Luật Giáo dục 2005, tại khoản 2 điều 28, quy định “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THU HÀ
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO GÓC NỘI DUNG KIẾN
THỨC CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG
HỌC” (CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 11 – NÂNG CAO)
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô giáo trong khoa Sau Đại học, trường Đại Học Giáo Dục,Đại Học Quốc Gia Hà Nội, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trưởng thành trong thời gian tôi học tập tại trường, đã tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS.Đỗ Hương Trà đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Vật lí tại trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai-
Từ Liêm-Hà Nội, cùng các thầy cô giáo tham gia cộng tác đã nhiệt tình tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi đã luôn tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Hà Nội, tháng11 năm 2010
Tác giả
Trần Thị Thu Hà
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Mẫu khảo sát 6
6 Câu hỏi nghiên cứu 6
7 Giả thuyết nghiên cứu 6
8 Phương pháp chứng minh luận điểm 7
10 Cấu trúc luận văn……… 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… 9
1.1 Phương pháp dạy học tích cực……… 9
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực ……… .…… 9
1.1.2 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực……… .… 10
1.1.3 Một số cơ sở của dạy học tích cực……… … 14
1.1.4 Các biểu hiện của tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của học sinh trong học tập…….
16 1.2 Dạy học theo góc ……… 18
1.2.1 Khái niệm dạy học theo góc……… 18
1.2.2 Cơ sở của dạy học theo góc……….………… 18
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo góc……….……… 19
1.2.4 Các loại hình dạy học theo góc……….……… 20
1.2.5 Các tiêu chí của dạy học theo góc……….……… 23
1.2.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo góc………… 24
1.2.7 Qui trình tổ chức dạy học theo góc……… …… 25
1.2.8 Ưu – nhược điểm của dạy học theo góc……… .… 30
1.2.9 Khả năng vận dụng dạy học theo góc vào dạy học ở trường Phổ thông……
31 Kết luận chương 1………. 32
Chương 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO GÓC MỘT
SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG "MẮT VÀ CÁC DỤNG
33
Trang 42.1.1 Nội dung kiến thức – kỹ năng cơ bản chương “ Mắt và các dụng
cụ quang học”……….….… 33
2.1.2 Phân tích một số nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” - Vật lí lớp 11 nâng cao 39
2.1.3 Tìm hiểu thực tế dạy học nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” - Vật lí lớp 11 nâng cao 41
2.2 Thiết kế tiến trình dạy học theo góc kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” - Vật lí lớp 11 nâng cao 43
2.2.1 Bài “Kính lúp” 43
2.2.2 Bài “Kính hiển vi”……… .……… 54
2.2.3 Bài “Kính thiên văn" 64
Kết luận chương 2 76
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 78
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 79
3.3 Đối tượng thực nghiệm 79
3.4 Thời điểm thực nghiệm 79
3.5 Những khó khăn gặp phải và cách khắc phục khi làm thực nghiệm sư phạm 79
3.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 79
3.7 Các bước tiến hành thực nghiệm 80
3.8 Kết quả thực nghiệm 81
3.8.1 Xây dựng tiêu chí để đánh giá 81
3.8.2 Phân tích kết quả thực nghiệm về mặt định tính……… 81
3.8.3 Phân tích kết quả thực nghiệm về mặt định lượng……… 94
Kết luận chương 3………. 98
KẾ T LUÂṆ VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 102
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật trên toàn thế giới,trong đó nổi bật là cuộc cách mạng công nghệ thông tin diễn ra rất sôi động, có tácđộng sâu sắc và trực tiếp đến mọi hoạt động kinh tế xã hội của hầu hết các quốc giatrên thế giới, mở ra một thời kì phát triển mới của nhân loại - đó là thời kì của nền
kinh tế tri thức và toàn cầu hoá Công cuộc đổi mới cần những con người có năng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp Thực tiễn đó đặt ra
mục tiêu phải đổi mới nền giáo dục đào tạo về mọi mặt, trong đó việc đổi mớiphương pháp dạy học có một vị trí đặc biệt quan trọng góp phần thúc đẩy những đổimới khác trong giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Để khẳng định tầm quan trọng của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học,hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII
đã chỉ rõ :"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề."
[13,tr.41] Thực tế chúng ta đang thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp dạyhọc ở hầu hết các cấp học Phương pháp dạy học ở bậc phổ thông phải hướng tớihoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, thói quen và khả năng tự học, tinhthần hợp tác; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú; thay đổi lối dạy học truyền thụ một
chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” Luật Giáo dục 2005, tại khoản 2 điều 28, quy định “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [1]
Trang 7Quan điểm dạy học tích cực đã được nhà giáo dục người Mỹ Robert Marzano
nêu lên trong công trình A Different Kind of Classroom: Teaching with Dimension
of Learning do Association for Supervision and Curriculum Development xuất bản.
Dạy và học tích cực cũng đã được Dự án Việt – Bỉ, là Dự án song phương giữa BộGiáo dục và Đào tạo Việt Nam với Cơ quan Hợp tác Kĩ thuật Bỉ triển khai áp dụngtại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cựcđược nghiên cứu và áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, ở Việt Namcũng đang từng bước triển khai áp dụng Trong đề tài này chúng tôi đề cập đến việcnghiên cứu và vận dụng phương pháp dạy học theo góc, hiện đang còn tương đối
mới ở Việt Nam Bài báo khoa học “Dạy học theo góc – hình thức dạy học tích cực
áp dụng trong giảng dạy môn Hóa học ở trường phổ thông” (tạp chí Giáo dục số
221, trang 45, 46 – 2009 của Th.s Nguyễn Thị Thủy – Trường CĐSP Hà Giang) đã
đề cập đến những ưu điểm của phương pháp này khi thử nghiệm trong dạy học mônHoá học, nhưng cho đến nay chưa có luận văn nào đi theo hướng nghiên cứu này
Cũng giống như người lớn thường không kiên nhẫn và thử sử dụng các thiết
bị kĩ thuật mà không cần đọc hướng dẫn sử dụng; trẻ em thường không kiên nhẫnkhi bắt đầu chu trình học của mình: các em lập tức muốn thực hiện các hoạt động
Do đó trong dạy học cần để các em có thời gian cũng như không gian để khám phá
và trải nghiệm để có thể tiếp thu các nội dung học tập một cách tích cực Đó chính
là ý tưởng tổ chức dạy học theo góc Dạy học theo góc giúp học sinh tham gia tíchcực vào hoạt động học nhằm học sâu, hiểu rõ kiến thức, vì cùng một vấn đề họcsinh sẽ thực hiện các nhiệm vụ khác nhau, với các phong cách học khác nhau Nộidung kiến thức có thể không chỉ bó hẹp trong sách giáo khoa mà có thể vượt rangoài kiến thức giáo khoa, liên hệ chặt chẽ với các vấn đề của thực tiễn Dạy họctheo góc đòi hỏi giáo viên với cùng một nội dung kiến thức cần thiết kế các nhiệm
vụ để người học xây dựng kiến thức theo các con đường khác nhau
Trong chương trình dạy học Vật lí ở trường phổ thông hiện nay, các bài
"Kính lúp", "Kính hiển vi", "Kính thiên văn" (thuộc chương "Mắt và các dụng cụquang học"-chương trình Vật lí 11- nâng cao) là loại bài dạy học về ứng dụng của
Trang 8Vật lí trong kĩ thuật Khi dạy học phần kiến thức này, giáo viên có rất nhiều cácphương tiện hỗ trợ trong việc hướng dẫn nhận thức của học sinh như: bộ thí nghiệmquang hình học được trang bị cho hầu hết các trường phổ thông, phần mềm "Quanghình học mô phỏng và thiết kế" Nội dung kiến thức này liên quan đến những vấn
đề thực sự có ứng dụng trong thực tiễn đời sống và sản xuất như ứng dụng của kínhhiển vi, chụp vi ảnh, ứng dụng của kính thiên văn Áp dụng phương pháp dạy họctheo góc cho phần kiến thức này giáo viên có thể không chỉ phát huy cao độ tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh mà còn hình thành ở họ niềm tin
về bản chất khoa học của các hiện tượng tự nhiên cũng như khả năng nhận thức củacon người, khả năng ứng dụng khoa học để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống
Bắt nguồn từ ý tưởng trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tổ chức dạy học theo góc
nội dung kiến thức chương " Mắt và các dụng cụ quang học" (chương trình Vật lí
11-nâng cao).
2 Lịch sử nghiên cứu
Mục tiêu giáo dục ở nước ta nói riêng cũng như trên thế giới nói chung không chỉdừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, kỹ năng loài người đã tích lũy được trước đây màcòn quan tâm tới việc thắp sáng ở học sinh niềm tin, bồi dưỡng năng lực sáng tạo ranhững tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới Theo W B Yeats:
“Giáo dục không nhằm mục tiêu nhồi nhét kiến thức mà là thắp sáng niềm tin” . Đặc biệt là người học phải đạt tới các mục tiêu đổi mới giáo dục mà Unesco đưa ra là “Học
để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người”
Để đào tạo được những con người mới lao động phục vụ cho sự nghiệp HĐH đất nước, nhất thiết phải đổi mới chương trình, nội dung, đặc biệt đổi mớiphương pháp dạy học Trong những năm gần đây ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu
CNH-lý luận về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học Vật CNH-lý nói riêng Cóthể kể đến các công trình nghiên cứu sau :
"Mô hình dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm" của nhóm tác giả do Nguyễn
Kỳ chủ biên (1996)
"Đổi mới phương pháp dạy học ở trung học cơ sở" của Viện khoa học giáo dục (1998)
Trang 9"Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại" của tác giả Thái Duy Tuyên (1999)
Về dạy học Vật lí có :
"Dạy học Vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ , sáng tạo và tư duy khoa học" của tác giả Phạm Hữu Tòng (2001)
"Phương pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông" của nhóm tác giả Nguyễn Đức
Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế(2003)
Nhiều đề tài khoa học , nhiều luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đã đưa ranhững vấn đề bức xúc, tìm ra nguyên nhân và giải pháp cho việc đổi mới phươngpháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học như:
"Nghiên cứu tổ chức tình huống, định hướng hành động học xây dựng kiến thức của học sinh trong việc dạy khái niệm lực thuộc chương "Lực - Khối lượng"ở lớp 7 THCS
"- luận án PTS của tác giả Đỗ Hương Trà (1996)
"Tổ chức hoạt động dạy học nhằm làm cho học sinh tích cực , tự lực chiếm lĩnh các kiến thức Vật lí " của tác giả Lê Thị Oanh (1996)
"Tăng cường tính tích cực, tự chủ của học sinh trong dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí ở chương "Sản xuất, truyền tải điện năng" (lớp 12 -ban KHTN)- luận văn
thạc sỹ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Anh Thuấn (1999)
"Nghiên cứu xây dựng tình huống dạy học theo hướng phát triển năng lực tự chủ chiếm lĩnh tri thức và tư duy khoa học kĩ thuật của học sinh khi dạy phần "Quang học " (lớp 8 THCS)- luận án tiến sỹ giáo dục học của tác giả Ngô Diệu Nga (2000)
Nghiên cứu về dạy học một số kiến thức chương "Mắt và các dụng cụ quanghọc " đã có các luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ sau :
"Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng mô hình hình vẽ trong dạy học vật lý phần Quang hình học lớp 12 đề tài thấu kính và hệ thấu kính "- luận
văn thạc sỹ khoa học giáo dục của tác giả Trần Thị Mỹ Quang (1997)
"Phát triển hứng thú, tính tích cực, chủ động tham gia giải quyết các vấn đề của học sinh thông qua việc đề xuất và thảo luận lựa chọn các phương án thiết kế các ứng dụng của Vật lí trong dạy học chương "Mắt và các dụng cụ quang học " (lớp
Trang 1012 chương trình chưa phân ban)- luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của tác giả
Phạm Hoàng Hưng(2000)
"Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học phần "Dụng cụ quang học", "Tán sắc và gia thoa ánh sáng" ở trường THPT"- luận án tiến sỹ giáo dục học của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hà (2002)
"Phối hợp sử dụng các phương tiện dạy học truyền thống và hiện đại trong việc dạy học một số kiến thức về dụng cụ quang học theo chương trình thí điểm vật lí 11 ban KHTN bộ 1 " -luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của tác giả Đinh Thị Thu Hà
Trong chương trình Vật lí 11 ban KHTN , phần kiến thức chương "Mắt và cácdụng cụ quang học" là phần kiến thức không quá khó, song kiểu dạy học "thôngbáo, áp đặt" của nhiều giáo viên hiện nay chưa phát huy tính tích cực, tự chủ củahọc sinh Hơn nữa, phần kiến thức này nằm ở cuối chương trình lớp 11 nên nhiềugiáo viên chỉ thông báo lấy lệ cho hết chương trình, thậm chí cho học sinh tự đọc,dẫn đến học sinh không có nhiều hứng thú với bộ môn Vật lí
Xuất phát từ các lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài và định hướngnhững vấn đề cần giải quyết như sau: từ thực trạng dạy-học một số kiến thứcchương "Mắt và các dụng cụ quang học" ở trường phổ thông hiện nay, xác địnhnhững nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chất lượng dạy học phần kiến thức này
Trang 11Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế tiến trình dạy học theo hướng phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động của học sinh trong học tập Thực nghiệm sư phạm nhằm xácnhận mức độ phù hợp, tính khả thi và hiệu quả của tiến trình dạy học nói trên.
Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học theo góc để vận dụng vào việc tổ chứchoạt động dạy học nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” -Vật lí lớp 11 nâng cao nhằm phát huy hoạt động nhận thức tích cực, tự giác, chủđộng của học sinh trong học tập
+ Phạm vi không gian, thời gian: Các hoạt động dạy và học của giáo viên và họcsinh ở trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai - Từ Liêm -Hà Nội và trường THPT Trần Hưng Đạo- Nam Định năm học 2009-2010
Học sinh lớp 11A5 ,11A6 (năm học 2009-2010) tại trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai - Từ Liêm -Hà Nội được chọn làm đối tượng thực nghiệm
Vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học nội dung kiến thứcchương "Mắt và các dụng cụ quang học" -chương trình Vật lí 11 nâng cao như thếnào thì có thể phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh trong học tập?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Việc vận dụng cơ sở lý luận dạy học theo góc cùng với việc đảm bảo nhữngyêu cầu hoạt động nhận thức Vật lí có thể tổ chức dạy học theo góc nội dung kiến
Trang 12thức chương "Mắt và các dụng cụ quang học" -chương trình Vật lí 11 nâng cao theohướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh trong học tập.
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Nghiên cứu các tài liệu về các quan điểm, sự định hướng việc dạy và họctích cực cũng như đổi mới phương pháp dạy học, các tài liệu về lý luận dạy học nóichung và lý luận dạy học môn Vật lí nói riêng để làm sáng tỏ những quan điểm về
sử dụng phương pháp dạy học theo góc trong quá trình dạy học bộ môn Vật lí.+ Nghiên cứu chương trình nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và cáctài liệu tham khảo về phần "Mắt và các dụng cụ quang học" (chương trình Vật lí 11nâng cao) cùng với những ứng dụng của chúng để xác định mức độ kiến thức cũng như kĩ năng mà học sinh cần nắm vững
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
+ Tiến hành dạy học thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết
+ Phân tích, so sánh hoạt động nhận thức của học sinh giữa các lớp học đốichứng và lớp học thực nghiệm, đánh giá sản phẩm của học sinh để rút ra những kết luậncần thiết
8.3 Phương pháp chuyên gia
Tìm hiểu việc dạy học (thông qua dự giờ, trao đổi với giáo viên) nhằm đánhgiá sơ bộ tình hình dạy học Vật lí nói chung và dạy học chương "Mắt và các dụng
cụ quang học" (chương trình Vật lí 11 nâng cao) nói riêng tại trường trung học phổthông
8.4 Phương pháp điều tra , khảo sát
Tìm hiểu việc học (thông qua trao đổi với học sinh, dự giờ, phân tích các sảnphẩm của học sinh) để đánh giá sơ bộ hiệu quả học tập bộ môn Vật lí nói chung vàchương "Mắt và các dụng cụ quang học" (chương trình Vật lí 11 nâng cao) nói riêngtại trường trung học phổ thông
Trang 139 Dự kiến luận cứ
9.1, Luận cứ lý thuyết
- Các cơ sở lý luận về dạy học tích cực, dạy học theo góc
- Lý luận tâm lý học dạy học để làm cơ sở cho những tác động sư phạm nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh trong học tập
- Các biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh trong học tập
- Cơ sở lý luận về quá trình nhận thức vật lí
- Những phân tích về các nội dung kiến thức chương "Mắt và các dụng cụquang học"-chương trình Vật lí 11 nâng cao và xác định những khó khăn của học sinhkhi học nội dung kiến thức này
9.2 Luận cứ thực tế
- Các phiếu dự giờ, trao đổi với giáo viên
- Phiếu điều tra khảo sát trong học sinh
- Các minh chứng của diễn biến dạy học thực nghiệm: biên bản quan sát dạyhọc, ảnh chụp, băng hình, các sản phẩm của học sinh, các phiếu học tập của học
sinh
- Các bài kiểm tra của học sinh
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học theo góc một số nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” - Vật lí lớp 11 nâng cao
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN 1.1 Phương pháp dạy học tích cực
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
- Thuật ngữ “Phương pháp dạy học tích cực” được dùng để chỉ nhữngphương pháp giáo dục/dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo củangười học
- Phương pháp dạy học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằmtích cực hoá hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó cáchoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi giáo viên, người học không thụđộng, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiệnkiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nộidung học tập và phát triển năng lực sáng tạo
- Trong dạy học tích cực, hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợptác và giao tiếp ở mức độ cao Phương pháp dạy học tích cực không phải là một phươngpháp dạy học cụ thể, mà là một khái niệm bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, kĩthuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hoá, tăng cường sự tham gia của người học, tạođiều kiện cho người học phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lựcgiải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vuitrong học tập, nó phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của trẻ em Việc học đối vớihọc sinh khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôidưỡng lòng khát khao sáng tạo Như vậy, dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tíchcực hoạt động của người học và tính nhân văn của giáo dục
- Bản chất của dạy học tích cực là :
+ khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ
+ Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội
-Trong dạy và học tích cực, mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh và học sinh với học sinh có thể được thể hiện qua sơ đồ:
Trang 15Giảng viên/Giáo viên
Tác động qua lại trong môi trường học tập an toàn
Học sinh Học sinh
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong dạy học tích cực
- Trong bối cảnh của thời kì đổi mới, giáo dục cần phải phát triển để đáp ứngyêu cầu của xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí quan trọng trong đổi mớiphương pháp dạy học như sau:
+Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học là cách học.
+Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học
+Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương
tiện [11, tr.21-22]
1.1.2 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy và học tích cực có thể là:
Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh và chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Một trong các yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích người học tựlực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết Tham gia vào cáchoạt động học tập người học được đặt vào các tình huống có vấn đề, được trực tiếpquan sát, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giảipháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểmriêng của mỗi cá nhân Qua đó người học không những chiếm lĩnh được kiến thức
và kĩ năng mới mà còn làm chủ cách xây dựng kiến thức, từ đó tính chủ động sángtạo có cơ hội được bộc lộ rèn luyện
Trang 16Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quátrình giáo dục Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh pháttriển các năng lực cần thiết trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, hiện tạicũng như tương lai.
Giáo dục/dạy học bám sát các vấn đề thực tiễn, áp dụng kiến thức vào giảiquyết các vấn đề của thực tiễn thay cho việc nhồi nhét thông tin, đó chính là quátrình giúp học sinh nhận thức, thông hiểu , vận dụng kiến thức vào thực tế Điều nàygiúp học sinh có nhu cầu và động cơ học tập đúng đắn, khi đó học sinh sẽ tích cực
tự giác tham gia các hoạt động học tập
Trong dạy học cần rèn cho người học có phương pháp tự học Nếu người học
có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng say
mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người học Trong dạy học tích cựccần khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức đã học vào điều kiện thực tế tại giađình để các em có thể rèn luyện các kĩ năng đã học
Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác
Trong dạy và học tích cực, giáo viên cần quan tâm đến sự phân hoá về trình
độ nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi học sinh.Trên cơ sở đó xây dựng các nhiệm vụ/ bài tập, mức độ hỗ trợ phù hợp với khả năngcủa mỗi cá nhân nhằm phát huy khả năng tối đa của người học
Để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình cần đặt họvào môi trường học tập hợp tác trong các mối quan hệ thầy- trò, trò-trò Trong mốiquan hệ hợp tác đó, người học không chỉ học được qua thầy mà còn học được quabạn Sự chia sẻ kinh nghiệm sẽ kích thích tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân,đồng thời hình thành và phát triển ở người học năng lực tổ chức, điều khiển, lãnhđạo, các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, giải quyết vấn đề …và tạo môi trườnghọc tập thân thiện Tuy nhiên để học tập hợp tác có hiệu quả, giáo viên cần hìnhthành cho người học thói quen học tập tự giác, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau Đồngthời nhiệm vụ được giao phải rõ ràng, cụ thể, mỗi thành viên trong nhóm đều đượcphân công, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mình để tránh tình trạng dựa
Trang 17dẫm, ỷ lại hoặc có những biểu hiện không hợp tác “phá rối” làm cho hoạt động hợptác mất thời gian, kém hiệu quả.
Khái niệm học tập hợp tác ngoài việc nhấn mạnh vai trò quan trọng hoạtđộng của cá nhân trong quá trình học sinh làm việc cùng nhau, còn đề cao sự tươngtác, ràng buộc lẫn nhau giữa các học sinh Sự phân chia nhiệm vụ và công việctrong nhóm thể hiện mức độ hợp tác trong học tập Nói cách khác việc học tập hợptác đòi hỏi học sinh làm việc và học tập với những “nguyên liệu” thu được từ cácthành viên trong nhóm Sự hợp tác nhằm phát triển ở học sinh những kĩ năng nhậnthức, kĩ năng giao tiếp xã hội, tích cực hoá hoạt động học tập và tạo cơ hội bìnhđẳng trong học tập
Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu
và lợi ích của xã hội
Theo sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được chủ động lựa chọn vấn đề
mà mình quan tâm ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình
bày kết quả Đó là đặc trưng lấy học sinh làm trung tâm theo nghĩa đầy đủ của thuật
ngữ này Việc nghiên cứu có thể tiến hành theo cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ
Các chủ đề/ nội dung tìm hiểu, nghiên cứu có thể do học sinh tự đề xuất hoặclựa chọn trong số các chủ đề/ nội dung giáo viên giới thiệu, định hướng Các chủ đề/nội dung cần gắn với nhu cầu, lợi ích của người học cũng như của thực tiễn, xã hội.Điều này làm cho kiến thức có tính ứng dụng cao và người học hiểu được giá trị, tácdụng, sự cần thiết của những kiến thức đó trong thực tiễn, xã hội
Nhấn mạnh đến sự quan tâm ,hứng thú cũng như lợi ích của học sinh, giáoviên cần thiết kế các tình huống học tập sao cho kích thích lôi cuốn được sự thamgia tích cực,chủ động của người học và đảm bảo nguyên tắc phân hoá trong dạyhọc
Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi
Việc coi trọng hướng dẫn tìm tòi là giúp học sinh phát triển kĩ năng giảiquyết vấn đề và nhấn mạnh rằng học sinh có thể học được phương pháp học thôngqua hoạt động Dấu hiệu đặc trưng này có thể áp dụng ngay cho học sinh nhỏ tuổi
Trang 18nếu có tài liệu cụ thể và có sự giúp đỡ của giáo viên, đặc biệt hiệu quả với nhữnghọc sinh ở các lớp cao hơn vì các em có khả năng làm việc độc lập, tự giác, tư duylogic, khả năng phân tích, tổng hợp,đánh giá đã phát triển.
Một nhiệm vụ học tập tốt là nhiệm vụ đặt ra thách thức với người học.Nhiệm vụ không nên quá dễ vì sẽ tạo ra sự nhàm chán, thậm chí chán nản Nhiệm
vụ không nên quá khó dễ gây ra sự lo lắng, tâm lý sợ thất bại đối với học sinh Đểđạt được sự cân bằng, các nhiệm vụ cần đa dạng và thiết kế riêng cho từng đốitượng từng trình độ trong điều kiện cho phép Mỗi nhiệm vụ thách thức sẽ tạo ranhu cầu cần sự hỗ trợ Giáo viên cần quan sát để có sự hỗ trợ kịp thời
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy và học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận địnhtình trạng và điều chỉnh hoạt động của học sinh mà còn đồng thời tạo điều kiệnnhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên
Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ
đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập Tự đánh giá không chỉ đơnthuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả,mức độ cao hơn là học sinh có thể phản hồi lại quá trình học của mình Biết tự đánhgiá, người học sẽ chủ động xem xét lại quá trình, kết quả học tập của mình, để tựđiều chỉnh cách học, xác định động cơ học tập, lập kế hoạch để tự nâng cao kết quảhọc tập
Cùng với tự đánh giá, giáo viên cần tổ chức cho học sinh đánh giá lẫn nhauhay còn gọi là đánh giá “đồng đẳng” Đánh giá đồng đẳng dựa trên các tiêu chí dogiáo viên cung cấp Cách đánh giá này không chỉ giúp học sinh đánh giá kết quả củabạn mà thông qua đó còn có sự so sánh nhìn lại kết quả học tập của chính mình, từ
đó còn có sự điều chỉnh cách giải quyết vấn đề, cách học, chia sẻ kinh nghiệm từ kếtquả học tập của mình và của bạn, thúc đẩy kết quả học tập ngày một tốt hơn
Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò còn giúp giáo viên cũng cóđiều kiện nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách dạy
Trang 19Dạy học tích cực nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo người lao động năng động,sáng tạo thích nghi với mọi hoàn cảnh trong đời sống xã hội Do vậy, kiểm tra đánh giákhông chỉ dừng lại ở yêu cầu ghi nhớ tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học màphải phát triển ở người học tư duy logic, tư duy phê phán, khả năng phân tích, tổng
hợp, đánh giá, giải quyết vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra .[11, tr.22-28]
1.1.3 Một số cơ sở của dạy học tích cực
tố từ môi trường: chủ thể tiếp nhận khách thể, đồng hóa khách thể vào cấu trúc hànhđộng, tức là con người xử lý tác động từ bên ngoài vào nhằm đạt một mục tiêu nào
đó Đồng hóa là quá trình khớp thực tế với tổ chức nhận thức hiện tại Mỗi người ápdụng cái mình biết để hiểu đặc tính của vật và sự vật, cũng như những quan hệ giữađặc tính và sự vật Có 4 kiểu đồng hóa trong tất cả các thời kì và giai đoạn: đồnghóa tái diễn, đồng hóa khái quát hoá, đồng hóa công nhận, đồng hóa lẫn nhau Điềuứng liên quan đến những yêu cầu khớp với thực tế, mỗi vật và sự vật có những đặctính cần được sớm muộn tính đến Điều ứng xảy ra bởi vì các cấu trúc hiện tại đãthất bại trong lý giải một vật hoặc sự vật một cách thoả đáng Kết quả tổ chức lại tưduy dẫn tới một sự đồng hóa khác thoả đáng hơn Trong quá trình điều ứng, chủ thểđem cấu trúc hành động đã được tạo ra trước đó áp theo khách thể, điều ứng cấutrúc hành động với khách thể, với môi trường Đồng hóa và điều ứng đan kết chặtchẽ với nhau trong mỗi hoạt động nhận thức từ khi sinh ra đến hết đời Theo Piaget,thích nghi là sự cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng đồng thời hiện hữu trong mỗihành vi và kích thích sự phát triển nhận thức
Thuyết nhận thức của Jean Piaget được vận dụng vào thực tiễn dưới tên gọi
“thuyết kiến tạo” cho rằng mục đích của dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức
Trang 20mà chủ yếu là làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của người học, qua đóngười học kiến tạo kiến thức mới đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.Trong quá trình đồng hoá, người học có thể vận dụng kiến thức cũ để giải quyết tìnhhuống mới và sắp xếp kiến thức mới thu nhận được vào cấu trúc kiến thức đã có.Trong quá trình điều ứng, người học thay đổi cấu trúc đã có, tạo ra cấu trúc mới chophù hợp với hoàn cảnh mới Theo thuyết kiến tạo, học sinh phải là chủ thể tích cựcxây dựng nên kiến thức cho bản thân dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã
có Giáo viên chỉ là người tổ chức, điều khiển Do đó trong quá trình dạy học, cầntăng cường dạy học hợp tác, dạy học khám phá- phát hiện, bồi dưỡng khuyến khíchngười học tự học, tự khám phá-phát hiện và giải quyết vấn đề [34, tr 1-5]
1.1.3.2 Cơ sở sinh lý thần kinh: các chức năng của hai bán cầu não
Những năm gần đây, các kết quả nghiên cứu về sự khác biệt giữa bán cầunão trái và bán cầu não phải đã làm sáng tỏ quá trình hoạt động trí óc và mối quan
hệ giữa trí thông minh và óc sáng tạo Theo quan điểm cũ, bán cầu não trái luônđược coi là trội hơn, nó như một đặc điểm chung, bẩm sinh, di truyền Tuy nhiênngày nay người ta cho rằng sở dĩ có vấn đề này chủ yếu là do sự học tập chứ khôngphải do gien di truyền
- Não trái là trung tâm điều khiển các - Não phải là trung tâm kiểm soát cácchức năng trí tuệ như ghi nhớ, ngôn chức năng như trực giác, ngoại cảm, tháingữ, lý luận, tính toán, sắp xếp, phân độ, xúc cảm, liên hệ về thị giác và khôngloại, viết, phân tích và tư duy quy nạp gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp điệu, vũ
điệu, các hoạt động phối hợp thể lực, cácquá trình tư duy tổng hợp và tư duy suydiễn
- Các chức năng não trái có đặc điểm - Các chức năng não phải có đặc điểm
- Não trái có thể ghép các mảnh rời - Não phải nhìn thấy cái tổng thể trướcthành tổng thể (từ chi tiết đến tổng thể, (nắm lấy cái tổng thể (bằng trực giác,
Trang 21tuần tự theo quy trình: cứ làm rồi sẽ linh cảm): nhận ra kết quả cuối cùng rồi
tiết)
- Tư duy não trái là tố chất phát triển - Tư duy não phải là tố chất của óc sáng
- Định hướng bằng quy trình - Định hướng bằng hình ảnh, biểu đồ
- Đặt và trả lời các câu hỏi tuần tự - Câu hỏi đủ loại, ngẫu hứng
Con người khi sinh ra có thể có sự phát triển trội ở một trong hai bán cầu não,nhưng hai bán cầu não cần phải hoạt động, phát triển cân bằng và phối hợp tốt vớinhau để con người phát triển toàn diện về cả trí tuệ và thể lực, về cả suy nghĩ vàhành động
Trong hệ thống giáo dục mà kiến thức được cung cấp theo quy trình liên tục vàtuần tự, trong đó chương trình thiết lập theo kiểu gần như tuyến tính, phù hợp vớihọc sinh có não trái phát triển trội vì đó cũng là cách thu nhận và xử lý thông tin của
họ, việc dạy học tất nhiên sẽ làm cho các chức năng của não trái ngày càng pháttriển Những học sinh có não phải phát triển trội gặp khó khăn vì họ thường không
xử lý thông tin theo cách đó, họ có xu hướng diễn giải mọi thông tin theo cách tổngthể hơn là chi tiết Họ có xu hướng nắm cái toàn thể sau đó mới đi ngược lại và mổ
xẻ vấn đề, họ có tầm nhìn toàn thể
Dạy học tích cực không những làm cho học sinh có não phải phát triển trội tìmthấy sự thích ứng mà còn làm sao để mọi học sinh được phát triển cân bằng chứcnăng của cả hai bán cầu não, bởi vì chức năng của cả hai bán cầu não đều cần thiết
để con người giải quyết các vấn đề khác nhau, thành công trong các lĩnh vực hoạtđộng thực tiễn khác nhau.[44]
1.1.4 Các biểu hiện của tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của học sinh trong học tập
Thuật ngữ “tích cực học tập” đã nói lên ý nghĩa của nó: đó chính là những gìdiễn ra bên trong người học Quá trình học tập tích cực nói đến những hoạt động
Trang 22chủ động của chủ thể- về thực chất là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểubiết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Tính tích cực của người học nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đốitượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập
Tính tích cực liên quan trước hết tới động cơ học tập Động cơ đúng tạo rahứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lýtạo ra tính tích cực Tích cực học tập có quan hệ chặt chẽ với tư duy độc lập Suynghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, học tập độc lập, tíchcực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và nuôi dưỡng động cơ học tập
Một số đặc điểm cơ bản thể hiện tính tích cực học tập của học sinh:
+có hứng thú học tập +tập trung chú ý tới bài học/ nhiệm vụ học tập +mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi thảo luận, ghi chép.
+có sáng tạo trong quá trình học tập +thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao +hiểu bài và có thể trình bày theo cách hiểu của mình +biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
Các biểu hiện của học tích cực:
+tìm tòi, khám phá, tiến hành thí nghiệm +so sánh, phân tích, kiểm tra
Trang 231.2 Dạy học theo góc
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực (dạy học tích cực)chính là phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhận thức của họcsinh Trong dạy học tích cực, dưới sự thiết kế, định hướng của giáo viên, người họcđược tham gia vào quá trình học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn
đề đặt ra, thực hiện các giải pháp và rút ra kết luận Quá trình đó giúp người họclĩnh hội nội dung học tập đồng thời phát triển năng lực sáng tạo
Dạy học theo góc là một trong nhiều phương pháp dạy học tích cực giúp học
sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo
1.2.1 Khái niệm dạy học theo góc
Dạy học theo góc là môṭ phương pháp daỵ hoc ̣ theo đóhoc ̣ sinh thưc ̣ hiêṇ các nhiêṃ vu ̣khác nhau taị các vi ̣trícu ̣thểtrong không gian lớp hoc ̣ nhưng cùng
hướng tới chiếm linh̃ môṭ nôị dung hoc ̣ tâp̣ theo các phong cách hoc ̣ khác nhau Khi tổ chức dạy học theo góc, chúng ta tạo ra một môi trường học tập trong
đó, tại các góc học sinh thưc ̣ hiêṇ các nhiêṃ vu ̣khác nhau nhằm đaṭ đươc ̣ muc ̣ tiêu dạy học hoặc có thể thực hiện cùng một nhiệm vụ nhưng theo các cách tiếp cận khác nhau [11, tr.16,17]
1.2.2 Cơ sở của dạy học theo góc
1.2.2.1 Dạy học đáp ứng các phong cách học tập của người học
Chúng ta biết mỗi học sinh thường có phong cách học khác nhau Có họcsinh thích học qua phân tích (nghiên cứu tài liệu, đọc sách để rút ra kết luận hoặcthu nhận kiến thức); có học sinh thích học qua quan sát (quan sát người khác làm,quan sát qua hình ảnh để rút ra kết luận hoặc thu nhận kiến thức); có học sinh thíchhọc qua trải nghiệm khám phá (khám phá, làm thử để rút ra kết luận hoặc thu nhậnkiến thức); có học sinh thích học qua thực hành áp dụng (học thông qua hành động
để rút ra kết luận hoặc thu nhận kiến thức)
Học theo góc thể hiện sự đa dạng, do đó học sinh có sở thích và năng lựckhác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học khác nhau đều có thể tự tìm cách để
Trang 24thích ứng và thể hiện năng lực của mình Điều này cho phép giáo viên giải quyếtvấn đề đa dạng trong hoạt động học tập của học sinh.[11, tr.16,17]
Ví dụ: Các phong cách học của học sinh
Các phong cách học
HOẠT ĐỘNG
QUAN SÁT Suy ngẫm về các Trải nghiệm
hoạt động đã thực hiện
hỗ trợ
Sơ đồ 1.2: Các phong cách học của học sinh
1.2.2.2 Dạy học phát triển năng lực tự học, tính chủ động, sáng tạo của học sinh
Khi thực hiện nhiệm vụ học tại các góc, học sinh sẽ bị cuốn vào việc học tậptích cực, không chỉ với việc thực hành các nội dung học tập mà còn khám phá các cơhội học tập mới mẻ Việc trải nghiệm và khám phá trong học tập sẽ có nhiều cơ hộiđược phát huy hơn Học sinh sẽ có nhiều cơ hội gần gũi hơn với các tư liệu học tập.Mỗi học sinh đều có cơ hội để phát triển năng lực cá nhân theo các cách khác nhau
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo góc
Khi nói tới học theo góc, chúng ta tạo ra một môi trường học tập có tínhkhuyến khích hoạt động và thúc đẩy việc học tập Các hoạt động có tính đa dạngcao về nội dung và bản chất, hướng tới việc thực hành, khám phá và thực nghiệm
Khi tổ chức dạy học theo góc, chúng ta tạo ra một môi trường học tập trong
đó có một cấu trúc cụ thể được đưa vào
Quá trình học được chia thành các khu vực (các góc) bằng cách phân chia
Trang 2519
Trang 26trong nhiệm vụ chung Các em biết những khu vực nào đang sẵn sàng và cần làm gìkhi hoàn thành nhiệm vụ: liệu các em có cần các tư liệu để tự sửa chữa, trong điềukiện nào các em có thể tự chuyển sang một khu vực khác vv Tất cả đều được tổ chức để tạo ra một bầu không khí nhẹ nhàng và không ồn ào Có thể áp dụng cách
vẽ hình như một biện pháp hỗ trợ thực hiện nhằm khuyến khich́ hoaṭđông ̣ vàthúc đẩy viêc ̣ hoc ̣ tâp ̣
Dạy học theo góc nhằm khuyến khích họat động và thúc đẩy việc học tập
Các tư liệu và nhiệm vụ học tập là những thử thách , là những tình huống cóvấn đề, những mâu thuâñ nhâṇ thức màhoc ̣ sinh cần phải giải quyết Mục đích là đểhọc sinh khám phá các giới hạn của việc học và tăng cường sự tiến bộ của các em
Các hoạt động có tính đa dạng cao về nội dung và bản chất
Mỗi khu vực các nhiệm vụ học tập đều đa dạng về cả nội dung lẫn hình thức tổchức, do đó học sinh có sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phongcách học khác nhau đều có thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực củamình Điều này cho phép giao viên giải quyết vấn đề đa dạng trong nhóm
Hướng tới việc thực hành, khám phá và thực nghiệm
Học sinh sẽ bị cuốn vào việc học tập một cách tích cực, không chỉ với việcthực hành các nội dung học tập mà còn khám phá các cơ hội học tập mới mẻ Việctrải nghiệm và khám phá trong học tập sẽ có nhiều cơ hội được phát huy hơn khihọc theo góc Học sinh sẽ có cảm giác gần gũi hơn với tư liệu Mỗi học sinh đều có
cơ hội để phát triển “câu truyện” về mình theo những cách khác nhau [44, tr.34-36]
1.2.4 Các loại hình dạy học theo góc
Tổ chức hoạt động học tập tại các góc theo cách luân chuyển
Giáo viên có thể tổ chức hoạt động học theo hệ thống luân chuyển theo vòngtròn và nối tiếp Giáo viên sẽ tạo ra nhiều góc học tập với các nhiệm vụ khác nhau:tiến hành thí nghiệm để thu nhận kiến thức, vận dụng lý thuyết đã học để giải bàitập, nghiên cứu tài liệu sách giáo khoa để rút ra kết luận, quan sát mô hình, hiệntượng để rút ra kết luận…Nói cách khác: giáo viên sẽ đưa ra các nhiệm vụ để giảiquyết các kĩ năng và mức năng lực khác nhau Tại các góc học sinh thưc ̣ hiêṇ các
Trang 27nhiêṃ vu ̣khác nhau nhằm đaṭđươc ̣ muc ̣ tiêu daỵ hoc ̣ hoăc ̣ cóthểthưc ̣ hiêṇ cùngmôṭnhiêṃ vu ̣nhưng theo các cách tiếp câṇ khác nhau Sau khi thực hiện xong
nhiệm vụ ở góc này, học sinh chuyển sang góc khác để tiếp tục thực hiện cho đếnkhi quay vòng đủ các góc
Một điểm bất lợi trong phương pháp này, đặc biệt khi các nhiệm vụ thực hiệnđơn lẻ, là những học sinh nhanh/thông minh phải chờ cho đến khi có dấu hiệu
chuyển vòng Chúng ta có thể khắc phục điều này thông qua việc sử dụng Bảng lựa chọn hoặc Thẻ góc cá nhân.
Tổ chức hoạt động học tập tại các góc vượt khỏi phạm vi lớp học
Chúng ta có thể làm tăng hiệu quả của việc học theo góc thông qua việc liên kếtcác lớp học với nhau Bằng cách này học sinh có thể tận dụng các nguồn tư liệu học tậpkhác, thực hiện các bài tập khác bên cạnh các bài tập đã làm trên lớp và sẽ làm gia tănggiá trị xã hội Làm việc với những bạn mới đồng thời hoàn thành các nhiệm vụ trongmột nhóm gồm nhiều học sinh thuộc các lớp đòi hỏi năng lực xã hội cao
Một lợi ích của hình thức tổ chức này là giáo viên không đơn độc khi làm việc
vì có sự hỗ trợ của đồng nghiệp
Tổ chức hoạt động học tập theo góc dưới hình thức “hội thảo học tập”
“Hội thảo học tập” là một loại hình đặc biệt của học theo góc “Hội thảo họctập” thực hiện trong thời gian độc lập (nửa ngày) để lựa chọn các hoạt động và tưliệu học tập, không gian làm việc và đôi khi còn có cả những khách mời đặc biệt.Với hình thức học theo góc, học sinh sẽ thực hiện các nhiệm vụ theo một cách khác
và có cơ hội để duy trì hoạt động trong thời gian dài
Nội dung “hội thảo học tập” phải đảm bảo đa dạng các hoạt động Các hoạtđộng có thể thực hiện ở nhiều góc (khu vực) “Hội thảo học tập” đòi hỏi làm việcvới các tư liệu và kĩ thuật đặc biệt sẽ thách thức người học, đồng thời tạo cảm hứngcho trí tưởng tượng của các em theo nhiều cách khác nhau Một người, cha mẹ hoặcngười thân hoặc các chuyên gia được mời, có thể đưa ra các hướng dẫn từ bênngoài Họ có thể gợi ý các nguồn thông tin mang tính chuyên môn
Trang 28“Hội thảo học tập” sẽ đạt hiệu quả cao nhất khi được tổ chức chung giữa các lớp
và giữa các nhóm học sinh đồng đẳng, khi đó học sinh sẽ phát triển các kĩ năng xã hội
Tổ chức hoạt động học tập tại các góc là các góc tự do
Đây là hình thức hoạt động tạo nhiều cơ hội nhất cho học sinh thể hiện sángkiến Giáo viên sẽ đưa ra một số gợi ý cho từng góc học, học sinh sẽ tự do lựa chọngóc nào em muốn họat động và số góc có thể hoàn thành.Thông qua việc tạo chocác em cơ hội sáng tạo, hình thức này sẽ đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám phá thế giớixung quanh
Tổ chức hoạt động học tập tại các góc bắt đầu từ sáng kiến của trẻ tới
Tổ chức hoạt động học tập theo góc dưới dạng hoạt động tự do và các
“Cửa hàng- lớp học”
Trong lớp học có thể phân không gian thành các cửa hàng như: cửa hàng Y
tế, cửa hàng Điện, cửa hàng Xây dựng, cửa hàng Cơ khí, cửa hàng Quần áo, cửa hàng Du lịch, cửa hàng Dụng cụ làm vườn…
Ví dụ với cửa hàng Y tế, giáo viên yêu cầu học sinh mang phim Xquang đến
lớp, các em đóng vai bác sỹ để tìm hiểu xem xương nào được chụp trên phim và có
vấn đề gì với xương đó Với cửa hàng Điện, ví dụ giáo viên phân biệt các vật liệu cách điện, vật liệu dẫn điện, lắp ráp các thiết bị điện để đèn sáng…Với cửa hàng
Trang 29Xây dựng, học sinh trở thành các kiến trúc sư thiết kế nhà theo sở thích và kế hoạch xây dựng…Tại cửa hàng Cơ khí học sinh có thể mang một dụng cụ đến lớp như đồng hồ cũ, chuông xe đạp… và tìm hiểu nguyên lý cơ khí cơ bản Tại cửa hàng Quần áo, học sinh có thể tự thiết kế các mẫu cho các mục đích: thể thao dụng cụ thể dục, đồng phục học sinh…Tại cửa hàng Du lịch, học sinh có nhiệm vụ thiết kế một
chuyến đi trong đó phải tính toán kĩ ngày giờ, phương tiện, tài chính, nơi nghỉ ngơi,lịch trình…
Tóm lại, “cửa hàng- lớp học” sẽ mang đến cho học sinh những tư liệu mangtính thử thách và đòi hỏi học sinh phải giải quyết vấn đề trực tiếp Hình thức này tạo
ra nhiều khả năng để khám phá, thử nghiệm, đem đến nhiều cơ hội thực hành vàtương tác [44, tr.54-66]
1.2.5 Các tiêu chí của dạy học theo góc
Tiêu chí “phù hợp”
Căn cứ vào đặc điểm học theo góc, cần chọn nội dung dạy học, cần thiết kếcác nhiệm vụ tại các góc, cần chuẩn bị các phương tiện dạy học tại các góc sao chophù hợp Nội dung bài học phải phù hợp theo các phong cách học khác nhau hoặctheo các hình thức hoạt động khác nhau (tích hợp kiến thức các môn học trong mộtnội dung chủ đề) Nhiệm vụ tại các góc phải rõ ràng, cụ thể phù hợp với năng lực,mức độ phát triển của học sinh và thời gian quy định cho mỗi góc Nhiệm vụ tại mỗigóc phải phù hợp với tên góc được chọn Căn cứ vào nội dung bài học và điều kiệnthực tế, giáo viên có thể tổ chức 4, 3 hoặc 2 góc như: góc quan sát, góc phân tích,góc thiết kế, góc thực hành, góc trải nghiệm… Không gian lớp học phải phù hợpvới số góc học tập Số lượng học sinh phải phù hợp với không gian lớp học đó Mỗigóc cần có đủ tài liệu, đồ dùng, phương tiện học tập phù hợp với nhiệm vụ đượcthiết kế cho góc đó
Tiêu chí “sự tham gia của học sinh”
Các nhiệm vụ tại mỗi góc cần được thiết kế phù hợp để huy động sự tham giatối đa của học sinh Các nhiệm vụ nên sắp xếp từ dễ đến khó, để học sinh nào cũngvượt qua được khó khăn đầu tiên, tạo niềm phấn khích cho học sinh tiếp tục
Trang 30các nhiệm vụ tiếp theo Các câu hỏi nên có trình độ cao, vừa sức, đòi hỏi người họcsuy nghĩ, thảo luận, tranh luận và có thể đưa ra được kết quả Nhiệm vụ tại các góckhác nhau cần được cân đối phù hợp để hạn chế tối đa thời gian chết, không để xảy
ra tình trạng học sinh ngồi chơi sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ và chờ chuyển góc
Cao hơn nữa, các nhiệm vụ học tập tại các góc cần được thiết kế sao cho họcsinh tham gia một cách tích cực, tự chủ, sáng tạo vào việc giải quyết các nhiệm vụ.Thông qua nhiệm vụ tại các góc, giáo viên cần giúp cho mỗi học sinh lựa chọn nhữngkiến thức và kĩ năng học muốn học, phù hợp với nhu cầu của cá nhân đó Sự lựa chọn
sẽ đảm bảo lôi cuốn được “cái tôi” trong các nhiệm vụ học tập và học sinh sẽ đượcđộng viên mạnh mẽ do được theo đuổi những quan niệm và sự tò mò Học sinh sẽ hứngthú học hơn và hiệu quả hơn khi xác định được mục đích học để làm gì
Tiêu chí “tương tác”
Tại các góc học sinh có thể làm việc cá nhân, theo cặp hoặc hoạt động theonhóm Các nhiệm vụ cần được thiết kế sao cho có sự tương tác cao giữa người họcvới người học, người học với giáo viên và người học với môi trường học Bên cạnhnhững nhiệm vụ học sinh có thể tự giải quyết, cần có những nhiệm vụ khó khănphức tạp hơn khiến học sinh có nhu cầu trao đổi, thảo luận với các bạn khác hay cầnđến sự giúp đỡ, gợi ý của giáo viên Mỗi góc phải có đủ điều kiện và phương tiện đểhọc sinh có thể hoàn thành nhiệm vụ Kết quả học sinh hay nhóm học sinh thu đượccần được tổ chức chia sẻ, đánh giá Giáo viên cần thiết kế các họat động tự đánh giá,đánh giá trong nhóm, hoặc đánh giá so sánh giữa các nhóm để tạo môi trường thiđua học tập Giáo viên trong vai người tổ chức, điều khiển học sinh học tập tại cácgóc cần quan sát và có sự trợ giúp kịp thời để các em có thể hoàn thành nhiệm vụ.[11, tr 119,120]
1.2.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo góc
Vai trò của giáo viên
Giáo viên có vai trò đảm bảo môi trường học tập phong phú Giáo viên làngười chọn nội dung bài học sao cho phù hợp, thiết kế kế hoạch bài học bao gồmcác nhiệm vụ , tư liệu tại các góc, và là người tổ chức hoạt động tại các góc cho học
Trang 31sinh Giáo viên hướng dẫn, kèm cặp các học sinh gặp khó khăn khi thực hiện nhiệmvụ; đưa ra ý kiến phản hồi trước kết quả học sinh hay các nhóm học sinh thu được
để giúp các em định hướng đúng đường đi; kịp thời chỉnh sửa sai lầm học sinh gặpphải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Giáo viên cần xây dựng những tiêu chuẩncần đạt được và học sinh theo đó để đo mức độ thành công của mình Giáo viên làngười tạo đà thúc đẩy quá trình học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinhthông qua những lời động viên, khen ngợi kịp thời
Vai trò của học sinh
Trong dạy học tích cực nói chung, dạy học theo góc nói riêng, học sinh làchủ thể chủ động tìm kiếm tri thức, tích cực và sáng tạo trong việc giải quyết vấn đềnhằm chiếm lĩnh tri thức Học sinh- đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời làchủ thể của hoạt động học tập do giáo viên tổ chức, chỉ đạo, thông qua đó tự lựckhám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thunhững tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đờisống thực tế, học sinh trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn
đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới,vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó; không rập theo nhữngkhuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Học sinh cũng làngười đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân
và của bạn bè [11, tr 119,120]
1.2.7 Qui trình tổ chức dạy học theo góc
1.2.7.1 Chọn nội dung, không gian lớp hoc ̣ phùhơp̣
Căn cứ vào đăc ̣ điểm hoc ̣ theo góc cần choṇ nôịdung bài hoc ̣ cho phùhơp ̣ theo các phong cách hoc ̣ khác nhau hoặc theo các hinh̀ thức hoaṭđông ̣ khác nhau.Không gian lớp hoc ̣ làđiều kiêṇ chi phối viêc ̣ tổchức hoc ̣ theo góc Khônggian phải phùhơp ̣ với sốhoc ̣ sinh đểcóthểdê ̃dàng bốtríbàn ghế, đồdùng hoc ̣ tâp ̣ trongcác góc vàcác hoaṭđông ̣ của học sinh taịcác góc
Trang 321.2 7 2 Thiết kếkếhoacḥ bài hoc ̣
Mục tiêu bài học : Ngoài mục tiêu cần đạt đư ợc của bài học theo chuẩn kiến
thức, kĩ năng, cũng có thể nêu thêm mục tiêu về kĩ năng làm việc độc lập , khả nănglàm việc chủ động của học sinh khi thực hiện học theo góc
Các phương pháp dạy học chủ yếu : Phương pháp hoc ̣ theo góc cần phối hơp ̣
với môṭsốphương pháp khác như : phương pháp trưc ̣ quan , học tập hợp tác theonhóm, giải quyết vấn đề…
Chuẩn bi:̣GV cần chuẩn bi ̣thiết bi,̣phương tiêṇ vàđồdùng daỵ hoc ̣, xác định
nhiêṃ vu ̣cu ̣thể và kết quả cần đạt được ở mỗi góc tạo điều kiện để học sinh tiến
hành các hoạt động nhằm đạt mục tiêu dạy học
Xác định tên của mỗi góc vànhiêṃ vu ̣phùhơp ̣
Ở mỗi góc cần có : tên góc, phiếu giao viêc ̣, đồdùng thiết bi,̣tài liệu phù hợp
với hoaṭđông ̣ của góc Ví dụ: SGK, tài liệu cho góc phân tích; tivi, máy vi tính,…tài liêụ cho góc quan sát.
- Xác định những thiết bi, độ̀dùng, phương tiêṇ cần thiết cho hoc ̣ sinh hoaṭđô.ng ̣
- Hướng dâñ học sinh choṇ góc theo sở thích (khi cần giáo viên cóthểtư ̣choṇ
góc xuất phát cho học sinh) và luân chuyển qua đủ các góc
- Nhiêṃ vụ ở các góc phải rõ ràng, cụ thể
- Mỗi góc phải cóđủđiều kiêṇ, phương tiêṇ đểhọc sinh hoàn thành nhiêṃ vu.̣
- Thời gian cần đươc ̣ quản lívàphân bốphùhơp ̣ với nhiêṃ vu ̣của mỗi góc và
quỹ thời gian bài học Ví dụ: giờhoc ̣ 45 phút thì thời gian hoạt động tối đa của học sinh
ởmỗi góc là10 phút (nếu có4 góc)
Trang 33- Trong hoc ̣ theo góc , học sinh cóthểlàm viêc ̣ cánhân hoăc ̣ theo căp ̣ hoăc ̣ theo nhóm taịmỗi góc Giáo viên cần rèn lu yêṇ cho hoc ̣ sinh tinh́ tư ̣giác , tích cực,
chủ động và kỉ luật trong học tập
Thiết kếhoaṭ đông ̣ đánh giá vàcủng cốnôị dung bài hoc ̣ : Vào cuối giờ học
sau khi học sinh đa ̃đươc ̣ hoc ̣ luân chuyển qua đủcác góc, giáo viên tổchức cho hoc ̣sinh báo cáo , thảo luận, bổsung kết quảhoc ̣ tâp ̣ ởmỗi góc Trên cơ sởýkiến của họcsinh, giáo viên nhâṇ xét, đánh giá, chốt laịvấn đềtrong ̣ tâm , đảm bảo cho học sinhhoc ̣ sâu vàhoc ̣ thoải mái
1.2.7.3 Tổ chức dạy học theo góc
Trên cơ sởkếhoa ̣ch bài hoc ̣ đa ̃thiết kế, giáo viên tổchức các hoaṭđông ̣ cho
phù hợp với đặc điểm học theo góc:
- Sắp xếp góc hoc ̣ tâp ̣ trước khi vào giờhoc ̣, phù hợp với không gian lớp học
- Mỗi góc cóđủtài liêụ , đồdùng, phương tiêṇ hoc ̣ tâp ̣ phùhơp ̣ với nhiêṃ vu ̣ họctập tại mỗi góc
- Tổchức các hoaṭđông ̣ daỵ hoc ̣ : giáo viên giới thiêụ bài hoc ̣ , phương pháphọc theo góc , nhiêṃ vu ̣taịcác góc , thời gian t ối đa đểthưc ̣ hiêṇ nhiêṃ vu ̣ tại các góc vàcho phép học sinh chọn góc xuất phát
- Học sinh lắng nghe, tìm hiểu và quyết định chọn gó c theo sởthich́, tuy nhiêngiáo viên sẽ phải điều chỉnh nếu như có số học sinh quá đông c ùng chọn một góchoăc ̣ nếu cần thiết giao viên co thểtư ̣sắp xếp cac goc xuất phat theo y minh
- Học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các góc, giáo viên quan sát, hỗtrơ.̣
- Hết thời gian hoaṭđông ̣ taịmỗi go,́cgiáo viên yêu cầu học sinh luân chuyển go.́c
- Kết thúc giờ học tại các góc , giáo viên yêu cầu đaịdiêṇ các góc trinh̀ bày kết
quả, các học sinh khác nhận xét , đánh giá Cuối cùng là nhận xét của giáo viên về kết quảhoc ̣ tâp ̣ của học sinh, chốt laịkiến thức trong ̣ tâm của bài hoc ̣
Có rất nhiều khả năng để tổ chức học theo góc có hiệu quả Đối với mỗi
GV khi muốn triển khai hoc ̣ theo góc , nên bắt đầu từviêc ̣ phân tích lớp hoc ̣ và
Trang 3427
Trang 35a) Đinḥ hướng hoaṭ đông ̣ hoc ̣ của hoc ̣ sinh
Để tổ chức tốt học tập theo góc, điều quan trọng nhất là phải trả lời cho đượccâu hỏi: Mức độ tự định hướng của học sinh như thế nào? Mức độ hoạt động độclập nào các em có thể thực hiện?
Khả năng tự định hướng của học sinh càng tốt thì việc tổ chức lớp học càng ítphải bận tâm Do đó, học sinh sẽ có sự tự do để sáng tạo trong lớp học Và tất nhiên
sẽ có nhiều hơn một khả năng để thực hiện: từ hình thức giáo viên kiểm soát lớphọc (định hướng từ bên ngoài) chuyển thành hình thức học sinh được thỏa sức đưa
- Mỗi một nhiệm vụ học theo góc phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định
- Học sinh được quyền lựa chọn thứ tự các góc
Chúng ta có thể minh họa cách thức hai học sinh (A vàB) giải quyết vấn đề tạicác góc khác nhau bằng sơ đồ 1.3
Góc dành cho
A học sinh có tốc đô ̣hoc ̣
nhanh
B
Sơ đồ 1.3: Sơ đồbiểu diêñ cách thức học sinh giải quyết vấn đề tại các góc
Cách tổ chức này là trong điều kiện lí tưởng , với điều kiêṇ của hầu hết các nhàtrường phổthông ởViêṭNam thìcòn găp ̣ nhiều khókhăn khi thưc ̣ hiêṇ theo cách thức
Trang 36Chúng ta cũng không thường nhắc tới công thức này với tên gọi là các góc “cóthể” và “phải” thực hiện Có thể tích hợp hai dạng hoạt động và khiến việc tổ chứclớp học trở nên hiệu quả hơn.
Trong trường hợp đó chúng ta cần phải giới hạn số lượng học sinh trong một góc.Nếu không sẽ có trường hợp có các nhóm có số lượng học sinh quá đông, ví dụ nhómgóc máy tính, bài tập nghe… vì đây là các dạng phổ biến học sinh muốn tham gia.Nếu giáo viên có ý định tổ chức một góc riêng và cung cấp thêm tư liệu chonhóm học sinh đã hoàn thành sớm các bài tập, họ có thể tạo một bước đệm để giớihạn thời gian học sinh phải chờ đợi Tuy nhiên nên tránh sử dụng các hình thức “vuivẻ” làm bước đệm Cần phải đảm bảo cho các học sinh có mức độ tiếp thu chậmhơn cũng có thể hoạt động trong các khu vực này
Để giám sát những học sinh đã hoàn thành xong các nhiệm vụ, giáo viên cóthể áp dụng hai hệ thống:
- Giáo viên có thể sử dụng “Bảng theo dõi học theo góc” (bảng nam châm haybảng phấn đều được) để học sinh đánh dấu các góc các em đã hoàn thành Bằng
cách này, giáo viên có thể xác định được những học sinh đang bị tụt lại và cần giúp
Một yếu tố quan trọng là mối quan hệ giữa số học sinh và kích thước củakhông gian học tập Chúng ta không sử dụng từ “phòng học” trong trường hợp này
vì hoạt động học tập có thể diễn ra tại các không gian bên ngoài phòng học truyềnthống Một cách tự nhiên, những giáo viên có không gian lớn hơn có thể dễ dàng bốtrí các góc hơn các đồng nghiệp có diện tích nhỏ hơn và có nhiều học sinh
Trang 37Học theo góc đòi hỏi việc tổ chức lại không gian lớp học kể cả trong các điều kiệngiới hạn Có thể thực hiện điều này theo một số cách đơn giản: ghép các bàn học lại vớinhau, chia học sinh thành cặp,đặt các tư liệu dạy hoc ̣ lên phía trước lớp học.
Nếu các góc có thể được giữ nguyên trong lớp trong một khoảng thời gian,giáo viên sẽ có thêm các khả năng khác và giảm bớt hoạt động tổ chức lớp học Họcsinh cũng có thể quay lại vị trí đang làm việc Do đó phương pháp học tập sẽ trở nênminh bạch hơn đối với các em Các tấm bình phong để ngăn riêng các góc có thể hỗtrợ việc sắp xếp không gian
Việc triển khai dạy học theo góc phụ thuộc vào chất lượng của tư liệu/tài liệuđang có ở trường Chúng ta có thể tạo ra một môi trường lớp học ở mức độ nào?Tình huống hiện tại ở trường học như thế nào? Tôi có thể mượn gì từ đồng nghiệptrong trường? Chúng ta nên đặt những câu hỏi như vậy trước khi tiến hành bố trí lạicác khu vực trong lớp học
Một môi trường học tâp được tổ chức là một yếu tố chủ yếu để hỗ trợ sự họctập tích cực Sự đa dạng của các tư liệu (vật liệu) có ích lợi với trẻ em, đặt tại cácgóc khác nhau cần được chuẩn bị sẵn sàng trong tất cả thời gian để học sinh có thểthao tác và khai thác nó [44, tr 48-51]
1.2.8 Ưu – nhược điểm của dạy học theo góc
Ƣu điểm
Dạy học theo góc có ưu thế khác biệt với các phương pháp dạy học truyềnthống Học sinh được chọn góc theo sở thích (phong cách học) và tương đối độc lậptrong việc thực hiện các nhiệm vụ nên tạo ra hứng thú và sự thoải mái cho học sinh,
do đó tăng cường sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái của họcsinh Học sinh được tìm hiểu một nội dung theo các cách khác nhau: nghiên cứu lýthuyết, thí nghiệm, quan sát và áp dụng, do đó học sinh hiểu sâu, nhớ lâu hơn so vớiphương pháp thuyết trình (là phương pháp mà học sinh nghe giáo viên giảng mộtcách thụ động) Học theo góc sẽ tạo nhiều không gian hơn cho những thời điểm họctập mang tính tích cực Các nhiệm vụ và hình thức học tập thay đổi tại các góc tạo
Trang 38hứng thú và kích thích tính tích cực của học sinh Học sinh có nhiều khả năng lựachọn hơn, điều đó tạo điều kiện cho học sinh hợp tác cùng học tập, tạo ra sự tươngtác cao giữa học sinh với học sinh.Giáo viên có nhiều thời gian để hỗ trợ cá nhân,học sinh có nhiều cơ hội được trợ giúp, do đó tạo ra sự tương tác tích cực giữa giáoviên với học sinh Dạy học theo góc cho phép điều chỉnh sao cho thuận lợi, phù hợpvới trình độ và nhịp độ học tập của mỗi học sinh.
có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp.[11, tr 123,124]
1.2.9 Khả năng vận dụng dạy học theo góc vào dạy học ở trường phổ thông
1.2.9.1 Điều kiện vận dụng dạy học theo góc
Dạy học theo góc đạt hiệu quả khi đảm bảo điều kiện sau
đây: -Nội dung bài học phù hợp với phương pháp dạy học theo
góc -Không gian lớp học phù hợp với số góc học tập.
-Thiết bị đồ dùng, phương tiện dạy học và tư liệu phải được đảm bảo đầy đủ các
thiết bị, tư liệu theo nhiệm vụ của các góc
-Giáo viên nhiệt tình, tích cực, có năng lực về chuyên môn, năng lực tổ chức dạy
học tích cực và kĩ năng thiết kế tổ chức dạy học thep góc
-Số lượng học sinh phù hợp với không gian lớp học.
Trang 391.2.9.2 Loại kiến thức áp dụng đối với dạy học theo góc
Phương pháp dạy học theo góc có thể áp dụng cho rất nhiều các loại nội dungkiến thức như:
- Bài thực hành các nội dung đã dạy học
- Các nội dung mới, kiến thức mới – nhất là những đơn vị kiến thức có thểtiếp cận bằng các cách khác nhau như: quan sát, thí nghiệm, xây dựng bằng lý thuyết, …
- Bài luyện tập các kĩ năng cơ bản của một nội dung, kiến thức nào đó
Kết luận chương 1
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về việc thiết kế tiến trình dạy học theogóc vào việc giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến nhữngvấn đề sau:
- Cần nghiên cứu đặc điểm của nội dung kiến thức cần dạy để thiết lập được
sơ đồ biểu đạt logic của tiến trình nhận thức khoa học đối với kiến thức cần dạy
- Nghiên cứu nội dung kiến thức cần dạy để lựa chọn nội dung phù hợp chotừng góc học tập, đảm bảo tính vừa sức, tạo hứng thú học tập đồng thời tạo điều kiện để họcsinh tích cực, tự giác, chủ động tham gia vào việc xây dựng kiến thức mới
- Thiết kế nhiệm vụ học tập tại các góc đa dạng về hình thức, phong phú về
tư liệu phương tiên học tập để kích thích sự sáng tạo của học sinh
Tất cả những điều này sẽ được chúng tôi vận dụng vào việc thiết kế tiến trìnhhoạt động dạy học theo góc một số nội dung chương “Mắt và các dụng cụ quanghọc” - Vật lí lớp 11 nâng cao được trình bày trong chương 2 của đề tài
Trang 40Chương 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO GÓC MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG "MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC”
(chương trình vật lí 11- nâng cao)
2.1 Nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học”
2.1.1 Nội dung kiến thức – kỹ năng cơ bản chương “Mắt và các dụng cụ quang học ”
2.1.1.1 Vị trí, tầm quan trọng kiến thức của chương trong chương trình Vật lí THPT
-Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật và công nghệ quan trọng Sựphát triển của khoa học vật lí gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sựtiến bộ của khoa học, kĩ thuật và công nghệ Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức
về vật lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất, đặc biệt trong công cuộc CNH
và HĐH đất nước Môn Vật lí có những khả năng to lớn trong việc rèn luyện chohọc sinh tư duy logic và tư duy biện chứng, hình thành ở họ niềm tin về bản chấtkhoa học của các hiện tượng tự nhiên cũng như khả năng nhận thức của con người,khả năng ứng dụng khoa học để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống
-Một đặc điểm của chương “Mắt và các dụng cụ quang học” mà ta ít gặp
trong chương trình vật lí phổ thông là phần nhiều nội dung kiến thức trong chươngđều nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí Phần lớn kiến thức ở chương này là
sự vận dụng tổng hợp các kiến thức đã nghiên cứu trước đó vào việc giải quyết cáctình huống mới Cụ thể là sử dụng các kiến thức về định luật cơ bản của quang hìnhhọc (gương, thấu kính) vào việc nghiên cứu mắt và các dụng cụ quang học (kínhlúp, kính hiển vi, kính thiên văn)
Ở cấp THCS học sinh đã được giới thiệu một cách sơ bộ như sau:
+ học sinh học về cấu tạo của mắt với hai bộ phận quan trọng nhất là thuỷ tinh thể và màng lưới, trong đó thuỷ tinh thể như là một thấu kính hội tụ có tiêu cự thay đổi được.
+ mắt và máy ảnh có cấu tạo giống nhau về phương diện quang hình học: thuỷ tinh thể đóng vai trò như vật kính, còn màng lưới đóng vai trò như phim
+ học sinh cũng được học về sự điều tiết của mắt: trong quá trình điều tiết thì thuỷ tinh
thể bị co giãn, phồng lên hoặc dẹt xuống, để cho ảnh hiện lên trên màng lưới rõ nét