nổi lên?”
1.3.4.4 BTHH thực tiễn phải đảm bảo logic sư phạm
Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức hoáhọc phổ thông trong chương trình, nên khi xây dựng BTHH thực tiễn cho HSphổ thông cần phải có bước xử lý sư phạm để làm đơn giản tình huống thựctiễn Các yêu cầu giải BTHH thực tiễn cũng phải phù hợp với trình độ, khảnăng của HS Cụ thể:
- Với HS yếu hoặc trung bình nên sử dụng câu hỏi mức 1 và 2 (dựa trên mức độ nhận thức của HS)
- Với HS khá hoặc giỏi nên sử dụng câu hỏi mức 3 và 4
- Khi kiểm tra-đánh giá cần sử dụng các loại BTHH ở các mức 1, 2 và
3 để tạo điều kiện cho tất cả các HS đều có thể trả lời được câu hỏi kiểm
tra
1.3.4.5 BTHH thực tiễn phải có tính hệ thống, logic
Các BTHH thực tiễn trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương,bài, theo mức độ phát triển của HS Trong mỗi chương, bài nên có tất cả cácloại, dạng BTHH thực tiễn
Trong quá trình dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xâydựng những bài tập thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức
độ nhận thức của HS để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của HS
Trang 37Biến hoá nội dung bài tập thực tiễn theo phương pháp tiếp cận mođun.Xây dựng một số bài tập thực tiễn điển hình (xây dựng theo phương pháp tiếpcận mođun) và từ đó có thể lắp ráp chúng vào các tình huống thực tiễn cụ thể,nội dung bài học cụ thể, hoặc tháo gỡ bài toán phức tạp thành những bài toánđơn giản, tạo ra những bài tập mới.
1.4 Tình hình sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa học ở trường THPT
1.4.1 Nhiệm vụ điều tra
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học hoá học ở trường trung học phổ thông
- Tìm hiểu hứng thú của học sinh với môn hoá học
- Tình hình sử dụng bài tập hoá học có nội dung gắn với thực tiễn
1.4.2 Nội dung điều tra
- Hứng thú của học sinh đối với môn hoá học ở trường trung học phổ
thông
- Chất lượng dạy và học hoá học ở trường trung học phổ thông
- Việc sử dụng các bài tập hoá học có nội dung gắn với thực tiễn ở trường trung học phổ thông
1.4.3 Đối tượng điều tra
- Các giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hoá học ở một số trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Học sinh THPT ở một số trường thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang
1.4.4 Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp giáo viên và học sinh một số trường trung học phổ thông
- Gửi và thu phiếu điều tra cho giáo viên, học sinh
1.4.5 Kết quả điều tra
Thông qua việc dự giờ của một số giáo viên, gửi phiếu điều tra tới giáo viên dạy bộ môn hoá và học sinh của một số trường THPT trên địa
26
Trang 38bàn tỉnh Bắc Giang gồm: Trường THPT Hiệp Hòa 2, Trường THPT Việt Yên 2, Trường THPT Việt Yên 3, kết quả thu được như sau:
Bảng 1.1: Tần suất sử dụng bài tập hoá học có nội dung gắn với thực tiễn đối với giáo viên trong dạy học hóa học ở trường THPT
Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ
Trang 39Không có nhiều tài liệu 9/20 45%
Mất nhiều thời gian tìm kiếm, biên soạn 7/20 35%
Trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu 1/20 5%
Bảng 1.5: Kết quả điều tra hứng thú của HS khi có yêu cầu giải quyết các vấn
đề liên quan đến thực tiễn trong môn hóa học
Bảng 1.6: Kết quả điều tra sự quan tâm của học sinh về các vấn đề liên quan
đến thực tiễn được lồng ghép trong chương trình hóa học THPT
Các vấn Vấn đề phátMôi
Bảng 1.7: Kết quả điều tra ý kiến học sinh về sự cần thiết của bài tập hoá học
có nội dung gắn với thực tiễn
Cần thiết Không cần thiết Ý kiến khác